Chương 2: Cải tạo tư tưởng một cách hệ thống

Mục lục

1. Phê phán Nho – Thích – Đạo

1) Phê phán Nho giáo

(1) Phê phán Khổng Tử
(2) Phê phán phần tử tri thức

2) Phê phán Thích giáo và Đạo giáo

(1) Phủ định sự tồn tại của Thần, Phật, làm sai lệch động cơ tôn giáo
(2) Hủy hoại hoàn cảnh vật chất của tu hành
(3) Hủy diệt thân thể
(4) Làm lệch lạc kinh điển tôn giáo, dung tục hóa tôn giáo
(5) Thành lập hiệp hội tôn giáo Trung Cộng, khiến người được ủy quyền phê phán tôn giáo từ trong nội bộ
(6) Ngụy tạo giả tướng về tự do tôn giáo

2. Phê phán quan niệm truyền thống

1) Phê phán việc kính sợ Trời
2) Phê phán sinh mệnh và thiện ác báo ứng
3) Phê phán sự nhu thuận và nhẫn nhịn
4) Phê phán trật tự xã hội truyền thống
5) Lấy tài sản làm căn cứ quan trọng để đo lường đạo đức
6) Tuyên dương Văn hóa đảng thô bỉ
7) Những quan niệm bị phê phán khác

3. Nhồi nhét tà thuyết tư tưởng đấu tranh, quần ngư tranh thực, kẻ mạnh sinh tồn

1) Mục đích Trung Cộng nhồi nhét tư tưởng đấu tranh
2) Nhồi nhét trong đấu tranh chính trị
3) Quay trở lại với Đạo chung sống hài hòa

4. Nhồi nhét Thuyết tiến hóa và khoa học hiện đại

1) Mục đích thực sự của việc nhồi nhét thuyết tiến hóa – quảng bá Vô Thần luận và Triết học đấu tranh
2) Thuyết tiến hóa là giả thuyết chưa được qua kiểm chứng

(1) Một cơ sở logic yếu ớt
(2) Xác suất đã phủ định hạt nhân của Thuyết tiến hóa – Cơ chế đột biến gen
(3) Sự ngượng ngùng của Thuyết tiến hóa – tầng tầng nghi vấn về biểu thời gian tiến hóa

3) Hậu quả của việc nhồi nhét Thuyết tiến hóa
4) Mục đích chân thực của việc nhồi nhét khoa học hiện đại – Đàn áp tín ngưỡng
5) Trung Cộng không coi trọng “Khoa học”, chủ nghĩa Marx phản tự nhiên
6) Việc nhà khoa học tin vào Thần không hề là trở ngại ngăn cản thành tựu khoa học của họ
7) Chứng thực khoa học không phải là phương thức duy nhất khám phá về quy luật của vũ trụ
8) Chứng thực tính hạn chế của khoa học

*************


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Học tập chính trị, cải tạo tư tưởng, những sự việc loại này người Trung Quốc ít nhiều đều đã trải qua. Có lẽ rất nhiều người sẽ hỏi, sao lại phải cải tạo tư tưởng của con người? Nguyên nhân căn bản của nó chính là một hệ thống tiêu chuẩn tốt xấu, phương thức tư duy và ngôn ngữ của Trung Cộng đều là phản nhân tính, không những không thể sản sinh một cách tự nhiên trong đại chúng, mà còn dễ bị nhân tính bài xích. Huống hồ, Đảng Cộng sản là thứ du nhập từ phương Tây, là hệ thống độc tài “chính giáo hợp nhất” bị vứt bỏ, rất đối nghịch với Văn hóa truyền thống Trung Hoa. Trung Cộng muốn đứng vững ắt phải tạo ra một môi trường Văn hóa đảng, cải tạo tư tưởng đã trở thành một bước tất yếu và bức thiết.

Một bước cải tạo quan trọng chính là phê phán cái gốc tín ngưỡng của văn hóa Trung Hoa  – Nho giáo, Thích giáo, Đạo giáo. Đồng thời những quan niệm truyền thống trong nhân gian cũng phản ánh về giá trị quan của tam giáo đã được xác lập trong thế tục. Những quan niệm này sớm đã trở thành một phần trong cuộc sống thường ngày, cũng dễ khiến con người hướng về nguồn cội tôn giáo của mình. Do đó việc phê phán quan niệm truyền thống, cũng là một bước quan trọng để Trung Cộng nhổ tận gốc Văn hóa truyền thống Trung Quốc và tín ngưỡng ăn sâu trong tư tưởng người Trung Quốc. Như vậy, người Trung Quốc sẽ mất đi năng lực phân biệt và phán đoán Trung Cộng và Văn hóa đảng.

Việc Trung Cộng phê phán Nho giáo, Thích giáo, Đạo giáo và phê phán bài trừ quan niệm truyền thống chỉ thuộc về bước “phá”. Trung Cộng đồng thời còn phải “lập” cái phương thức tư duy mà nó cần, như luật rừng gồm tư tưởng đấu tranh, quần ngư tranh thực, kẻ mạnh sinh tồn và Thuyết tiến hóa cùng khoa học hiện đại. Từ đó khiến con người tiếp nhận một cách có hệ thống tà thuyết của Trung Cộng trên cơ sở Thuyết vô Thần, từ đó tạo ra và duy trì môi trường sinh tồn xã hội cho Trung Cộng. Đây chính là hậu quả của việc Trung Cộng cải tạo tư tưởng một cách có hệ thống.

1. Phê phán Nho – Thích – Đạo


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Nho gia Trung Quốc ca ngợi “Nhân”, ca ngợi “Nghĩa”. Khổng Tử nói “Kiến nghĩa bất vi, vô dũng dã” (Thấy việc nghĩa không làm không phải kẻ dũng), còn giảng: “Chí sỹ nhân nhân, vô cầu sinh dĩ hại nhân, hữu sát thân dĩ thành nhân.” (Chí sỹ hiền nhân không mưu cầu sống mà hại nhân, có người mất mạng mà thành nhân). Cách nhìn về mệnh Trời của Đạo gia đã ăn sâu vào dân gian. Trong “Luận Ngữ” có nói: “Tử sinh hữu mệnh, phú quý tại thiên”, thiên mở đầu trong “Trung Dung” giảng “Thiên mệnh chi vị tính” (Trời sinh tính), chỉ ra rằng đặc tính căn bản của con người là tuân theo mệnh trời. Theo cổ nhân, Trời là căn bản của vạn vật, là ngọn nguồn của mọi giá trị. Sinh mệnh của con người là do Trời ban tặng, mục đích của đời này là trở về với Thiên mệnh, thực hiện yêu cầu hướng thiện từ nội tâm. “Chu Dịch” – cuốn sách được Nho gia gọi là Đạo bậc nhất của các kinh sách giảng “Tam tài”, tức là Thiên – Địa – Nhân. Trời sinh con người, đất nuôi dưỡng con người; con người lại có thể lấy pháp của Thiên Địa, “hợp với Đức của Trời, Đất”. Trời đất lại vận hành theo thiên lý bất biến. Người dân tin tưởng vào “ông Trời” trên cao ước chế tất cả mọi thứ tại thế gian, dùng thiên lý “bất biến” để đo lường mọi thứ tại nhân gian. Tư tưởng của Nho gia đã duy trì đạo đức và trật tự xã hội.

Phật gia giảng thiện, giảng từ bi, giảng nhẫn nhục, coi trọng sinh mệnh, tôn thờ chúng sinh bình đẳng. Trước khi Trung Cộng nắm quyền, những tư tưởng như lục đạo luân hồi, tích đức hành thiện, nhân quả báo ứng đã trở thành nhận thức phổ biến của người dân trăm họ, chính là “Dục tri tiền thế nhân, kim sinh thụ giả thị; dục tri lai thế quả, kim sinh tác giả thị” (Muốn biết nhân đời trước hãy xem những thứ đắc được đời này; muốn biết quả đời sau hãy xem những việc làm đời này). Khách quan mà nói, quan niệm “thiện ác hữu báo” của Phật gia có tác dụng rất lớn trong việc ổn định xã hội, duy trì đạo đức con người.

Đạo gia nhấn mạnh “Chân”, nhấn mạnh thanh tĩnh vô vi, nhấn mạnh sự thống nhất hài hòa giữa con người và tự nhiên, đạt được mục đích phản bổn quy chân, tức là điều gọi là “Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên” (Người thuận theo đất, đất thuận theo Trời, Trời thuận theo Đạo, Đạo thuận theo tự nhiên). Trung y và khí công Trung Quốc đều bắt nguồn từ Đạo gia, người người đều phục, luyện đan chính là đạo dưỡng sinh của Đạo gia. Tính chính xác về quẻ bốc và dự đoán của Đạo gia khiến nhân loại không ngớt lời tán thưởng. Những người tu luyện Đạo gia lại có thần tích “nhục thân thành đạo, vỗ cánh thành tiên”. Trên bề mặt thế gian, khi quan hệ giữa con người ngày nay và tự nhiên ngày càng trở nên đối lập, vấn đề môi trường đã trở thành một trong những chủ đề quan trọng nhất trên toàn cầu. Tư tưởng của Đạo gia đã được học giả các nước coi trọng, càng thể hiện được giá trị đặc thù của nó.

Đối với Trung Cộng mà nói, “thiên mệnh” của Nho gia, nhân quả báo ứng của Phật gia, vô dục vô cầu, không tranh với đời của Đạo gia là chướng ngại ngăn cản Trung Cộng phát động “cuộc đấu tranh giai cấp”. Quan niệm đạo đức mà kinh điển Nho giáo, Thích giáo, Đạo giáo xác lập là chướng ngại cho việc gây dựng đạo đức, quyền uy của nó, cũng là trở ngại cho những hoạt động chính trị của Trung Cộng như tạo phản, làm cách mạng, chuyên chế. Những người tu luyện Phật gia, Đạo gia đều khiến con người siêu việt khỏi sinh tử, Nho gia khiến con người xả thân vì nghĩa. Đây chính là chướng ngại cho việc Trung Cộng dùng thủ đoạn vật chất nhằm khống chế toàn xã hội. Những dấu ấn như cõi niết bàn bên kia của Phật gia, vỗ cánh biến thành tiên của Đạo gia, và Thiên mệnh quan của Nho gia đều bị Trung Cộng coi là chướng ngại để tuyên truyền vô Thần luận.

1) Phê phán Nho giáo

(1) Phê phán Khổng Tử

Trong tam giáo Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo thì tư tưởng Nho gia là xâm nhập vào cuộc sống sâu rộng nhất, cũng vì người Trung Quốc vẫn luôn lấy gia tộc làm trung tâm trong cuộc sống, còn điều quy phạm trong văn hóa Nho gia chính là luân lý gia đình, lại mở rộng luân lý gia đình ra ngoài cuộc sống xã hội và chính trị.

Gần 2.500 năm qua, phần nhập thế trong văn hóa Trung Hoa về cơ bản lấy văn hóa Nho gia làm chủ đạo. Bắt đầu từ khi Lỗ Ai Công lập miếu thờ Khổng Tử, Hán Cao Tổ dùng lễ tiết Nho gia để chế định lễ nghi triều đình; Hán Vũ Đế phế truất bách gia, chỉ giữ lại Nho thuật; Đường Thái Tông phong cho Khổng Tử là Văn Tuyên Vương, đến Đại đế Khang Hy, Thánh Tổ nhà Thanh tự tay viết bốn chữ “Vạn thế Sư biểu” trong miếu Khổng Tử tại Khúc Phụ, con cháu ông đời đời đều được truy phong và tế tự. Dù là triều Nguyên với mức độ ít bị người Hán đồng hóa nhất, Nguyên Thành Tông cũng phong thêm cho Khổng Tử là “Đại Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương”. Ảnh hưởng của Khổng Tử tới nhân loại sớm đã vượt khỏi biên giới quốc gia, không chỉ những quốc gia Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam đã kế thừa tư tưởng của Nho gia, ngay cả Voltaire, đại triết học gia thời kỳ manh nha tại Phương Tây cũng tự xưng là học trò của Khổng Tử.

Kể từ thời Hán, các triều đại không ngừng thờ tự Khổng Tử. Vừa cướp đoạt chính quyền quốc gia lại lăng mạ Khổng Tử, đập miếu thờ, thì chỉ duy có Đảng Cộng sản mới dám làm vậy.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Trung Cộng bắt đầu từ Mao Trạch Đông đã bắt đầu thù hận văn hóa Nho gia khôn cùng. Nguyên nhân này đã được phân tích trong chương 9 cuốn “Cửu Bình”, tại đây chúng ta không nhắc lại lần nữa. Một nguyên nhân quan trọng mà Mao thích Tần Thủy Hoàng, cũng là vì y và Tần Thủy Hoàng cùng dùng Pháp gia trị quốc thủ đoạn gian xảo để đoạt quyền gây họa cho quốc gia, y đặc biệt tán thưởng, mô phỏng và vượt qua cả việc đốt sách và chôn sống nho sĩ của Tần Thủy Hoàng.

Khổng Tử đề xướng “Văn, Hành, Trung, Tín” bị Trung Cộng thóa mạ thành “Thầy của mọi lý luận cũ, linh hồn của thế lực tà ác”, còn nói “Từ khi có dân sinh đến nay, thực chưa từng có ai tội ác tày trời như Khổng Tử, đã công kích những người lương thiện, là kẻ thù chung của đại đa số con người. Từ nay về sau nhân loại vùng lên mà công kích nó, đúng thay! Từ cổ chí kim, từ trong ra ngoài, trong ngôn ngữ hành vi của mọi nhà tư tưởng, Khổng Khâu {Khổng Tử} có thể được coi là kẻ lừa dối hạng nhất.”

Những ngôn luận thóa mạ kiểu đầu đường xó chợ đó đã chiếm vị trí chủ lưu trong văn chương mà Trung Cộng phê phán Khổng Phu Tử. Bởi vì Trung Cộng ngoài việc dùng ngôn luận của Khổng Tử cắt đoạn lấy nghĩa, giăng bẫy logic ra, thì xưa nay chưa hề dám mang ra và cũng không thể tìm được căn cứ khiến con người tin phục.

Trung Cộng phê phán Nho gia là lấy đấu tranh giai cấp làm xuất phát điểm và cơ sở, nói Khổng Tử đại biểu cho lợi ích của giai cấp chủ nô. Ngày nay khi những nhà tư sản đã gia nhập Trung Cộng, hoặc quan chức Trung Cộng đã trở thành nhà tư bản quyền quý hoặc địa chủ quyền quý tiền bạc đầy kho, thì Trung Cộng đều không muốn nhắc tới việc lý luận đấu tranh giai cấp thất bại. (Đương nhiên hoàn toàn không gây trở ngại cho việc Trung Cộng dùng phương pháp đấu tranh giai cấp để tiếp tục bức hại những người bất đồng với mình). Khi đó ngoảnh đầu lại chỉ thấy việc phê phán Nho gia đã trở thành trò hề, do đó Trung Cộng vì bảo hộ cho sự thống trị của mình, cũng đành phải giả vờ ca ngợi Khổng Tử. Vài năm gần đây Trung Cộng nhằm tiến hành chiến tranh thống nhất mà chuẩn bị thành lập “Viện Khổng Tử” tại hải ngoại, âm mưu lợi dụng Khổng Tử, người từng bị nó phê phán nhằm lừa gạt những người Trung Quốc có văn hóa từ xưa tới nay. Mặt khác, trường học dạy học sinh đọc thuộc Thập tam kinh của Nho gia trong quần chúng lại bị Trung Cộng thủ tiêu.

Ngay thuở ban đầu khi Trung Cộng cướp đoạt chính quyền, nó đã cho xuất bản cuốn sách “Phê phán chung về tư tưởng truyền thống của Trung Quốc” (gọi tắt là “Phê phán”) của Thái Thượng Tư vu khống, lạm dụng nhằm hủy hoại, lăng mạ và phê phán Khổng Tử. Trong đó cái bẫy logic mà Trung Cộng quen dùng cũng đáng để phân tích sơ bộ. Bởi vì những vấn đề logic này vẫn là thủ đoạn quan trọng mà Trung Cộng dùng để phê phán gay gắt trong Văn hóa đảng.

Thủ đoạn thứ nhất là “đoạn chương thủ nghĩa”. Từ việc Khổng Tử phải thu học phí (lễ thầy học thời xưa) liền đoán định Khổng Tử chỉ phục vụ giới quý tộc, hoàn toàn không quan tâm tới chủ trương “học trò đều như nhau” của Khổng Tử. Trong số học trò của Khổng Tử thì có Tử Lộ xuất thân bần hàn.

Thủ đoạn thứ hai là “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, dùng lời của người khác gán cho Khổng Tử. Ví như “Xuân Thu Cốc Lương truyện” là đệ tử của Tử Hạ làm ra, “Phê phán” lại lợi dụng phần luận thuật có liên quan của Bá Cơ trong đó để công kích Khổng Tử.

Thủ đoạn thứ ba là suy diễn không xác đáng. Từ câu nói của Khổng Tử: “Bất tại kỳ vị, bất mưu kỳ chính.” (Không ở vị trí đó, không mưu đoạt triều chính đó) lại kết luận vô lý thành “Quốc gia hưng vong, thất phu vô trách” (Quốc gia hưng vong, thất phu không có trách nhiệm), để suy diễn từ thái độ với quyền chức cá nhân thành nghĩa vụ công dân.

Thủ đoạn thứ tư là so sánh bất đồng, coi vị thế độc tôn của Nho thuật từ thời nhà Hán cũng giống như Pháp gia độc tôn của Tần Thủy Hoàng, hoàn toàn không quan tâm đến sự khác nhau giữa việc Nho gia dùng đức cảm hóa con người, còn Pháp gia dùng sự trừng phạt để dẫn dụ và uy hiếp con người.

Thủ đoạn thứ năm là gây nhầm lẫn mối quan hệ bất bình đẳng giữa mệnh đề thuận và mệnh đề nghịch. Ví dụ trong “Phê phán” nói: “Nếu nữ giới đều là tiểu nhân thì có thể ngẫm mà thấy được nam giới toàn là quân tử.”

Thủ đoạn thứ sáu là chụp mũ “phản khoa học”, gọi Khổng Tử là “phản lại khoa học tự nhiên”. Trên thực tế, những điều mà Khổng Tử đàm luận đa phần đều là lý luận và những chuyện về chính trị. Những điều này đều không can hệ tới khoa học tự nhiên, cũng giống như không thể dùng thước mà đo trọng lượng, nguyên lý của khoa học tự nhiên cũng không thể đo lường được thiện ác trong hành vi con người. Huống hồ trong “Lục nghệ” mà Khổng Tử quy định đã bao gồm “toán học”, đây chính là cơ sở cho khoa học tự nhiên sau này.

Thủ đoạn thứ bảy là “ngậm cát bắn bóng”. Người đề xuất “Tam cương” rõ ràng là Hàn Phi Tử của Pháp gia, Nho lâm thời Hán Đổng Trọng Thư, cuốn “Phê phán” cũng thừa nhận điều này. Nhưng khi chỉ ra chuyện phụ nữ tự sát vì giữ tròn trinh tiết đã đưa ra một vài ví dụ rất thảm khốc. Những ví dụ này không hề liên can gì tới Khổng Tử, mà là điều ngược lại. Trong “Lễ ký” có ghi con dâu và cháu dâu của Khổng Tử đều tái giá. Hơn nữa xuyên suốt bối cảnh chung phê phán Khổng Tử, khó tránh khỏi việc người đọc không đổ những thảm kịch trong cuốn “Phê phán” lên đầu Khổng Tử.

Thủ đoạn thứ tám là kích động lòng đố kỵ của con người. Cuốn “Phê phán” tìm cách xoáy vào lòng đố kỵ với cuộc sống quý tộc của Khổng Tử. Kỳ thực, cho dù Khổng Tử làm theo “Ngư nỗi nhi nhục bại bất thực” (Cá ươn thịt rữa không ăn) thì đây chính là đạo dưỡng sinh cơ bản, hoàn toàn không phải cuộc sống quý tộc.

(2) Phê phán phần tử trí thức

“Tả truyện” viết: “Thái thượng hữu lập đức, kỳ thứ hữu lập công, kỳ thứ hữu lập ngôn, tuy cửu bất phế, thử chi vị bất hủ.” (Thái thượng lập đức, tiếp nữa lập công, tiếp nữa lập ngôn, dù lâu mà không bị phế bỏ, nên gọi nó là bất hủ) Văn hóa truyền thống Trung Quốc đã cung cấp cho phần tử trí thức vũ đài lịch sử vinh quang quần tinh chói sáng, địa linh nhân kiệt.

Việc cải tạo tri thức phần tử cũng được Trung Cộng coi là một bước vô cùng quan trọng. Xã hội truyền thống Trung Quốc giảng bốn giai tầng là “Sỹ, Nông, Công, Thương”. Trong đó “Sỹ” được gọi tắt là phần tử trí thức. Giai tầng “Sỹ đại phu” là người gánh vác truyền thống đạo đức. Do đó từ góc độ đạo đức mà xét, họ thậm chí còn có quyền nói hơn cả người thống trị, huống chi là thường dân. Trung Cộng không tán đồng với việc phần tử trí thức đại diện cho quan niệm đạo đức truyền thống, nhưng phải dùng phần tử trí thức làm trung gian cải tạo tư tưởng của những người bình thường. Do vậy ngay khi vừa mới nắm quyền, việc quan trọng đầu tiên Trung Cộng phải làm chính là cải tạo tư tưởng của phần tử trí thức.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Tháng 06 năm 1950, Giang Trạch Dân khi phát biểu tại trong phiên họp thứ 3 của Đại hội đảng toàn quốc lần thứ 7 của Trung Cộng đã nhấn mạnh, đối với phần tử trí thức “phải dùng họ, đồng thời phải giáo dục và cải tạo họ. Muốn để họ học lịch sử phát triển của xã hội, hãy học vài khóa duy vật lịch sử”. Cái mà Mao gọi là giáo dục và cải tạo không gì khác ngoài việc lệnh cho thầy cô giáo các trường trung học, đại học phải đọc ba văn kiện lớn về chính trị hiệp thương, lịch sử phát triển xã hội và bài luận Tân chủ nghĩa dân chủ. Bắt đầu từ mùa thu năm 1951, Trung Cộng đã tổ chức cho hàng loạt phần tử trí thức tham gia hoặc tham quan cuộc kháng Mỹ viện Triều, cải cách ruộng đất và trấn áp cuộc vận động phản cách mạng. Biết bao cuộc vận động đẫm máu khiến giới trí thức nhìn thấy sự tàn nhẫn và độc ác của Đảng Cộng sản, khiến rất nhiều người vốn là giường cột cũng sợ mềm nhũn người. Tháng 01 năm 1952, Ban thường vụ Chính trị Hiệp thương Nhân dân toàn quốc làm ra “Quyết định về việc triển khai vận động học tập cải tạo tư tưởng nhân sỹ các giới”, tức là đưa những phần tử trí thức sau khi được cải tạo, dùng tư tưởng mà Trung Cộng nhồi nhét cho họ để mở rộng ra toàn quốc, cải tạo tư tưởng của mọi người.

Cuối thời nhà Thanh sớm đã phế bỏ khoa cử, trong phần tử trí thức có rất nhiều người quay sang lệ thuộc vào đảng cầm quyền. Quá trình này là một quá trình thống khổ, cũng là quá trình phần tử trí thức “chủ động” tiến hành chuyển biến tư tưởng. Sự chuyển biến này đương nhiên sẽ được Trung Cộng cho là đủ. Bởi vì phần tử trí thức dù sao cũng cho rằng họ cần giương cao lá cờ dân chủ và khoa học, còn tuyệt đại đa số việc học hành để tu thân lập mệnh của Nho gia đều vẫn được cho là chuẩn tắc để xét đoán thị phi. Đây chính là điều mà Trung Cộng không thể chịu đựng được.

Tháng 12 năm 1939, trong bài phát biểu “Cách mạng Trung Quốc và Đảng Cộng sản Trung Quốc”, chỉ bằng một nét bút Trung Cộng đã khoanh phần tử trí thức vào “phạm trù giai cấp tiểu tư sản”. Trong những năm tháng coi đấu tranh giai cấp là nòng cốt, cái mũ “giai cấp tiểu tư sản” này đã khiến phần tử trí thức không thể ngóc đầu lên được.

Trung Cộng thông qua bộ máy tuyên truyền của mình ca ngợi công nhân và nông dân, biến kiến thức nông cạn của họ thành động lực cách mạng, tuyên truyền “sự thù hận của giai cấp chất phác” dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản sẽ có thể khiến cách mạng đi tới thắng lợi. Mặt khác, phần tử trí thức “được” điện ảnh gán cho bộ mặt với dấu hiệu đặc thù – đeo một cặp mắt kính, co ro cúm rúm, trông họ cứng nhắc, xem thường quần chúng, làm việc chủ quan…

Năm 1958, bộ phim “Cô gái Thượng Hải” trình chiếu không lâu liền bị phê bình gay gắt. Nguyên nhân rốt cuộc lại là: “Thứ nhất, phần tử trí thức kiên định nguyên tắc, phát huy tài cán của mình trong xây dựng mà không có một bí thư đảng ủy hay bí thư chi bộ nào phê bình, giáo dục, chính là thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng, phản đối sự lãnh đạo của Đảng; Thứ hai, không viết về những nhược điểm của phần tử trí thức như tính mềm yếu, hay dao động, thoát ly hiện thực, thoát ly quần chúng… Đó mới là tô vẽ cho giai cấp tư sản, phần tử trí thức; Thứ ba, thể hiện ông chủ bị ảnh hưởng bởi một số tư tưởng lạc hậu của công nhân mới dẫn tới thành công nhanh chóng… Đây chính là bôi nhọ bộ mặt của giai cấp công nhân.” Nguyên nhân của điểm thứ ba cũng là cách gây gián cách quan hệ giữa công nhân và phần tử trí thức.

Sự tuyên truyền vu khống này với phần tử trí thức đã khởi tác dụng cực lớn, vì nguyên nhân của nó là ở chỗ phần tử trí thức vẫn luôn là người lãnh đạo tư tưởng của xã hội, vẫn luôn là người phát ngôn trước những vấn đề của xã hội, vẫn luôn là người truyền thừa và đàm luận, thuật lại Văn hóa truyền thống. Sau khi hình tượng của phần tử trí thức bị bôi nhọ, những giá trị mà họ đại biểu cũng theo đó mà bị đảo lộn. Trong mắt quần chúng, phần tử trí thức không còn là đối tượng được trân trọng và truy cầu, mà là đối tượng để cười nhạo và phê phán.

