Chương 4: Biểu hiện của những người sau khi bị cải tạo tư tưởng

 

Mục lục

1. Dùng tư tưởng của ác đảng để suy xét vấn đề, dùng ngôn ngữ của giáo hội ác đảng để nói chuyện

Ngày nay ai còn có thể khống chế tư tưởng của người ta chứ?

Từ bị động nhồi nhét đến chủ động tự kỷ luật sau khi chủ động suy xét – trong khi mạ lỵ thì vẫn ủng hộ Đảng Cộng sản

Hôm nay cười nhạo người hôm qua dùng tư tưởng của đảng để suy xét vấn đề, ngày mai lại sẽ cười nhạo bản thân ngày hôm nay cũng như thế

Nghịch lý kỳ vọng vào Trung Cộng: Kỳ vọng bằng như là không còn hy vọng

Một số ví dụ điển hình

1) Kinh tế phồn vinh bề mặt mang đến xung kích về thị giác: “Hãy để kinh tế phát triển đã rồi hãy nói”

2) “Ổn định áp đảo hết thảy”

3) “Người khác cũng vậy thôi”

4) “Nói tôi làm chưa tốt, bản thân anh hãy làm tốt trước đã”

5) “Đối với Đảng Cộng sản phải nhìn nhận sự việc trên hai [mặt đối lập]”

6) “Quyền no ấm cao hơn nhân quyền”

2. Không tin Thần, tạo thành việc người ta làm các việc mà không tính đến hậu quả, việc xấu nào cũng dám làm

1) Coi thường sinh mệnh tự ý giết người

2) Đấu Trời đấu Đất phá hoại tự nhiên

3) Thói đời xuống dốc không nói chuyện đạo đức

4) Tình dục tràn lan tạo thành nguy cơ xã hội

5) Công nghiệp hoá tình dục, cờ bạc, ma tuý – Quan chức trở thành ô dù bảo hộ

3. Không sợ Trời không sợ Đất, mở miệng là nói dối, miệng đầy lời dơ bẩn, hành vi thấp hèn

1) Mở miệng liền nói dối

2) Văn hóa đảng dạy người ta học lời nói dơ bẩn lưu manh

3) Văn hóa đảng khiến cử chỉ hành vi của con người thấp kém

4. Loại bỏ Văn hóa đảng, người ta cũng sẽ không nói lời nói của con người bình thường, sẽ không dùng tư duy của người bình thường

1) Hệ thống ngôn ngữ của Văn hóa đảng đã khống chế tư tưởng của người ta.

2) Cái gọi là từ mới cũng là trong tư tưởng của Văn hóa đảng mà chế tạo ra

3) Ý thức đấu tranh của Văn hóa đảng trở thành tập quán sinh hoạt của người ta

4) Người ta không nhảy thoát khỏi cái khuôn mẫu tư duy của Văn hóa đảng

Lời kết

========

Sau này đứng tại tương lai nhìn lại lịch sử nhân loại hôm nay, người ta sẽ thực sự thấy được tà linh cộng sản đã ngang nhiên tuỳ tiện với mảnh đất Trung Hoa từng màn một mà kinh tâm động phách, huyên náo ầm ĩ và gió tanh mưa máu. Trong vòng vỏn vẹn mấy chục năm, trên mảnh đất Thần Châu này, Đảng Cộng sản dựa vào từng lần từng lần giết chóc, từng vòng từng vòng phê phán, từng đợt từng đợt nhồi nhét, đã kiến lập nên một cái bộ lạc “văn hoá đảng” chẳng ăn nhập chút nào với truyền thống của chúng ta. Trong cái bộ lạc này, Đảng Cộng sản tuyên truyền Vô Thần luận, tuyên truyền Duy vật luật, phủ định văn hoá truyền thống và Thần truyền, tuyên truyền sự vĩ đại của Marx-Engels-Lenin-Stalin-Mao Trạch Đông, từ đó thay thế một cách có hệ thống văn hoá truyền thống; trong cái bộ lạc này, Đảng Cộng sản phê phán Nho [giáo] Thích [giáo] Đạo [giáo], phê phán quan niệm truyền thống, nhồi nhét tư tưởng đấu tranh, tà thuyết “yếu thì thịt mạnh thì ăn” [cá lớn nuốt cá bé], kẻ thích ứng là kẻ sinh tồn, vì mục đích chính trị mà nhồi nhét tiến hoá luận và khoa học hiện đại, từ đó tiến hành cải tạo tư tưởng một cách hệ thống; trong cái bộ lạc này, Đảng Cộng sản càng lợi dụng các thủ đoạn nhồi nhét tràn lan, trải rộng từ cơ quan tuyên truyền cho đến sách giáo khoa, từ “văn nhân khuyển nho” [1] cho đến các chủng hình thức văn nghệ, đã triệt để tẩy não con người. Than ôi! Máu nhuộm Thần Châu, sơn hà đổi sắc. Gốc rễ văn hoá Thần truyền 5.000 năm đã bị đoạn tuyệt, người ta đã không còn công nhận tổ tiên Hoa Hạ, mà là cam chịu làm con cháu Mác-Lê, trong thời gian ngắn ngủi, Đảng Cộng sản thực sự đã triệt để cải tạo tư tưởng người ta rồi.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Có một câu chuyện cười nói về đề thi khảo thí vào đại học “Xin hãy nói một chút quan điểm cá nhân về tình trạng thiếu hụt lương thực của một số quốc gia trên thế giới”, kết quả thí sinh người Mỹ không biết thế nào là “thiếu hụt”, thí sinh Bắc Hàn không biết thế nào là “lương thực”, mà thí sinh Trung Quốc lại không biết thế nào là “quan điểm cá nhân”. Câu chuyện cười này đã phản ảnh người dân Trung Quốc chúng ta trong vòng mấy chục năm tuyên truyền và áp lực cao cũng như thực tiễn vận động của Trung Cộng, “tư tưởng cá nhân” đã trở thành vật hy hữu rồi.

Tư tưởng khống chế ngôn ngữ của người ta, hành vi của người ta và tái tạo tư tưởng của người ta. Sau khi bị cải tạo tư tưởng, biểu hiện của người ta đương nhiên sẽ khác nhau một trời một vực với bản tính vốn có – người ta quen với việc dùng tư tưởng của ác đảng để suy xét vấn đề, dùng ngôn ngữ của giáo hội ác đảng để nói chuyện; không tin Thần, làm việc gì cũng không tính đến hậu quả, chuyện xấu gì cũng dám làm; trời không sợ đất không sợ, miệng đầy lời bẩn thỉu, hành vi thấp kém; người Trung Quốc hiện nay, [nếu] bỏ đi văn hoá đảng, thì đều đã không biết nói lời của con người bình thường, không biết dùng tư duy của người bình thường nữa.

Có người nghĩ, đây chẳng phải là nói quá lên rồi? Ít nhất thì, bản thân Đảng Cộng sản cũng đều đang chế nhạo quá khứ, hiện tại so với trước kia thì chẳng phải đã khác rất nhiều rồi sao?