Nếu như nói những lời vu khống trên thuộc về “bôi nhọ danh dự”, thì việc chặn đứng bát cơm của phần tử trí thức chính là “vắt kiệt tài chính”, từ cuộc vận động phản Hồ Phong đến phản cánh hữu, thì Cách mạng Văn hóa lại là một phần trong công cuộc “hủy hoại thể xác” của họ. Rất nhiều những nhân sỹ dân chủ cùng Trung Cộng vào sinh ra tử, dốc sức trợ giúp trong những năm cướp chính quyền rất ngây thơ cho rằng mình là công thần khai quốc, do đó Trung Cộng sẽ “thực tâm đối đãi, vinh nhục cùng hưởng”, cũng sẽ cho họ nắm tinh thần trách nhiệm xã hội cao cả và ôm giữ hoài bão to lớn có cơ hội được thi triển. Trong lời mời trăm hoa đua nở “chân tình”, những cao nhân nghĩa sỹ “kẻ sỹ chết vì người tri kỷ” này hết người này tới người khác chính nghĩa hừng hực, hết người này tới người khác ngã ngựa càng thê thảm hơn. Khi mọi người được chứng kiến những gì Trung Cộng làm, khi hàm nghĩa chân thực của “thiên hạ của Đảng” dần dần soi sáng thiên hạ: “chuyên chính dân chủ nhân dân hay còn gọi là độc tài dân chủ nhân dân”. Những văn nhân nổi tiếng như Chương Bá Bách, Chương Nãi Khí, La Long Cơ, Trữ An Bình, dù là tiến sỹ hay du học sinh yêu nước mà quay trở về hay nhà tư bản hiến tài sản cho Trung Cộng, những vị trí từ bộ trưởng, giáo sư, nhà văn, tổng biên tập, phóng viên v.v.. đều lần lượt bị ném vào “chuồng bò” cánh hữu của Đảng Cộng sản, đến chết họ cũng không thể hiểu rõ “dân chủ” và “độc tài” có thể được Trung Cộng kết hợp thành “chuyên chế nhân dân” như thế nào trong hiện thực lạnh lùng đó. Những phẩm cách truyền thống được ca ngợi đời đời trong lịch sử Trung Quốc như “trung quân báo quốc”, “xả thân vì nghĩa”, “nhân cách tôn nghiêm”, “lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ” đều mất đi trên vũ đài lịch sử kể từ sau khi những nhân sỹ bác học những năm cuối này chết trong đơn độc. Mọi người hoảng sợ khi thấy rằng Đảng Cộng sản tích cực treo miếng mồi thiên đường nhân gian, nhưng điều nó trước tiên gây dựng lại là địa ngục nhân gian.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Những người may mắn sống sót, từ đó phải run sợ, không dám tiếp tục nhắc tới giá trị truyền thống, không dám tiếp tục kiên định tư tưởng độc lập và nhân cách của phần tử tri thức. Ví dụ như Phùng Hữu Lan, Quách Mạt Nhược, chỉ vì một câu phê bình của Mao Trạch Đông mà sợ tới mức gấp rút thay đổi quan niệm học thuật của mình. Đối với phần tử trí thức mà nói, tư tưởng độc lập và nhân cách cũng chính là sinh mệnh. Sự phá hủy này đã khiến nội tâm của phần tử trí thức vô cùng đau khổ, ngòi bút cũng không thể lột tả hết.

“Phần tử tri thức” đã từng là từ đồng nghĩa với “đạo đức”, đại diện cho hình tượng xã hội thanh bần, chính nghĩa, trí thức, hàm dưỡng, không chạy theo thói đời. Đến thời Giang Trạch Dân, trong giới quan chức của đảng xuất hiện vai trò này – “thầy hóa trang chính trị”, quá khác biệt so với văn nhân chính thống. Họ là những người thợ thủ công, thổi còi trên vũ đài chính trị, không còn phù trợ quân tử thánh hiền, mà là hùa vào cùng quân đầu trộm đuôi cướp Giang Trạch Dân.

Trong vũng máu thảm sát dưới bánh xe tăng, làn đạn pháo, trong tiếng sóng phản đối và lên án của cộng đồng quốc tế, kẻ cầm quyền Giang Trạch Dân cần phải bôi trát một lớp sơn màu chính trị. Vậy là nhóm văn nhân này phát minh ra cái gọi là “Ba đại diện” [học thuyết của Giang Trạch Dân]. Chúng không chỉ tống táng vận mệnh của đất nước về chính trị, mà còn làm nhơ nhuốc sự trong sạch cần có của phần tử trí thức về phương diện đạo đức.

Tới nay, các “học giả chuyên gia” của Trung Quốc sớm đã không còn giống với phần tử trí thức đã kế thừa văn hóa và phương thức truyền thống sâu dày đó. Trong đó tuyệt đại đa số đều bị tẩy não bằng Thuyết vô Thần, triết học đấu tranh và lịch sử phát triển xã hội của Trung Cộng. Họ chỉ là những nhân viên chuyên nghiệp nắm vững khoa học kỹ thuật, hoàn toàn chưa từng nghiên cứu sâu về văn hóa Nho – Thích – Đạo, lại càng chưa từng dung nhập nó vào cuộc sống.

Trung Cộng ngày nay làm ra thứ biểu ngữ “Tôn trọng tri thức, tôn trọng nhân tài”, biểu diễn cái gọi là “Đảng ân hạo đãng”. Phần tử ngụy trí thức thì dồn hết sức biên đạo, lặp lại những lý luận minh chứng cho tính hợp pháp về sự thống trị của Trung Cộng, hay là sự hợp lý cho những thảm kịch trong xã hội. Trung Cộng đã thành công trong việc tạo ra tam giác sắt “Tinh anh chính trị, tinh anh kinh tế và tinh anh văn hóa”, điều nó cần là phần tử trí thức giống như Hà Tộ Hưu khi đối diện với công nhân mỏ bị chết trong hầm mỏ đã nói rằng: “Ai bảo anh bất hạnh sinh ra tại Trung Quốc”.

Còn một vài phần tử trí thức bị ô nhiễm nghiêm trọng bởi Văn hóa đảng, dẫu vẫn còn lương tri cơ bản của con người, nhưng lại không có lòng yêu nước thương dân, khổ nỗi không có đường báo quốc an dân nên đành phải tranh thủ thân phận “trong thể chế”, yêu cầu “cải cách trong thể chế”, mọi chuyện cần “giải quyết trong thể chế”. Giải quyết trong thể chế chính là trước tiên xưng thần (bề tôi) với Đảng Cộng sản, thừa nhận quyền khống chế và quyền sử dụng tùy ý của Đảng cộng sản và Văn hóa đảng với mình, từ đó mà nhận được một chút quyền phát ngôn đáng thương. Trong một môi trường xã hội không có sự lựa chọn, một số người lớn lên trong sự thấm đẫm của văn học Liên Xô và những tác phẩm lớn của Đảng Cộng sản, trân quý nơi ăn chốn ở trong quá trình bản thân mình trưởng thành, không hề biết rằng đó là thuốc độc, khó có thể vứt bỏ nút thắt trong tâm về lý tưởng với Đảng Cộng sản, thừa sức gào thét trước những bất công trong xã hội, nhưng lại không thể giúp mọi người nhận rõ Trung Cộng mới thực sự là ngọn nguồn của vạn tội ác. Cách những người này ký thác hy vọng vào Đảng Cộng sản thực ra là dùng nghĩa cử cá nhân mình mà che giấu sự xấu xa của Trung Cộng, kéo dài thọ mệnh của Trung Cộng.

2) Phê phán Thích gia và Đạo gia

(1) Phủ định sự tồn tại của Thần, Phật, làm sai lệch động cơ tôn giáo

Tư tưởng của Lão tử từng được Khổng Tử cho là “Rồng trong mây”. Ngày nay giới học giả phương Tây vẫn luôn tôn sùng tư tưởng của Lão Tử. Những câu cách ngôn trong “Đạo Đức kinh” như “Phúc hề họa chi sở ỷ, họa hề phúc chi sở phục” (Trong phúc có họa, trong họa có phúc), “Thiên lý chi hành, thủy vu túc hạ” (Hành trình nghìn dặm bắt đầu từ dưới bước chân) vẫn có sức ảnh hưởng trường tồn cho tới tận ngày nay. Bắt đầu từ thời Hán, Phù Lục, Đan Đỉnh của Đạo gia đều rất sùng kính Lão Tử, đã lưu lại thần tích của những người tu luyện Đạo gia như Trương Đạo Lăng, Khâu Hoằng Tế, Hứa Tinh Dương, Cát Hồng, v.v.. bạch nhật phi thăng. Những bậc Đế vương trong các triều đại thường coi Đạo sỹ là Quốc sư, Trương Lương từng tự xưng là “dùng ba tấc lưỡi làm thầy giáo của vua”, những người còn lại như Gia Cát Lượng thời Thục Hán, Viên Thiên Cương, Lý Thuần Phong thời nhà Đường, Miêu Quang Nghĩa thời Tống, Lưu Bá Ôn triều Minh đều được những vị vua khai quốc đối xử bằng nghi lễ dành cho Quốc sư. Thành Cát Tư Hãn những năm cuối cũng không ngại đường xa vạn dặm thỉnh mời Khâu Xử Cơ, hiệu Trường Xuân Tử tới giảng Đạo.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Thích Ca Mâu Ni ngồi dưới gốc cây Bồ đề bảy bảy bốn chín ngày, sau cùng khai công khai ngộ, thấu triệt mọi chân tướng về vũ trụ trong cảnh giới của ông. Ông dạy con người trọng đức hành thiện, nhảy thoát khỏi luân hồi. Thích Ca Mâu Ni có mười đại đệ tử, đều có thần thông rất cao. Đạt Ma, đệ tử đời thứ 12 của ông qua sông chỉ với một cọng lau, người phi thường mới có thể làm được như vậy. Sau đó ông ngồi quay mặt vào núi Tiểu Thất chín năm, mang thân hình in trên đá, trở thành kỳ quan thiên cổ. Huệ Năng, Lục tổ của Thiền Tông đã viên tịch hơn 1.000 năm mà nhục thân vẫn không bị hư nát, đến nay vẫn ngồi an nhiên trong chùa Nam Hoa tỉnh Quảng Đông.

Trung Cộng một mặt tuyên truyền lịch sử phát triển xã hội, phủ định sự tồn tại của Thần; mặt khác khiến những người đại diện trong nội bộ các tôn giáo phát tán những lời phủ định người sáng lập tôn giáo. Phật giáo cho rằng Phật là người sáng tạo ra thế giới thiên quốc, như thế giới Cực Lạc là do nguyện lực của Phật A Di Đà mà thành. Còn Triệu Bốc – Hội phó Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc đầu năm 1965 trong cuộc gặp gỡ với Tổng thống của Ấn Độ lại nói: “Phật Đà được thần thánh hóa”, “Phật không phải là đấng sáng thế ra vạn vật… không thể làm chủ được hung cát, phúc họa của con người.” Cũng giống như vậy, Chủ tịch Giáo hội Tam Tự của Ki-tô giáo cũng chịu sự khống chế của Trung Cộng, đã nói rằng thần tích của Giê-su là do tự ông “tung hứng” và nói: “Thượng Đế đã mang chìa khóa giúp nhân loại được cứu vớt, đoạt lại từ tay giáo hội, giao lại cho Đảng Cộng sản rồi.”

Thần Phật là cái gốc của tôn giáo. Vô luận là Phật giáo, Đạo giáo hay những chính giáo khác, các tín đồ đều nỗ lực đề cao cảnh giới của mình, cuối cùng cũng là vì để tới được thế giới thiên quốc của Thần Phật, như Tịnh Độ Tông của Phật giáo, hy vọng sau khi vãng sinh được tới thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà. Nếu phủ nhận sự tồn tại của Thần Phật, phủ định thế giới Thiên quốc, đối với tín đồ tôn giáo mà nói tu luyện hoàn toàn không còn chút ý nghĩa, còn đoàn thể tu luyện của tôn giáo này cũng sẽ tan rã.

Trung Cộng tuyên truyền Vô Thần luận, mô tả tôn giáo là “sự phản ánh hư cấu của lực lượng tự nhiên và lực lượng xã hội trong ý thức của con người”, là “sự khủng hoảng và tuyệt vọng gây ra những khổ nạn to lớn của chế độ bóc lột đối với người lao động”. Xét về tuyên truyền này, mọi giáo nghĩa liên quan tới Thiên quốc, Địa ngục, thiện ác báo ứng đều là đối tượng bị Trung Cộng phủ định trực tiếp.

Trung Cộng tuyên truyền rằng: “Khổ nạn của xã hội là mảnh đất phì nhiêu cho tôn giáo tồn tại và phát triển”, và cố tình coi chuyện một số người thường gặp khổ nạn, đau khổ tuyệt vọng mà gia nhập vào tôn giáo là chuyện thường tình của các tín đồ tôn giáo.

Kỳ thực, Trương Đạo Lăng (tức Sư phụ Trương) của Đạo gia từng ba lần được Hán Hòa Đế thỉnh mời làm Thái phó (Trong chế độ quan cửu phẩm là quan đứng đầu nhất phẩm). Trương Đạo Lăng đều không đáp lại, mà ẩn cư tu luyện trong núi Hạc Minh. Trước khi Phật Thích Ca Mâu Ni xuất gia, ông là thái tử của nước Già Tỳ La Vệ. Cha ông vì muốn ngăn chặn ý niệm xuất gia nên đã xây một đại hoa viên, tu sửa cung điện nguy nga tráng lệ, lệnh cho mấy trăm cung nữ ngày đêm ca múa đàn hát bầu bạn cùng ông và lấy đệ nhất mỹ nữ Ấn Độ Yeah Lose Indra làm vợ. Vậy mà thái tử vẫn nửa đêm cưỡi ngựa vượt tường thành, tới khổ tu trong rừng núi. Sau khi Thái Tử thành Phật, 51 người trong 56 người đầu tiên được cứu độ đều là công tử gia tộc giàu có của nước Ba La Nại. Thế Tôn về nước thuyết giảng Phật Pháp, có 500 đệ tử xuất thân trong vương tộc quyền quý, nhân phẩm, dung mạo thập toàn đều theo Phật xuất gia. Do đó xuất gia tuyệt đối không phải là chạy trốn trước khổ nạn hiện thực (do thất tình hay kinh tế khó khăn), mà là phát tâm bồ đề, là đại nguyện dùng kiếm trí huệ cắt đứt duyên thế tục.

Trước khi Trung Cộng cướp chính quyền dân gian có môi trường tín Thần. Những người tu hành trong Thích giáo và Đạo giáo được gọi là “Pháp sư”, “Đạo trưởng”, “Cao tăng đại đức”, là biểu tượng đức cao vọng trọng, cũng là đối tượng được mọi người tôn kính. Dù là Hoàng Đế trong những hoàng triều truyền thống gặp phải cao tăng cũng đều hành lễ thể hiện sự tôn trọng.

Sau khi Trung Cộng cướp chính quyền, nó bèn cưỡng chế quảng bá giáo dục “Lịch sử phát triển xã hội”, phá hoại môi trường tín Thần, miêu tả những người tu hành như những kẻ xuẩn ngốc, vô tri, mê tín, thậm chí còn lợi dụng tôn giáo để kiếm lợi. Lúc này, địa vị xã hội của người tu hành rớt xuống thê thảm, từ người được kính trọng thành đối tượng bị nhân dân chế diễu. Rất nhiều người xuất gia đã hoàn tục vì suy sụp tinh thần.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

“Làm người tất hướng chỗ cao mà đi,” trong tâm mỗi người đều đang âm thầm trân quý danh vọng bản thân mình, hy vọng gia nhập đội ngũ những người thành công. Trung Cộng miêu tả những giáo đồ của Phật, Đạo như kẻ thất bại, thậm chí là “giai cấp bóc lột”, miêu tả những người tín phụng Thần Phật thành những kẻ mê tín và tư tưởng lạc hậu. Điều này cũng sẽ khiến dân chúng giữ khoảng cách với các tín đồ.

(2) Hủy hoại hoàn cảnh vật chất của tu hành

Nếu người xuất gia không để ý tới cách nhìn của thế tục mà tiếp tục tinh tấn tu hành, vậy thì tiếp theo Trung Cộng sẽ phải cắt đứt nguồn lương thực của người tu hành.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Thường thì nguồn lương thực của người tu hành đến từ hai phương diện, một là từ sự cúng dường của nhân dân, hai là thu hoạch từ hoa màu trên đất của nhà chùa. Khi Trung Cộng muốn phá hoại môi trường tín Thần tại dân gian, thì nguồn lương thực đầu tiên đã bị cắt đứt. Còn đối sách của Trung Cộng với nguồn cung cấp thứ hai là cải cách ruộng đất. Theo “Chỉ thị về vấn đề giải phóng nông nghiệp, ruộng đất tại khu vực ngoại ô” do Trung Cộng ban hành tháng 01 năm 1950 quy định, ruộng đất của đình chùa miếu mạo, nhà thờ đều thuộc về tài sản quốc gia. Tại đền chùa khắp nơi tất cả những tăng ni còn sức lao động bị chuyển tới làm việc tại ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủ công nghiệp, ngành dịch vụ hay những nơi như xưởng bao tải, xưởng dệt, xưởng in, tổ may ni cô.

Theo truyền thống Phật giáo, những giáo đồ của Phật giáo tiểu thừa đều sống nhờ vào khất thực, hoàn toàn không sản xuất. Sau khi truyền giáo vào Trung Quốc, Tứ tổ Thiền Tông là Đạo Tín định cư tại núi Song Phong, tụ tập 500 người, vì nơi ở cách xa thành quách, khất thực khó khăn, nên phải tự cày ruộng, tự cấp dưỡng, dùng nông nghiệp để tu tập. Đạo Tín răn dạy những người trong môn đạo rằng “Chăm chỉ chịu khó là căn bản.” “Có thể làm 3-5 năm, chỉ cần ăn một miếng lót dạ liền đóng cửa ngồi thiền”. Từ đó có thể thấy, sản xuất nông nghiệp hoàn toàn không hề có mục đích, chỉ là vì có thể đả tọa ngồi thiền từ đó mà lao động nuôi thân. Hơn nữa chỉ cần có miếng cơm ăn liền muốn ngồi không đả tọa.

Vì sự lũng đoạn của Trung Cộng về tư liệu sản xuất và hành vi thương nghiệp, tính chất sản xuất trong đền chùa đạo quán đã không còn giống chủ trương lấy nông dưỡng thiền như Đạo gia đề xướng, mà hoàn toàn trở thành đơn vị công tác bị thế tục hóa và chịu sự kiểm soát về kinh tế của Đảng Cộng sản, sinh tồn nhờ vào hơi thở của Đảng Cộng sản. Sự lệ thuộc vào chính quyền về kinh tế đã kết thúc tính độc lập của tôn giáo, đồng thời trở thành nô bộc.

(3) Hủy diệt thân thể

Ngày 01 tháng 07 năm 1995, Trung Cộng ban hành “Chỉ thị về việc triển khai đấu tranh loại bỏ những phần tử phản cách mạng từ trứng nước”, mà lịch sử gọi là “Cuộc vận động thanh trừ quân phản cách mạng” đã gương cao cờ hiệu “Làm trong sạch đội ngũ Phật giáo, Đạo giáo”, giết một người đe trăm người, coi những tăng ni, đạo sỹ không hợp tác với Trung Cộng là phần tử phản cách mạng mà bắt giữ, bắn chết. Sự bóc lột về kinh tế, sự đàn áp về chính trị và sự khủng bố do “thêu dệt tội danh, vạn người công thẩm, tuyên án, bắn chết” đã khiến rất nhiều tăng ni đứng về phía Đảng Cộng sản.

(4) Làm lệch lạc kinh điển tôn giáo, dung tục hóa tôn giáo

Phật giáo coi “Phật, Pháp, Tăng” là Tam bảo. Trong đó “Pháp” chính là Kinh Phật. Trung Cộng ngoài việc phủ định sự tồn tại của Phật, trấn áp bức hại cao tăng, đại đức ra, chúng còn đê hèn và nham hiểm hơn khi phá hoại kinh điển Phật giáo.

Trong “Kinh Đại Ban Niết Bàn”, Thích Ca Mâu Ni đã dự đoán được tình hình trong tương lai, tức là có ma vương chuyển sinh thành tăng ni và nam nữ cư sĩ nhằm phá hoại Phật Pháp từ trong nội bộ.

Những năm 20, 30 của thế kỷ trước,  hòa thượng Thái Hư đưa ra cách nói “Phật giáo nhân gian”, cho rằng tam thừa cộng Pháp (Thiên thừa, Thanh Vấn, Viên Giác) hoặc thuộc về “Thần quyền mê tín” hoặc thuộc về “tiêu cực lánh đời”. “Phật giáo nhân gian” lại tiến thêm một bước nữa khi chủ trương “cuộc sống hóa tu hành hiện đại” và “trường học hóa tu hành hiện đại”, “sự nghiệp Phật giáo hiện đại hóa nên bao gồm nhà xưởng, nông trường, bảo hiểm, ngân hàng, công ty, cái gọi là nông công thương .v.v..” Cách làm thế tục hóa, dung tục hóa Phật giáo bằng cách chụp dải mũ “Phật giáo nhân gian” trực tiếp đi ngược lại nguyên nghĩa của Phật Đà, hoàn toàn không phù hợp với cách tu hành của Phật giáo mấy nghìn năm nay luôn phát nguyện xa rời thế tục, theo đuổi sự thăng hoa về tâm hồn và siêu thoát. Tổ tiên của Bạch giáo Phật Milarepa của Phật giáo truyền từ Tây Tạng cũng nói với đệ tử của mình rằng: Trước khi Ông tu thành chính quả thì không nói tới sự nghiệp độ chúng sinh.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Như loại hình thứ ba trong Văn hóa đảng mà phần giới thiệu đã chỉ ra, tư tưởng đã tồn tại của Trung Cộng được tăng thêm “lời biểu dương quang minh vĩ đại” và quảng bá nó nhờ vào việc điều động nguồn tài nguyên quốc gia mà nó nắm giữ về cả chiều sâu và chiều rộng.

Trung Cộng cho rằng rất nhiều cách nói hư hư thực thực “Phật giáo nhân gian chính là thứ có thể tận dụng nhiều hơn”, chỉ cần tín đồ chuyển ánh mắt chăm chú vào “Thiên quốc” sang quan tâm tới “nhân gian”, thì Trung Cộng có thể dễ dàng thêu dệt rất nhiều lời hoang đường, thao túng tư tưởng của giáo đồ. Cho nên truyền nhân của “Phật giáo nhân gian”, Triệu Phác Sơ [Hội trưởng Hội Phật giáo Trung Quốc], đệ tử của “Thái Hư” [trụ trì chùa Nam Phổ Đà, kiêm Viện trưởng Phật học viện Mân Nam] đã trở thành người đại diện lý tưởng nhất của Trung Cộng.

Dưới sự dẫn dắt của Triệu Phác Sơ, Hội Phật giáo Trung Quốc luôn miệng nhắc tới “quốc thổ trang nghiêm, lợi lạc hữu tình”. Thực tế Phật giáo nhắc tới “quốc thổ trang nghiêm” là chỉ mảnh đất tịnh độ nơi nước Phật trang nghiêm (Như câu thơ “Nguyện dĩ thử công đức, trang nghiêm Phật tịnh thổ, tạm dịch: Nguyện mang công đức này làm trang nghiêm tịnh thổ nơi đất Phật” trong “Diệu Pháp Liên Hoa Kinh”), “Lợi lạc hữu tình” là chỉ “Chúng sinh hữu tình” được hóa độ tới bờ bên kia của cõi niết bàn, chứ tuyệt đối không giống với cách nói của Hội Phật giáo: “Tích cực tham gia kiến thiết tổ quốc, nỗ lực vì dân phục vụ.”

(5) Thành lập Hiệp hội tôn giáo Trung Cộng, khiến người được ủy quyền phê phán tôn giáo từ trong nội bộ

Vào những năm 50, Trung Cộng thành lập một Hiệp hội Phật giáo chịu sự thao túng của nó, để cho người ủy quyền của nó chiếm vị trí quan trọng, trở thành tổ chức chính trị giống với cái mà hiện nay được gọi là tám “Đảng phái dân chủ” phụ thuộc vào Trung Cộng. Những hiệp hội này được quy về dưới quyền kiểm soát của Bộ Quốc phòng trong thể hệ tổ chức của Đảng, mục đích của nó không phải là nhằm phồn vinh tôn giáo, mà là khống chế tôn giáo.

Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc ngay trong thiên mở đầu của nó đã nhiệt liệt ca tụng Trung Cộng đàn áp phản cách mạng và “Cảm ơn tất cả những nhà lãnh đạo này – Chủ tịch Mao, lãnh tụ vĩ đại của chúng ta và Chính phủ nhân dân trung ương”, ngôn ngữ nịnh bợ, không hề thua kém bất kỳ một tổ chức thế tục nào.

Phật Thích Ca Mâu Ni là Thái tử Tất Đạt Đa nước Già Tỳ La Vệ tại Ấn Độ. Sau khi xuất gia lại có vua Bình Sá muốn nhường lại vương vị, Thái tử Tất Đạt Đa đều không tiếp nhận mà ẩn cư trong rừng núi khổ tu. Có thể thấy ý nghĩa chân chính của Phật giáo không nằm ở sự phồn hoa của thế gian và chính trị thế tục. Còn Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc dưới sự thao túng của Trung Cộng trong tôn chỉ được xác lập theo điều lệ thành lập của nó lại yêu cầu đệ tử Phật giáo tham gia cái gọi là “Kiến thiết văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa.”

Tình hình Đạo giáo cũng gần giống với Phật giáo. Trong điều lệ Hiệp hội Đạo giáo Trung Quốc được thông qua năm 2005 quy định rõ ràng rằng phải “Tăng cường học tập chính sách thời sự, nâng cao giác ngộ chủ nghĩa yêu nước của môn đồ Đạo giáo và tính giác ngộ tương ứng với xã hội Chủ nghĩa xã hội v.v.. xúc tiến sự tương thích giữa Đạo giáo và xã hội Chủ nghĩa xã hội.” Nói một cách đơn giản, nhằm cống hiến sức mạnh công cuộc kiến thiết một xã hội hài hòa.” Nói một cách đơn giản, Hiệp hội Đạo giáo chính là muốn “Đạo Đức Kinh” thích ứng với chính sách của Trung Cộng, muốn cải biến nội hàm của tín ngưỡng một cách trắng trợn.

Hiệp hội Phật giáo, Hiệp hội Đạo giáo dựa vào Trung Cộng về mặt chính trị, ắt sẽ giải thích giáo lý theo cách nhìn của Trung Cộng. Tôn giáo cho rằng thế giới là khổ nạn. Khổ nạn này là so với sự mỹ hảo của thế giới thiên quốc một cách tự nhiên, nếu không thì không thể giải thích được vì sao Thích Ca Mâu Ni vứt bỏ vương vị đi tu hành. Nhưng người được ủy quyền về tôn giáo của Trung Cộng lại nói dối rằng dưới sự thống trị của Trung Cộng “không thể lại nói thành đen tối, đau khổ.” Mà tiến xa hơn một bước nữa là nhằm để các tín đồ hòa nhập vào thế tục thêm bước nữa, các hiệp hội đều phê phán cái gọi là “quan niệm tôn giáo tiêu cực chán ghét cuộc đời, chạy trốn hiện thực”, khiến giáo đồ tin vào việc xây dựng thiên đường giữa nhân gian. Cách nói này hoàn toàn khác với diệu pháp tứ đế “Khổ, Tập, Diệt, Đạo” mà Phật Đà nói.

Những người đại diện cho hiệp hội tôn giáo này dùng những tài nguyên được tích cóp trong tôn giáo của mình để tiến hành phê phán từ trong nội bộ, ví dụ như chủ trương phá bỏ giới luật trong Phật giáo và nói rằng những điều lệ kinh điển này đã hại chết rất nhiều nam thanh nữ tú. Cách phê phán từ trong nội bộ này còn có sức phá hoại hơn nhiều so với sự phá hoại của Trung Cộng từ bên ngoài.

(6) Ngụy tạo giả tướng về tự do tôn giáo

Cái mà Trung Cộng gọi là “Tự do tôn giáo” là một loại ngụy tự do, nó có một tiền đề là kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Nói một cách đơn giản, một người thắp hương, dập đầu, sám hối, cầu nguyện, làm gì cũng được, nhưng khi tín ngưỡng của họ xung đột với Đảng Cộng sản thì nó phải phục tùng Đảng Cộng sản.

Biểu hiện của ngụy tự do tôn giáo là thế tục hóa tôn giáo, cơ quan hóa đoàn thể tôn giáo, thương nghiệp hóa lập trường tôn giáo, chính trị hóa hoặc cán bộ hóa lãnh tụ tôn giáo.