Năm 1997 là một mốc đánh dấu. Khi nói đến lịch sử ba mươi năm trước đó, người ta sẽ cảm giác lúc đó thật là hoang đường khôi hài, nói về hiện tại, cảm giác được đã rất bình thường rồi. Đúng vậy, người ta không còn tin tưởng vào Chủ nghĩa Cộng sản nữa, người ta không còn nói về “toàn tay chai sạn, đầy thân lấm bùn” nữa, người ta thậm chí cũng lớn tiếng hô hào phải khôi phục “Văn hoá truyền thống” rồi … thế nhưng, văn hoá đảng bản thân lại không hề cải biến, mà lại càng thành thục. Thể hệ lý luận của văn hoá đảng như vô Thần luận, duy vật luận, tiến hoá luận và triết học đấu tranh, vẫn là đá tảng của Trung Cộng và sau khi bị cải tạo tư tưởng “sự đồng thuận khoa học” của người ta, thủ đoạn nhồi nhét văn hoá đảng vẫn không hề thu hẹp lại, thuận theo sự quảng bá của TV, trở nên càng thêm dễ dàng dùng “thanh tình tịnh mậu” (sự lôi cuốn hấp dẫn) để cải tạo tư tưởng của người ta, trước sự phổ cập của Internet, hơn lúc nào hết, Trung Cộng càng sốt sắng phong toả mạng, lọc và giám sát. Cái gọi là khôi phục “Văn hoá truyền thống” của Trung Cộng, là sau khi tước bỏ nội hàm của Văn hoá truyền thống, ngày nay lại chiểu theo những thứ phương thức tư duy như vô Thần luận, duy vật luận của văn hoá đảng để dùng trộm truyền thống, hoàn toàn là vì cái mục đích căn bản là truy cầu lợi ích kinh tế và được quốc tế thừa nhận của người ta hiện nay mà khôi phục, cái khôi phục này đương nhiên không phải là Văn hoá truyền thống chân chính của chúng ta, mà trái lại, đây là tiếp theo lần thứ nhất sau khi thi hành cắt xén thần vận của Văn hoá truyền thống, lại tiến hành lần thứ hai cắt xén nội dung bề mặt của Văn hoá truyền thống.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Cho nên, vô luận là quá khứ, hay là hiện tại, sau khi bị cải tạo tư tưởng người ta đều có biểu hiện giống nhau.

1. Dùng tư tưởng của ác đảng để suy xét vấn đề, dùng ngôn ngữ của giáo hội ác đảng để nói chuyện

Mặc dù Trung Cộng trong mấy chục năm dựa vào chính sách nhất quán nhằm thay thế Văn hoá truyền thống và cải tạo tư tưởng của người ta, thế nhưng, trong các thời kỳ khác nhau tư tưởng và ngôn ngữ của Trung Cộng cũng biến hoá vô thường. Từ “đấu tranh giai cấp, một nhát liền trúng” đến không thể không “dò đá qua sông”, từ “thà làm cỏ của chủ nghĩa xã hội, còn hơn làm lúa non của chủ nghĩa tư bản” đến “bất kể mèo trắng mèo đen”, từ “Đại Cách mạng Văn hoá giai cấp vô sản đúng là tốt mà, đúng là tốt” đến “cờ xí rực rỡ ngăn cản ‘động loạn’”, từ “càng bần cùng càng vinh quang” đến “để một bộ phận người trở nên giàu có trước”, “chê cười nghèo hèn không chê cười kỹ nữ”, từ ca tụng “Trương Thiết Sinh nộp bài thi trắng” đến giới học thuật hiện tại vì cầu danh lợi mà “hủ bại trong học thuật” một cách thịnh hành, từ “chủ nghĩa cấm dục” trước kia đến “chủ nghĩa túng dục” của ngày hôm nay… Sự đổi trắng thay đen trong chính sách của Trung Cộng, thật là có thể khiến người ta hoa mắt chóng mặt.

Thế nhưng, biểu hiện của tư tưởng của người ta sau khi bị văn hoá đảng cải tạo chính là, bất kể là tư tưởng của đảng có thay đổi thế nào, người ta vẫn luôn theo đó mà thay đổi theo một cách mù quáng, vẫn luôn dùng tư tưởng của ác đảng để suy xét vấn đề, dùng ngôn ngữ của giáo hội ác đảng mà nói chuyện, từ đó vẫn luôn duy hộ sự thống trị của ác đảng.

Trong thời đại “nhất cú đính nhất vạn cú” (một câu thay một vạn câu) ấy, nói về việc dùng tư tưởng của ác đảng để suy xét vấn đề, người ta tin. Những câu “thân cha thân mẹ không như thân Mao chủ tịch”, “con người gan lớn bao nhiêu, đất có sản lượng cao bấy nhiêu”, “công xã nhân dân là tốt”, “nhất định không được quên đấu tranh giai cấp”, “trời đất rộng lớn, làm nên việc lớn”, “đấu tư phê tu” (đấu tư sản xem xét lại), “đống loạt tiêu diệt ngưu quỷ xà thần”, “nắm chắc cách mạng, nhanh chóng sinh sản”, “ông đây anh hùng mà hảo hán, ông đây phản động mà tạp chủng”, “nhân dân toàn thế giới liên kết lại, đánh bại chủ nghĩa đế quốc Mỹ và hết thảy tay sai”… lúc đó đúng âm thanh ấy, người ta dường như đương nhiên chỉ biết thuận theo tư tưởng và ngôn ngữ của ác đảng mà suy xét mà nói chuyện.

Hiện tại tin tức truyền đạt nhanh như vậy, nhiều như vậy, ngôn luận cũng đã nới lỏng hơn trước kia bao nhiêu rồi, bàn dân trăm họ đều dám mạ lỵ Đảng Cộng sản mấy câu rồi, người ta đều đang làm trạng thái suy xét độc lập, làm sao có thể nói là vẫn còn dùng tư tưởng của ác đảng để suy xét vấn đề được?

Ngày nay ai còn có thể khống chế tư tưởng người ta chứ?

Vậy chúng ta cùng xem xem người ta hiện nay đều đang nghĩ những gì: “Không có Đảng Cộng sản, thì Trung Quốc phải làm sao”, “Trung Quốc không thể làm dân chủ, nếu làm thì sẽ loạn”, “Đừng bám chắc quá khứ của Đảng Cộng sản mà không buông, hết thảy phải nhìn về phía trước”, “Cho Đảng Cộng sản thời gian, tự do dân chủ sớm muộn cũng sẽ đến”, “Nhân quyền là quyền được no ấm, ăn còn chưa đủ no, nói gì đến nhân quyền”, “Cái gì mà tôn giáo tín ngưỡng, ở đâu có Thần, phải phá trừ mê tín, yêu chuộng khoa học”, “Việc xấu đều là vấn đề tố chất của những người cá biệt, bản thân đảng là tốt”, “Quốc gia lớn như vầy, thay ai vào thì chẳng như nhau?”, “Ai phản đối Đảng Cộng sản, đó chính là làm chính trị, chính là bị người ta lợi dụng”, “Cánh tay cong không quá bắp đùi, náo loạn thế nào được?”, “Ổn định áp đảo hết thảy”, “Khiến kinh tế phát triển rồi hãy nói” v.v.., người ta thông thường cứ cho rằng những quan điểm này là bản thân suy xét lý tính độc lập, mà không phải đến từ nhồi nhét [tuyên truyền] một chiều của Trung Cộng.

Người ta thực sự đang thực hiện suy xét một cách lý tính độc lập chăng? Kỳ thực không hẳn. Mọi người thử nghĩ xem, những quan điểm ở trên, chẳng sót cái nào đều là Đảng Cộng sản vì để duy trì thống trị mà tuyên truyền nhồi nhét, những thứ muốn khiến người ta tiếp thu một cách cố ý. Chỉ bất quá “tạo phản hữu lý” đã biến thành “ổn định áp đảo hết thảy (của đảng)”. Có thể nói, khi người ta cho rằng là đã thoát khỏi sùng bái mù quáng, lại cảm thấy đã có lực miễn dịch đối với sự khống chế tư tưởng của Đảng Cộng sản, thì văn hoá đảng lại đang nắm giữ phương thức tư duy của người ta một cách chắc chắn, chỉ là vào ba mươi năm trước, do tư tưởng của người ta là bị đảng trực tiếp nhồi nhét vào nhiều hơn, mà người ta hôm nay sau khi đã trải qua nhiều năm lăn lộn, không còn “mù quáng”, cảm thấy bản thân có thể suy xét một cách “độc lập”, “lý tính” rồi.

Từ bị động nhồi nhét đến chủ động tự kỷ luật sau khi chủ động suy xét – trong khi mạ lỵ thì vẫn ủng hộ Đảng Cộng sản

Bất hạnh là, trong quá trình suy xét này, thể hệ lý luận của việc suy xét vẫn là Đảng Cộng sản mang lại, tín tức của việc suy xét nguồn gốc vẫn là Đảng Cộng sản khống chế, cái gọi là “độc lập” bất quá chỉ là cái “độc lập” trong cái khung văn hoá đảng, cái gọi là “lý tính” cũng bất quá chỉ là cái “lý tính” trong thể hệ lý luận văn hoá đảng, rất hiển nhiên, kết quả đạt được sau khi suy xét như vậy đương nhiên chính là kết quả mà Đảng Cộng sản vẫn kỳ vọng đạt được.

Vì sao suy xét một cách “độc lập” của người ta lại không thể trở nên độc lập được? Có một vài nhân tố dưới đây.

(1) Sự gắn bó với mẹ đảng trong cái “suy xét độc lập”

“Đảng là tất cả, đảng là mẹ”, “cuộc đời là đảng cấp cho”, “cơm là đảng cấp cho”, cái chủng “tình mẫu tử” này đã sớm thâm nhập vào tâm con người đến vài thập niên. Mặc dù hiện tại không cao giọng lộ liễu rằng “đảng à, mẹ thân ái của tôi” giống như trước kia, thế nhưng, đảng không đâu không có mặt, uy quyền chí cao vô thượng, khống chế bát cơm manh áo của người ta, cũng như thế khiến người ta cảm thấy “quốc gia chính là đảng”, “nắm cơm là đảng cấp cho”, “Đảng Cộng sản là sự lựa chọn duy nhất của dân tộc Trung Hoa”, coi những khái niệm như đảng, quốc gia, dân tộc lẫn lộn làm một, toàn bộ hoàn cảnh sinh sống dường như đều là đảng kiến tạo, trợ cấp, duy trì. Đây đã trở thành một nền tảng của vấn đề khi người ta suy xét Trung Quốc, chính là không thể vượt qua Đảng Cộng sản, tưởng tượng không ra rằng ngày nào không có đảng thì sẽ phải sống ra sao. Người ngoài giới rất khó hiểu được loại tâm thái này, đứa trẻ lớn rồi, chẳng phải sẽ cao chạy xa bay rồi sao? Thế nhưng, hoàn cảnh có tính phong bế, áp lực cao của Văn hóa đảng là khiến con người có thể già đi, tư tưởng lại không lớn lên được, đứa trẻ ấy có thể rời khỏi mẹ chăng?

(2) Cơ sở lý luận của “suy xét độc lập”

Cơ sở lý luận của việc người ta suy xét vấn đề vẫn là vô Thần luận, chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, tiến hoá luận, triết học đấu tranh và cái gọi là chủ nghĩa xã hội khoa học, khiến người ta không tin vào ngoài đảng ra còn có “Thần và Trời” tồn tại. Từ vựng cơ bản hoặc hệ thống ngôn ngữ khi người ta vẫn ỷ lại vào mà suy xét, vẫn được phú cho cái hàm nghĩa của Văn hóa đảng, đều là ngôn ngữ của giáo hội Trung Cộng, điều này khiến người ta chỉ có thể ở trong Văn hoá đảng mà chuyển động, thậm chí đối với phương thức tư duy nền tảng là vượt khỏi cái “không có Đảng Cộng sản” người ta còn cảm thấy lơ mơ hoảng sợ. Đồng thời, vận động chính trị vẫn luôn không ngừng, ví như, những [cuộc vận động] phản tự do hoá, trấn áp “Lục tứ” và bức hại Pháp Luân Công trong những năm gần đây, mỗi một cuộc vận động chính trị mang tính toàn quốc này, đều là lại một lần nữa củng cố ôn lại một cách toàn diện đối với lý luận Văn hoá đảng.

(3) “Tin tức không hoàn chỉnh” ảnh hưởng đến quá trình suy xét

Nguồn gốc tin tức khi người ta suy xét vấn đề vẫn chịu khống chế nghiêm mật của Đảng Cộng sản, ngay cả tin tức phụ diện đều là dưới thao khống tỉ mỉ của đảng, chuyển hoá thành tài liệu duy hộ thiên hạ của đảng một cách hữu hiệu. Tục truyền rằng “kiêm thính tắc minh” (nghe ý kiến nhiều mặt thì sáng rõ vấn đề), một cá nhân mà nghe hiểu được hai quan điểm trái chiều, hơn nữa lại cho rằng đều là lời có đạo lý, thì họ tất sẽ bắt đầu tự mình suy xét lý tính một cách độc lập thực sự mà thực hiện việc lựa chọn. Mà sự phong toả, lọc bỏ tin tức và [tuyên truyền] một chiều của Trung Cộng tạo thành việc “tin tức không hoàn chỉnh một cách nghiêm trọng”, trên thực tế đã cắt đứt điều kiện tất yếu để đưa ra phán đoán chính xác của người ta. Bộ não có thông minh đến mấy, có nguyện vọng suy xét độc lập đến mấy cũng không nhảy ra khỏi sự giam giới “không hạt gạo nào có thể thoát”, loại suy xét như vậy cũng sẽ không thể coi là suy xét “lý tính độc lập” được.

(4) “Cường quyền luận” khiến suy xét của người ta trở nên vô nghĩa

“Đảng Cộng sản là cường quyền, đảng là tàn khốc, chống đối lại đảng tuyệt không có kết cục tốt đẹp.” Đây là công thức mà người ta đạt được sau mấy chục năm vận động. Ngay cả với những người thống hận Đảng Cộng sản, cũng bởi vì sợ hãi chính trị cường quyền, khiến cho về mặt tâm lý suy xét rất khó vượt khỏi Đảng Cộng sản, cảm thấy rằng “anh có thể khiến Đảng Cộng sản như thế nào?”, từ đó quay trở lại dựa vào tâm thái nhìn thấu hồng trần của Trung Cộng mà phụ hoạ theo Trung Cộng, cũng theo đó cảm khái rằng “không có Đảng Cộng sản, Trung Quốc phải làm sao?” Người ta thông thường cho rằng sự tượng trưng của nới lỏng ngôn luận – ít nhất thì có thể mạ lỵ Đảng Cộng sản rồi – kỳ thực, đều là trong Văn hoá đảng mà mạ lỵ, trong khi mạ lỵ mà lý giải đảng, cuối cùng duy hộ hiện trạng, ủng hộ Đảng Cộng sản một cách biến tướng.

Nhân tố ảnh hưởng đến suy xét độc lập của người ta vẫn còn rất nhiều. Cái chủng sau khi trải qua “suy xét” này vẫn là hiện tượng nhất trí với đảng, so với sự nhồi nhét trực tiếp trước kia thì còn có tính nguy hại hơn. Mặc dù cho rằng những cách nghĩ kia là “tư tưởng” độc lập của bản thân, thì sẽ càng thêm tin tưởng vào những quan điểm kia, một cách khách quan tạo thành nhất trí với đảng càng chủ động hơn, tự nhiên càng khiến cho Trung Cộng đến thống trị nhân dân. Nếu như nói quá khứ là một quá trình bị uốn nắn một cách bị động, thì ngày nay chính là quá trình mà Văn hoá đảng lên men chín muồi hoà với sự tự kiềm chế chủ động của người ta. Người ta từ nhồi nhét cưỡng bức trong quá khứ đến tự kiềm chế chủ động hiện nay, phối hợp lý giải chính sách của đảng, “trong lúc mạ lỵ thì vẫn ủng hộ đảng cộng sản”, chính là kết quả điển hình của việc Đảng Cộng sản trường kỳ cải tạo tư tưởng của nhân dân.