Tại Trung Quốc, Cục Tôn giáo là một ban ngành mà chính phủ dùng để khống chế tôn giáo. Rất nhiều phương trượng trong đền chùa, những trụ trì trong Đạo quán đồng thời cũng là cán bộ của Trung Cộng, họ có cấp bậc hành chính, lĩnh lương, tham gia hội nghị chính trị và hợp tác hiệp thương, thậm chí còn được cấp xe cộ, máy tính, mỗi tuần đều tham gia học chính trị. Điều duy nhất khác với cán bộ Trung Cộng chính là những người này mặc áo cà sa hoặc áo đạo sỹ mà thôi. Tâm của họ không nằm ngoài [thế tục], cũng chẳng “tứ đại giai không” (hàm ý vô ngã). Đền chùa cũng chỉ là đơn vị công tác của họ mà thôi.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Một biểu tượng khác của tự do tôn giáo chính là kiến lập vũ trụ rộng lớn, tổ chức những cuộc đại hội tôn giáo, sửa tượng Phật giáo, in kinh sách, gây cho con người giả tượng về việc Trung Cộng tích cực hỗ trợ tôn giáo.

Trong Bài bình luận số 6 của Cửu Bình viết: “Một lần nữa, lấy các chùa làm ví dụ. Các chùa có ý nghĩa là các địa điểm để con người tu hành, nghe chuông chùa buổi sáng và tiếng gõ mõ lúc hoàng hôn, lễ bái đức Phật dưới ngọn đèn dầu. Người ta trong xã hội người thường cũng có thể sám hối tội lỗi và lễ bái ở đó. Tu hành đòi hỏi một tâm thanh tịnh, không theo đuổi bất cứ điều gì. Sám hối tội lỗi và lễ bái cũng đòi hỏi một hoàn cảnh kính cẩn và nghiêm trang. Tuy nhiên, các chùa đã bị biến thành các nơi du lịch vì mục đích lợi nhuận kinh tế. Trong số những người thực sự thăm viếng các chùa ở Trung Quốc ngày nay, bao nhiêu người đến để suy nghĩ về những lỗi lầm của mình với một trái tim thành thật và kính cẩn trước Phật ngay sau khi tắm gội và thay quần áo?”


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Như Thiếu Lâm Tự của Trung Quốc do tổ tiên Thiền tông thành lập ngày nay đã trở thành điểm đến du lịch và nơi chụp ảnh, phương trượng của Thiếu Lâm Tự bán đứng văn hóa Thiếu Lâm, gần đây y đã quyết định chi 350 triệu nhân dân tệ nhằm biến nơi đất Phật thanh tịnh thành nơi du ngoạn nên bị gọi một cách chế giễu là “CEO” (Giám đốc điều hành) Thiếu Lâm Tự. Y tôn sùng quan niệm “Thiếu Lâm Tự cũng nên có xí nghiệp”, thế là lái xe vượt dã hào nhoáng, đi máy bay du lịch khắp nơi trên thế giới, vạch chiến lược cho những buổi biểu diễn lớn, hàng ngày đều xoay quanh đủ loại nhân sỹ xã hội như những ông chủ lớn của các doanh nghiệp, quan viên chính phủ, bạn bè quốc tế. Đa phần thời gian trong cuộc sống của ông là dùng để tiếp đãi khách khứa và xử lý công việc. Phương pháp tu luyện “mặt nhìn vào vách núi” do Lão tổ Đạt Ma truyền lại cần có một hoàn cảnh thanh tịnh, đến nay đã lui về quá khứ.

Tháng 08 năm 2006, Pháp sư Thánh Quan coi giữ thiền viện tại Hóa Thành tại tỉnh Giang Tây tiến hành lễ siêu độ Phật giáo cho những nạn nhân bị chết trong vụ thảm sát Thiên An Môn “Ngày 4 tháng 6” mà bị chính quyền địa phương uy hiếp, bức bách ông phải rời khỏi chùa. Cục trưởng Hà của Cục tôn giáo huyện Quế Dương nói với Pháp sư rằng: “Ông ăn, uống, chơi gái, đánh bạc đều được, chỉ là không được phản đối Đảng Cộng sản.”

Ngụy tự do tôn giáo đã khiến rất nhiều người không minh bạch chân tướng gia nhập vào những nơi tôn giáo do Trung Cộng tổ chức, những kinh điển mà họ học tập nghiên cứu bị Trung Cộng làm lệch lạc, chính tín của họ bị ăn mòn bởi lợi ích thế tục của Trung Cộng. Đây đều là cái thòng lọng mà Trung Cộng phá hoại Phật giáo, Đạo giáo một cách có hệ thống.

Đồng thời ngụy tự do tôn giáo cũng khiến hàng loạt những người có nhân phẩm hành vi độc ác xấu xa nghe theo Trung Cộng lại trở thành người trụ trì tại những ngôi chùa và đạo quán và những người phụ trách hiệp hội tôn giáo các cấp. Một mặt họ tích cực hợp tác với yêu cầu của Trung Cộng là tô son trát phấn cho ngụy tự do của Trung Cộng ngoài quốc tế, mặt khác vẫn lao vào kiếm tiền, thậm chí là ăn chơi, gái gú, cờ bạc. Như hòa thượng trong hai ngôi chùa tại Quảng Đông tới Tam Nguyên chơi gái tập thể; hòa thượng trong ba ngôi chùa cổ tại chùa Quang Hiếu, chùa Pháp Tràng, chùa Nam Sơn chơi gái tập thể; hội trưởng hiệp hội Phật giáo Quảng Đông, hòa thượng Minh Sinh là phương trượng của chùa Quang Hiếu mở một quán ăn chay tên là “Phường Cam Lộ” trong chùa, y dẫn mấy người trông như kỹ nữ đứng trước cửa chùa tiếp đãi thực khách…

Từ cổ chí kim Trung Quốc đã có truyền thống thờ Thần bái Phật, nhưng điều đáng chỉ ra là những người tới thắp hương cầu nguyện đều tin là những điều không như ý trước mắt chính là nhân quả báo ứng gây nên, cầu nguyện tương lai sẽ phải làm bao nhiêu việc tốt để bù đắp lại với sự ăn năn, hy vọng Thần Phật thương tình ban cho chút thuận lợi nhất thời, giải thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn trước mắt. Những ngụy nhân sỹ tôn giáo lại làm sai lệch ý nghĩa của việc khấn Thần bái Phật thành việc bố thí tiền tài có thể được bảo hộ, mà hoàn toàn không quan tâm xem những đồng tiền đó có phải là tiền cướp bóc hay tham ô mà có được hay không. Lúc này cầu Thần bái Phật từ “ăn năn” trở thành “buôn Thần bán Phật”.

Kiểu ngụy tự do tôn giáo “Tham quan bái Phật, hòa thượng gái gú” này có sức phá hoại lớn nhất với chính giáo, rất nhiều người vì vậy mà phê phán tôn giáo là nơi giả tạo, kiếm chác và dâm loạn, kiểu phê phán tự phát này có ảnh hưởng sâu rộng hơn cả việc Trung Cộng trực tiếp vu khống Phật giáo.

Điều cần phải nhấn mạnh là sự phê phán của Trung Cộng nhằm vào Nho giáo, Đạo giáo, Thích giáo là trên nhiều giai tầng, bao gồm cả phê phán về tầng lý luận, tiến hành phê phán Nho giáo – Thích giáo – Đạo giáo từ trong nội bộ tôn giáo, tiến hành thanh lý tư tưởng từ trong Đảng, tiến hành yêu quái hóa Nho giáo – Thích giáo – Đạo giáo. Kiểu phê phán này là phê phán kéo dài liên tục trong một thời gian dài, xuyên suốt trong giáo dục, trong cuộc sống, giúp cho việc cường điệu những cuộc vận động chính trị theo định kỳ, người người viết văn, hoặc đạo văn, cưỡng chế tẩy não v.v.. Đồng thời, kiểu phê phán này tiến hành theo kiểu phủ định toàn diện, không còn mảnh đất trống nào để con người có thể lưu giữ tư tưởng truyền thống. Trong sự tuyên truyền hình thái ý thức Vô Thần luận, Thuyết duy vật một cách điên cuồng, trong sự yêu quái hóa đầu độc Nho giáo, Thích giáo, Đạo giáo, trong sự uy hiếp bạo lực chính trị, trong sự điên đảo do Trung Cộng sắp xếp người đại diện làm loạn từ trong nội bộ một cách hiểm ác, Trung Cộng đã hoàn thành việc phê phán và thay thế một cách có hệ thống đối với Nho giáo – Thích giáo – Đạo giáo. Ngày nay, đa phần người Trung Quốc đã không biết Nho giáo – Thích giáo – Đạo giáo là gì, chỉ cần một câu “phong kiến mê tín” là đủ để phản kích và tránh xa, chỉ cần phê phán bằng khẩu hiệu, không cần chứng minh.

2. Phê phán quan niệm truyền thống

“Thiên hành Kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức”, “Địa thế Khôn, quân tử hậu đức tải vật” (Trời hành Kiện, quân tử tự cường không mệt mỏi; Địa thế Khôn, quân tử đức dày chở vật), Hai quẻ đầu trong “Kinh dịch” đã điểm trúng thái độ của người Trung Quốc với trời đất, quân tử thuận Thiên đạo mà hành mới có thể luôn luôn cường thịnh, dùng nhu thuận theo đạo đức cao dày mà chứa đựng vạn vật. Đối với người thì chân thành, tin tưởng và hòa ái, từ mình mà hiểu lòng người, mở rộng sự tôn kính với người già và sự yêu thương bảo vệ với trẻ nhỏ trong nhà ra áp dụng với tất cả những người già và trẻ nhỏ, chính là điều gọi là “Giảng tín tu mục” (dạy điều tín, ăn ở hòa thuận), “Lão ngô lão dĩ cập nhân chi lão, ấu ngô ấu dĩ cập nhân chi ấu”(Tôn kính cha mẹ, người bề trên của chính mình rồi mở rộng thành lòng tôn kính cha mẹ, người bề trên của kẻ khác, yêu thương con cái của chính mình thành lòng yêu thương con cái của người khác). Có như vậy Tam Tài – “Thiên Địa Nhân” mới được kiến lập, gốc rễ của quan niệm truyền thống được định ra như vậy.

Người Trung Quốc kính Thiên, kính Địa, kính Thần, kính tổ tiên do đó đã hình thành một đạo xử thế trong cuộc sống đời thường, truyền lại cho muôn đời sau.

Còn Đảng Cộng sản lại “phải nhất quán quan niệm truyền thống, thực thi một cách quyết liệt, triệt để nhất” (Tuyên ngôn Đảng Cộng sản). Nó phê phán quan niệm truyền thống, là một bước tất yếu nhằm triệt để thanh trừ Văn hóa truyền thống và tín ngưỡng trong cuộc sống của người dân Trung Quốc.

Từ khi Trung Cộng bắt đầu xây dựng chính quyền, nó đã giáo dục toàn dân bằng “Lịch sử phát triển xã hội” nhằm tẩy não toàn dân một cách có hệ thống, quy kết “sự lạc hậu”, “ngu dốt” của Văn hóa truyền thống là nguyên nhân khiến Trung Quốc bị chiến tranh xâm lược gần 100 năm qua, miêu tả xã hội truyền thống thành xã hội cũ “thối nát, lạc hậu”, dán nhãn “ngu dốt và mê tín” cho tín ngưỡng trong quan niệm truyền thống, dán nhãn cho đạo đức truyền thống là “lễ giáo ăn thịt người”. Như vậy, Trung Cộng đã lợi dụng tâm lý tự tôn dân tộc và nguyện vọng tự cường của người Trung Quốc đã phát động cái gọi là cuộc vận động phá bỏ “mê tín phong kiến” trong xã hội, giương cao khẩu hiệu “di phong dị tục”, cự tuyệt tất cả những hoạt động dân gian liên quan tới tín ngưỡng truyền thống. Đồng thời Trung Cộng còn gán cho quan niệm truyền thống là công cụ thống trị giúp “kẻ thống trị phong kiến” khiến nhân dân trở nên mê muội, “khiến họ bằng lòng với cuộc sống bị bóc lột”, phê phán trật tự xã hội truyền thống thành “chế độ chủng tộc phong kiến” bức hại bách tính, là tương ứng với “chế độ phong kiến chuyên chế”, khiến những cuộc vận động Văn hóa truyền thống dâng lên thành cao trào chính trị, như vậy có thể thông qua cuộc vận động quần chúng quy mô lớn nhằm “giám sát”, “kiểm duyệt”, “vạch trần” những ngôn từ và hành vi theo quan niệm truyền thống vẫn lưu giữ trong dân gian, đạt được mục đích diệt tận gốc một cách triệt để.

Dưới đây là một vài ví dụ về việc những quan niệm truyền thống bị Trung Cộng phê phán.

1) Phê phán việc kính sợ Trời

Người dân Trung Quốc vẫn luôn bảo trì tâm kính sợ đối với Trời. Dù những người không có tín ngưỡng rõ ràng cũng tin vào “ông Trời”. Trong quan niệm truyền thống của người Trung Quốc, Trời dù vô hình vô tướng, nhưng không chuyện gì không biết, không nơi nào không tồn tại.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Khi vương triều mạt thế hoặc đạo đức trụy lạc phổ biến trong xã hội, Trời liền giáng xuống tai họa, trước đó cũng sẽ có sự cảnh cáo hay điều gọi là “Thiên thùy tượng, kiến cát hung, thánh nhân tắc chi”(Nhìn thiên tượng biết điềm hung cát, thánh nhân thuận theo điều đó). Sau khi Hoàng Đế đăng cơ phải làm lễ tạ ơn Trời, ngày rằm tháng Giêng hàng năm và ngày Đông chí, Vua phải đăng đàn bái Trời, điều này đều thể hiện sự tôn sùng với Trời.

Trong sinh hoạt chính trị, “Trời” ám thị phép tắc trị quốc, Khổng Tử nói “Vi chính dĩ đức, thí như bắc thần, cư kỳ sở nhi chúng tinh củng chi” (Vi chính là đức, như Bắc Thần, ở chỗ của mình mà quần tinh quy tụ). Trong sinh hoạt thường nhật thì là “mật thất tư ngữ, thiên văn như lôi” (Nói thầm trong mật thất, Trời nghe như sấm dậy), binh pháp, kiến trúc, nhạc cụ cũng đều thể hiện quy tắc của Trời, tức là ngay cả tạo phản cũng phải làm ra lá cờ lớn “thay Trời hành đạo”.

Đối với Trời, trong quan niệm truyền thống đều chỉ có sự kính sợ, còn chỉ có Đảng Cộng sản mới “đấu” với Trời.

Sự kính sợ Trời duy hộ đạo đức của con người, quan niệm “nhân mệnh quan thiên” (số mệnh con người liên quan tới Trời) thể hiện sự trân trọng cuộc sống, quan niệm “Thiên nhân hợp nhất” lại rất hữu hiệu trong việc bảo hộ tự nhiên. Đây đều là những chướng ngại ngăn Đảng Cộng sản giết người và hủy hoại môi trường, còn Trung Cộng lại phải dựa vào thủ đoạn giết người khiến con người khiếp sợ mà quy phục nó, phải dùng những lời đao to búa lớn “đấu với Trời, đấu với Đất” để kích động con người sùng bái nó và quyết tâm phá hoại tự nhiên.

Mao Trạch Đông nói: “Ta là hòa thượng che ô, vô Pháp vô Thiên.” “Vô Pháp vô Thiên” vốn mang nghĩa xấu lại trở thành sự dũng cảm mang nghĩa tốt, và cổ động con người tham dự vào cuộc đấu tranh chính trị “vô Pháp vô Thiên” và phá hoại môi trường.

2) Phê phán sinh mệnh và thiện ác báo ứng

Từ quan niệm kính sợ “Trời” của người Trung Quốc đã phái sinh ra quan niệm về “thiên mệnh” và “thiện ác báo ứng”.

“Vận mệnh” là câu mà người Trung Quốc thường nói, lại bị Trung Cộng giải thích là sự tiêu cực và không biết nên làm như thế nào khi gặp khó khăn. Thực tế, hàm nghĩa chân thực của “vận mệnh” là “làm hết sức mình và nghe theo Thiên mệnh” hoặc “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”. Khổng Tử đề xuất “Sinh tử hữu mệnh, phú quý tại Thiên”, nhưng khi 54 tuổi ông lại từ chối tới nước Lỗ nhận chức Đại Sư Khấu, 14 năm Chu Du liệt quốc ông quảng bá vương đạo, biết rõ rằng điều đó không thể làm nhưng vẫn cứ làm. Ở đây không mang hàm nghĩa tiêu cực lánh đời.

Trong cuộc sống cá nhân, tư tưởng “vận mệnh” hoàn toàn không phủ định sự phấn đấu của cá nhân, chỉ là giải thích cho sự bất khả kháng trong kiếp nhân sinh. Nói sâu thêm một bước nữa, quan niệm truyền thống cho rằng vận mệnh của con người được quyết định bởi đời trước, thậm chí là thiện báo hay ác báo cho vài đời trước đã hành thiện hay hành ác. Do đó, “vận mệnh” cũng thường có quan hệ với “thiện ác hữu báo”, “phúc báo”, “quả báo”.

Trong “Kinh Dịch” có nói: “Tích thiện chi gia, tất hữu dư khánh; tích bất thiện chi gia, tất hữu dư ương” (Nhà mà tích thiện, phú quý ắt có thừa, nhà mà không tích thiện, tai ương ắt có thừa). Quan niệm này khiến con người nỗ lực hành thiện, tích góp công đức cho cuộc sống sau này của mình, thậm chí là con cháu đời sau. “Thiện ác hữu báo” cũng dựa trên cơ sở những quan niệm như “Trên đầu ba thước có Thần linh”, “Nhân gian thì thầm, Trời nghe như sấm; phòng tối tâm đen, Thần nhãn như điện” v.v..

Tin vào vận mệnh và báo ứng khiến con người nỗ lực hành thiện, xem nhẹ dục vọng, thuận Thiên mà hành, không vì được mất trước mắt mà không lường tới hậu quả. Tư tưởng này càng khiến con người tin vào trong cõi u mê có Thiên ý, “Nhân tâm sinh nhất niệm, Thiên địa tất tương tri, Thiện ác nhược vô báo, Càn khôn tất hữu tư” (Nhân tâm sinh nhất niệm, thiên địa đều biết rõ. Thiện ác nếu không báo, Càn khôn ắt vị tư).

Với sự thay triều đổi đại, kể từ khi Trung Quốc có chữ viết tới nay đã không ngừng lưu lại dự ngôn về những sự kiện lịch sử trọng đại cho hậu thế, mức độ chuẩn xác của nó đã khiến con người vô cùng kinh ngạc và tán thán. Thiên mệnh quan “Phụng thiên thừa mệnh” này cũng là ngọn nguồn cho tính hợp pháp cầm quyền của vua chúa.

Trung Cộng lại phê phán “vận mệnh” và “báo ứng” là “mê tín phong kiến” và cấm diễn xuất tuyên truyền những vở kịch có chủ đề này. Căn cứ của nó là giả thuyết về “Thuyết vô Thần” và “Chủ nghĩa duy vật lịch sử” không thể nào chứng thực được. Trung Cộng hiểu rất rõ một điều là nếu một người sợ bị báo ứng, người đó quyết không dám theo Trung Cộng hành ác mãi được.

3) Phê phán sự nhu thuận và nhẫn nhịn

“Nhu thuận lợi trinh, quân tử du hành” (Kinh Dịch) dùng quẻ “Khôn” để miêu tả đại địa. Đại địa có đức “nhu thuận”. Tính nhu thuận này không phải là thuận theo một cách vô nguyên tắc, mà là thuận theo Thiên đạo mà hành.

Trong “nhu thuận” có đức “nhẫn nhịn”, “nhẫn một lúc sóng yên gió lặng, lùi một bước biển rộng trời trong.” Điển cố Hàn Tín chịu nhục chui háng đã lưu truyền hơn 2.000 năm, điều này đều phản ánh sự tôn sùng của người Trung Quốc với chữ “nhẫn”.

Trung Cộng lại cổ động đấu tranh, “Triết học của Đảng Cộng sản là triết học đấu tranh”, “Người nếu phạm ta, ta ắt phạm người”. Phương pháp giải quyết vấn đề không phải là thỏa thuận và đối thoại, mà là dựa vào bạo lực và trấn áp, và dám miêu tả sự báo thù thành lòng dũng cảm.

Tô Đông Pha từng nói, sau khi chịu nhục lập tức rút gươm mà đấu với người khác, đây là kẻ phàm phu, về cơ bản không xứng được gọi là người dũng cảm hay dũng cảm chân chính, vốn phải luôn giữ được bình tĩnh cho dù đột nhiên đối mặt với sự xâm phạm. Hơn nữa dù cho gặp phải sự nhục mạ vô cớ cũng có thể khống chế sự phẫn nộ của bản thân, là vì tấm lòng bao la, tu dưỡng sâu dày, ý chí cao xa.

“Nhẫn” trong Văn hóa truyền thống là tự chủ, khoan dung, không ghi nhớ sai lầm của người khác, chứ tuyệt đối không phải là sự yếu mềm, nhượng bộ một cách nhu nhược và vô nguyên tắc.

Trung Cộng chủ trương “người nếu phạm ta, ta ắt phạm người” kỳ thực là tấm lòng hẹp hòi, là biểu hiện của tư tưởng bụng dạ tiểu nhân. Điều này rất phù hợp với tinh thần “đấu tranh” của nó. Kiểu suy nghĩ này khiến con người trong xã hội ân oán không dứt, ai cũng giống như kẻ địch, đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến mối quan hệ giữa con người ngày nay trở nên căng thẳng.

Người Trung Quốc nhìn thấy Càn là cương, Khôn là nhu, cương nhu bổ trợ, vạn vật đều thông suốt, là do lĩnh ngộ được đạo hài hòa. Trong quan niệm truyền thống rất coi trọng chữ “hòa”. Tam cung đại điện trong hoàng thất, lần lượt được gọi là “Điện Thái Hòa”, “Điện Bảo Hòa” đã phản ánh sự tôn sùng với sự hài hòa và hòa thuận.

Hiện nay những từ như “đối thoại”, “thương thảo”, “hợp tác” thường xuất hiện ngoài miệng người phát ngôn của Trung Cộng, những lời lẽ dối trá này là mặt khác của sự trấn áp. Gần như sự kiện Sán Vỹ, sự kiện Hán Nguyên, sự kiện mỏ dầu Thiểm Bắc và những cuộc đàn áp các nhân sỹ đi thỉnh nguyện, nông dân mất đất, những hộ phải di dời, công nhân mất việc, thực chất cũng chính là sự tiếp diễn của tinh thần đấu tranh, lợi dụng thảm sát để giả tạo nên “xã hội hài hòa giả tạo”. Mặt khác, do đấu tranh đã trở thành cột trụ chủ yếu giúp Trung Cộng tồn tại, chỉ cần tìm được cách đối thoại và hòa giải, tự thân Trung Cộng cũng sẽ giải thể.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

4) Phê phán trật tự xã hội truyền thống

Trạng thái tự nhiên “Thiên tôn địa ti” trời cao đất thấp của người Trung Quốc và đối ứng về “Càn khôn” và “Âm dương” trong Kinh Dịch đã mở rộng ra một bộ lý luận về gia đình và xã hội, từ luân lý này lại phát sinh ra trật tự xã hội.

“Tôn ti” (Cao thấp) là một phần quan trọng trong quan niệm truyền thống của người Trung Quốc. Theo Văn hóa truyền thống, “ti” không hẳn là chuyện xấu. Đạo gia vẫn luôn tôn sùng mỹ đức của nước, vì nước thường ở “chỗ thấp”. Phía “chỗ thấp” là phía được yêu mến và bảo hộ, phía “chỗ cao” là phía cần phó xuất. Nam mạnh, nữ yếu, nam cương, nữ nhu. Nhưng cương không nhất định có nghĩa là chuyện tốt. Đạo gia có cách nói “Binh cường tắc diệt”, “nhu nhược thắng cương cường”.

Trung Cộng vẫn luôn đảo lộn trật tự, khoác lác rằng muốn xây dựng một xã hội trong đó mọi người đều bình đẳng. Nhưng xã hội không tồn tại sự bình đẳng theo hàm nghĩa của Trung Cộng.

Trong cuộc sống xã hội, một quốc gia, xí nghiệp, đoàn thể hay gia đình, thường sẽ phải có người đi điều tiết một vài chuyện, có người đưa ra kế hoạch, có người chấp hành một cách cụ thể, đây là một trạng thái xã hội bình thường, cũng là do nhân tố tổng hợp về trí lực, thể lực của mỗi người quyết định. Còn Trung Cộng lại cực đoan hóa điều đó, miêu tả nó thành sự áp bức giai cấp và đấu tranh giai cấp. Cho nên Trung Cộng phải đảo lộn mọi tôn ti và trật tự, điều này thực tế là không thể làm được. Thứ gọi là “giải phóng” kỳ thực là tạo ra “sự hỗn loạn”.

Ví dụ như người đề xướng nam nữ bình đẳng cũng không thể phủ nhận rằng khi gặp phải tai họa, dịch bệnh, nạn đói, chiến tranh thì phụ nữ và trẻ em đều là những đối tượng được bảo vệ đầu tiên. Nếu đề xướng nam nữ bình đẳng, thì dường như phụ nữ nên được đối xử giống như đàn ông, điều này hiển nhiên là không đúng. Năm đó khi con tàu Titanic chìm xuống đáy biển thì phụ nữ và trẻ nhỏ là những người được ưu tiên lên tàu cứu hộ trước, dù là chồng của họ cũng phải cùng chìm xuống với con tàu như một nam tử hán. Không ai có ý kiến khác với quyết định này, điều này phản ánh rằng trong nơi sâu nội tâm của chúng ta không hề có sự bình đẳng tuyệt đối giữa nam và nữ.

Mở rộng ra trong cuộc sống xã hội, một xí nghiệp hay một quốc gia phải có người ra sách lược, quyết định của người ra sách lược phải được người thực thi chấp hành. Quân đội phải có quan tư lệnh, quan quân các cấp và binh sỹ bên dưới chịu trách nhiệm chấp hành mệnh lệnh. Nếu xét từ góc độ công tác xã hội, kỳ thực cũng tồn tại vấn đề “tôn ti”, nhưng “tôn ti” hoàn toàn không phải có nghĩa hiển nhiên là bóc lột và đàn áp, nó cũng cần có mối quan hệ đạo đức tốt đẹp là “nhân” và “trung” ở giữa.

Mở rộng tới phạm vi gia đình, phụ “từ”, tử  “hiếu”, huynh “hữu – hữu hảo” đệ “cung – cung kính”, những luân lý truyền thống truyền tải sự hài hòa của gia đình và xã hội một cách tự nhiên.

Còn nói về “công bằng” một cách căn bản chính là “chúng sinh bình đẳng” trong Phật Pháp, là “Thiên đạo vô thân” (Đạo trời không kể người thân) của Đạo gia, là “hữu giáo vô loại”(dạy dỗ không phân biệt loại người), là “trước mặt Thượng Đế mọi người đều bình đẳng” của phương Tây là bình đẳng về cơ hội, chứ tuyệt đối không phải sự bình đẳng về kết quả.

Những tuyên truyền lệch lạc của Trung Cộng về “bình đẳng” đã khiến xã hội vô cùng hỗn loạn, không còn tôn ti trật tự. Sự giải thích lệch lạc về “bình đẳng nam nữ” kỳ thực chính là sự bức hại đối với phụ nữ, ép buộc họ lao lực đảm đương những công việc không phù hợp với sức mình hoặc không phù hợp với phụ nữ. Ví dụ như trong cuốn sách “Quyết liệt triệt để với quan niệm truyền thống cũ” được Trung Cộng xuất bản vào tháng 04 năm 1976 đã liệt kê ra bài viết của 15 nữ thanh niên, trong đó nghề nghiệp mà các cô theo đuổi vốn dĩ nên do đàn ông gánh vác như công nhân đưa than, đồ tể, công nhân bốc xếp v.v.., “nắm chặt con dao mổ, có thể chịu đựng được cả nửa ngày” đã trở thành đối tượng được ca tụng.