Hôm nay cười nhạo người hôm qua dùng tư tưởng của đảng để xuy sét vấn đề, ngày mai lại sẽ cười nhạo bản thân ngày hôm nay cũng như thế

Một hiện tượng rất có tính châm biếm chính là, nếu như lấy lịch sử của Trung Cộng phân thành từng thời đại một, người ta luôn là đứng tại điểm thời gian của “hiện tại”, ủng hộ đối với chính sách của đảng, mà đối với rất nhiều sự việc mà đứng tại điểm thời gian của “quá khứ”, thì lại chế nhạo, cảm thấy lúc ấy mới hoang đường làm sao. Nếu như đem toạ độ thời gian dịch chuyển về quá khứ, sẽ phát hiện rằng những người đứng tại ngày hôm nay mà chế nhạo ngày hôm qua dùng tư tưởng của đảng để suy xét vấn đề, thì đứng tại vị trí của ngày hôm qua sẽ lại là cảm thấy hết thảy đều rất bình thường, vẫn ủng hộ chính sách của đảng lúc ấy như thế, rất có khả năng còn là từ lúc ấy mà cười nhạo hành vi của ngày trước nữa. Những người hôm nay cho rằng Đảng Cộng sản có thể bức hại Pháp Luân Công, đảo lại ba mươi năm, họ cũng sẽ cảm thấy Đảng Cộng sản nên phát động Cách mạng Văn hoá như thế, về trước nữa, họ cũng sẽ cảm thấy Đại nhảy vọt là anh minh chính xác như thế.

Nói đến câu “người có gan lớn chừng nào, đất có sản lượng cao chừng ấy”, người ta đều sẽ cười nhạo sự hoang đường của lúc ấy. Kỳ thực, người ta hôm nay vẫn dùng cái kiểu logic này mà suy xét vấn đề như thế, chỉ là hình thức biểu hiện khác nhau, bản thân không cảm giác thấy mà thôi.

Sau khi liên tục mấy năm gặt hái được phát triển về nông nghiệp, “Nhân dân nhật báo” ngày 27 tháng 08 năm 1958 đã phát biểu một bài “Người có gan lớn chừng nào, đất có sản lượng cao chừng ấy”, đây là lời do người được Văn phòng Trung ương Trung Cộng phái đến huyện Thọ Trường tỉnh Sơn Đông để nắm bắt tình hình rồi quay về viết ra. Văn chương vì để thuyết minh cho “một điểm cũng không thần bí” của một mẫu có sản lượng vạn cân, miêu tả một cách có thanh có sắc (thêm mắm thêm muối), chỉ cần đủ nước đủ phân thêm thâm canh thêm mật độ trồng, thì “một mẫu vạn cân sẽ thành hiện thực rồi”. Càng có nhà khoa học đứng ra căn cứ vào sự lợi dụng năng lượng ánh sáng mặt trời của thực vật, luận chứng rằng tiềm lực sản xuất của một mẫu có thể đạt cao đến mức 5.85 vạn cân. Nếu như quay đầu nhìn lại ngôn luận và hành vi lúc đó, đều sẽ cảm thấy bất khả tư nghị (không thể nghĩ bàn).

Ngày nay, sự cải cách khập khiễng của Trung Cộng khiến kinh tế có chút phát triển, do đó dưới sự tuyên truyền và nhồi nhét của Trung Cộng, người ta đối với tương lai của Trung Quốc có một mô thức tư duy suy diễn thẳng tắp là: hiện tại chế tạo đồ chơi xuất khẩu, tương lai sẽ có thể chế tạo máy bay xuất khẩu; hiện tại là chênh lệch giàu nghèo, tương lai là cùng nhau giàu có; hiện tại có hủ bại, bất công xã hội, các vấn đề như phúc lợi giáo dục và y tế, tương lai đều sẽ giải quyết; hiện tại hoàn cảnh bị ô nhiễm, tương lai tự nhiên sẽ được xử lý; hiện tại năng lượng không đủ, tương lai nhất định có đủ; hiện tại là phản kháng đông người không ngừng, như thể núi lửa sắp phun trào, tương lai nhất định sẽ thành “hoà giải xã hội”; hiện tại đạo đức của người ta ngày một bại hoại, tương lai nhất định sẽ trở nên cao thượng; hiện tại là kinh tế phát triển, tương lai nhất định sẽ có chế độ tự do dân chủ phát triển … … “thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của Trung Quốc”, “Trung Quốc sẽ trở thành nước lớn siêu cấp hùng bá thế giới trong thế kỷ này” – kỳ thực, đây chính là phiên bản của “người có gan lớn chừng nào, đất có sản lượng cao chừng ấy” của thời đại mới.

Ở vào niên đại ấy, “người có gan lớn chừng nào, đất có sản lượng cao chừng ấy” đã tạo thành “phong trào cộng sản”, “phong trào thổi phồng” và “phong trào chỉ huy mù quáng”, khiến đại nhảy vọt biến thành đại thụt lùi, công xã nhân dân sẽ biến thành ‘không’ xã nhân dân. Ngày nay sự nguy hại của chủng tư tưởng này tuyệt không kém như lúc ban đầu, hơn nữa do càng che lấp, người ta không dễ dàng cảm giác thấy, càng trọng yếu hơn là, tư tưởng ban đầu là bị nhồi nhét, còn ngày nay chủng tư tưởng này của người ta lại là bản thân “suy xét” mà ra, nguy hại cũng sẽ càng sâu.

Kỳ thực, câu nói “người có gan lớn chừng nào, đất có sản lượng cao chừng ấy” bản thân đã rất “chủ nghĩa duy tâm”, bất quá là biểu đạt một loại khí phách và quyết tâm. Thế nhưng, một khi nội hàm triết học phổ thông bị rót vào Văn hoá đảng rồi, thì sẽ trở nên có tính huỷ diệt tột bậc. Từ chủ nghĩa duy vật cực đoan mà xét, thì điều này đã không còn là biểu đạt quyết tâm, mà là đã biến thành điều kiện vật chất hết sức thực tại, điều mong muốn chính là chỉ tiêu sản lượng theo mẫu, chỉ tiêu thổi phồng hết tầng này tầng khác, là vệ tinh cao sản của một mẫu cho sản lượng vạn cân. Cái Đảng Cộng sản không tin vào Thần, điều truy cầu là cái tinh thần “dám bảo nhật nguyệt hoán đổi trời mới” rất không kiêng kỵ, có điều kiện thì muốn lên, không có điều kiện thì sáng tạo điều kiện thì cũng sẽ phải lên, một thứ lờ mờ đã rót đầy tối tăm vào đầu óc của người ta. Văn hoá đảng làm méo mó nhân tính [thậm tệ], có thể thấy được phần nào.

Ngày xưa hô hào “nhanh chóng tiến lên chủ nghĩa cộng sản” cổ động người ta bất chấp quy luật và hiện thực khách quan, phải là một mẫu cho sản lượng vạn cân, một mẫu sản lượng mười vạn cân. Sự rầm rộ “toàn diện quật khởi” ngày nay cũng đang kích động người ta đối diện với nguy cơ Trung Quốc nhìn mãi thành quen như thế, tin tưởng mù quáng vào Trung Cộng, không màng phê bình Trung Cộng, không màng suy xét lại Trung Cộng, không màng giải thể Trung Cộng, mà là không hành động, thậm chí phản đối người khác hành động, lấy hết thảy kỳ vọng đều ký thác lên thân của Trung Cộng một cách mù quáng tạo thành một nguy cơ này, kỳ vọng Trung Cộng có mong muốn giải quyết, kỳ vọng Trung Cộng có năng lực giải quyết, diễn dịch lại mới một cách hết sức cẩn thận câu “người có gan lớn chừng nào, đất có sản lượng cao chừng ấy” của thế kỷ 21 thì – “người có kỳ vọng lớn chừng nào, thì Trung Cộng có thể có hy vọng lớn chừng ấy”.

Nghịch lý kỳ vọng đối với Trung Cộng: Kỳ vọng cũng bằng như không có hy vọng

Trong lịch sử của Trung Cộng, có nhiều lần điều chỉnh chính sách trọng đại, đều là bởi vì đến từ áp lực cự đại từ trong và ngoài đảng, cảm nhận được nguy cơ “mất đảng” mới bất đắc dĩ tiến hành cải cách. Có nghĩa là, chỉ có gây áp lực lên Trung Cộng, thì Trung Cộng mới sửa đổi cho tốt hơn. Còn lịch sử nếu chỉ toàn là có kỳ vọng mà không có suy xét lại Trung Cộng, không vạch trần hành vi ác của Trung Cộng hiện tại, để mặc Trung Cộng, phụ hoạ theo Trung Cộng, dung túng Trung Cộng, thì Trung Cộng sẽ không cải biến. Do vậy, kỳ vọng cũng bằng như không có hy vọng.