Xã hội dưới sự thống trị của Trung Cộng đồng thời cũng là xã hội rất bất công bằng. Do Trung Cộng lũng đoạn mọi tài nguyên, nó tự gọi mình là công bộc của nhân dân, nhưng thực tế nhân dân đều bị coi như nô lệ, dù là quyền lợi chính trị hay quyền lợi kinh tế, quan dân hoàn toàn không thể nhắc tới một chút bình đẳng.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

5) Lấy tài sản làm căn cứ quan trọng để đo lường đạo đức

Lật ngay chương đầu trong lịch sử Trung Quốc, “Ngũ Đế bổn ký” có ghi lại đức hạnh của Ngũ Đế và sự thừa nhận và tôn kính của người dân trăm họ với những đức hạnh này. Những đức hạnh này ăn sâu vào nội tâm con người, lưu truyền mấy nghìn năm, đồng thời từ vùng đất người Hán đã lan rộng khắp cả khu vực dân tộc thiểu số và những nước khác.

Trong quan niệm của người Trung Quốc, đạo đức và học thức là nguồn gốc của việc có được danh vọng và địa vị. Khổng Tử nói: “Đại đạo chi hành dã, thiên hạ vi công, tuyển hiền dữ năng, giảng tín tu mục” (Hành đại đạo, thiên hạ là của chung, tuyển người hiền tài, dạy điều tín, ăn ở hòa thuận), nhân phẩm của một con người trở thành tiêu chí quan trọng để tuyển chọn quan lại. Thời Hán thịnh hành chế độ Sát cử (quan sát, khoa cử), tiêu chuẩn để được tiến cử là phải có những phẩm chất như “chất phác, đôn hậu, khiêm nhường, tiết kiệm”. Đến thời Ngụy Tấn, quan phủ thực thi chế độ Cửu phẩm trung chính, đạo đức cũng trở thành một nhân tố quan trọng để tuyển chọn quan lại. Đến thời Tùy Đường mở khoa thi tìm sỹ tử, trình độ hiểu biết đối với đạo đức của Nho gia cũng giống vậy, tức là thí sinh có thể viết ra được bài văn hay và đó là điều kiện tiên quyết để bước lên con đường công danh.

Đến khi Trung Cộng xây dựng chính quyền, những vị trưởng thôn, trưởng hội, thủ lĩnh và phần tử tri thức đức cao vọng trọng ngược lại lại trở thành đối tượng bị đàn áp và đả kích, còn một người xuất thân có phải là “bần hàn khốn khó” hay không mới là nhân tố quan trọng nhất xét xem liệu có được nắm giữ nguồn tài nguyên của xã hội hay không. Đạo đức của mỗi người vốn quyết định tư tưởng và hành vi của người đó. Còn tới lượt Trung Cộng, đạo đức trở thành một tiêu chí mang tính quần thể của một giai cấp. “Ai nghèo người đó vinh quang, ai giàu người đó chỉ bằng loài vật”. Đại diện giàu nghèo đã trở thành tính chính xác một cách tự nhiên và chính nghĩa, đại diện cho những người bị bức hại, đại diện cho việc “làm phản có lý”, đại diện cho người kiên định, triệt để “cách mạng nhất”.

 
Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Sự bần hàn và phú quý của một người vốn bất định, cũng có thể vì chăm chỉ chịu khó và nắm bắt được cơ hội mà thành giàu có, cũng có thể vì phô trương mà khuynh gia bại sản, cũng có thể do người nào đó hãm hại, nhưng vài năm sau đó lại tìm được kế sinh nhai. Nhưng Trung Cộng thực thi “một nhát dao” mà phân chia giai cấp kể từ ngay thời khắc nó cướp đoạt chính quyền đó.

Thù hận sự giàu có đã khiến người Trung Quốc mấy chục năm nay đều lấy nghèo khó làm vốn mà coi thường người khác. Mặt khác khi Trung Quốc đánh đổ một người nào đó, chỉ cần gọi những người này là địa chủ hay nhà tư bản, còn lại không cần phải tốn lời, giàu có đại diện cho “bóc lột”, đại diện cho “trấn áp”, đại diện cho “tội ác”.

Mấy chục năm sau, Đảng Cộng sản bản thân nó lại đảo lộn càn khôn mà hiệu triệu mọi người thi nhau làm giàu. Con người ngày nay không còn coi giàu có là tội ác, ngược lại cho rằng nghèo khó mới đáng xấu hổ. Lúc này phê phán một người tốt hay xấu, thành công hay không cũng không liên quan gì tới đạo đức, mà là đo lường bằng mức độ giàu có của con người, ai có tiền người đó có bản lĩnh, dù cho đồng tiền này là ăn trộm, ăn cướp, lừa lọc, tham ô nhận hối lộ mà có hay bán thân xác hoặc bán đứng linh hồn mà có được. Kết quả của việc “chê cười kẻ nghèo hèn, không chê cười phường ca kỹ” đã khiến mọi người càng không từ thủ đoạn tìm kiếm tiền tài, sau đó là chìm đắm trong danh vọng, và những người được lợi thừa nhận sự thống trị của Trung Cộng.

6) Tuyên dương Văn hóa đảng thô bỉ

Rất nhiều người dưới sự thống trị của Trung Cộng đã coi sự nho nhã là điều sỉ nhục, coi thô bỉ là vinh quang.

Dân tộc Trung Hoa xưa nay được gọi là vùng đất lễ nghĩa, giữa người với người luôn coi trọng văn minh, coi trọng lễ tiết, khi mọi người gặp nhau chắp tay cúi đầu, vô cùng nho nhã. Nhưng Trung Cộng lại kêu gọi mọi người “Khắp người lấm bùn đất, tay đầy vết chai sạn, sống một đời nô lệ cho cách mạng”. “Tay đen bẩn, chân dính phân bò” mới là cách mạng nhất. Phần tử tri thức coi trọng lịch sự, Trung Cộng lại tuyên truyền “sự thô kệch”. Giữa văn minh và man rợ, Trung Cộng không hề do dự chọn ngay man rợ.

Người Trung Quốc ngày nay, không coi trọng lễ tiết, khạc đờm bừa bãi, nói chuyện oang oang nơi công cộng, dù là có tiền hay không có tiền cũng phải nói vài câu thô tục, kể vài mẩu chuyện tục tĩu. Sau khi xuất ngoại, có nhiều người Trung Quốc hút thuốc tại khu vực cấm, cười đùa pha trò nơi tôn giáo linh thiêng, không tôn trọng tập tục của người dân địa phương; trên máy bay, trong khách sạn, trên tàu xe đều cất cao giọng nghe điện thoại, cởi quần tất, thay tất đùi ngay chốn đông người; mặc đồ ngủ ra ngoài; xếp hàng thì chen ngang, khiến cho điểm du lịch tại rất nhiều quốc gia, người dân địa phương phải cố tình dán dòng chữ tiếng Trung nhắc nhở trong nhà vệ sinh: “Đi xong nhớ dội nước”.

7) Những quan niệm bị phê phán khác

Những phê phán của Trung Cộng thường là những phê phán không có lý trí, mà biến việc phê phán tư tưởng thành công kích người khác. Sau đó dùng những tà thuyết lệch lạc như “Những điều kẻ địch phản đối thì chúng ta ủng hộ, những điều mà kẻ địch ủng hộ thì chúng ta phản đối” nhằm nhất loạt mắng chửi tư tưởng của người bị phê bình. Còn kiểu công kích nhà tư tưởng lại vô cùng đơn giản, chỉ là chụp lên những cái mũ như “giai cấp chủ nô”, “giai cấp địa chủ”, “giai cấp tư sản”, “tu chỉnh chủ nghĩa” mà thôi.

Bằng cách vu khống Khổng Tử, Trung Cộng còn theo đó mà phủ định luôn tư tưởng “Trung dung”, “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín”, “Khắc kỷ phục lễ”, “Ôn lương cung kiệm nhường” (Ôn hòa, lương thiện, cung kính, tiết kiệm, khiêm nhường) của Nho gia. Rất nhiều người khi nhìn thấy những chữ này, họ không nghĩ tới nội hàm của bản thân nó, mà là tuyên truyền, chụp mũ rợp trời rợp đất, giật tít báo và người bị phê bình sẽ thất bại một cách bi thảm, từ đó bị khủng hoảng mà phải tự giác “vạch rõ đường ngăn” với những tư tưởng này.

Nho gia giảng “nhân” chính là quan tâm tới người khác, “Kỷ sở bất dục, vật thi vu nhân” (Những điều mình không thích thì đừng nên làm cho người khác). Việc phê phán chữ “nhân” dẫn đến “Kỷ sở bất dục, yếu thi vu nhân” (Những điều mình không thích thì phải làm cho người khác).

Người Trung Quốc tôn sùng “Trung dung”. “Trung dung” tuyệt đối không phải là “nửa vời”, đầu trơn, hai bên trái phải khâu viền, hai mặt, mà nghĩa gốc của nó là “Thường thủ trong đạo” (Thường giữ mình ở trong đạo), tức là thuận theo Thiên mệnh, “không được xa rời dù chỉ một lát”. Trong đó còn bao hàm cả phương thức học tập “Bác học chi, thẩm vấn chi, thận tư chi, minh biện chi, đốc hành chi” (Học cho nhiều, hỏi cho sâu, suy nghĩ cẩn trọng, phân biệt cho rõ và dốc lòng thực hiện), xử lý tốt mối quan hệ “Quân thần, phụ tử, phu phụ, côn đệ (anh em), bằng hữu”, đạt đến “chí đức”, hoàn toàn  là đạo tu thân trị quốc. Còn Trung Cộng lại hoàn toàn bẻ cong nghĩa vốn có của “Trung dung” thành những người hoài nghi vì bảo hộ bản thân mình mà vứt bỏ nguyên tắc.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

3. Nhồi nhét tà thuyết tư tưởng đấu tranh, quần ngư tranh thực, kẻ mạnh sinh tồn

Năm 2005, Chu Thành Hổ, thiếu tướng của Trung Cộng, khi đối mặt với phóng viên tại Hồng Kông đã từng nói: Một khi Trung – Mỹ khai chiến, Trung Quốc “chuẩn bị tinh thần là tất cả những thành phố tại phía Đông Tây An đều bị tiêu hủy. Đương nhiên, người Mỹ ắt phải sẽ chuẩn bị sẵn sàng cho việc sẽ có cả trăm, hoặc hai trăm, thậm chí là nhiều thành phố hơn bị người Trung Quốc san phẳng”. Đây chính là một trong phản ứng điển hình của tư tưởng đấu tranh trong Văn hóa đảng. Trên thực tế việc đấu tranh và đổ máu trong Văn hóa đảng đã trở thành thường lệ, còn hòa hợp, bao dung lại là bất bình thường, vì theo Chủ nghĩa Marx, người đời sau thiếu “tính cách mạng”.

Logic sinh tồn dưới sự chỉ đạo của tư tưởng đấu tranh chính là vì phát triển, vì sinh tồn, tất yếu sẽ phải hy sinh. Đương nhiên người bị hy sinh đầu tiên là những kẻ yếu thế không có năng lực, cũng không có quyền được lựa chọn một cách tự do. Thiếu tướng Chu dù không nói rõ khi Trung – Mỹ khai chiến y sẽ ở nơi nào, nhưng có thể khẳng định rằng, “rường cột quốc gia” như Chu tự nhiên sẽ có nhiều lựa chọn tự do hơn những dân thường áo vải. Hà Tộ Hưu, kẻ mà những năm đầu nhờ cổ động “tính giai cấp của khoa học tự nhiên” được Trung Tuyên Bộ, Giám đốc Sở Khoa học khen thưởng, sau đó lại nhờ vào sức truyền bá của tạp chí “Cờ đỏ” mà trở thành Viện trưởng Viện Khoa học Trung Quốc, trong một cuộc phỏng vấn vào cuối năm 2005 khi nhắc đến hàng loạt tai nạn mỏ khai khoáng liên tiếp của Trung Quốc đã buột miệng nói rằng: “Ai bảo anh bất hạnh mà sinh ra ở Trung Quốc?” “Trung Quốc cần phát triển, một vài sự trả giá là không thể tránh khỏi.” Kỳ thực một bộ phận những người trẻ Trung Quốc cũng đối đãi như vậy với những bất hạnh và khổ nạn của nhân dân tầng thấp tại Trung Quốc. Đại khái là bản thân họ cũng giống “Viện sỹ Hà”, “Thiếu tướng Chu” tự coi mình là tinh anh và hoàn toàn không định coi mình là cái giá phải trả của sự phát triển.

Tư tưởng đấu tranh trong Văn hóa đảng trải qua mấy chục năm nhồi nhét của Trung Cộng, sớm đã không chỉ hạn chế bởi lĩnh vực chính trị mà còn xuyên suốt mọi lĩnh vực trong đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội của Trung Quốc. Tư tưởng đấu tranh này, nói trắng ra chính là ứng dụng Thuyết tiến hóa của Đác-uyn vào xã hội nhân loại, chủ trương “quần ngư tranh thực, kẻ mạnh sinh tồn”. Nó tôn sùng luật rừng xanh của động vật. Theo nguyên tắc này, đúng và sai, thiện và ác đều không quan trọng, điều quan trọng là không từ thủ đoạn giành chiến thắng trong cạnh tranh, dù là quan trường, thương trường hay tình trường.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Trong một xã hội cổ động đấu tranh sinh tồn, quần ngư tranh thực, tôn sùng tính lang sói, giữa người với người tất yếu sẽ rất căng thẳng, tranh đấu, cắn xé, lòng đầy nghi kỵ. Điều này cũng không khó để lý giải khi thuốc giả, rượu giả, xì dầu giả, gạo cao lương có độc, phở có độc, dưa có độc ngập tràn toàn xã hội, còn có thịt tiêm nước, dầu làm từ nước cống, sữa bột thiếu sắt v.v.. Không chỉ văn bằng làm giả dễ dàng, cầu, đập nước cũng có thể làm giả, thậm chí kết hôn rồi còn không dám tin vào hôn nhân, phụ nữ thì sợ bị chồng phản bội, đàn ông thì hoài nghi đứa bé không có quan hệ huyết thống với mình… còn thấy chết mà không cứu, dậu đổ bìm leo đều đã thành những điều quen thuộc. Thật khó tưởng tượng một xã hội “phát triển” khi phải trả một cái giá đắt như vậy có thể đưa dân tộc đi đến cường đại được.

1) Mục đích Trung Cộng nhồi nhét tư tưởng đấu tranh

Trong tác phẩm “Trại súc vật” nổi tiếng của George Orwell, một bầy súc vật không chịu nổi sự “bóc lột” của con người mà vùng lên làm cách mạng tạo phản, cuối cùng đã đuổi được con người và thành lập một “Trại súc vật” do mình làm chủ. Chú heo, lãnh tụ dẫn đầu bầy động vật tiến hành “cách mạng” không lâu sau đó được hưởng đặc quyền một mình hưởng thụ sữa bò và táo. Khi đối diện với sự nghi ngờ của những loài động vật khác vì ôm giữ ý niệm “tất cả các loài động vật đều bình đẳng như nhau” mà tham gia cách mạng, Squealer (chú heo phụ trách tuyên truyền) giải thích rằng: “Chúng tôi ăn những thứ này mục đích duy nhất là phải giữ gìn sức khỏe cho chúng tôi. Toàn bộ việc quản lý và tổ chức công việc trong khu vườn đều dựa vào chúng tôi. Chúng tôi vì hạnh phúc của mọi người mà ngày đêm tận tâm tận lực. Do đó, điều này là vì các bạn, chúng tôi mới uống sữa bò và mới ăn táo. Các bạn có biết không, lỡ khi loài heo chúng ta mất chức, vậy chuyện gì sẽ xảy ra? Jones sẽ cuốn bụi mà quay trở lại! Đúng vậy Jones sẽ cuốn bụi mà quay trở lại! Quả thực, các đồng chí! Jones vốn là ông chủ của khu vườn, cũng là kẻ thống trị của ‘xã hội cũ’.” Dù cho một vài loài động vật cá biệt còn mơ hồ nhớ rằng khi Jones còn ở đây tình hình cuộc sống của các loại động vật hầu như không kém hơn so với trước kia, nhưng theo sự tuyên truyền ngày qua ngày, vì nỗi sợ hãi Jones sẽ cuốn bụi mà quay trở lại đã ăn sâu vào đầu mỗi loài động vật như một phản xạ có điều kiện, do đó mọi người không còn lời nào để nói về đặc quyền của heo.

Rất nhanh, đặc quyền của heo ngày càng nhiều. Mặt khác, làm thế nào để phòng việc Jones lại cuốn bụi quay trở lại “cái tâm quên mình không dứt”, đặc biệt là sự câu kết giữa kẻ đồ tể và Jones, phá hoại những “phản đồ” động vật do khu vườn thiết kế, đã trở thành một nội dung quan trọng trong cuộc sống thường nhật của các loài động vật. Đối mặt với “đại sự hàng đầu” như vậy, những bất mãn và ý kiến bất đồng khác đã trở thành chuyện vặt vãnh không quan trọng. Hơn nữa, luôn luôn “đề cao cảnh giác”, “chuẩn bị chiến đấu” đã trở thành một nội dung quan trọng bậc nhất vượt qua mọi điều trong cuộc sống xã hội.

Orwell đã dùng hình thức một câu chuyện ngụ ngôn một cách khắc họa bản chất triết học đấu tranh của kẻ thống trị chuyên chế một cách giàu hình tượng và sâu sắc: Thông qua hình tượng kẻ địch vô hình được tạo ra và lưu giữ mọi thời khắc trong đầu óc mọi người, thông qua việc cường điệu sự nguy hiểm của kẻ địch mọi lúc, cường điệu tính tất yếu của việc “đoàn kết nhất trí”, khiến con người đành phải “tạm thời nhẫn nhịn” tất cả sự bạo ngược của kẻ thống trị chuyên chế, cho rằng hành vi bạo lực này xuất phát từ một nguyện vọng tốt đẹp, và cuối cùng sẽ mang lại hạnh phúc cho mọi người. Còn kiểu đấu tranh này mãi “lâu dài, phức tạp, gian nan”, cho nên sự “tạm thời nhẫn nhịn” này của mọi người sẽ mãi không có điểm dừng.

Là người Trung Quốc, chúng ta đều rất quen thuộc với loại “nguy hiểm” tồn tại mọi thời mọi khắc, loại “nguy hiểm” này đến từ “một nhóm nhỏ đặc vụ”, đến từ “một nhóm nhỏ địa chủ, kẻ giàu có, phản cách mạng có ý đồ lật đổ thiên hạ”, “một nhóm nhỏ những phần tử cánh hữu điên cuồng tấn công Chủ nghĩa xã hội”, đến từ “một nhóm nhỏ phái đương quyền đi theo con đường Chủ nghĩa tư bản”, đến từ “một nhóm nhỏ những kẻ cúng bái quỷ thần” v.v.. Những kẻ địch nguy hiểm này đã từng là bạn thân, bạn tốt, trưởng bối, sư phụ, hàng xóm láng giềng của chúng ta. Theo sự chỉ dẫn của học thuyết đấu tranh “một mất một còn” của Trung Cộng, từng nhóm nhỏ, từng nhóm nhỏ của chúng ta bị “tiêu hủy”, tính ra chí ít cũng đã có tới 40 triệu người Trung Quốc mất mạng một cách bất thường.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Cùng với sự trôi chảy của thời gian, cùng với sự sụp đổ của Chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới, ngày nay Trung Cộng đã không thể giải thích rõ ràng với nhân dân rằng “những kẻ thù của nhân dân” lúc đó rốt cuộc nguy hiểm ở chỗ nào? Nhưng một cách vô thức mọi người phát hiện “nguy hiểm” mới lại xuất hiện ngay bên cạnh, trong ý thức của dân chúng đấu tranh vẫn là điều tất yếu. Chỉ là tội danh “kẻ thù nguy hiểm” như ngày nay đã đã dần dần từ tên gọi “phản đảng, phản xã hội chủ nghĩa” đã lỗi thời đổi thành những cái tên mới như “đe dọa an ninh quốc gia”, “lật đổ chính phủ”, “thế lực phản Trung Hoa”, “theo đuổi hoạt động tôn giáo” v.v..

Đây chính là kết quả của tư tưởng đấu tranh mà Trung Cộng nhồi nhét vào đầu óc nhân dân suốt mấy chục năm qua. Trên thực tế hầu như cùng với việc Văn hóa truyền thống bị đánh đổ, bị bôi nhọ, cùng với những giá trị quan về thiện ác truyền thống mà người Trung Quốc kế thừa xuyên suốt mấy nghìn năm qua, Trung Cộng đã bắt đầu nhồi nhét những giá trị quan về đúng sai của Văn hóa đảng. Một trong những hạt nhân của giá trị quan này chính là triết học đấu tranh “quần ngư tranh thực, kẻ mạnh sinh tồn”.

Thế giới quan của Đảng Cộng sản được xây dựng trên lý luận đấu tranh giai cấp, tư tưởng triết học của nó là phương pháp biện chứng duy vật, chủ trương về tính mâu thuẫn, tính đối lập, tính đấu tranh của thế giới, chủ trương thông qua đấu tranh, từ thay đổi lượng đến thay đổi chất của sự vật, sự vật phát triển và chuyển hóa từ cấp thấp lên tới giai đoạn cao hơn. Tư tưởng này ứng dụng vào lịch sử nhân loại là cái gọi là Chủ nghĩa duy vật lịch sử, tức là lịch sử phát triển của xã hội là một bộ lịch sử đấu tranh giai cấp; hạt nhân của đấu tranh là chính quyền quốc gia. Chính quyền quốc gia được cướp đoạt bằng bạo lực, cũng được vận hành và duy trì bằng bạo lực. Nói trắng ra, cũng chính là ứng dụng học Thuyết tiến hóa của Đác-uyn vào xã hội nhân loại, thông qua hình thức đấu tranh tàn khốc này, cuối cùng các giai cấp đều theo cái gọi là “quần ngư tranh thực”, kẻ mạnh (còn gọi là “giai cấp tiên tiến”) sinh tồn.

Trung Cộng, kẻ cướp chính quyền và nắm quyền thống trị bằng bạo lực, nhằm dán nhãn “chính quyền hợp pháp” cho mình, vẫn luôn nói “lịch sử đã lựa chọn Đảng Cộng sản Trung Quốc”, còn nhân dân quyết định lịch sử, cho nên đây là sự lựa chọn của nhân dân. Trung Cộng nói “lịch sử đã lựa chọn”, logic mà nó hàm chứa là “quần ngư tranh thực, kẻ mạnh sinh tồn”. Bởi vì Trung Cộng tạo phản thành công mà kẻ thắng lợi đại diện cho “trào lưu phát triển lịch sử”. Đây chính là một trong những nguyên nhân mà Trung Cộng kịch liệt nhồi nhét vào đầu người dân học thuyết đấu tranh của mình. Điều đáng tiếc là tà thuyết xáo trộn thị phi, nhân quả điên đảo như vậy thì không cần nghi ngờ là điều đó cũng đồng nghĩa với việc người Hán tại Trung Nguyên hơn 300 năm trước “đã lựa chọn” cho dân tộc Mãn xâm chiếm và thành lập triều Thanh, hơn 700 năm trước người Hán “đã lựa chọn” Mông Cổ xâm chiếm. Lịch sử nắm quyền của Trung Cộng cũng mới chỉ có hơn 50 năm, nói lịch sử lựa chọn có phần hơi sớm.

Tư tưởng phép biện chứng hoàn toàn không phải do Marx sáng lập. Bản thân Marx cũng thừa nhận rằng phép biện chứng của mình bắt nguồn từ Hegel, còn tư tưởng của người đời sau lại được gợi mở về tư duy biện chứng cổ đại của Trung Quốc. Kỳ thực “Kinh dịch”, Bát quái, “Hà đồ”, “Hoàng đế nội kinh”, “Binh pháp Tôn Tử” cổ đại của Trung Quốc chính là thông qua 64 quẻ, triển hiện một cách rõ rệt tại tầng thứ vũ trụ mà con người có thể nhận thức đến được, về mối quan hệ chuyển hóa và dựa vào nhau cùng tồn tại của hai chủng nhân tố đối lập, từ đó có thể suy diễn được quy luật phát triển của sự vật. Ở đây không chỉ thuật lại những nhân tố như biến hóa động tĩnh, chuyển hóa âm dương, ngũ hành tương sinh tương khắc trong sự vận động, phát triển của sự vật, còn miêu tả quá trình phát triển hoàn chỉnh của sự vật từ “tiềm long vật dụng”, “kiến long tại điền” cho tới sau cùng là “phi long tại thiên”, “hàng long tại hải” (Quẻ Càn, Kinh dịch), hơn nữa còn có quy luật biến đổi tuần hoàn phản phục, bĩ cực thái lai. Mối quan hệ phổ biến, sự biến đổi phát triển, lượng biến chất biến, chất lượng thay đổi lẫn nhau, phủ định của phủ định của sự vật mà Marx miêu tả trong phép biện chứng duy vật chẳng qua chỉ là một cách đề cập khác mà thôi. Còn trong Chu dịch không chỉ miêu tả định tính, mà còn nắm chắc được định lượng. Dựa trên cơ sở của Chu dịch, vận dụng thực tế vào Trung y nghiên cứu về nhân thể, vận dụng vào binh pháp quân sự cổ đại càng thể hiện một cách cụ thể trí huệ cao siêu của phương Đông cổ đại.

Về cái gọi là “phát triển” trong phép biện chứng của Marx chẳng qua là đặc biệt cường điệu và thổi phồng tính đấu tranh, cường điệu hóa mặt xung đột, đối lập của mâu thuẫn. Marx chủ trương “sự thống nhất của những mặt đối lập” là có điều kiện, là tạm thời, nhanh chóng qua đi và mang tính tương đối, còn sự đấu tranh của những mặt đối lập bài xích lẫn nhau là tuyệt đối.” Cho nên những nhà lý luận của Đảng Cộng sản cho rằng tính đấu tranh chính là “linh hồn cách mạng” của phép biện chứng chủ nghĩa Marx. Phép biện chứng duy vật của Marx sở dĩ nhiệt tình cường điệu tính đấu tranh, kỳ thực là vì tạo căn cứ lý luận cho bạo lực Đảng Cộng sản cướp đoạt chính quyền. Còn Chủ nghĩa duy vật lịch sử cho rằng, đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội, bạo lực cách mạng là bà đỡ của “xã hội mới”, tô vẽ cho bạo lực cướp đoạt thành nhân tố tiến bộ xã hội. Mao Trạch Đông nói: “Trăm điều vạn ý trong đạo lý chủ nghĩa Marx, suy cho cùng chính là một câu: ‘Tạo phản có lý’.” Câu này thực tế đã điểm đúng chỗ. Cũng chính vì vậy, Văn hóa đảng hiếu chiếu khát máu cũng chính là căn nguyên của những biến động bất an, xung đột liên miên của những quốc gia do Đảng Cộng sản nắm quyền.

2) Nhồi nhét trong đấu tranh chính trị

Trung Cộng gây dựng nhờ vào triết học đấu tranh, cũng duy trì thống trị nhờ vào triết học đấu tranh. Trên thực tế, chính là việc không ngừng cường điệu hóa tư tưởng đấu tranh trong đầu óc dân chúng, trong những cuộc đấu tranh chính trị liên miên không dứt hết lần này đến lần khác do Trung Cộng phát động. Điều này cuối cùng đã khiến dân tộc Trung Hoa vốn coi trọng đạo Trung dung, tôn sùng dĩ hòa vi quý, mọi người đều đành phải coi đấu tranh như trạng thái bình thường của xã hội, coi sự cảnh giác tràn ngập giữa người với người như một trạng thái bình thường, coi việc tranh giành, dối gạt nhau là đạo sinh tồn trong cạnh tranh xã hội.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Năm 1951, khi Trung Cộng vừa thành lập, mới đứng vững đã bắt đầu cái gọi là cuộc vận động “cải tạo tư tưởng” dành cho tri thức phần tử. Phê phán bộ phim “Vũ Huấn truyện” [1] chính là bức màn của cuộc vận động “cải tạo tư tưởng” sau khi Trung Cộng cướp chính quyền thành công. Cuộc vận động này quả thực đã đạt được tác dụng cải tạo tư tưởng của phần tử trí thức theo kỳ vọng của Mao. Tư tưởng của người Trung Quốc phát sinh biến dị to lớn, từ đây mọi người cho rằng tiêu chuẩn đo lường thiện ác chỉ có một, đó chính là “đấu tranh giai cấp”. Vũ Huấn thời cuối nhà Thanh phải ăn mày mở lớp học, dù cho cả một đời chịu đựng hết thảy những nỗi ô nhục, tiết kiệm ăn mặc chỉ vì muốn mở rộng lớp học tình nghĩa để những đứa trẻ con nhà bần hàn có thể đi học, nhưng chính vì ông “căn bản không hề động tới nền móng kinh tế phong kiến và một sợi lông của kiến trúc thượng tầng của nó, nhưng lại điên cuồng tuyên truyền văn hóa Phong kiến” (trích lời Mao Trạch Đông), “đứng nhầm” trên lập trường giai cấp mà bị Trung Cộng đánh đổ, bôi nhọ; Hải Thụy [2] triều Minh không sợ quyền thế công bằng chấp pháp, chính nghĩa đường đường, thanh bần tự tại, dù trong lịch sử được bách tính tôn kín và yêu mến, nhưng vì Hải Thụy thuộc về “giai cấp bóc lột”, “là kẻ bảo vệ trung thành cho lợi ích giai cấp địa chủ” cho nên Trung Cộng cho rằng tất cả những chuyện tốt đẹp mà ông làm cho người dân đều là vì “duy hộ giai cấp thống trị”, do đó mà ngay khi cuộc Cách mạng Văn hóa mới bắt đầu đã bị đánh đổ, bôi nhọ. Chính phủ Quốc dân tu sửa “nghĩa trang liệt sỹ không quân” tại Nam Kinh, đã an táng hơn 100 liệt sỹ không quân đã hy sinh trong chiến tranh kháng Nhật tại khắp nơi trên toàn Trung Quốc, các giảng viên của Mỹ, phi hành viên Liên Xô đã hiến thân trong cuộc chiến tranh Trung Quốc. Nhưng vì sinh mệnh của họ chiến đấu cho “chính phủ phản động” nên khi cuộc Cách mạng Văn hóa mới bắt đầu, hồng vệ binh của Mao Trạch Đông đã mở nắp những ngôi mộ, đập phá mộ của các liệt sỹ. Toàn bộ hài cốt các vị liệt sỹ bị quăng quật phân tán khắp nơi.

Đối với Đảng Cộng sản mà nói, tính đấu tranh là tính cách mạng. Sự tồn tại của mâu thuẫn và xung đột là chuyện tốt chứ không phải chuyện xấu. Bởi vì chúng là “hạt giống cách mạng”, còn lịch sử chính là tiền tiến của đấu tranh (nhưng Trung Cộng ngày nay lại bắt đầu sợ nhân dân dùng từ cách mạng). Nhưng tính đấu tranh hoàn toàn không phải là bản tính bẩm sinh của con người, cho nên Đảng Cộng sản cho rằng “sự giác ngộ cách mạng” của quần chúng cần phải được gợi mở, phải “giáo dục” không ngừng để nâng cao “giác ngộ cách mạng” của họ, và không từ mọi thủ đoạn cố ý gây ra mâu thuẫn và xung đột.

Ví như “Bạch Mao Nữ” vốn là một vị tiên cô khuyến thiện trừ ác trong truyền thuyết dân gian, thì nhằm “giáo dục” nhân dân mà Trung Cộng dựng thành điển hình của giai cấp bị bóc lột “khổ lớn thù sâu”. Do tính kích động của tư tưởng báo thù xuyên suốt vở kịch quá mạnh “Thù nghìn năm phải báo, Oán nghìn năm phải đòi” mà đã xảy ra chuyện binh sỹ ngay khi đang xem diễn kịch đã suýt nữa đã dùng nắm đấm đánh chết “Hoàng Thế Nhân”.

Cho nên cái gọi là “gợi mở sự giác ngộ giai cấp”, cái gọi là “bồi dưỡng cảm tình giai cấp” trên thực tế chính là nhồi nhét tư tưởng đấu tranh, tuyên truyền thù hận. Trước kia Trung Cộng đã không hề giấu giếm mà tuyên truyền rằng: “nợ máu phải trả bằng máu”, “thù hận nhập tâm phải khởi phát”, “khắc ghi lịch sử máu và nước mắt, không quên hận giai cấp”. Cùng với sự mở cửa của đất nước, việc tuyên truyền thù hận vốn bị vứt bỏ một cách phổ biến trong những xã hội văn minh nên Trung Cộng không còn dám tuyên truyền một cách ngang nhiên, trắng trợn như trước. Mặc dù Trung Cộng không còn làm cái thứ như “thống thuyết gia sử” (kể chuyện lịch sử đau khổ nước nhà), “Ức khổ tư điềm” (nhớ nỗi đắng cay ngọt bùi), nhưng điều này không có nghĩa là Trung Cộng vứt bỏ thủ đoạn này, mà nó thay đổi bộ mặt mới, và lợi dụng khoa học kỹ thuật nhằm ngụy trang một cách tinh tế. Ví như ngày 14 tháng 8 năm 2001, Tổ chức Phát triển Giáo dục Quốc tế đã chính thức phát biểu trong Hội nghị Liên Hợp Quốc chỉ ra cái mà Trung Cộng gọi là “Vụ tự thiêu Thiên An Môn” chính là một trò lừa bịp được che đậy một cách tinh tế, mục đích của nó là kích động thù hận của nhân dân với Pháp Luân Công.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Trong hết cuộc vận động này đến cuộc vận động khác trong lịch sử, trong làn sóng tuyên truyền hết lớp này đến lớp khác của Trung Cộng, con người vô hình trung đã bị lấp đầy bởi “nỗi hận thấu xương” với những kẻ thù mà Trung Cộng ngăn cách, kẻ địch này là “địa chủ”, “nhà tư bản”, “phú nông”, “phản cách mạng”, “cánh tả”, “đi theo Chủ nghĩa tư bản”, “phần tử dân vận”, “phần tử tà giáo”…. “Giác ngộ cách mạng” chính là thể hiện nỗi hận thấu xương với “kẻ thù”, học tập tinh thần của Lôi Phong: phải vô tình tàn khốc với kẻ thù như mùa đông lạnh giá, đây gọi là “cảm tình giai cấp”, nó vượt qua mọi thứ tình cảm của nhân loại. Mao Trạch Đông nói: “Đánh ai cũng cần tiến hành phân tích giai cấp, người tốt đánh người xấu là đáng kiếp, người xấu đánh người tốt, người tốt quang vinh; người tốt đánh người tốt là hiểu lầm.” Những lời này của Mao đã được lưu truyền trong “Hồng vệ binh” thời Cách mạng Văn hóa. Dù cho là bạo lực với “kẻ thù giai cấp” thì là họ “đáng kiếp”, cho nên bạo lực và máu tanh đã nhanh chóng trải khắp mảnh đất rộng lớn Trung Nguyên.

Theo cảm tình giai cấp của “nhà cách mạng”, Lưu Thiếu Kỳ đã dám phản đối “đại cứu tinh” của nhân dân, thì ông “chỉ có đường chết”. Dù cho Trương Chí Tân giúp Lưu Thiếu Kỳ, người “chỉ có đường chết” lật lại vụ án, bà đã bị lính cai ngục thay nhau cưỡng hiếp cũng là “đáng kiếp”, bị cắt đứt cuống họng, bị phán quyết là “tội đáng chết”. Tại đây hình tượng Lôi Phong “phải vô tình tàn khốc với kẻ thù” đã được miêu tả một cách chân thực.

Trong “Tháng Tám đỏ” [3] tại Bắc Kinh, những thầy cô giáo bị chính học sinh của mình tận tay giết chết. Có lẽ họ cũng không nghĩ được rằng đây chính những hạt giống mà bản thân họ đã vùi xuống khi họ làm theo yêu cầu của “đảng” dạy học sinh “phải vô tình tàn khốc với kẻ thù như mùa đông lạnh giá”, “tuốt roi da vụt kẻ thù”, là khi dạy học sinh đối xử với kẻ thù giai cấp như thế nào cũng không coi là quá đáng.

Trong bối cảnh nhân dân đấu đá lẫn nhau, người người tranh giành nhau thể hiện tính giai cấp của mình, một người càng biểu hiện ra “sự thù hận thấu xương” càng chứng minh đó là người yêu ghét phân minh, giác ngộ giai cấp cao, còn ngược lại là người đáng sợ đáng nghi ngờ vì “lập trường giai cấp không vững vàng”.

Sau khi người thân bị định là “kẻ thù của đảng” thì người nhà phải thể hiện rõ lập trường, không được hàm hồ. Sau khi Chương Bá Quân bị đánh hạ xuống thành cánh hữu, con trai, em gái của ông đều phát biểu bài viết trên báo lên tiếng phê phán ông. Con trai của Trữ An Bình sau khi bị đích thân Mao Trạch Đông chỉ định là cánh hữu, con trai ông đã giáo huấn cha mình như sau: “Tôi xin nói với ngài Trữ An Bình một câu trung nghĩa: Hy vọng ông sớm tỉnh ngộ quay đầu là bờ, hãy chăm chú lắng nghe ý kiến của nhân dân, đào sâu nguồn cội tư tưởng phản Chủ nghĩa xã hội, triệt để đối đãi với vấn đề của bản thân mình, để tránh tự tuyệt với nhân dân.”

Vậy là, một mặt mọi người bị cưỡng ép nhồi nhét tư tưởng đấu tranh trong những cuộc tranh đấu hết lần này tới lần khác, mặt khác lại chính trong những lần tranh đấu “động chạm tới linh hồn” hết lần này đến lần khác, vì sinh tồn, mọi người bị ép buộc phải học được cách dùng cái vẻ lạnh lùng dày cộm để bọc lại lương tri của mình, học được cách chỉ có đả kích, hãm hại người khác mới bảo toàn được chính mình, không ít người vì vậy đã nhận định rằng “quần ngư tranh thực, kẻ mạnh sinh tồn” đã trở thành phép tắc của cuộc sống chân thực.

Trong bộ phim “Cánh diều màu xanh” bị Trung Cộng cấm trình chiếu có một tình tiết dựa trên một câu chuyện có thực: Phản hữu đã bắt đầu rồi. Đơn vị của Lâm Tiểu Long đến phiên phải đưa lên một chỉ tiêu cánh hữu, mọi người đành phải thảo luận quyết định cái mũ này nên chụp lên đầu ai, không hoàn thành chỉ tiêu thì đừng nghĩ tới chuyện tan họp. Nhưng Tiểu Long trong thời khắc quan trọng này lại đứng lên rời khỏi chỗ, ông muốn đi vệ sinh, đúng vào giây phút đó có lẽ ông cho rằng việc đi vệ sinh quan trọng hơn cuộc họp. Thế là đợi cho đến khi ông đẩy cửa về chỗ ngồi, ông đã được “tiến cử” là cánh hữu.

Vậy là trong cuộc đấu tranh chính trị “một mất một còn”, mọi người đã được tôi luyện được sự nham hiểm – hoàn toàn vượt qua ranh giới đạo đức để dẫm đạp lên người khác nhằm bảo toàn bản thân. Vậy thì ngày nay những hành vi “một mất một còn” như vậy trên thương trường, tham ô hủ bại, hàng giả, kém chất lượng, không chút do dự mà làm tổn hại người khác đã nhanh chóng tràn ngập khắp nơi cũng không có chút gì đáng kinh ngạc. Bởi vì căn cứ triết học của nó đều giống nhau, tức là “quần ngư tranh thực, kẻ mạnh sinh tồn”.

Ngày nay mọi người đã quen với việc dùng việc có “thành công” hay không làm tiêu chuẩn duy nhất đo lường giá trị của một con người, mà không nói tới y đã dùng thủ đoạn nào. Cho nên bám được “ông to”, “sếp lớn” là mục tiêu của phụ nữ, có gái đẹp theo bên mình là sự hãnh diện của đàn ông, trẻ nhỏ thi đỗ trường đại học nổi tiếng là hy vọng duy nhất của các bậc phụ huynh. Trong triết học tranh đấu này, “thành công” được xây dựng trên cơ sở “thất bại” của người khác. Tại đây không hề có lương tri và công lý, cũng chẳng có đúng và sai, thiện và ác, còn sót lại chỉ là thành và bại: thành công thì là điều tốt, thất bại thì là điều xấu. Cho nên mọi người đều muốn tranh làm “đại ca”. Những công xưởng máu và nước mắt đâu đâu cũng có nhưng đãi ngộ của dân công lại thảm hại đến mức không nỡ nhìn; hàng hóa nhiễm độc biến chất tràn ngập thị trường, “Vi phú bất nhân” (làm giàu bất nhân) đã được coi là điều đương nhiên. Những kẻ dùng quyền lộng hành thì được coi là có “điều kiện rắn”, “quan hệ thép”. Dưới sự nhồi nhét tà thuyết “Quần ngư tranh thực, kẻ mạnh sinh tồn” của Văn hóa đảng, người Trung Quốc đấu đá lẫn nhau, nghi kỵ lẫn nhau, cả xã hội giống như một mâm cát, một đám quần chúng không có sức đoàn kết lại càng tiện cho Trung Cộng thống trị chuyên quyền.

3) Quay trở lại với Đạo chung sống hài hòa

Năm 2005 “văn hóa của sói” đã ngập tràn khắp Trung Quốc. Dõi theo cuốn sách “văn hóa của sói” có tên “Linh hồn của Sói” có nói: “Không học theo sói không được sao? Không được. Vì sao vậy? Bởi vì trong thị trường cạnh tranh sinh tồn một mất một còn, kẻ thắng là vua, kẻ bại là giặc, nếu trong tâm giữ sự lương thiện, nhất mực từ tâm nương tay với đối thủ cạnh tranh, vậy thì sẽ bị đối phương nuốt sống một cách vô tình.” Điều này có thể nói là đúc rút được tinh túy trong tư tưởng đấu tranh của Văn hóa đảng.

Tại đây, có một ví dụ có thể so sánh với tư tưởng phía trên. Thái độ hữu hảo của Lincoln, tổng thống nước Mỹ, với kẻ đối địch về chính trị đã gây ra sự bất mãn của một quan viên. Ông ấy phê bình Lincoln không nên mưu đồ kết bạn với những người đó mà nên tiêu diệt họ. Lincoln nói rất nhẹ nhàng: “Khi biến họ trở thành bạn của chúng ta, lẽ nào tôi không phải là đang tiêu diệt kẻ thù hay sao?”

Người Trung Quốc có câu giáo huấn cổ xưa: “Hải nạp bách xuyên, hữu dung nãi đại” (Biển có thể chứa trăm sông, vì dung chứa được mà thành lớn). Vào thời nhà Đường – thời kỳ hưng thịnh nhất trong lịch sử Trung Hoa, tất cả những lĩnh vực như tư tưởng văn hóa, tiềm lực quốc gia, an ninh biên cương hầu như đều đạt đến đỉnh cao thịnh vượng, điều này không thể tách khỏi sự khoan dung bao hàm mọi thứ của văn hóa Đại Đường. Thời đầu nhà Đường từng nhiều năm bị Đột Quyết xâm chiếm phía Bắc, Đường Cao Tổ vì an ninh quốc gia đành phải xưng thần với Đột Quyết. Nhưng sau khi Đường Thái Tổ đánh bại Đột Quyết lại không hề đuổi cùng giết tận vì rửa nhục cho cha, mà ngược lại ông còn khoan hồng mà tin dùng hơn 100 tướng lĩnh đầu hàng của quân Đột Quyết, những người đã từng đối địch với Đại Đường, phong cho họ làm tướng quân và tướng trung lương từ chức ngũ phẩm trở lên, chiếm gần nửa số quan võ trong triều. Đồng thời triều Đường còn cho phép người Đột Quyết đã quy hàng được chuyển tới Trung Nguyên. Cách làm này đã chiếm được sự tín nhiệm sâu sắc của các dân tộc thiểu số, thủ lĩnh của các dân tộc Tây Bắc cùng nhau xin vinh danh danh hiệu tôn kính “Thiên Khả Hãn” dành cho Đường Thái Tông. Trong lịch sử, Thổ Phiên (gồm dân tộc Tạng) từng là một trong những dân tộc du mục hung hăng hiếu chiến, đã từng chinh chiến với Trung Nguyên. Nhưng sau vài lần triều Đường chiến thắng Thổ Phiên, ngược lại ông còn cử công chúa Văn Thành đi kết thân. Công chúa Văn Thành truyền bá nông nghiệp và Phật giáo tới Thổ Phiên, trong suốt mấy chục năm sau đó, Thổ Phiên và Đại Đường chung sống hòa hợp, điều này không thể không nói là công giáo dục văn hóa mà thành. Một điều hiển nhiên là đuổi cùng diệt tận sẽ chỉ tăng thêm thù hận, khu vực biên cương vẫn không thể yên bình, chiến tranh vẫn sẽ xảy ra. Chính do chính sách khoan hồng của triều Đường với Đột Quyết, do áp dụng chính sách sắc phong với thủ lĩnh các dân tộc thiểu số như Hồi Hột, Túc Mạt, Mạt Hạt, Nam Chiếu và chính sách kết thân với Thổ Phiên mà ông dành được nhân tâm, cùng lúc mà có thể thu phục bốn bề, các nước chư thần về triều, ngay cả những nước xa xôi như  Ba Tư, Chiêu Võ Cửu Tính, nước Điền đều tự nguyện nộp đất làm một quận của triều Đường. Trong văn hóa, triều Đường tôn Đạo, lễ Phật, tiến hành gây dựng chính sách “Tam giáo”. Cũng chính từ sự khoan dung, từ hoàn cảnh tự do tư tưởng này, đã làm nên một nền văn hóa đồ sộ cho triều Đường.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Dân tộc Trung Hoa từ xưa tới nay đều coi trọng “Hòa vi quý”, tôn sùng đạo Trung dung. Tổ tiên chúng ta đã trao lại cho mình sứ mệnh lịch sử thần thánh là giáo hóa thiên hạ, tức cái gọi là “bình thiên hạ”. Về căn bản, muốn thực hiện lý tưởng “bình thiên hạ” thì điều phải nương nhờ không phải là võ công mà là văn trị (trị vì bằng văn hóa). Điều mà nó muốn thực hiện cũng không phải là bá đạo, mà là vương đạo. Cái gọi là “Cố viễn nhân bất phục, tắc tu văn đức dĩ lai chi” (Nếu người xa không phục thì tu văn đức để dẫn dụ họ). Trong 5.000 năm lịch sử của Trung Hoa, dù là dân tộc Hoa Hạ cũng từng trải qua đủ loại tai nạn, nhưng trong quá trình đồng hóa những dân tộc xung quanh, ắt phải kết tinh, dung hòa họ thành đại quốc văn hóa “toàn Trung Hoa”. Trong lịch sử dân tộc Mông Cổ, dân tộc Mãn đều từng xâm lăng thống trị Trung Nguyên, nhưng cuối cùng cũng bị văn hóa Trung Hoa đồng hóa, ngày nay dân tộc Mông Cổ, dân tộc Mãn đều trở thành một phần của dân tộc Trung Hoa. Hoàng Đế Khang Hy của triều Thanh đã tự nói với mình là phải làm một vị Hoàng Đế nghìn năm thiên cổ của Trung Hoa.

Văn hóa đảng không chỉ đang xẻ dọc chặt đứt trí huệ mà tổ tiên dân tộc Trung Hoa truyền thừa, đồng thời còn dùng thái độ thù địch mà đối đãi chặt ngang văn minh ưu tú của phương Tây. Điều này khiến những người Trung Quốc chịu ảnh hưởng của nó chỉ có thể tin tưởng những luận điệu trong Văn hóa đảng như: “Quyền lực chính trị lớn lên từ nòng súng” (Mao), “Súng cối, đại pháo là những thứ có uy lực nhất” (Engels), “Lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bởi lực lượng vật chất” (Marx). Người Trung Quốc có câu cổ ngữ rằng “Có thể lập tức có được thiên hạ chứ không thể lập tức trị được thiên hạ”. Trong lịch sử những ví dụ về việc cướp chính quyền bằng báng súng không ít, nhưng dùng súng để đối phó với nhân dân, duy trì chính quyền và cuối cùng khiến dân chúng đấu đá lẫn nhau, khiến mỗi cá thể trong xã hội đều coi bạo lực là biện pháp đầu tiên để giải quyết mâu thuẫn, sự khủng bố này quả là “sự sáng tạo độc đáo” của Trung Cộng.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Dù cho ngày nay Trung Cộng đã đề ra cái gọi là “xã hội hài hòa”, nhưng mục đích chân thực của nó, kỳ thực là hy vọng nhân dân tại giai tầng thấp trong xã hội đừng tiếp tục thỉnh nguyện lên trên, đừng đi đấu tranh một cách hợp pháp cho quyền lợi nên có của mình, hy vọng nhân dân đừng đưa ra ý kiến phê bình với sự hủ bại của Trung Cộng. Mục đích căn bản vẫn là duy trì sự thống trị của Trung Cộng. Cái gọi là “hài hòa” được bao bọc bởi Văn hóa đảng chẳng qua chỉ là sự cần thiết tô vẽ cho bộ mặt của mình, hoàn toàn khác với “hòa vi quý” trong Văn hóa truyền thống.

Trên thực tế, áp dụng thủ đoạn bạo lực nhằm giải quyết mâu thuẫn xã hội của con người thì cuối cùng cái giá mà xã hội phải trả vẫn luôn lớn hơn lợi ích mang lại. Mấy chục năm đấu tranh đẫm máu đã tạo thành vết thương khó lành trong xã hội Trung Quốc. Hai bên có mâu thuẫn ngoài mối quan hệ đấu tranh một mất một còn, còn có thể biểu hiện quan hệ cộng sinh, quan hệ hài hòa, trong đó quan hệ đấu tranh là loại có tính phá hoại nhất. Những năm 60 của thế kỷ trước, Martin Luther lãnh tụ lãnh đạo cuộc vận động dân quyền của Mỹ không hề dùng một khẩu súng một viên đạn mà lại lấy được lòng người da đen, thậm chí là quyền bình đẳng giữa tất cả người da trắng và người da màu, đã thay đổi lịch sử nước Mỹ. Mahatma Gandhi – người được tôn làm Quốc phụ của Ấn Độ đã dùng phương thức hòa bình lý tính để giành lại được sự độc lập cho dân tộc Ấn Độ, lưu lại cho nhân loại một điển hình nổi bật.

Sau cuộc công kích khủng bố ngày 11 tháng 09 tấn công Mỹ, một vài nơi đã xuất hiện những vụ án công kích và gây nhiễu loạn người di dân gốc Ả rập, chùa Hồi giáo tại Maryland bị đe dọa. Graffiti, một thầy giáo trung học bèn liên lạc với vài người bạn của mình đã đứng gác đêm cả một tuần cho những người dân Hồi giáo này bên ngoài ngôi chùa Hồi giáo. Trung tâm Hồi giáo Ohio đã nhận được khoản tiền quyên góp của công dân nước Mỹ không phải người Hồi giáo, rất nhiều những người phụ nữ với màu da khác nhau, đã choàng khăn và đội khăn của người Hồi giáo bước ra đường, để thể hiện sự tôn trọng và ủng hộ những dân tộc với tín ngưỡng tôn giáo khác nhau và nền văn hóa khác nhau. Bốn ngày sau sự kiện ngày 11 tháng 9, một em học sinh người Hồi giáo chùm khăn đội đầu và hai bạn học khác là không phải người Ả rập tới nhà ăn tự động trả tiền trước khi ăn cơm, mới ngồi xuống không lâu, một cô phục vụ bước tới, em học sinh nữ 23 tuổi cho rằng: “Cô ấy muốn đuổi chúng ta đi.” Hóa ra là cô phục vụ tới trả lại 30 USD tiền ăn và nói rằng nhà ăn quyết định cung cấp miễn phí tiền ăn cho họ. Cô phục vụ còn nói mình cũng không muốn nhìn thấy chiến tranh và cảm thấy rất tự hào về những nữ học sinh Hồi giáo đã dũng cảm mặc trang phục của dân tộc. Cô phục vụ vừa rời khỏi thì em học sinh bật khóc. Một bác sỹ gốc Palestine nói ngày thứ Sáu đầu tiên sau sự kiện 11 tháng 9, cô tới cầu nguyện tại chùa Hồi giáo thì đã phát hiện ra có hơn 50 mục sư và giáo đồ Kitô giáo tụ tập tại cửa, họ giăng những băng rôn biểu thị sự đoàn kết và liên minh… Vị bác sỹ người Palestine này nói: “Họ khiến chúng tôi cảm thấy được an ủi và nhìn thấy hòa bình.” Sự hùng mạnh của nước Mỹ không chỉ ở sự dẫn đầu về quân sự và khoa học mà là tinh thần vĩ đại trong lòng đại đa số người dân của đất nước này.

Cách thức yêu nước này của người Mỹ có lẽ đã gợi mở cho chúng ta. Dưới sự nhào nặn của Văn hóa đảng, “lòng yêu nước” trong lòng rất nhiều người đã tương đương với “lòng thù hận”. Một nhận thức đơn giản là, dù cho là hận Nhật hay hận Mỹ đều không phải là nguồn gốc tinh thần hùng mạnh của dân tộc Trung Hoa. Mỹ là một quốc gia di dân đa dân tộc, có lẽ ưu thế chính là sự dung hòa của nó với những văn hóa khác nhau. “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (Những điều mình không thích thì cũng không nên làm cho người khác) đã trở thành đạo đức tốt đẹp trong Văn hóa truyền thống. Vứt bỏ Văn hóa đảng “đấu với Trời, đấu với Đất, đấu với người” trở về với đạo chung sống hài hòa, đây mới là cội nguồn của tinh thần hùng mạnh của dân tộc.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

4. Nhồi nhét Thuyết tiến hóa và khoa học hiện đại

1) Mục đích thực sự của việc nhồi nhét Thuyết tiến hóa – quảng bá Vô Thần luận và Triết học đấu tranh

Một mùa hè năm 1968, William J. Meister, một chuyên gia hóa thạch nghiệp dư người Mỹ đã thấy một phiến đá hóa thạch có bọ ba thùy tại dòng suối Antelope nổi tiếng ở gần Utah, đột nhiên ông phát hiện một vết giày hoàn chỉnh dẫm trên một con bọ ba thùy. Bọ ba thùy là một loài sinh vật sinh trưởng cách đây từ khoảng 600 cho tới 200 triệu năm trước Công nguyên. Nói một cách khác, trước thời kỳ lịch sử lâu dài này cũng có tồn tại văn minh nhân loại giống với con người chúng ta?