Có thể nói như vậy, trong khi người ta “kỳ vọng” một cách mù quáng, trong sự huyễn tưởng của cái gọi là cấp cho Trung Cộng thời gian ba mươi năm, nguy cơ xã hội có thể đã khiến Trung Quốc bị huỷ hoại không biết bao nhiêu lần rồi.

Càng trọng yếu hơn là, “cải cách tốt hơn” đối với Trung Cộng hiện nay mà nói, đã quá là xa xỉ rồi, bởi vì tội lỗi mà Trung Cộng tích luỹ từ ban đầu đã khiến nó căn bản không muốn, không dám, không có thể cải cách cho tốt hơn. Duy trì địa vị thống trị đã trở thành tất cả nền tảng cho việc bảo trụ lợi ích tập đoàn và cá nhân của Trung Cộng, ở trên mạng cảnh sát Trung Quốc có một câu khẩu hiệu gây sốc, chính là “duy hộ địa vị chấp chính của đảng”, vì vậy coi cảnh sát như là gia nô của đảng một cách không còn kiêng nể gì, có thể thấy Đảng Cộng sản thiết lập một tâm địa “sẽ không thay đổi”, mà sự kỳ vọng mù quáng của người ta càng là cấp thêm năng lượng cho Trung Cộng để nó không nguyện ý thuận theo trào lưu lịch sử. Rất hiển nhiên, Trung Cộng ngày nay đã trở thành chướng ngại căn bản để thảo luận lý tính và giải quyết vấn đề Trung Quốc, chỉ có là giải thể hết Trung Cộng, khiến nhân dân Trung Quốc không còn gì phải lo lắng mà phát huy hết thảy thông minh tài trí, tự do thảo luận phương hướng và tiền đồ của quốc gia, dân tộc mới thực sự có kỳ vọng.

Tiếp theo chúng tôi đưa ra một vài ví dụ điển hình để thuyết minh việc người ta ngày nay là dùng tư tưởng của ác đảng và ngôn ngữ của giáo hội ác đảng như thế nào để suy xét vấn đề. Hiện tại sự gắn kết lớn nhất đối với Đảng Cộng sản của người ta chính là cải cách mở cửa trong vòng hai mươi năm đã mang đến cho Trung Quốc thay đổi to lớn. Dưới loại xung kích như vậy, người ta đối với việc nhận thức Đảng Cộng sản như thế nào đó, Đảng Cộng sản có thay đổi hay không, có hy vọng hay không đều đã trở nên vô cùng bối rối rồi.

1) Kinh tế phồn vinh bề mặt mang đến xung kích về thị giác: “Hãy để kinh tế phát triển đã rồi hãy nói”

Thị giác và cảm quan đối với xung kích của con người là to lớn. Dân chúng Trung quốc đã bị Đảng Cộng sản chỉnh cho sợ rồi, làm cho sợ hết mức rồi, trong cuộc sống sau khi đã có một chút cải thiện, liền rất dễ dàng hài lòng rồi. Lại trải qua những tuyên truyền như “ngày tháng tốt đẹp”, “thịnh thế đại liên hoan” năm này qua năm khác của Trung Cộng, như thể lại sắp “bắt kịp Anh vượt qua Mỹ”, khiến người ta đều bị lâng lâng rồi, Trung Cộng lại thừa nước đục thả câu, dùng sự phát triển kinh tế vì đó để tìm chỗ dựa có tính hợp pháp để chấp chính. Kỳ thực, kinh tế phát triển với Trung Cộng chẳng có chút quan hệ nào, công lao thuộc về nhân dân Trung Quốc cần cù lao động. Có người nói, chỉ cần có ngoại thương đầu tư, chỉ cần có nhà khoa học và công trình sư trí tuệ, chỉ cần có công nhân chịu khổ nhẫn nại lao động và nông dân chịu thương chịu khó, thì chỉ cần mang đến cho nước nhỏ ở Châu Phi, cũng có thể trong vòng hai mươi mấy năm nổi lên một thế giới vật chất phồn vinh.

Thế nhưng, sự phát triển khập khiễng này có phù hợp với lợi ích lâu dài của dân tộc không? Vấn đề trình tự phát triển, cái gì trước, cái gì sau, quan hệ ỷ lại tương hỗ vân vân, là một trong những vấn đề tối cơ bản trong quản lý hiện đại.

Thử nhìn xem đằng sau sự phồn hoa bề mặt của Trung Quốc là cảnh tượng như thế nào. Sự đình trệ của cải cách chính trị, sự dị dạng của thể chế kinh tế, sự bất công xã hội, hủ bại của quan trường, chênh lệch giàu nghèo, truỵ lạc của đạo đức, phá hoại hoàn cảnh, thiếu hụt năng lượng, đàn áp nghiêm trọng với nhân quyền, tín ngưỡng và đoàn thể tôn giáo, coi tự do dân chủ như địch, căn bản khống chế tự do ngôn luận và thông tin, nợ xấu của ngân hàng, nguy cơ về tài chính, xã hội đen, gái mại dâm, quần thể yếu thế chiếm đại đa số nhân khẩu không có tiếng nói v.v.., cho đến mâu thuẫn xã hội ăn sâu bám rễ, nhân gian bảo vệ quyền lợi nổi lên liên tiếp và biểu tình phản đối đông người gia tăng nhanh chóng (năm 2005 đạt 8 vạn) v.v.., càng chưa kể đến có ngày tự nhiên nổi gió bão bất ngờ trừng phạt và báo ứng. Chính quyền Trung Cộng dưới sự phồn vinh bề mặt, tựa như ngồi trên miệng núi lửa vậy. Cái gọi là tăng trưởng kinh tế nhanh chóng trên thực tế là lấy sự phá hoại hoàn cảnh và lãng phí năng lượng làm trao đổi, nếu như tính đến sự đánh đổi về hoàn cảnh, thì GDP thực tế của Trung Quốc những năm gần đây là tăng trưởng âm.

Đối với sự phát triển dị dạng nền kinh tế thành công tức thời của Trung Cộng mang đến nguy cơ tiềm tại và có thể là tai nạn cho dân tộc, người ta không muốn nghĩ, không muốn đối diện. Một là khuất phục trước cường quyền của Trung Cộng, cảm thấy rằng nghĩ cũng không tác dụng, còn tự tìm phiền toái, hai là cảm thấy cuộc sống hiện tại đúng là đã tốt hơn một chút, quản chi cái kiểu phát triển này có thể tiếp tục hay không, chỉ quan tâm đến “ngậm miệng phát tài lớn”. Mà những chính khách và ngoại thương chỉ vì kiếm tiền kia, thấy được chỉ là mong muốn trên thế giới này cuối cùng có được một chén canh trong chiếc bánh lớn của thị trường như thế nào. Mặc dù ngoại giới cho rằng phát triển của kinh tế sẽ mang đến cho Trung Quốc dân chủ và tự do, sự thực trong hai mươi mấy năm này đã chứng minh rằng ngoại thương không những không thể mang đến dân chủ tự do cho Trung Quốc, mà còn trở thành phụ gia trong chuỗi thức ăn hủ bại của Trung Cộng.