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Năm 1844, một báo cáo phát hiện ra phân cực phản xạ theo “phương pháp Brewster” của nhà khoa học Brewster nổi tiếng được phát biểu trong Hiệp hội Phát triển Khoa học nước Anh đã gây chấn động rất lớn. Trong bài báo cáo có nhắc tới tại bãi đá màu Kindgoodie Inchyra thuộc phía Bắc nước Anh đã đào được một hòn nham thạch, lại có một nửa cái đinh chôn ở phía trong. Cái đinh này đã bị hoen rỉ nhưng vẫn có thể phân biệt được. Năm 1985, sau khi đưa hòn đá nham thạch này đi kiểm nghiệm đã phát hiện nó có ít nhất là 40 triệu năm lịch sử. Vậy ai là người đã lưu lại cái đinh trong tấm nham thạch cổ đại này?

Năm 2001, trong một cuộc điều tra dân ý tại Gallup về nguồn gốc và sự phát triển của nhân loại, 1.000 người Mỹ đã được yêu cầu chọn quan điểm gần với cách nhìn của mình nhất. Điều tra cho thấy, 45% người đó đã chọn “Thượng đế đã sáng tạo ra nhân loại ngày nay từ một vạn năm trước”, 37% người chọn “Con người từ hình thái khá nguyên thủy trải qua hàng trăm triệu năm diễn hóa mà thành, hơn nữa Thượng đế đã làm chủ quá trình này”, 12% người chọn “Con người từ hình thái khá nguyên thủy trải qua hàng trăm triệu năm diễn hóa mà thành và không liên quan gì tới Thượng đế”, 6% người biểu thị không có quan điểm gì hoặc không có bất kỳ khuynh hướng nào. Một cuộc điều tra khác được Trung tâm nghiên cứu Pew của nước Mỹ đã tiến hành một cuộc điều tra vào tháng 07 năm 2005 biểu thị rõ rằng 63% người Mỹ muốn tiếp nhận Thuyết tiến hóa đang được dạy trong trường, đồng thời cũng tiếp nhận Thuyết sáng thế trong tôn giáo, 38% người dứt khoát chủ trương trường học chỉ dạy Thuyết sáng thế không dạy Thuyết tiến hóa.

Rất nhiều độc giả đến từ Trung Quốc Đại lục đã vô cùng kinh ngạc trước kết quả cuộc điều tra này. Kỳ thực những nước phương Tây tự do tín ngưỡng, không tiếp nhận Thuyết tiến hóa có rất nhiều người, mà còn tương phản với định hướng tư duy của Văn hóa đảng, điều này không hề dẫn tới sự lạc hậu, ngu dốt của những quốc gia đó. Kỳ thực sự phát triển văn minh của những quốc gia này lại vừa hay có quan hệ mật thiết với tư tưởng tự do, mở cửa, khoan hồng. Thuyết tiến hóa đến từ phương Tây, nhưng trong những người tin tưởng Thuyết tiến hóa thì tỷ lệ lớn nhất là Trung Quốc, Liên Xô cũ và những quốc gia cộng sản cũ của Đông Âu. Đặc điểm chung của những nước này là: Quyền lực quốc gia được dùng để ngăn cấm tín ngưỡng vào Thần và nhồi nhét Thuyết vô Thần. Từ sau năm 1949 Trung Cộng vẫn liên tục đàn áp và bức hại mọi tôn giáo, tín ngưỡng, đồng thời nhồi nhét một cách cưỡng chế “Thuyết tiến hóa”, khiến cho rất nhiều người Trung Quốc không chỉ tự mình coi “Thuyết vô Thần” là quy tắc vàng, mà còn đương nhiên cho rằng mọi người ai cũng vậy.

Trung Cộng tiến hành nhồi nhét Thuyết tiến hóa vào dân chúng, một mặt là nhằm mục đích duy hộ quyền thống trị chuyên chế của mình, bởi vì như vậy có thể san phẳng con đường nhồi nhét cưỡng chế Thuyết vô thần, để tiện cho việc tô son trát phấn cho mình thành giáo chủ nhân gian chí cao vô thượng; mặt khác là vì Thuyết tiến hóa có thể cung cấp sự ủng hộ cho lý luận “đấu tranh giai cấp”. Marx và Engels từng nói rõ mối quan hệ giữa Thuyết tiến hóa và tín ngưỡng rằng: “Hiện nay chúng ta dùng khái niệm tiến hóa để nhìn nhận vũ trụ thì sẽ không thể chứa nổi thêm một nhà sáng lập hay nhà thống trị nào được nữa.” (Marx và Engels luận bàn về tôn giáo). Marx còn nói: “Trước tác của Đác-uyn vô cùng quan trọng, nó ủng hộ sự đấu tranh giai cấp trong lịch sử nhân loại từ góc độ khoa học tự nhiên, hoàn toàn phù hợp với quan điểm của ta.” Engels cũng nói: “[Thuyết tiến hóa là] một trong ba phát hiện khoa học lớn của thế kỷ XIX… giai cấp vô sản ưu việt sẽ chiến thắng trong cuộc đấu tranh sinh tồn này.”

Sau khi nhân loại biết suy nghĩ một cách lý trí, thì vẫn luôn tìm hiểu một chủ đề cơ bản vĩnh hằng: “Tôi là ai, tôi từ đâu đến?” Sau khi tiêu diệt mọi tôn giáo tín ngưỡng, Thuyết tiến hóa đã trở thành học thuyết duy nhất mà Trung Cộng có thể dùng để giải thích cội nguồn của sinh mệnh. Theo cuộc thăm dò trên mạng,  thường thấy những bài phân tích của rất nhiều thầy cô giáo trung học về chương “khởi nguồn của sinh mệnh và sự tiến hóa của sinh vật” trong giáo trình sinh vật như sau: “Nó đóng một vai trò quan trọng về việc học sinh hình thành quan điểm về Thuyết tiến hóa, thiết lập quan điểm tự nhiên về Chủ nghĩa duy vật biện chứng.” Do vậy Trung Cộng, song song với việc nhổ tận gốc Văn hóa truyền thống kính sợ Thiên mệnh của Trung Quốc, còn coi Thuyết tiến hóa là “chân lý duy nhất” giải thích về khởi nguồn của sinh mệnh và nhồi nhét một cách cưỡng chế tại Trung Quốc dưới danh nghĩa “khoa học”. Ngày nay đối với rất nhiều người Trung Quốc, khi nói tới tín ngưỡng đều không hề suy nghĩ mà nói rằng: “Tôi tín ngưỡng Thuyết vô Thần, tôi tin vào Thuyết tiến hóa.” Dẹp bỏ sự tranh chấp giữa đúng sai của bản thân Thuyết vô Thần và Thuyết tiến hóa sang một bên, trên thực tế với tuyệt đại đa số người Trung Quốc, với “tín ngưỡng” vào Thuyết vô Thần hoàn toàn không phải là tín ngưỡng mang ý nghĩa chân chính. Tín ngưỡng là sự lựa chọn tự do của tâm hồn, là đồng nghĩa với “không có tín ngưỡng” gì có thể nói. Nhưng dưới sự khống chế cường quyền của Trung Cộng ai không tin “Thuyết vô Thần”, ai không tin Thuyết tiến hóa sẽ bị chụp những cái mũ chính trị đáng sợ như “mê tín phong kiến”, “ngu muội”, “hại dân hại nước”, “phản khoa học”, sẽ phải đối mặt với nguy cơ bị cách ly khỏi “quần chúng nhân dân rộng lớn” trở thành “một nhóm nhỏ” “đối tượng cần cải tạo”. Trong hoàn cảnh như vậy, căn bản không thể nhắc tới quyền lựa chọn một cách tự do, vậy thì còn tín ngưỡng gì có thể nói tới đây?

2) Thuyết tiến hóa là giả thuyết chưa được qua kiểm chứng

Năm 1859, một vài trường hợp phân tán mà Đác-uyn làm căn cứ trong “Nguồn gốc của các loài” đã nêu ra giả thuyết phũ phàng về sự tiến hóa của sinh vật, cho rằng giới sinh vật hôm nay là từ sinh vật nguyên thủy từng bước từng bước tiến hóa mà thành. Hơn nữa cùng với sự phát triển sâu rộng của khoa học, một số lượng lớn những phát hiện hiện thực đã đưa ra những thử thách nghiêm khắc cho Thuyết tiến hóa.

 (1) Một cơ sở logic yếu ớt

Có lẽ nhiều người đều đã rất quen thuộc với “hiện tượng lại giống”. Cuốn “Tài nguyên dạy học sinh vật trung học cơ sở” của Nhà xuất bản Giáo dục Nhân dân đã viết như sau: “Giữa nhân loại thỉnh thoảng sẽ nhìn thấy có đứa trẻ đuôi ngắn, đứa trẻ lông dài, cô gái có nhiều đầu vú… Những hiện tượng này biểu thị rõ rằng tổ tiên của nhân loại có thể là động vật có đuôi, lông dài, nhiều đầu vú. Cho nên hiện tượng lại giống cũng là một chứng cứ tiến hóa của sinh vật.” Nếu theo logic này thì những hài nhi dị hình không có não còn nhiều hơn, vậy thì tổ tiên của con người không có não hay sao? Những người tứ chi tàn phế khiếm khuyết bẩm sinh, mọc thêm nhiều ngón tay, ngón chân cũng thường gặp, vậy thì tứ chi của con người là từ các loại dị hình dị dạng tiến hóa thành hay sao? Chỉ cần nhảy ra khỏi cái khung tư tưởng của Thuyết tiến hóa sẽ phát hiện ra cái gọi là “hiện tượng lại giống” thật dị dạng và đầy khiếm khuyết mà thôi, là phản ứng của gen bệnh đột biến, nếu liên hệ với tổ tiên của nhân loại thì không hề hợp lý.

Về mặt khoa học, nếu chứng minh của một lý luận vi phạm logic thì lý luận này không thể được thành lập, nhưng logic sai lầm của con người với Thuyết tiến hóa lại không được đào sâu nghiên cứu, cũng là bởi vì nếu đào sâu nghiên cứu thì sẽ không có chứng cứ được nhắc tới. Rất nhiều người khi nghe thấy những lời này thì vô cùng kinh ngạc. Kỳ thực vạch rõ vấn đề sẽ càng khiến con người ta kinh ngạc hơn.

Chứng cứ của giải phẫu học so sánh là một trong ba chứng cứ chủ yếu của Thuyết tiến hóa. Theo như giải phẫu học so sánh, trong số động vật có vú thì móng của chuột, cánh của dơi, đuôi của hải cẩu và tay của con người đều có kết cấu xương giống nhau. Do đó Đác-uyn suy đoán chúng di truyền từ một tổ tiên xa xưa mà thành, chỉ là trong quá trình tiến hóa do công dụng khác nhau mà phân ra ngoại hình khác nhau. Rất rõ ràng, dùng căn cứ giải phẫu học so sánh này làm căn cứ cho Thuyết tiến hóa đã tồn tại những lỗ hở về tư duy. Vì từ giả thiết cùng một tổ tiên về mặt logic lại có thể suy đoán ra kết luận về sự tương tự của kết cấu xương tứ chi, nhưng ngược lại thì không nhất định đúng. Cũng giống như tủ lạnh làm lạnh có thể khiến nước đông thành đá, không đồng nghĩa với việc đá nhất định là được làm từ tủ lạnh.

Hóa thạch của sinh vật cổ cũng là một trong ba chứng cứ quan trọng của Thuyết tiến hóa. Hơn nữa người ủng hộ Thuyết tiến hóa lại dùng hóa thạch của sinh vật cổ để tiến hành biện luận cho quá trình tiến hóa của nó, nhưng lại ỷ lại vào mô thức tiến hóa. Ví dụ như sự xác nhận về “người Nguyên Mưu” người vượn nổi tiếng của Trung Quốc chỉ được suy đoán từ ba cái răng của con người; sự xác nhận của người vượn Lam Điền chỉ dựa vào một cái xương hàm dưới, người thôn Đinh, dựa vào ba cái răng một mảng xương hộp sọ; người Mã Bá… dựa vào một mảng xương hộp sọ không hoàn chỉnh… muốn xác nhận chúng thành cái gì phải hoàn toàn dùng mô thức tiến hóa. Ở đây lộ rõ một vấn đề về logic: Những thứ từ Thuyết tiến hóa lại dùng để chứng minh Thuyết tiến hóa hiển nhiên là sự tuần hoàn của chứng cứ. Sự phát hiện ra cái gọi là vượn cổ phương Tây (người Nebraska) đã bộc lộ một cách đầy đủ sự khiếm khuyết của loại logic biện luận này. Năm 1922, nhà sinh vật học Osborne tuyên bố đã phát hiện ra một cái răng, cái răng này đồng thời mang đặc trưng của tinh tinh, người vượn và con người. Ông đã đặt cho chủ nhân của chiếc răng một cái tên người đàn ông Nebraska. Tiếp đó, những nhân sỹ tin vào Thuyết tiến hóa đã vẽ ra bức tranh tưởng tượng về người vượn này mà chỉ dựa vào một cái răng. Nhưng năm 1927, sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng hơn đã phát hiện chủ nhân của chiếc răng này là một con lợn hoang châu Mỹ đã tuyệt chủng!

Vậy thì phải chăng Thuyết tiến hóa là phép quy nạp? Không phải, quá nhiều sự thực không thể quy nạp được.

Có người từng nói Thuyết tiến hóa là phép quy nạp, tư duy logic này hơi khó một chút, kỳ thực cũng dễ hiểu. Phép quy nạp chính là đưa ra một mệnh đề, nếu có thể quy nạp được tất cả những vấn đề mà nó bao hàm thì mệnh đề đó là chân lý. Nhưng với Thuyết tiến hóa có quá nhiều sự thực không thể quy nạp được. Từ những căn cứ văn minh tiền sử trước mắt, từ góc độ tiến hóa, phương thức sản sinh theo kiểu bùng phát của các loài, xác suất tiến hóa khái quát… rất nhiều sự việc không những không thể quy nạp được, hơn nữa đều đang phủ định Thuyết tiến hóa, có thể thấy coi biện luận của Thuyết tiến hóa là phép quy nạp là không thể thiết lập được, kỳ thực vẫn là biện luận tuần hoàn.

“Biện luận tuần hoàn” thật giả lẫn lộn đã xuyên suốt toàn bộ Thuyết tiến hóa này, con người dường như đều đã quen với điều này. Tuy nhiên khi chúng tôi phân tích một cách nghiêm túc thì họ đều vô cùng kinh ngạc.

Trong giáo trình sinh vật của học sinh trung học còn có một bức vẽ về sự phát triển của một phôi, là mặt cắt thể hiện những giai đoạn khác nhau của quá trình phát triển của những động vật như cá, thằn lằn, rùa, gà, lợn, trâu, thỏ, người… Bản gốc của nó được thu giữ tại thư viện Bodleian trường đại học London, tác giả của nó là Haeckel, một giáo sư sinh vật học tại trường đại học Jena của Đức vào thế kỷ 19. Kết luận đưa ra từ những bức vẽ này là, dù hình thái sau khi thành niên của những động vật này khác nhau, nhưng quá trình phát triển phôi đều có một giai đoạn mang hình thái tương tự nhau, bao gồm cả con người. Một giai đoạn nào đó trong quá trình phát triển phôi của các loài động vật, thì hình thái của nó sẽ tái diễn lại hình thái giống như cá, chứng tỏ tổ tiên chung của chúng là động vật thủy sinh, đặc trưng của tổ tiên của chúng đều tái diễn trong quá trình phát triển của phôi. Đây chính là “quy luật tái diễn của phôi”, một trong ba chứng cứ chủ yếu ủng hộ Thuyết tiến hóa.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Kỳ thực, dùng quy luật tái diễn chứng minh Thuyết tiến hóa, cũng có thể biểu đạt một cách hình thức rằng: “Nếu thiếp lập Thuyết tiến hóa, phát triển phôi sẽ tái diễn lại quá trình tiến hóa”. Bởi vì quan sát phát hiện ra rằng sự phát triển của phôi sẽ tái diễn lại quá trình tiến hóa, cho nên thiết lập Thuyết tiến hóa.” Về mặt logic, điều này vẫn là dùng “Luận chứng tuần hoàn” dùng giả thuyết để chứng minh giả thuyết.

Năm 1997, Richardson – nhà khoa học người Anh đã hợp tác với nhiều phòng thực nghiệm thu thập nhiều loại động vật khác nhau hơn nữa, quan sát hình thái phát triển của phôi thai của chúng. Họ phát hiện bản đồ của Haeckel không được miêu tả dựa trên cơ sở thực tế, “Nghiên cứu của chúng tôi đã làm suy yếu tính đáng tin trong những bức vẽ của Haeckel một cách nghiêm trọng, những bức vẽ của Haeckel và những điều thuyết giảng của nó thể hiện một thời kỳ tương tự trong quá trình phát triển phôi thai của động vật có xương sống”, chi bằng nói là phôi được thiết kế theo một trình tự nhất định.” Tạp chí “Khoa học” Quyền Uy đã phát biểu một bài tổng kết chuyên về chủ đề này vào năm 1997 (Science 1997, 277:5331). Vậy vì sao kết quả nghiên cứu của Haeckel và Richardson lại khác xa nhau như vậy? Hóa ra Haeckel cố tình lựa chọn phôi của những động vật khá gần nhau, ví dụ như ông dùng thằn lằn sống trong nước để đại diện cho loài động vật lưỡng cư, mà không dùng ếch, bởi vì bản thân Haeckel biết thằn lằn giống cá hơn. Hay như nhãn cầu phôi thời kỳ đầu của gà không có sắc tố, nhưng Haeckel lại vẽ nó thành màu đen, khiến phôi của gà càng giống phôi những loài khác hơn. Haeckel còn đặc biệt gia công thêm yếu tố nghệ thuật vào bức vẽ phôi của con người, bỏ đi nội tạng và chân của phôi người thì giống như một cái đuôi, tương tự với phôi thai của cá.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Cùng với sự phát hiện của di truyền học và sinh học phân tử, đặc biệt là việc đào sâu nghiên cứu về gen, về lý luận thuyết tái diễn đã gặp phải nguy cơ trước nay chưa từng có. Hiện nay đã công nhận đột biến gen là nguyên nhân của tiến hóa. Dù rằng gen trước kia đã đột biến thành gen mới sao lại có thể tái hiện lại đặc tính trước kia được?

(2) Xác suất đã phủ định hạt nhân của Thuyết tiến hóa – Cơ chế đột biến gen

Vào thời đại của Đác-uyn, khoa học phương Tây đang ở giai đoạn cơ sở, những nhận thức về hiện tượng của sinh mệnh còn rất nông cạn. Con người lúc đó đã nhìn thấy rất nhiều tạp chủng biến dị trong những loài động vật được nuôi trong nhà, liền cho rằng các loài động vật cũng có thể trở thành một loài khác, đây chính là tiến hóa. Sau này, cùng với sự phát triển về gen và việc đào sâu nghiên cứu về gen, các học giả mới nhận thức được rằng nếu gen không có sự biến đổi căn bản, thì mới có thể khiến nó xảy ra sự thay đổi, vậy thì “đột biến gen” cũng sẽ trở thành hạt nhân của Thuyết vô Thần hiện đại. Đây chính là điều mà tất cả những nhà theo Thuyết vô Thần công nhận. Tại đây, chúng tôi sẽ tập trung phân tích lý luận hạt nhân này.

Tính ổn định khó vượt qua về gen các loài

Tính ổn định của gen là sự tất yếu nhằm duy trì sự ổn định tự thân của các loài, gen xoắn của những cá thể khác nhau trong cùng một loài, hoàn toàn không thể khiến loài đó biến thành loài khác. Những chuyên gia về chăn nuôi loài động thực vật đều biết, phạm vi biến đổi của một loài là hữu hạn. Cuối cùng, những vật phẩm được ươm trồng không phải là không sinh sản mà chính là lại trở về với dòng giống vốn có của nó. Giáo sư Mel của trường đại học Harvard gọi nó là sự cân bằng trong bản thân gen. Điều hay gặp là chó dù có giao cấu tạp chủng thế nào thì vẫn là chó. Điều này nói rõ rằng Thuyết tiến hóa có một chướng ngại không thể vượt qua. Về lý luận, con người mang kỳ vọng về khả năng đột phá chướng ngại này gửi gắm vào đột biến gen, đây là khả năng duy nhất.

Trên lý luận và thực tế, xác suất đột biến gen sinh ra trạng thái cao cấp hầu như là con số 0

Đột biến gen là một loại sai lệch ngẫu nhiên xảy ra trong quá trình phục chế gen hoặc sửa chữa những tổn thương, cho nên còn gọi là đột biến ngẫu nhiên, bản thân đó cũng là một hiện tượng của bệnh trạng, ở khoảng từ 1/10.000 tới 1/1. Xác xuất đột biến của sinh vật giáp cốt là khá cao, khoảng chừng 1/1000, còn trong những động vật loại cao cấp thì xác suất đột biến của rất nhiều loại gen là từ 1/10.000 tới 1/100 triệu.

Đột biến gen có thể sản sinh tại những đặc trưng (trạng thái, tính chất) cao cấp có ưu thế sinh tồn hay không? Chúng ta biết rằng hạt nhân của một gen là do vài trăm cho tới vài nghìn gen cơ bản xếp thành, giống như trình tự phức tạp và chính xác của máy tính, tùy tiện thay đổi một, hai chữ có thể sản sinh trình tự cao cấp hơn không? Đương nhiên là không thể. Đột biến gen cũng như vậy, kết quả thay đổi của gen cơ bản thường là những loại khiếm khuyết, dị dạng, dẫn tới tử vong, trong điều kiện tự nhiên có ưu thế sinh tồn thì không phát hiện được một trường hợp nào.

Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Xác suất tính toán chỉ rõ khả năng tiến hóa của động vật nhỏ tới mức tuyệt đối không thể

Thuyết tiến hóa hiện đại dùng đột biến gen làm hạt nhân, nhưng như đã nói ở phía trên, về bản chất đột biến gen là một sự sai lệch ngẫu nhiên. Do đó nói một cách khái quát cái gọi là quá trình tiến hóa từ vượn thành người, kỳ thực chính là một bộ phận vượn cổ trong mấy triệu năm, do một loạt gen phát sinh đột biến một cách “vô tình”, “vừa hay” khiến trán của vượn cổ dần dần tăng cao, xương đuôi trở nên nhỏ đi, phần miệng thu về phía sau, dung lượng não lớn hơn, sống lưng thẳng ra… cuối cùng thành người hiện đại.

Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Rất tự nhiên, quá trình chọn lọc tự nhiên chỉ có thể quyết định cuối cùng loại động vật nào sẽ được lưu lại, nhưng sẽ không tăng thêm xác suất về toàn bộ quá trình này. Behe, nhà hóa học sinh học  nước Mỹ đã lấy ví dụ về hàng loạt cơ chế hóa học sinh học của máu đông để giảng về hiện tương sinh mệnh phức tạp và chính xác như vậy không thể do tiến hóa mà thành. Trong đó, xác suất để sản sinh ra lòng trắng trứng (TPA) là từ 1/10 tới 36 lần. Ông nói: “Rất tiếc, vũ trụ không có thời gian để chờ đợi”

Về sự sản sinh của sinh mệnh, Thuyết tiến hóa hiện đại cho rằng đó cũng là một quá trình tự nhiên, cho rằng vật hữu cơ và vật vô cơ đơn giản va đập vào nhau trong một điều kiện nào đó mà trở thành một phân tử lớn của sinh mệnh phức tạp, những loại phân tử lớn phức tạp lại tổ hợp diễn hóa một lần nữa hình thành nên sinh mệnh nguyên thủy. Đọc được một chuỗi quá trình “lý tưởng hóa” như vậy, e rằng người đọc sẽ nghĩ tới vấn đề xác suất ngẫu nhiên trong đó. Nhà khoa học người anh Hoyle đã từng biểu thị: “Khả năng để chuyện trên xảy ra cũng giống như dùng chiếu mà cuộn hết cả tàn dư trận bão quét qua một xưởng phế liệu để lắp ráp máy bay 747 vậy.”

(3) Sự gian giảo của Thuyết tiến hóa – tầng tầng nghi vấn về thời gian biểu tiến hóa

Căn cứ vào khái niệm Thuyết tiến hóa, con người từ động vật thủy sinh nguyên thủy nhất dần dần bò lên lục địa, từ sinh vật lưỡng cư, loài bò sát, loài có vú, cuối cùng tiến hóa thành vượn tiếp đến là lên mặt đất tiến hóa thành con người. Quá trình ở giữa đã trải qua vài trăm triệu năm. Nhà sinh vật học dựa theo sự đơn giản tới phức tạp, từ thấp đến cao của sinh mệnh mà vẽ ra biểu thời gian tiến hóa.

Tuy nhiên rất nhiều phát hiện của những nhà khảo cổ học đã trực tiếp phản bác quan điểm của những người ủng hộ Thuyết tiến hóa, điều này bao gồm cả những chứng cứ trực tiếp của con người trong những thời kỳ xa xưa khác nhau liên tục được phát hiện tại các lục địa trên khắp thế giới. Dấu chân của con người từ mấy vạn năm trước tới mấy trăm năm in trên hóa thạch xương người, đều không cách nào được quy nạp vào trong thời gian biểu tiến hóa. Ví như, căn cứ theo báo cáo “Báo khoáng sản địa chất Trung Quốc” ngày 06 tháng 11 năm 1997, trên viên đá nham thạch kỷ Tam điệp tại huyện Phú Nguyên tỉnh Vân Nam, Trung Quốc đã phát hiện dấu chân của bốn người. Căn cứ vào chứng cứ được khảo sát những viên đá nham thạch này đã có lịch sử 235 triệu năm. Trong một bài viết đăng trên báo “Người Mỹ khoa học” vào tháng 06 năm 1851 đã nhắc tới một bình hoa bằng kim loại bị cho nổ tung mà bay ra hóa thành nham thạch trong cuộc đánh bom phá hoại của Chester tại đường Massachusetts. Sau khi mang hai mảng bị tách ra do vụ nổ ghép lại thì thành một bình hoa hình chiếc đồng hồ. Bình hoa được làm từ hợp kim kẽm và bạc, nó rơi ra từ một tảng đá bị vỡ tại một nơi sâu 450cm (15 thước Anh) dưới lòng đất, dự tính là có 100 nghìn năm lịch sử.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Chỉ riêng những phát hiện khảo cổ học đã đưa ra một vấn đề đau đầu khác cho những nhà theo Thuyết tiến hóa, chính là hóa thạch trung gian trong quá trình tiến hóa, nói một cách nghiêm túc là không hề được phát hiện thấy. Ví dụ vấn đề từ vượn đến con người, các nhà khoa học đã phát hiện ra một vài hóa thạch, phân loại là “vượn cổ”, “vượn người”, “người vượn”, “người thông minh”, duy nhất không có hóa thạch “vượn người”. Tìm kiếm những loài “người vượn” quá độ được coi là “mười câu đố lớn không lời giải”. Tổ tiên của con người trong vài lần tuyên bố trước đó rất nhanh chóng đã bị phủ định. Ví dụ như hóa thạch “người Gia Bách” trong quá trình quá độ giữa người và vượn được phát hiện năm 1892 là một mảnh xương đầu và một cái xương đùi của người cách nhau 1,2m chắp vá mà thành, giới khoa học đã phủ định “người Gia Bách”, nhưng về phương diện giáo dục khoa học vẫn còn tuyên truyền. Cho tới năm 1984 “người Gia Bách” mới bị phát hiện mới về hóa thạch người vượn “Lucy” thay thế, nhưng trong quá trình giám định sau này người Gia Bách cũng bị đại đa số các học giả phủ định. Các nhà khoa học đã xác định “Lucy” là một loài vượn tuyệt chủng, loài vượn cổ tại phía Nam, không hề liên quan tới con người.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Giả sử Thuyết tiến hóa là có thực thì hóa thạch trung gian lẽ ra rất dễ tìm thấy, vì sao lại không có? Mọi người hãy dùng giải thích của Đác-uyn: “Ghi chép về hóa thạch không hoàn thiện”. Thử đào sâu suy nghĩ một chút: nhìn từ góc độ vĩ quan, sự hình thành hóa thạch là điều phổ biến và ngẫu nhiên, sao có thể sót mỗi loại quá độ này?