Có học giả phân Trung Quốc thành ba thế giới, thế giới thứ nhất sống trong các biệt thự để hưởng thụ đặc quyền đặc lợi, thế giới thứ hai đang vì chỗ ở, y tế và giáo dục của con cái mà không dám tiêu phí, thế giới thứ ba chính ở ranh giới no ấm mà khổ sở bươn chải. “Tổ công tác nghiên cứu chiến lược hiện đại hoá Trung Quốc” thuộc Viện Khoa học Trung Quốc đã viết cuốn sách “Báo cáo năm hiện đại hoá Trung Quốc năm 2005”, cho rằng kinh tế Trung Quốc lạc hậu hơn Mỹ quốc 100 năm, nếu như duy trì tỉ lệ tăng trưởng khoảng 9% trong 100 năm, mới có thể tiến nhập vào 10 nước đứng đầu thế giới. Duy trì tỉ lệ tăng trưởng kinh tế khoảng 9%, có thể được không? Có người bình luận rằng, thế kỷ tiếp theo còn xa mới là “thế kỷ của Trung Quốc”. Nhưng dưới sự phồn vinh theo kiểu trang trí của những thành phố lớn, một Trung Quốc thực sự đã bị lấp liếm đi. Kinh tế bề mặt phồn vinh mang đến xung kích về thị giác, “nhất ‘tuấn’ già bách xú” (một điểm tốt che lấp trăm điểm xấu), giúp Trung Cộng khoác lên một tầng mặt nạ [mạng che mặt] làm mê hoặc người ta. Lợi ích ngắn hạn và triển vọng mù quáng với trình độ tương đối lớn đã ức chế việc người ta toàn diện nhận thức hiện thực, “không biết bộ mặt thật của Lư Sơn” [Bất thức Lư Sơn chân diện mục] [2], càng không nói đến việc xét lại và suy xét lý tính đối với lịch sử của Đảng Cộng sản.

Chúng ta đều biết rằng công phu làm thơ nằm ở ngoài thơ. Cũng vậy, muốn đưa kinh tế thực sự phát triển lên, thì đầu tiên phải giải quyết một loạt những nhân tố phi kinh tế như tín ngưỡng, đạo đức, pháp luật, tự do ngôn luận, giám sát của truyền thông. Những vấn đề này không giải quyết, kinh tế cũng sẽ không thể “phát triển lên được”. “Đưa kinh tế phát triển lên rồi hãy nói” chỉ là sự mượn cớ thoái thác để kéo dài cải cách thể chế của Trung Cộng mà thôi, nhưng hiện tại người ta kỳ thực không cảm nhận được, còn cho là chân lý. Kỳ thực chính là đã hãm nhập và tư duy của Văn hóa đảng, chiếu theo tư tưởng của Trung Cộng mà suy xét vấn đề. Nhân dân Trung Quốc hiện tại có rất nhiều tự do, nhưng đều tập trung vào cuộc sống cá nhân, thể dục và giải trí, các phương diện khác thì lại là cấm địa. Các nước khác trong quá trình phát triển, nhân dân là tích cực tham dự vào chính trị và cải cách chế độ, tranh thủ các loại quyền lực của bản thân, mà nhân dân Trung Quốc hiện tại không phải như vậy, đối với những dân chúng mà dám yêu cầu quyền lợi phản [đối] bức hại của Trung Cộng, rất nhiều người không những không hiểu, mà còn phản đối người khác đi tranh thủ quyền lợi, bọn họ nguyện ý lấy hết thảy đều giao cấp cho Đảng Cộng sản, huyễn tưởng Đảng Cộng sản tự động cải cách tốt hơn hoặc ban ân huệ.

Năm 2003 ở Trung Quốc Đại lục đã xuất hiện một bộ phim điện ảnh gây tranh cãi rộng khắp, nó chính là sê-ri bộ phim “Hướng đến Cộng Hoà”, sau đó nó bị cấm chiếu. Bộ phim hài kịch đã phơi bày một cách chân thực vận mệnh thất bại tất nhiên của cuộc cải cách mở cửa vương triều nhà Thanh, điểm này đối với Trung Cộng mà nói thì có mang tính kích thích. Vương triều nhà Thanh trước khi cải cách mở cửa là không có đèn điện, điện báo, điện thoại, cũng không có xe lửa và xe hơi. Trong mười mấy năm ngắn ngửi, bến Thượng Hải đã trở thành một trong bốn viên ngọc minh châu của thế giới, đã thành nơi vui chơi của nhà thám hiểm của chủ nghĩa đế quốc, ba con đường đại lộ lớn của nó từng cái đều là nhà vườn, bên bờ sông của nó từng căn đều là nhà cao cửa rộng, trở thành nơi trưng bày của kỳ đầu cuộc cải cách mở cửa Trung Quốc. Nhưng cái thành này có cứu được vận mệnh diệt vong của vương triều nhà Thanh chăng? Không cứu được. Năm 1905, Tôn Trung Sơn đã nói: “Đó chỉ là mang những thứ văn minh vật chất của phương Tây như đường sắt, xe lửa, điện thoại, điện báo mà ra đo lường, mà không tiến hành cải cách chính trị, chỉ có thể khiến tham ô hủ bại biển thủ lừa gạt ở trong nước, càng mở ra thêm cánh cửa rộng rãi.”

Kỳ thực, người ta hôm nay cũng không phải không hiểu cái kiến thức cơ bản về việc phải phát triển đồng đều các phương diện, đều biết rằng càng về sau, chi phí sửa chữa càng cao. Quan trọng chính là dưới bầu không khí của Văn hóa đảng, khuất phục trước uy quyền lớn lao của Trung Cộng, phục vụ cho lợi ích của Trung Cộng, cảm thấy phát triển kinh tế chí ít thì đối với lợi ích ngắn hạn trước mắt, cũng theo đó nhắm mắt hô hào “hãy để kinh tế phát triển đã rồi hãy nói”, mà đối với việc sát nhân phóng hoả của Trung Cộng thì lại bỏ mặc không quản.

2) “Ổn định áp đảo hết thảy”


Ổn định áp đảo hết thảy (Ảnh minh hoạ của Đại Kỷ Nguyên)

Những người Trung Quốc từng trải qua vận động chính trị, đối với “ổn định” có khát vọng đặc biệt. Cho nên, trong bàn dân trăm họ thì “ổn định áp đảo hết thảy” rất có tiếng vang, đã trở thành khẩu hiệu chủ yếu để duy hộ sự thống trị trong thời kỳ mới của Trung Cộng.

Nói đến Đảng Cộng sản, cái người ta liên tưởng đến là bạo lực cách mạng và loạn động chính trị, làm sao mà Trung Cộng hiện tại lại kêu gọi ngọn cờ “ổn định” được đây? Nói ra thật mâu thuẫn, kỳ thực, cũng rất giản đơn, chính là Trung Cộng có thể “loạn động” nhân dân, còn một khi nhân dân mà “loạn động” Trung Cộng, thì Trung Cộng phải hô to “ổn định” rồi. Mấy chục năm vừa qua đã [thực hiện] hết cuộc loạn động này đến cuộc loạn động khác một cách không kiêng sợ gì cả, khiến nhân dân bị “loạn động” đến mức chẳng còn cách mưu sinh, mà làn sóng tự do dân chủ và thức tỉnh của nhân dân cuối những năm 80 của thế kỷ trước hưng khởi, xem chừng sắp khiến Trung Cộng bị “loạn động” rớt rồi, lúc ấy Trung Cộng liền hô lớn phải “ổn định”.

Hiển nhiên, cái “ổn định” mà Trung Cộng nói ấy chỉ là ổn định của chính quyền Trung Cộng, mà chẳng phải ổn định của quốc gia và xã tắc. Dưới sự cải cách khập khiễng của Trung Cộng, những người đã được lợi ích, đặc biệt là những người quyền thế không bị chế ước, là mong muốn “ổn định” nhất, để mà vơ vét lợi ích một cách “ổn định”. Do họ duy hộ trật tự đã định nhất, vì thế sẽ trở thành lực lượng “ổn định” kiên định nhất, nhân tố “ổn định” đáng tin cậy nhất. Cái kiểu “ổn định” này có thể cao hơn lương tri và đạo nghĩa, bàn dân trăm họ là sống hay chết cũng có thể không đếm xỉa. Khi công nhân mỏ quặng bị chết ở dưới hầm, Trung Cộng lấy “ổn định” để che đậy sự oan khuất của người chết; khi những hộ dân bị phá dỡ nhà, bị bức bách phải chống đối, không thể không liều chết kiến nghị lên trên, huyễn tưởng rằng tìm được công đạo, Trung Cộng lại lấy “ổn định” làm chiêu bài mà tiến hành ngăn chặn kiến nghị, thậm chí còn dùng “phá hoại ổn định” để tiến hành bức hại đả kích những người chịu bất công… Ổn định như vậy chỉ là giả thôi, khi bất công và mâu thuẫn xã hội tích luỹ đến mức độ nhất định, thì sẽ giống như núi lửa phun trào vậy. Cái “ổn định áp đảo hết thảy” mà Đảng Cộng sản tuyên truyền chính là quá trình tích luỹ mâu thuẫn xã hội cho đến lúc bộc phát toàn bộ, một khi nguy cơ bộc phát, tiền của mà chúng ta hôm nay tích góp được đều sẽ hoá thành tro bụi, dân tộc lại sẽ phải chịu cảnh sinh linh lầm than.

Mọi người biết rằng, vận hành của kinh tế có chu kỳ của nó, không thể là “ổn định” được, bất ổn là không thể tránh khỏi. Càng như vậy, càng cần có chế độ hợp lý để làm cơ sở, để bảo chứng sự ổn định của xã hội. Ổn định thật sự, cần trật tự tự do, trật tự pháp trị và trật tự công chính. Nước Anh là quốc gia thực hành dân chủ lập hiến sớm nhất, những ba trăm năm bảo trì được ổn định cao độ, nhân dân tự do, kinh tế phồn vinh. Có mâu thuẫn thì kịp thời khai thông mà không phải cưỡng hành áp đặt, Trung Cộng lợi dụng sự sợ hãi của người ta khi trải qua các loại vận động, tâm lý hy vọng ổn định, đổi trắng thay đen, lấy sự ổn định của sự thống trị của chính nó cưỡng ép thêm lên dân chúng. Kiểu ổn định này không phải là ổn định.

Cái giá mà “ổn định áp đảo hết thảy” của Trung Cộng mang đến, chính là càng khó chuyển [đổi mô] hình hiện tại, chi phí càng cao, nguy cơ càng lớn. Khi ngày nay với mâu thuẫn xã hội càng ngày càng gay gắt, Trung Cộng chỉ biết đến đàn áp mù quáng các nhân sĩ bảo vệ nhân quyền và bất đồng chính kiến, trấn áp các đoàn thể tín ngưỡng, phong toả, lọc bỏ tin tức. Trong quá trình duy hộ lợi ích vốn có của tập đoàn và cá nhân Trung Cộng có tội ban đầu càng ngày càng lớn, đã không thể kỳ vọng nó có một ngày sẽ nhất thời nhiệt huyết, đại phát từ bi, chủ động khai triển cải cách chính trị, thực hành tự do dân chủ. Có thể nói bản thân Trung Cộng mới là nhân tố bất ổn định lớn nhất.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

3) “Người khác cũng vậy thôi

Trung Cộng rất thích dùng “điều kiện mỗi nước” để làm cái cớ. Người khác có dân chủ, Trung Quốc không thể có, người khác có tự do ngôn luận, Trung Quốc không thể có, người khác có quyền lợi tín ngưỡng, Trung Quốc không thể có, vì sao vậy? Bởi vì điều kiện mỗi nước khác nhau. Nhưng mà, nếu như người khác có việc xấu gì đó, lúc này Trung Cộng liền không nói “điều kiện mỗi nước” nữa, mà là cường điệu “giá trị phổ biến”, nói với nhân dân rằng vốn dĩ “trong thiên hạ quạ nào mà chẳng đen”, sau đó liền yêu cầu bàn dân trăm họ thừa nhận, thông cảm, tha thứ cho lỗi lầm của Trung Cộng.

Nói về hủ bại, nó sẽ nói quốc gia nào mà chẳng có hủ bại? Nói về trấn áp dân chúng, nó sẽ nói nước Mỹ cũng đã từng dùng súng với dân chúng; nói về dân chủ, nó sẽ nói Ấn Độ làm dân chủ, cũng chẳng làm ra được gì ra trò; nói về diễn biến hoà bình, nó sẽ nói sau khi diễn biến hoà bình thì nước Nga tồi tệ thế nào; nói về tuyển cử, nó sẽ nói tuyển cử của Đài Loan hỗn loạn như thế nào; nói về lãng phí tài nguyên hiện tại, chênh lệch giàu nghèo của Trung Quốc, nó sẽ nói đó là tích luỹ nguyên thuỷ của tư bản, có quốc gia phát triển nào mà chẳng từng trải qua? Nói về không có tự do ngôn luận, nó nói hãng thông tấn gì đó ở phương Tây chẳng phải bị tập đoàn tài chính khống chế? Nói về bắt người thỉnh nguyện ở Thiên An Môn, nó nói anh thử đến Nhà Trắng mà kháng nghị thử xem, xem xem họ có bắt anh không; nói về nhân quyền của Trung Cộng không tốt, nó bám chắc tác phẩm văn chương về việc quân Mỹ ngược đãi tù nhân, nói rằng bản thân nước Mỹ còn không tốt, lấy đâu tư cách nói Trung Cộng?

Những lời lẽ tự thị nhi phi này có lúc so với những thuyết giáo nghiêm túc kia càng có tính mê hoặc hơn. Thế nhưng, cái kiểu so sánh này bản thân lại là sai lầm, là đánh lừa mê hoặc dân chúng.

Đầu tiên, con người ai cũng đều có nhược điểm của con người. Cho nên, quốc gia nào cũng đều có tham ô, đều có vấn đề về nhân quyền. Chúng tôi không có ý biện hộ cho hành vi của quốc gia khác, chúng tôi chỉ là muốn chỉ ra cái kiểu logic điên đảo thị phi theo kiểu “bởi vì người khác đã giết người, cho nên tôi cũng có thể giết người” của Trung Cộng. Thứ nữa, khi báo cáo tuyên truyền những ví dụ kiểu kia, đối với bối cảnh phát sinh sự việc, quá trình và phương thức xử lý Trung Cộng thông thường đoạn chương thủ nghĩa, cố ý che đậy những điều bất lợi cho Trung Cộng. Chúng ta biết rằng, xuất hiện vấn đề là một chuyện, còn phản ứng và xử lý vấn đề lại là chuyện khác. Mà Trung Cộng chú trọng vào tô vẽ sự phát sinh vấn đề, mà bỏ qua phản ứng và thái độ xử lý vấn đề của các quốc gia dân chủ từ chính phủ, truyền thông đến công chúng.

Sự kiện quân Mỹ ngược đãi nô lệ vừa xuất hiện, Trung Cộng liền thêm mắm dặm muối, chẳng có gì hơn là muốn nói, nhân quyền của nước Mỹ cũng tốt đẹp gì đâu, nhân quyền của Trung Cộng không tốt thì có quan hệ gì đây? Thế nhưng, nếu như chúng ta xét thái độ xử lý của chính phủ Mỹ và Trung Cộng về kiểu sự việc này, thì sẽ phát hiện sự khác biệt rất lớn. Trên thực tế, sau khi xảy ra vụ việc, bản thân nước Mỹ làm cả nước chấn động, không chỉ truyền thông nước Mỹ bùng nổ, mà ngay cả tổng thống cũng ngay lập tức phản hồi, lập tức bắt tay điều tra. Tài liệu mà Trung Cộng dẫn ra về căn bản cũng đều là từ các báo cáo công khai của truyền thông nước Mỹ. Mà Trung Cộng đối với việc hành ác về nhân quyền của chính mình, thì lại che đậy kín kẽ trước sau như một, còn không cho phép người khác được phơi bày.