Ba bước “quan sát, giả thiết, kiểm chứng” đến nay vẫn là thước đo để các nhà khoa học của khoa học kiểm chứng phát hiện ra những quy luật tự nhiên và những định lý khoa học trừu tượng rất được tôn sùng tuân thủ. Trong “Nguồn gốc của các loài” của Đác-uyn chỉ hoàn thành được hai bước đầu tiên. Hơn nữa trải qua sự nỗ lực mấy đời người kéo dài hơn một thế kỷ, “kiểm chứng”, bước cuối cùng quan trọng nhất này, đến nay vẫn chưa có được kết quả khiến con người tin phục. Hơn nữa cùng với xu thế phát triển của các lĩnh vực khoa học hiện nay và cục diện tự thân của Thuyết tiến hóa, thì bước cuối cùng để Thuyết tiến hóa có thể đi hết ba bước này đã trở nên ngày càng mờ mịt.

 3) Hậu quả của việc nhồi nhét Thuyết tiến hóa

Mục tiêu mà Trung Cộng nhồi nhét Thuyết tiến hóa và quảng bá Thuyết vô Thần của nó là đồng nhất. Theo quan điểm của Thuyết tiến hóa, con người sinh ra từ sự ngẫu nhiên của giới tự nhiên. Con người sinh ra không có mục đích, tồn tại cũng không có mục đích, mọi tín ngưỡng vào Thần đã trở thành “hư vô mờ mịt”. Hơn nữa con người không chỉ là vượn tiến hóa mà bản chất hoàn toàn khác với những loài động vật khác. Động vật và thực vật, sinh vật và vi sinh vật cũng không có giới hạn không thể vượt qua. Cho nên theo cách nhìn của Engels, sinh mệnh chẳng qua chỉ là “một hình thức tồn tại như lòng trắng trứng” mà thôi. Theo quan điểm này, sự tôn trọng đối với sinh mệnh trong Văn hóa truyền thống Trung Quốc đã trở thành “mê tín”. Quả thực, từ quan điểm của Thuyết tiến hóa thì chặt một cái cây và đánh chết một con chó, giết một con khỉ và giết chết một con người chỉ khác nhau về mức độ, hoàn toàn không hề khác nhau về bản chất, chẳng qua đều chỉ là thay đổi hình thức tồn tại của lòng trắng trứng mà thôi.

Tháng 03 năm 2003, dịch SARS lan tới Hồng Kông. Hãng truyền thông của Hồng Kông liên tục báo cáo về tình hình dịch bệnh. Ông Long Vĩnh Đồ, Tổng thư ký của diễn đàn Boao, cựu Phó Bộ trưởng Bộ Thương mại của Trung Cộng, đã khiển trách nói: “Giới báo chí tại Hồng Kông liên tục báo cáo về sự kiện bệnh viêm phổi trên những đầu báo 10 ngày, 20, ngày, 30 ngày như vậy còn ai dám tới đó nữa?” “Nếu trong 6 triệu người có 50 nghìn người mắc bệnh này, có lẽ tôi cũng sẽ cảm thấy khủng hoảng, nhưng hiện giờ mới chỉ có hơn 300 người mà đã làm như vậy rồi, tôi nghĩ là có vấn đề.” Thái độ  thờ ơ vô cùng xem nhẹ sinh mệnh này không chỉ tồn tại một cách phổ biến trong những quan chức cấp cao Trung Cộng mà ngay cả người dân cũng thường bị nó hại rất nặng nề mà không hề hay biết. Trung Cộng từ khi xây dựng chính quyền tới nay đã gây ra cái chết của hơn 80 triệu người. Hơn nữa nhiều người Trung Quốc dù đã minh bạch sự thực lịch sử này nhưng vẫn cảm thấy từng sinh mệnh qua đời chẳng qua chỉ là một con số mà thôi. Thái độ coi nhẹ sinh mệnh này ắt là có quan hệ với Thuyết tiến hóa mà Trung Cộng đã nhồi nhét.

Một hậu quả khác của việc Trung Cộng không ngừng nhồi nhét Thuyết tiến hóa là khiến con người cảm thấy “mạnh thắng yếu thua, quần ngư tranh thực” là nguyên tắc đương nhiên. Như vậy, dưới khẩu hiệu “dân tộc”, “quốc gia” tươi đẹp đó, sự uy hiếp với những người yếu thế lại càng có thể xảo biện một cách đường đường chính chính như: Vì cái gọi là “phát triển”, vì cái gọi là “ổn định” thì sẽ không thể tránh khỏi hy sinh. Do đó mới có những lời tuyên bố như của viện sỹ Hà: “Ai bảo anh bất hạnh sinh ra tại Trung Quốc?” mới có những lời lẽ hùng hồn như Đặng Tiểu Bình vào ngày 4 tháng 6: “Giết 200 nghìn người, giữ gìn ổn định cho 20 năm.” Khi quy tắc này được xã hội tiếp nhận một cách phổ biến, thì lòng người với sự công bằng chính nghĩa của xã hội đã mất đi hy vọng, theo đó là hệ thống tiêu chuẩn đạo đức trượt dốc.

Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

4) Mục đích chân thực của việc nhồi nhét khoa học hiện đại: Đàn áp tín ngưỡng

Ngay khi mới bắt đầu xây dựng chính quyền, Trung Cộng đã không ngừng triển khai cái gọi là cuộc vận động “đánh đổ mê tín phong kiến” trên phạm vi cả nước. Mấy năm nay lại thêm vào khẩu hiệu “sùng bái khoa học”. Mười mấy năm qua sách giáo khoa tại các trường học đều phải viết đề cương dạy học theo chế độ của Trung Cộng, nhằm đảm bảo rằng tri thức trong sách chỉ có thể trở thành bằng chứng ủng hộ cho “Lịch sử phát triển xã hội” và “Chủ nghĩa duy vật biện chứng” của Trung Cộng mà không xảy ra xung đột lẫn nhau. Trung Cộng còn thiết lập “Phương pháp phổ cập khoa học kỹ thuật” một cách chuyên môn, hầu như tại tất cả các thành phố đều thiết lập “Viện khoa học”, “Trạm phổ cập khoa học” do chính phủ cung cấp tài liệu. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của nó là phối hợp với cơ sở hạ tầng của “Trung Cộng” tiến hành hoạt động “phổ cập khoa học” với quy mô lớn, tiến hành triển lãm “phá bỏ mê tín”, “phản đối tà giáo”. Mấy chục năm bị nhồi nhét đã khiến đại đa số đầu óc con người không chỉ thiết lập một cách kiên cố quan niệm khoa học tối cao, mà còn đưa nó lên cao tới mức độ chính trị. Cho nên “phản khoa học”, “làm thứ mê tín phong kiến” không chỉ là vấn đề lựa chọn tín ngưỡng cá nhân, mà là hại dân hại nước, thậm chí nên mắc phải “hành vi tội lỗi” bị toàn dân phỉ báng.

Trên thực tế tại những quốc gia phương Tây nơi mà khoa học hiện đại còn phát triển hơn, chính phủ không hề dùng cái gậy khoa học để phê phán bất kỳ tín ngưỡng nào. Trong những trường đại học, học sinh có những đầy đủ sự tự do để tổ chức những đoàn thể tín ngưỡng mà chính phủ và nhà trường không những không can thiệp, ngược lại còn khích lệ sự phồn thịnh đa văn hóa. Những nước phương Tây mặc dù cũng có hoạt động phổ cập khoa học được chính phủ hỗ trợ, nhưng không hề liên can tới việc quét sạch “mê tín”, phản đối “ngụy khoa học”… Những hoạt động này thông thường chỉ là phổ cập thường thức về việc thoát thân khi gặp nạn, như ngay từ lớp mầm non, cho tới tiểu học đều có những buổi học dạy về việc thoát thân khi gặp nạn, thường diễn tập, luyện tập những kỹ năng phản ứng khi bản thân gặp phải tai nạn họa hại như hỏa hoạn, giông bão, động đất, sóng thần. Nhưng trong nội dung đại cương dạy học của Trung Cộng không những không có những nội dung này, thậm chí tại những khu vực thường xuyên xảy ra thiên tai hoạn nạn những nội dung này cũng không phải là trọng điểm của viện khoa học kỹ thuật, trạm phổ biến khoa học. Sở dĩ như vậy là do mục đích mà Trung Cộng nhồi nhét khoa học hiện đại hoàn toàn không phải vì dân giàu nước mạnh, mà là vì áp chế tín ngưỡng. Tín ngưỡng của một người vốn là hành vi cá nhân, dù trong Hiến pháp mà Trung Cộng đưa ra cũng đành phải thừa nhận tự do tín ngưỡng của công dân. Nhưng Trung Cộng giương cao lá cờ lớn “khoa học” là vì có thể “danh chính ngôn thuận” chụp những cái mũ chính trị như “mê tín”, “phản khoa học”, khiến nhân dân “ngu muội”, “lạc hậu”… Như vậy việc nhổ tận gốc tín ngưỡng đã được khoác lên chiếc áo choàng “vệ sỹ” khoa học, thậm chí còn có thể liên hệ với chủ nghĩa yêu nước, bởi vì “mê tín” sẽ khiến đất nước “lạc hậu”.

Ngay những ngày đầu xây dựng chính quyền, năm 1950, Trung Cộng đã bắt đầu giải tán những tổ chức “mê tín” với quy mô lớn trên cả nước như tổ chức Cơ Đốc giáo, Thiên Chúa giáo, Đạo giáo (đặc biệt là đạo Nhất quán), Phật giáo. Trung Cộng yêu cầu thành viên của những giáo hội, giáo đường, bang phái tới đăng ký với chính phủ và sửa chữa hối cải. Nếu không đang ký theo hạn, một khi bị tra rõ sẽ phạt rất nghiêm. Năm 1951, Chính phủ ban hành công văn rõ ràng tuyên bố những người tiếp tục những hoạt động hội họp môn đạo sẽ bị xử tử hình hoặc bắt đi tù. Theo thống kê không hoàn chỉnh, đã có không dưới ba triệu giáo đồ, thành viên nhóm hội bị bắt, bị giết.

Năm 1999, Trung Cộng bắt đầu đàn áp việc nhân dân tín ngưỡng vào Pháp Luân Công, cũng dùng khẩu hiệu “Tôn sùng khoa học, phá bỏ mê tín”, lấy danh nghĩa “phản tà giáo” để tiến hành đàn áp Pháp Luân Công, sau đó lại tiến hành trấn áp một bước nữa những môn phái khí công khác và những giáo hội ngầm. Lý do mà cảnh sát bắt giữ tín đồ giáo hội ngầm của Cơ Đốc giáo thường trực tiếp là “Tin Thần chính là phản đảng”. Rốt cuộc thì nguyên nhân căn bản là chính quyền độc tài Trung Cộng với cơ sở là Thuyết vô Thần quả thực không thể cho phép nhân dân tín ngưỡng vào Thần, không thể cho phép phía trên “Trung ương Đảng” còn có Thần chí cao vô thượng.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Dù Trung Cộng thông qua việc nhồi nhét Thuyết tiến hóa và khoa học hiện đại để xác lập lý luận căn bản của nó – Thuyết vô Thần, nó thậm chí còn tạo ra một từ để lừa gạt con người gọi là “Thuyết vô Thần khoa học”. Tuy nhiên nếu chỉ nói về bản thân sự phát triển khoa học, nó hoàn toàn không chứng minh Thuyết vô Thần. Theo quan điểm tôn giáo chính thống, con người là do Thần tạo ra, con người phủ định sự tồn tại của Thần cũng giống như vi khuẩn trong máu được nuôi trong phòng thí nghiệm mưu đồ phủ nhận sự tồn tại của con người là vô ích. Bởi vì từ phương pháp thực nghiệm của khoa học hiện đại, đối với việc chứng thực Thuyết vô Thần, cần phải yêu cầu phủ định sự tồn tại của Thần tại tất cả phạm vi thời gian và không gian trong toàn vũ trụ, điều này đương nhiên cũng bao gồm cả phạm vi không gian và thời gian mà con người vĩnh viễn còn chưa nhận thức được. Vũ trụ cự đại, đa dạng, phức tạp như vậy, ai có thể bảo đảm được từ vĩ quan bao la tới vi quan vô hạn chỉ có con người là sinh mệnh cao cấp? Thậm chí ai có thể đảm bảo rằng hình thức tồn tại của sinh mệnh chỉ có thể dựa vào hình thức lòng trắng trứng, axit amin mà chúng ta biết? Nói sâu thêm một bước nữa, vũ trụ học hiện đại cho rằng những vật chất đen chiếm 2/3 vũ trụ mà con người không thể quan sát, đo lường, tức là dù cho dùng hết kỹ thuật đo lường của nhân loại thì vẫn còn 2/3 vũ trụ chúng ta không hề biết. Vật lý lý luận hiện đại đưa ra lý luận thế giới phẳng, cho rằng vũ trụ của chúng ta không chỉ là không gian ba chiều như những gì chúng ta có thể cảm nhận được. Vậy thì ai có thể đảm bảo rằng không gian khác không có sinh mệnh cao cấp? Nếu không gian khác tồn tại sinh mệnh cao cấp, nếu họ có sự từ bi vượt rất xa so với con người, có đại trí huệ, ngộ được những chân lý của vũ trụ và có năng lực siêu phàm, vậy thì với con người mà nói, họ chẳng phải là Phật, Đạo, Thần sao? Do đó dù về logic hay về kỹ thuật hay từ góc độ khoa học chứng minh rằng Thuyết vô Thần không thể thao túng được.

Điều cần chỉ ra là ở đây không phản đối bất kỳ một người nào tin thờ “Thuyết vô Thần”. Là một con người mà nói, tin Thần và không tin Thần lẽ ra nên là sự lựa chọn tự do không cần bàn cãi. Trong xã hội thông thường sẽ có người tín ngưỡng hữu Thần và vô Thần hoàn toàn có thể cùng chung sống hòa bình. Nhưng khi chính phủ dùng thủ đoạn cưỡng chế nhồi nhét Vô Thần luận trong toàn xã hội, đàn áp tín ngưỡng vào Thần khiến mất đi tín ngưỡng của cả một xã hội, tất nhiên sẽ khiến thể hệ giá trị xã hội truyền thống vốn có mất đi chỗ dựa, từ đó dẫn tới toàn xã hội trượt xuống vũng bùn của chủ nghĩa vật chất, chủ nghĩa túng dục.

5) Trung Cộng không coi trọng “khoa học”, chủ nghĩa Marx phản tự nhiên

Dù Trung Cộng tô trát cho mình thành vệ sỹ bảo vệ khoa học, mà còn đặc biệt mua chuộc một lô những chuyên gia dùng để “phản ngụy khoa học”. Những tài liệu “phản đối mê tín, phản đối ngụy khoa học” do chính phủ cung cấp và cực lực tuyên truyền, giọng điệu của nó còn cao hơn bất kỳ một quốc gia phương Tây có khoa học phát triển nào, nhưng cũng không thể che đậy được bản chất phản quy luật tự nhiên của Trung Cộng về cả lý luận và thực tiễn.

Năm 2006, tròn 30 năm động đất tại Đường Sơn, một bản báo cáo nhiều trang có tên “Đường Sơn cảnh thế lục” (Ghi chép về cảnh báo tại Đường Sơn) mới được công bố vào tháng 01 đầu năm đã bị bộ tuyên truyền của Trung Cộng ngấm ngầm hạ lệnh tiêu hủy. Bởi vì trong sách đã tiết lộ rằng trước trận động đất lớn, nhân viên công tác khoa học kỹ thuật của Trung Quốc đã nhiều lần xác nhận dự báo tai nạn sắp tới.

Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Nhưng lúc đó chính quyền Trung Cộng lúc đó đang hỗn loạn, sự ổn định chính trị cao hơn tất cả, không ai dám báo lên hoặc công bố dự báo về trận động đất. Chỉ có một ngoại lệ duy nhất là có một người thuộc ban khoa học huyện Thanh Long, tỉnh Hà Bắc trong một trường hợp không chính thức đã nhận được báo cáo dự báo về vụ động đất của một nhân viên kỹ thuật cục dự báo động đất quốc gia, anh ta đã thông báo vụ động đất này cho từng người trong huyện. Do đó, huyện Thanh Long tỉnh Hà Bắc, cách Đường Sơn 115 km, nhưng trong trận động đất lớn vào năm 1976 không hề một ai bị thiệt mạng. Kỳ tích này được coi là trường hợp được Ban quản lý công chúng Liên Hợp Quốc và Ban kế hoạch tổng hợp toàn cầu về tai nạn khoa học ghi chép lại.

Dù cho tới ngày nay, dưới sự thống trị của chính trị Trung Cộng những việc vi phạm quy luật tự nhiên, phạm tội gây nguy hại cho tính mệnh, tài sản của nhân dân vẫn tiếp diễn không ngừng. Năm 2003, dịch SARS hoành hành toàn cầu, tháng 11 năm 2002 lần đầu tiên bùng phát tại tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, nhưng lúc đó nội bộ Trung Cộng đang phải đối mặt với tranh chấp về vấn đề 16 vị tay chân lớn của lãnh đạo đảng Giang Trạch Dân, vì ổn định chính quyền mà che giấu dịch bệnh, cuối cùng thì tuột mất cơ hội khống chế dịch bệnh phát tán trước lễ hội mùa xuân, khiến dịch SARS bùng phát. Ở đây đâu có chút hình bóng nào của thái độ khoa học?

Trong vòng mấy chục năm Trung Cộng đều chạy đua thành tích, vì mục tiêu chính trị điên cuồng mà làm ra vô số chuyện xuẩn ngốc phản lại quy luật tự nhiên, cuối cùng người gặp tai ương lại là người dân Trung Quốc. Ví như việc “triển khai” công trình Tam Hiệp chính là buổi biểu diễn “quyết sách khoa học” thể hiện chính trị cao hơn tất cả do Trung Cộng đạo diễn. Năm 1986, Trung Cộng quyết định tiến hành “biện luận” về công trình Tam Hiệp và hy vọng thông qua công trình vĩ đại xuyên thế kỷ này “thể hiện một cách toàn diện thành tựu của cuộc cải cách mở cửa”, triển hiện năng lực điều khiển tự nhiên của Trung Cộng, nhằm giải thích cho tính hợp pháp cầm quyền của mình. Cho nên giáo sư Hoàng Vạn Lý, chuyên gia thủy lợi nổi tiếng, người phản đối triển khai công trình, đã cố tình không được mời tham gia buổi “biện luận” công trình. Hoàng Vạn Lý đã vài lần viết thư cho lãnh đạo, thống thiết nói về công trình Tam Hiệp sẽ vô cùng nguy hại. Ông còn chỉ ra, báo cáo biện luận được công bố có vô vàn lỗ hổng, nên kịp thời tỉnh ngộ mà tiến hành thẩm tra lại. Trung Cộng không hề có bất kỳ hồi đáp gì. Khi tính khả thi của công trình Tam Hiệp sắp kết thúc, vừa kịp sự kiện ngày 4 tháng 6 năm 1989, có những nhân sỹ phản đối công trình Tam Hiệp đã bị bắt vào tù, những phe phái phản đối khác cũng vì thế mà bị đàn áp. Kết luận của báo cáo của tổ biện luận môi trường sinh thái lúc đó là: Ảnh hưởng của công trình Tam Hiệp tới môi trường sinh thái là “Hại nhiều hơn lợi”. Ngoài ra ủy viên Hội Khoa học Môi trường Học viện Trung Quốc, văn phòng nhóm lãnh đạo Tam Hiệp thuộc viện khoa học cũng có một nhóm chuyên gia phản đối triển khai công trình Tam Hiệp. Điều này đương nhiên không phải là chuyện khiến Trung Cộng vui mừng, cho nên vào ngày 06 tháng 07 năm 1990, Phan Gia Tranh, người phụ trách kỹ thuật nhóm lãnh đạo luận chứng về tính khả thi của công trình, trong cuộc họp báo cáo luận chứng về công trình Tam Hiệp do Quốc vụ viện triệu tập, thay đổi kết luận “hại nhiều hơn lợi” của nhóm môi trường sinh thái biện luận về công trình Tam Hiệp trở nên không rõ ràng như sau: “Ảnh hưởng tới môi trường sinh thái của công trình Tam Hiệp sâu rộng và lâu dài”. Sau đó ủy viên thủy lợi Trường Giang đã viện cớ về thiếu sót trong trình tự do đại cương báo cáo của nhóm biện luận môi trường sinh thái vốn cũ chưa báo cáo lại cho Cục Bảo vệ Môi trường Quốc gia phê chuẩn nên đã phủ định báo cáo này. Chỉ một thời gian ngắn ngủi, sáu tháng sau, trong báo cáo viết lại, kết luận lại thành “lợi nhiều hơn hại”. Tháng 03 năm 1991, lãnh đạo Trung Cộng là Giang Trạch Dân ban hành chỉ thị: “Xem ra Tam Hiệp có thể mưa lất phất, đã tiến hành chút tuyên truyền chính diện, thì cũng nên bắt đầu chuẩn bị một chút”. Cuối năm 1991 và đầu năm 1992, hãng truyền thông Trung Quốc ồ ạt báo cáo một cách tích cực về công trình Tam Hiệp, những lời phản đối lại hoàn toàn bị trấn áp.

Ngày 17 tháng 05 năm 2000, giáo sư Trương Quang Đấu, người cực lực chủ trương triển khai công trình sau khi phát hiện ra sai sót rằng hồ chống lũ của công trình Tam Hiệp trên thực tế không thể đạt được tiêu chuẩn thiết kế, đã dặn đi dặn lại chủ nhiệm văn phòng Ban xây dựng công trình Tam Hiệp: “Chuyện này nhất quyết không thể công khai ra ngoài xã hội.” (Theo ‘Tổng giai đoạn thứ 27 trong “Thăm dò về Tam Hiệp”’)

Ngoài ra, các chuyên gia trong nước và hải ngoại đã chỉ ra, công trình Tam Hiệp phá hoại môi trường sinh thái, vượt quá xa so với lợi ích kinh tế của công trình này, chỉ là nước trong hồ nước Tam Hiệp khiến cho dòng nước chậm lại, khả năng tự làm sạch của nước yếu đi, nước biến chất tạo thành tổn thất, vượt quá so với thu nhập kinh tế dùng để phát điện của công trình Tam Hiệp. Trương Quang Đấu, chủ nhân, người phê duyệt chính về môi trường trong công trình Tam Hiệp sau khi triển khai công trình vào năm 2000 lại phát hiện khu hồ Tam Hiệp bị ô nhiễm gây ra vấn đề rất nghiêm trọng, ông đã từng kiến nghị chuyển tiền xử lý vấn đề trên. Ông ước tính phải cần tới 300 tỷ Nhân dân tệ (Theo Tổng giai đoạn thứ 27 trong “Thăm dò về Tam Hiệp”). Điều cần chú ý là tổng đầu tư của công trình Tam Hiệp là 180 tỷ Nhân dân tệ. Do công trình nảy sinh quá nhiều vấn đề, dẫn tới sau này Trung Cộng không còn ai muốn gánh trách nhiệm này. Tháng 05 năm 2006, công trình xuyên thế kỷ này hoàn công, nhưng không một vị lãnh đạo nào của Trung Cộng tham dự buổi lễ.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Với Trung Cộng, “khoa học” và “nhà khoa học” đều chỉ là nô lệ phải nghe theo yêu cầu của chính trị, khi không cần đến thì có thể đánh ngã ngay trên mặt đất, tùy ý chà đạp, đến khi cần đến lại trở thành cây gậy đả kích những ý kiến bất đồng. Một mặt, những nhà khoa học dám nói lời thật, có nhân cách độc lập như Hoàng Vạn Lý, dưới sự thống trị của Trung Cộng thì chỉ có thể ôm hận suốt đời. Mặt khác, lại có một nhóm “nhà khoa học” giỏi thích ứng với khẩu vị của Trung Cộng, như Phiên Gia Tranh, Trương Quang Đấu đã nhắc ở phía trên, đều vì “biết nghe lời” mà được trọng dụng. Khi Trung Cộng cần “giới khoa học” ủng hộ nhằm trấn áp nhân dân tín ngưỡng Pháp Luân Công, hai người đó lại lắc mình biến thành cái gọi là người khởi phát của “Hiệp hội phản tà giáo Trung Quốc”.

Bộ tuyên truyền có phòng khoa học, quản những vấn đề hình thái ý thức về những vấn đề trong lĩnh vực khoa học, hiện nay Hà Tộ Hưu kẻ tiên phong “phản ngụy khoa học” của Trung Cộng, trong những năm 50 của thế kỷ trước đã từng là “đại tướng” của phòng đó. Phòng khoa học thuộc Bộ Tuyên truyền của thế kỷ trước đã dấy lên cái gọi là phê phán “ngụy khoa học”, làm ra hết cuộc vận động này đến cuộc vận động khác, hầu như lan tới tất cả mọi môn học về khoa học tự nhiên. Ví dụ như phê phán Học thuyết gen của Morgan Base, phê phán di truyền học của Mendel, phê phán kiến trúc học của Lương Tư Thành, phê phán nhân khẩu học của Mã Dần Sơ, phê phán một vài lý luận của lượng tử lực học, phê phán Thuyết tương đối, phê phán Thuyết khống chế… Điển hình như Thuyết khống chế bị phê phán thành mưu đồ dùng “quan điểm thuần kỹ thuật để giải thích hiện tượng xã hội, từ đó mà che lấp nguyên nhân căn bản là che lấp sự hủ bại và sự suy tàn của xã hội giai cấp tư sản”, Enstein bị nói thành “giai cấp tư sản lớn nhất phản động uy quyền của học thuật trong giới khoa học tự nhiên”, còn Thuyết tương đối thì bị nói thành “từ đầu chí cuối đều là học lớp chủ nghĩa duy tâm”; Thuyết Big Bang vụ nổ lớn trong vũ trụ và vũ trụ học hiện đại là “điển hình của chủ nghĩa duy tâm trong lĩnh vực học thuật”, là “cung cấp luận chứng mới về tôn giáo và khoa học”…

Mấy chục năm nay Trung Cộng giết người, làm ra các cuộc vận động đều có lý do đường hoàng, chính là vì xây dựng cái gọi là “thiên đường nhân gian” của Chủ nghĩa cộng sản. Nhưng “Lý luận Chủ nghĩa cộng sản”, kinh điển “khoa học” mà Trung Cộng chụp mũ, trên thực tế lại đúng là thứ tà thuyết méo mó vi phạm quy luật tự nhiên. Theo lý luận của Chủ nghĩa cộng sản, cái gọi là Chủ nghĩa cộng sản là “hình thái cao nhất” của xã hội nhân loại, cơ sở lý luận của nó là thông qua sự phát triển cao độ của sức sản xuất, của cải vật chất cực kỳ phong phú, đạt tới mức thiên hạ đại đồng “phân phối theo nhu cầu”. Nhưng điều bất hạnh là dục vọng của con người thì không có giới hạn nhưng tài nguyên thiên nhiên lại hữu hạn.

Năm 1972, câu lạc bộ La Mã do những chuyên gia trên toàn cầu tổ chức đã phát biểu bài nghiên cứu nổi tiếng “Giới hạn cực điểm của tăng trưởng” đã chỉ ra sức sản xuất của con người không thể tiếp tục tăng trưởng một cách không hạn chế, lần đầu tiên kêu gọi được sự quan tâm rất lớn của nhân loại về vấn đề môi trường và phát triển. Ngay những năm 80 của thế kỷ trước, trong bản báo cáo có sức ảnh hưởng trên toàn cầu với chủ đề “Tương lai chung của chúng ta” do “Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới” của Liên Hợp Quốc phát biểu đã chỉ ra rằng: Nguy cơ môi trường, nguy cơ nguồn năng lượng và nguy cơ phát triển không thể tách rời nhau; tài nguyên và nguồn năng lượng của trái đất còn xa mới có thể thỏa mãn yêu cầu phát triển của nhân loại. Căn cứ theo đó, báo cáo đã chỉ ra khái niệm “có thể tiếp tục phát triển”. Nói cách khác, nói là do mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển của con người và tài nguyên hữu hạn của trái đất, đạt được cái gọi là sự phong phú cực đại về vật chất của cải “phân phối theo nhu cầu” là điều không thể. Khi Marx nêu ra lý luận Chủ nghĩa cộng sản, nhân loại đang ở thời kỳ công nghiệp hóa, nhận thức về mối quan hệ giữa con người và môi trường còn kém xa. Đảng Cộng sản lại dùng lý luận “Chủ nghĩa cộng sản” do Marx đề ra vào hơn 100 năm trước là chân lý chuẩn cho cả bốn bể, điều này bản thân nó đã là sự ngu xuẩn và thái độ phục tùng vô nguyên tắc.

6) Việc nhà khoa học tin vào Thần không hề là trở ngại ngăn cản thành tựu khoa học của họ

Khi Giang Trạch Dân viếng thăm nước Mỹ đã hỏi tổng thống Clinton của Mỹ: Vì sao khoa học nước Mỹ lại phát triển như vậy mà vẫn có nhiều người tín ngưỡng tôn giáo? Đây chính là một trong những ví dụ điển hình cho sự ngu dốt vô tri của lãnh đạo Trung Cộng. Kỳ thực, mỗi một người Trung Quốc cũng nên hỏi Trung Cộng xem nó dốc toàn lực để nhồi nhét khoa học hiện đại, tuyên truyền cái gọi là “Thuyết vô Thần khoa học” mấy chục năm nay, vì sao đường đường một nước lớn với 1,3 tỷ dân lại không có lấy một người đạt giải Nobel? Còn những người hoa tại hải ngoại đạt giải Nobel ngược lại đều chưa từng bị Trung Cộng nhồi nhét? Kỳ thực chính là do Trung Cộng nhồi nhét khoa học hiện đại, hoàn toàn không phải là vì phát triển khoa học kỹ thuật của Trung Quốc, thực chất là vì đàn áp tín ngưỡng, kìm kẹp tự do tư tưởng. Nhưng điều cần cho sáng tạo khoa học chính là một môi trường tư tưởng tự do. Phương thức nhồi nhét của Trung Cộng lại cực lực đối lập với khoa học và tín ngưỡng, hình thành một xu hướng tư duy cứng nhắc trong đầu óc nhân dân, cho rằng tín ngưỡng vào Thần nhất định sẽ dẫn đến sự ngu dốt, dẫn đến “phản khoa học”, miêu tả những tín đồ tôn giáo là một nhóm người bị lừa gạt văn hóa thấp và tìm kiếm sự an ủi tâm linh.

Trên thực tế, lần giở lịch sử chúng ta sẽ thấy được rằng, những nhà khoa học vĩ đại trong thời kỳ khoa học phát triển đỉnh cao, gồm Copernicus, Descartes, Galileo và Newton đều tự xưng mình tuyệt đối tin vào Sáng thế chủ, cho rằng thế giới này, kiệt tác của Thần là có quy luật, đang đợi các nhà khoa học đi phát hiện chứng thực. Nghiên cứu khoa học và tín ngưỡng vào Thần của cá nhân không phải là mối quan hệ như nước với lửa mà Đảng Cộng sản tuyên truyền. Có một sự thực không thể phủ nhận được là, có một lượng lớn những nhà khoa học lớn lưu danh sử sách là người “hữu Thần luận” có tín ngưỡng tôn giáo, như Kepler – người đặt nền móng cho thiên văn học hiện đại, Boyle- nhà tiên phong của hóa học hiện đại, Faraday – người phát hiện ra nguyên lý điện giải, Morse  – nhà phát minh ra điện báo, Maxwell – người phát hiện ra sự tương đương giữa cơ và nhiệt, Master – nhà phát minh ra lý luận điện từ, Dalton – người được vinh danh là cha đẻ của lý luận nguyên tử, Mendel – người đặt nền móng cho di truyền học hiện đại, Fleming – người phát minh ra thuốc kháng sinh Penicillin, Pasteur – người sáng lập ra vi sinh vật học, họ đều là những tín đồ tôn giáo rất thành kính.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Một điều đáng nhắc tới là Newton – một ngôi sao vật lý học kinh điển, là một tín đồ Cơ Đốc thành kính, Trung Cộng không thể che đậy một sự thật được cả thế giới công nhận, cho nên trong sách giáo khoa cố ý nói thành những năm cuối đời Newton đã dấn thân vào tôn giáo và do vậy không có thêm sáng tạo gì, khiến con người hiểu lầm rằng rất nhiều phát hiện khoa học những năm đầu được dẫn dắt bởi thế giới quan của “Thuyết vô Thần”, còn những năm cuối đời họ tín ngưỡng tôn giáo đã gây trở ngại cho việc sáng tạo khoa học. Nhưng sự thực là Newton đã sớm là một tín đồ Cơ Đốc trước khi theo đuổi nghiên cứu khoa học, mà cả đời ông tín ngưỡng vào Thần không hề thay đổi. Khi Newton còn học tại trường Cambridge, ông đã sớm là một tín đồ Cơ Đốc thành kính. Ông thường hay viết những lời cầu nguyện của mình vào những chỗ trống trong sổ tay hay sách vở, thậm chí đến nay vẫn còn lưu giữ rất nhiều trong viện bảo tàng Anh. Ông cũng thường cùng với người bạn cùng phòng tên là Andrew Wiggins ra ngoài phân phát Thánh kinh cho người nghèo, gửi phúc âm tới cho họ. Cho nên kinh sách mua để phân phát đã trở thành một chi phí ngoài tiền thuê phòng và tiền ăn trong kế sinh nhai thời học sinh của ông. Thậm chí những suy xét về khoa học của Newton cũng có mối quan hệ không thể tách rời với những lời cầu nguyện trong cuộc sống của ông. Ông thường nghĩ tới khoa học trong dòng suy nghĩ về tín ngưỡng, trong dòng suy nghĩ về khoa học ông cũng nhớ tới tín ngưỡng. Đến nỗi sau này giáo sư Manuel khoa lịch sử trường đại học New York trong cuốn “Newton truyện” của mình đều nói: “Khoa học cận đại khởi nguồn từ những mặc niệm của Newton về Thượng đế.”


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Theo tiến sỹ Harriet Chad Zuckerman của trường Đại học Columbia nước Mỹ, năm 1977 trong tài liệu thống kê nổi tiếng của mình “Anh tài khoa học – những người đoạt giải Nobel nước Mỹ”, từ năm 1901 khi thiết lập giải Nobel đến nay, trong 286 nhà khoa học đã đạt giải khoa học của nước Mỹ, 73% người đạt giải là tín đồ Cơ Đốc, 19% là tín đồ Do Thái. Richard Feynman – nhà sinh lý học nổi tiếng từng đoạt giải Nobel đã nói: “Rất nhiều nhà khoa học quả thực vừa tin tưởng khoa học vừa tin vào Thượng đế,” mà hai điều này lại có thể thống nhất một cách hoàn mỹ. Von Braun – nhà khoa học hàng không hiện đại đã từng viết một đoạn như sau, có lẽ có thể coi là lời giải thích cho Feynman: “Sự thần kỳ vô biên của vũ trụ chỉ có thể chứng thực đức tin của chúng ra rằng, chắn chắn có Đấng sáng thế. Tôi phát hiện ra rằng, việc lý giải một nhà khoa học không thừa nhận tính siêu thường của vũ trụ và một nhà thần học phủ nhận sự tiến bộ của khoa học đều khó như nhau”.

7) Chứng thực khoa học không phải là phương thức duy nhất khám phá về quy luật của vũ trụ

Ngày 01 tháng 03 năm 1994 đã chính thức bắt đầu khai quật đường hầm số 2 Binh mã dũng của Tần Thủy Hoàng. Nhà khoa học khảo cổ đã phát hiện một lô kiếm đồng xanh trong hầm thứ 2, trên thanh kiếm có 8 mặt. Nhà khảo cổ học dùng thước kẹp đo đạc phát hiện 8 mặt chỉ sai lệch không đến một sợi tóc. 19 thanh kiếm đồng xanh đã được khai quật, thanh nào cũng như vậy. Điều càng khiến con người thấy kỳ lạ là chúng vùi sâu trong đất sét đã hơn 2.000 năm vậy mà khi được khai quật vẫn sáng bóng như mới, sắc bén vô cùng. Sau khi nhân viên nghiên cứu khoa học phát hiện trên bề mặt thanh kiếm có một tầng hợp chất crom dày 10mm. Phát hiện này lập tức chấn động thế giới, bởi vì cách xử lý khí hóa crom này là công nghệ tiên tiến mới xuất hiện, đến thời cận đại mới được lần lượt phát hiện tại Đức năm 1937, tại Mỹ năm 1950 và đã được cấp quyền sở hữu sáng chế.

Có một sự trùng hợp kỳ lạ là khi nhân viên khảo cổ dọn vệ sinh đường hầm số 1 của Tần Thủy Hoàng trong lần rời hầm thứ nhất đã phát hiện một thanh đồng xanh bị một bức tượng gốm nặng tới 150 kg đè cong, độ cong của nó vượt quá 45 độ, sau khi mọi người di chuyển bức tượng gốm thì một kỳ tích khiến con người phải kinh ngạc đã xuất hiện: một thanh kiếm bằng đồng xanh vừa hẹp vừa mỏng ngay lập tức đang uốn cong bẻ thẳng lại, khôi phục lại một cách tự nhiên. “Hợp kim giữ hình trạng” trong mộng tưởng của nhà luyện kim học đương đại lại xuất hiện trong hầm mộ cổ đại hơn 2.000 năm trước. “Hợp kim giữ hình trạng” ngày nay có rất nhiều tác dụng, ngay cả áo ngực của phụ nữ cũng dùng tới, cũng chính là “gọng ôm giữ hình trạng”, nhưng nào ai nghĩ tới, văn minh khoa học những năm 80 vì sao lại xuất hiện vào hơn 200 năm trước Công nguyên.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Chúng ta hãy thử đặt một giả thiết, giả như kỹ thuật đúc kim thần kỳ kể trên hoàn toàn không hề lưu trên vật thể thực mà chỉ là ghi chép trong sách cổ của Trung Quốc. Hơn nữa trong khi nhân loại hiện đại chúng ta ngay thế kỷ trước cũng chưa phát minh ra kỹ thuật tương tự thì lại phát hiện ra những ghi chép trong sách cổ này. Theo cái mà Trung Cộng gọi là “phê phán có kế thừa” quan điểm văn minh cổ đại Trung Quốc rằng kỹ thuật mà người hiện đại đều không thể thực hiện được lại xuất hiện trong sách cổ, đó nhất định là “mê tín” hoặc “tưởng tượng nghệ thuật”. Đồng thời còn dùng những kẻ côn đồ “chống đồ giả”, “đánh hàng giả” cũng nhất định sẽ trích dẫn căn cứ, luận chứng cho lời lẽ dối trá của nó.

Trên thực tế, đây chính là do Trung Cộng nhồi nhét khoa học hiện đại một thời gian dài khiến cho mọi người có biểu hiện tư duy cứng nhắc sùng bái khoa học chứng thực hiện đại là chân lý duy nhất. Những người chịu ảnh hưởng của tư tưởng này sẽ nhất loạt bài xích những lĩnh vực khoa học chưa được khám phá, những hiện tượng không thể giải thích được, thậm chí còn chụp lên cái mũ “ngụy khoa học” và “mê tín”.

Khoa học kỹ thuật cổ đại Trung Quốc hoàn toàn không đi theo con đường khoa học chứng thực của phương Tây, nhưng có thể căn cứ vào đó mà coi đó là vô lý? Do trong giả thiết nêu trên, chúng ta không khó nghĩ xem trong di sản văn hóa tổ tiên Hoa Hạ mấy nghìn năm lưu lại biết bao nhiêu bao nhiêu những bộ phận bị coi là “mê tín”, nhất định cũng có những tinh túy văn minh cổ đại mà khoa học hiện đại không thể nhận thức được. Trung y cổ đại đã phát hiện ra kinh lạc, phát minh ra châm cứu, như khoa học hiện đại đã áp dụng điện trở đo lường da, chứng thực sự tồn tại khách quan của kinh lạc và huyệt vị, tác dụng của Trung y cũng được Tổ chức Y tế Thế giới thừa nhận và đánh giá cao. Kinh mạch, huyệt vị của cơ thể người thực tế là một đặc trưng của sinh mệnh, chỉ thể hiện trên thân người sống, sự vận hành của kinh lạc cũng chịu ảnh hưởng của tinh thần, hơn nữa hầu như không có đặc trưng kết cấu giải thích. Theo con đường khoa học chứng thực, dùng phương pháp giải phẫu của Tây y là căn bản không thể nào phát hiện được. Đặc biệt là người xưa còn dùng ngũ hành sinh khắc, thiên can địa chi đã phát hiện ra quy luật huyệt vị đóng mở và nguồn năng lượng thay đổi theo thời gian, từ đó mà ứng dụng vào lâm sàng chữa trị và thu được hiệu quả trị liệu rõ rệt. Đây càng là điều mà Tây y lấy giải phẫu làm cơ sở khó có thể đạt được. Thực tế cổ nhân Trung Quốc đã thông qua đả tọa tu luyện mà quan sát được sự vận hành của kinh mạch. Lý Thời Trân thời Minh trong “Kỳ kinh bát mạch khảo” đã nói: “Nội cảnh toại đạo, duy phản quan giả năng chiếu sát chi” (Đường ngầm nội cảnh duy chỉ có quan sát ngược lại mới có thể quan sát được nó). Khoa học cổ đại Trung Quốc chú trọng “Thiên nhân hợp nhất”, coi thân thể vật chất của con người, tinh thần của con người và toàn vũ trụ là một thể hữu cơ mà trực tiếp tiến hành nghiên cứu tổng thể.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Điều hiển nhiên là một khi cần đem hoạt động tinh thần của bản thân nhân loại hòa vào nghiên cứu hoàn cảnh chỉnh thể của đối tượng, thì những biện pháp như quá trình thí nghiệm lặp lại, phân tích hoàn nguyên mà khoa học chứng thực cần đều không còn thích hợp. Từ điểm này mà xét, những cây gậy khoa học chứng thực được giơ cao nhằm đả kích con người mang văn hóa tu luyện truyền thống của Trung Quốc, tự coi là mình nắm vững chân lý, trên thực tế lại chính là bị Văn hóa đảng một tay che cả bầu trời, tôn giáo hóa, uy quyền hóa, thậm chí là chính trị hóa khoa học hiện đại.

8) Chứng thực tính hạn chế của khoa học

Do khoa học hiện đại đã thẩm thấu vào hầu như mọi lĩnh vực có liên quan tới cuộc sống của con người, điều này khiến Trung Cộng rất dễ dàng dùng phương thức tư duy cứng nhắc để nhồi nhét khoa học hiện đại, đến nỗi rất nhiều người đã coi khoa học hiện đại cũng giống như chân lý một cách không tự biết, còn “phi khoa học” lại trở thành một danh từ đồng nghĩa với sai lầm. Trên thực tế từ khoa học (Science) bắt nguồn từ trong chữ La tinh, nghĩa nguyên gốc là “học vấn”, căn bản là chuyện khác với chân lý. Nói rộng ra, khoa học chính là tìm kiếm và những phương pháp không ngừng tiếp cận với quy luật của vũ trụ và thể hệ kiến thức được hình thành từ đó. Khoa học hiện đại là một bộ những hệ thống và thể hệ tri thức của nó, dùng hình thức logic và phương pháp chứng thực là cơ sở để nhận thức và tìm kiếm quy luật của thế giới vật chất, ở đây chúng ta gọi nó là khoa học chứng thực. Từ nghĩa này mà giảng, khoa học chứng thực hoàn toàn không đồng nghĩa với chân lý cuối cùng, nó lẽ ra nên luôn sẵn sàng chuẩn bị tiếp thụ kiểm nghiệm mới của sự vật và phát triển theo sự phát triển về nhận thức của con người với bản thân sự vật. Đồng thời chúng ta cũng không thể đảm bảo rằng phương pháp tìm kiếm của khoa học chứng thực hiện đại là phương pháp duy nhất để tìm kiếm chân lý của vũ trụ.

Cùng với sự phát triển chóng mặt của mình, khoa học hiện đại cũng đã dần dần mang tới cho nhân loại nhiều vấn đề đau đầu. Một lớp những nhà khoa học có tầm nhìn xa đã bắt đầu nhận thức được giới hạn của khoa học hiện đại. Cơ sở triết học của khoa học chứng thực đến từ phương Tây, đã phân chia thế giới hoàn chỉnh thành hai phạm trù độc lập: vật chất và tinh thần, do đó mà quan niệm về tự nhiên được thiết lập đã phân tách con người và tự nhiên, con người và thế giới, tâm và vật. Hậu quả của nó chính là không thể chứng minh được bản chất của hoạt động tinh thần, mối quan hệ giữa tinh thần và vật chất, tác dụng của tinh thần với vật chất, mà sinh mệnh của con người là một thể hợp nhất giữa tinh thần và vật chất.

Như vậy, hoạt động tinh thần nằm ngoài tầm mắt của khoa học chứng thực hiện đại, đạo đức lại chỉ là thuyết giáo thuần túy không có cơ sở vật chất, con người và tự nhiên cũng không còn là một thể hoàn chỉnh. Một trong những hậu quả của nó chính là sự đối lập giữa con người và tự nhiên. Sự phát triển của khoa học do con người đóng vai trò chủ đạo lại có tính mù quáng rất lớn. James Watt phát minh ra động cơ hơi nước, từ đó đã mang lại cho Cách mạng Công nghiệp một thời đại mới sử dụng nguồn năng lượng nhiên liệu hóa dầu với quy mô lớn. Ai cũng không thể nghĩ được rằng nhân loại 200 năm sau sẽ vì vậy mà rơi vào khó khăn do hiệu ứng nhà kính. Cho rằng phát minh về chất làm lạnh lý tưởng nhất, mang tới cho nhân loại vô số tiện ích, không ai nghĩ tới vài chục năm sau do nó phá hoại tầng ô-zôn mà gần như đã trở thành sát thủ hủy diệt nhân loại. Còn cô-ca-in lại là loại thuốc công hiệu dùng gây mê trong ngành lâm sàng, vì phát hiện ra nó mới có càng nhiều hơn những sinh mệnh được cứu từ nơi tuyệt vọng. Nhưng ngày nay những người hút cô-ca-in đã dùng trăm phương nghìn kế để kiếm được nó, chúng ta thậm chí có thể không quá thổi phồng khi nói: Cô-ca-in hủy diệt sinh mệnh còn nhiều hơn cả số người nó cứu được. Khi Enstein phát hiện ra phương trình chuyển hóa giữa năng lượng và chất lượng (E=MC^2), ông tuyệt đối không nghĩ tới vài chục năm sau “uy hiếp hạt nhân” lại trở thành thanh gươm treo lơ lửng trên đầu nhân loại.

Enstein từng nói: “Khoa học là một công cụ có sức mạnh. Dùng nó như thế nào, rốt cuộc là nó mang lại hạnh phúc hay mang lại tai nạn cho con người, hoàn toàn quyết định ở bản thân mình, chứ không quyết định bởi công cụ.” Theo Enstein, khoa học đối với nhân loại là phúc hay là họa, không thể giải quyết từ bản thân khoa học, chỉ con người tự mình mới có thể giải quyết. Về điểm này thì ông không thể nghĩ được, ngoài tôn giáo truyền thống còn có điều gì có thể so sánh được. Ông nói: “Nếu chúng ta cắt bỏ hết thảy tất cả những thứ sau này phụ thêm vào, đặc biệt là những thứ mà các giáo sỹ truyền giáo đó thêm thắt vào trong Đạo Ki-tô vốn được những nhà tiên tri kiến lập từ đạo Do Thái và Cơ Đốc giáo, vậy thì sẽ lưu lại những giáo nghĩa có thể chữa trị mọi bệnh tật của xã hội nhân loại.” Tại đây Enstein đã nhận thức được cục diện tương lai của khoa học hiện đại do tinh thần và vật chất bị tách rời nhau.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Đối với người dân bình thường, đặc biệt là rất nhiều người dân do bị Trung Cộng nhồi nhét Văn hóa đảng mà tin rằng khoa học hiện đại không gì là không thể làm được, thì đều chưa nhận thức được tầng tầng nguy cơ mà sự phát triển của khoa học hiện đại mang lại cho nhân loại. Rất nhiều những nhà khoa học tỉnh táo đã nhận thức được vấn đề này. Năm 1992, Liên Hợp Quốc đã tổ chức Hội nghị Môi trường và Phát triển thế giới tại Rio de Janeiro thuộc Brazil, với sự tham dự của các nguyên thủ quốc gia. Một bức thư có chữ ký của hơn 120 người đoạt giải Nobel đã được đưa tới hội nghị, khiến mọi người bừng tỉnh. Trong bức thư viết: “Nhân loại và tự nhiên đã ở vào thế xung đột mãnh liệt. Những hoạt động của nhân loại đã phá hoại nghiêm trọng môi trường và những tài nguyên trọng yếu, mà kiểu phá hoại này thường thường là không thể khôi phục lại. Nếu không kiểm điểm lại thì rất nhiều hoạt động của chúng ta sẽ đặt xã hội nhân loại và vương quốc của các loài động thực vật mà chúng ta hy vọng vào tình thế cực kỳ nguy hiểm. Hơn nữa có thể còn khiến cả thế giới sinh mệnh này trở thành một thế giới không thể duy trì bất kỳ phương thức sinh mệnh nào mà chúng ta biết. Nhằm tránh những xung đột sắp tới, việc cải biến về bản chất (những hoạt động của con người) đã vô cùng cấp bách.”

Điều cần nói rõ là chúng ta đã vô ý chỉ trích khoa học hiện đại. Việc chỉ ra sự hạn chế của khoa học hiện đại là nhằm làm rõ những hiểu lầm do Văn hóa đảng tạo thành, phơi bày mục đích thực sự của việc Trung Cộng nhồi nhét khoa học hiện đại chính là đàn áp tín ngưỡng, nhồi nhét Thuyết vô Thần, cuối cùng đạt được mục đích cải tạo tư tưởng của mình.

========

Văn hóa Trung Hoa 5.000 năm dựa vào mối quan hệ giữa Trời đất, Thần linh và con người mà xác lập một hệ thống những giá trị từ trên xuống dưới, kính sợ Thần linh, tin vào Thiên mệnh và thiện ác báo ứng, coi trọng việc thuận theo Thiên đạo, phản bổn quy chân là giá trị hạt nhân của Văn hóa truyền thống. Trung Cộng giương cao lá cờ lớn “tôn sùng khoa học”, “phá bỏ mê tín phong kiến”, hạ thấp những giá trị cốt lõi này là “cám bã phong kiến”, đồng thời thông qua thủ đoạn nhồi nhét Thuyết tiến hóa chưa qua chứng thực và nhồi nhét khoa học một cách phiến diện hóa, tôn giáo hóa, dựa vào bạo lực đấu tranh chính trị tàn khốc mà đạt được mục đích quảng bá Thuyết vô Thần và triết học đấu tranh. Mặc dù Trung Cộng ngày nay nhằm tô vẽ cho bộ mặt của nó cũng đành phải ra vẻ tôn sùng Văn hóa truyền thống, nhưng do cơ sở của Thuyết vô Thần đã được xác lập tại Trung Quốc, nên tín ngưỡng vào Thần hầu như đã trở thành sự “mê tín ngu muội” mà ai cũng chê cười. Dù nó tu sửa bao nhiêu đền chùa, thành lập bao nhiêu “Viện Khổng Tử”, đưa ra bao nhiêu khẩu hiệu dễ nghe như “bát vinh bát nhục”, “xây dựng xã hội hài hòa” thì thần vận của văn hóa Trung Hóa sớm đã bị Trung Cộng sát hại. Hình thức văn hóa mất đi giá trị nội hàm chỉ có thể giống như nước không có nguồn, cây không có cội.

Trung Cộng mượn oai bạo lực để cưỡng chế cải tạo tư tưởng của mọi người bằng “Thuyết vô Thần”. Văn hóa truyền thống kính Thiên kính Thần, đạo pháp tự nhiên hầu như đã bị Trung Cộng nhổ bật tận gốc, thậm chí trật tự xã hội ngày nay cũng được duy trì nhờ vào chút quan niệm đạo đức truyền thống mà người già để lại, còn văn hóa và đạo đức thiếu hụt tín ngưỡng đã trở nên mờ mịt như vậy và không thể chống đỡ, bất kỳ lúc nào cũng có thể bị Chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa công danh lợi lộc và chủ nghĩa túng dục đan xen nhấn chìm một cách triệt để… Khi những đạo đức tốt đẹp của thời Hoa Hạ bị rửa sạch bong, khi tín ngưỡng thiện ác hữu báo bị hạ thấp tới mức không đáng giá một xu, con người không còn tìm kiếm giá trị của sinh mệnh, cũng không cần theo đuổi sự hoàn thiện về nhân cách, trong lòng mọi người không còn một chút lo lắng, chỉ còn sót “sự phóng túng”, “sống với hiện tại”, sự thỏa mãn của cảm quan và sự theo đuổi vô độ với dục vọng. Kết quả cải tạo tư tưởng của Trung Cộng đã khiến tâm hồn người Trung Quốc không còn chốn về, khiến dân tộc Trung Hoa mất đi cái gốc của sinh mệnh.

Ảnh: Đại Kỷ Nguyên


Bản tiếng Hán:

http://www.epochtimes.com/gb/6/9/25/n1465288.htm

http://www.epochtimes.com/gb/6/9/28/n1469209.htm

http://www.epochtimes.com/gb/6/9/30/n1471592.htm

Chú thích:

[1] Vũ Huấn – một người ăn mày và nhà hoạt động giáo dục danh tiếng thời nhà Thanh. Với việc đi ăn xin trong hơn 30 năm để góp tiền thành lập trường học dành cho những người nghèo túng, ông được coi như một đại anh hùng, các sử sách thời cận đại xưng tụng ông là “Khoáng thế kỳ nhân”.Trong cách mạng văn hoá, có lúc Vũ Huấn bị lôi ra chỉ trích (1951) vì đã “mở trường dạy học bằng tiền ăn xin”. Năm 1950, bộ phim “Vũ Huấn truyện” dài 204 phút ra đời, nội dung gây được nhiều cảm động, nhưng lại bị các nhà lãnh đạo phê phán.

[2] Hải Thụy là một vị quan nổi tiếng Trung Quốc trong thời nhà Minh. Tên ông đã đi vào lịch sử như là một mẫu người trung thực và liêm chính và hình ảnh của ông đã nổi lên như là một nhân vật lịch sử quan trọng trong thời kỳ Cách mạng văn hóa.

[3] Hồng bát nguyệt” (Tháng tám đỏ) năm 1966 – thời điểm bạo lực giết chóc của ĐCSTQ lên đến đỉnh điểm, lúc hồng vệ binh tàn bạo nhất mỗi ngày số người bị đánh chết cao tới ba con số; chỉ trong tháng tám tại Bắc Kinh đã có tới 1772 người bị đánh chết.

Ngày đăng:24-11-2014
Copyright © 2008 www.9binh.com. All rights reserved.