Đối với việc bắt người thỉnh nguyện ở Thiên An Môn, thậm chí là vụ thảm sát “Lục tứ” (Ngày 4 tháng 6), có một cách nói, chính là anh đến trước Nhà Trắng mà kháng nghị xem họ có bắt anh hay không. Ở đây Trung Cộng đã gây nhầm lẫn một sự khác biệt căn bản. Điều Trung Cộng nói là có thể đăng ký diễu hành thị uy, nhưng căn bản sẽ không phê chuẩn đơn đăng ký, đối với người đã nộp đơn còn phải báo thù đả kích, càng không nói đến việc anh nộp đơn đến Thiên An Môn để thị uy. Nhưng ở nước Mỹ, dân chúng có thể đăng ký đến trước Nhà Trắng để kháng nghị một cách rất dễ dàng, hơn nữa có một số nhân sĩ kháng nghị chính là cố ý muốn để cho cảnh sát bắt đi để chế tạo hiệu ứng tin tức, cảnh sát nước Mỹ thông thường sẽ chủ động hỏi người kháng nghị có muốn bị bắt giữ hay không. Căn bản không phải như Trung Cộng tuyên truyền như thế, nào là trước Nhà Trắng ở nước Mỹ không cho phép kháng nghị, sẽ như Trung Cộng bắt người như vậy thôi. Ngay cả nếu người kháng nghị có hành vi quá khích, thì cũng phải căn cứ theo chế độ pháp luật mà xử lý.

Còn có người nói rằng nước Mỹ cũng đã từng nổ súng vào dân chúng. Đúng là có, đó là sự kiện thanh toán trợ cấp cho cựu chiến binh tham gia chiến tranh thế giới thứ nhất vào năm 1932, những một vạn cựu chiến binh thất nghiệp đến tập trung ở trước Toà nhà Quốc hội Mỹ. Lúc đó tổng thống Hoover đã hạ lệnh cho quân đội liên bang tiến vào Washington, giải tán dân chúng biểu tình, đã tạo thành việc hai người cựu chiến binh bị tử vong, nhiều người bị thương. Căn cứ vào Bách khoa toàn thư xuất bản công khai của Mỹ, bản tài liệu, sách lịch sử, ghi nhớ và những hồi ức, bọn họ lại không phải là chết do quân đội nước Mỹ, mà là bị cảnh sát ở Washington ngộ sát. Bất luận bản thân sự việc này thị phi thế nào, chúng ta cùng xem xem phản ứng của chính phủ Mỹ đối với sự việc này. Đầu tiên, chính phủ Mỹ bị các hãng tin tức truyền thông đánh một cách vô tình, “Thời báo NewYork” đã báo cáo về quá trình của sự việc dài kỳ trên trang nhất, tổng thống Hoover cũng thừa nhận trách nhiệm của mình với nhân dân nước Mỹ. Trong kỳ bầu cử tổng thống nước Mỹ năm đó, nhân dân càng có thể dùng lá phiếu để hạ đài Hoover xuống. Sự sâu sắc của bài học huy động quân đội, trở thành bài học cho tổng thống nước Mỹ về sau này. Năm 1971 ở vùng xung quanh Nhà Trắng đã phát sinh cuộc biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam quy mô lớn, Nixon đã nói với trợ thủ đến hỏi ý kiến rằng: “Cứ để bọn họ ở đó là được rồi.” Từ đó về sau, cho đến hôm nay Trung Cộng chưa từng có cách nói phản tỉnh chính mình nào đối với sự kiện “Lục tứ”, cơ cấu lập Pháp Trung Quốc cũng chưa từng đề xuất về việc tiếp thu bài học trấn áp dân chúng như thế nào, cho đến việc đề xuất việc làm thế nào để tránh khỏi phạm sai lầm tương tự trong tương lai.

Còn có một ví dụ rất lưu hành về việc châm biếm tự do ngôn luận của phương Tây, chính là nói anh viết một bài báo, coi xem báo chí phương Tây có cho anh đăng báo hay không, nếu như không có cho đăng, vậy khẳng định chứng minh tự do ngôn luận là giả. Rất nhiều người Trung Quốc bởi vì cái ví dụ như vậy, dường như một cái là nhìn thấu sự nguỵ giả của tự do ngôn luận ở phương Tây, cũng liền cho rằng việc Trung Cộng khống chế ngôn luận cũng là lẽ thường tình thôi. Kỳ thực điều này là oai lý mà Trung Cộng đã chế tạo cho người ta. Báo chí làm sao có thể cái gì đưa đến cũng cho đăng được? Nếu đúng như vậy, vậy cũng chỉ có thể là có vài người có bổn phận, bố cục có hạn. Trên thực tế tự do ngôn luận lại không phải là nói rằng mỗi hãng thông tấn này cũng đều phải làm được “tuyệt đối công chính”. Mỗi hãng thông tấn có lý niệm của mình, đằng sau bọn họ đương nhiên cũng có thế lực chính trị kinh tế của mình, cũng có nghĩa là, thông tấn là cá thể mà nói, trừ đạo đức nghề nghiệp ra, đương nhiên có ý thích của mình, đối với góc độ bài viết hay báo cáo đều có sự lựa chọn của mình, điều này cũng không phải là giới truyền thông phải che đậy bí mật gì cả. Tự do ngôn luận thể hiện ở hai tầng diện: một là đối với bản thân hãng thông tấn, nó có thể cho đăng một cách tự do nội dung mà nó muốn đăng (ngoại lệ thì sẽ thông qua giải quyết theo con đường pháp luật), hai là đối với độc giả mà nói, tự do của họ thể hiện ở việc có thể nhận được bất kể thông tin với ý kiến nào, chư vị vừa có thể coi báo chí phản Trung Cộng, cũng có thể coi báo chí thân Trung Cộng, còn có thể coi báo chí là loa phát thanh của Trung Cộng, chư vị cũng có tự do làm hãng thông tấn của mình để đăng những ý kiến của chư vị, đây mới là cốt lõi của tự do thông tin. Thước đo quan trọng nhất của tự do tin tức là người nắm quyền có quyền lực khống chế tài nguyên thông tấn bao nhiêu. Ở nước Mỹ, chính phủ thông thường thuộc về dưới sự phê bình của truyền thông, thậm chí chính phủ muốn huy động quyền lực khống chế, cũng không có khả năng. Nhưng tại Trung Quốc, nếu như Đảng Cộng sản không muốn dân chúng xem được tin tức nào đó trên kênh truyền thông, có thể dễ dàng phong toả chết cứng. Coi tự do ngôn luận thành việc hãng thông tấn nào cũng đều ắt phải đăng ngôn luận của chư vị, căn bản là không hiện thực. Dùng việc báo chí của phương Tây đều có lập trường của mình mà để phủ định tự do ngôn luận, bất quá là để Trung Cộng kiềm chế truyền thông tìm cớ thoái thác. Bản thân Trung Cộng cũng biết cái hay của tự do ngôn luận ở phương Tây, cho nên Trung Cộng mới cực lực thâm nhập hải ngoại, thao khống, lại tha hồ phát triển các hãng thông tấn thân cộng của mình.

Tranh chấp xuất hiện khi bầu cử dân chủ ở hải ngoại, thường thường cũng trở thành việc Trung Cộng chế giễu tự do dân chủ, dùng chiêu bài để khuyên nhân dân ủng hộ độc tài của Trung Cộng. Rất nhiều người cũng vì thế mà tin tưởng cách nói của Trung Cộng, giúp đỡ Trung Cộng duy hộ chuyên chế một đảng. Dân chủ có lẽ không phải biện pháp tốt nhất, nhưng mà, so với đấu tranh trong bóng tối và khả năng mang đến loạn động của Trung Cộng, thì sự minh bạch của dân chủ, sự giám sát của truyền thông và sự độc lập của quân đội, trên hết là một loại giải pháp có thể tham khảo được. Mọi người đều để ý là, các quốc gia dân chủ bất kể là tuyển cử hay tranh chấp có ghê gớm thế nào, thì quốc gia cũng rất khó bị rơi vào bạo loạn và chiến tranh, đây chính là tác dụng chế ước và cân bằng của dân chủ đối với xã hội, căn bản không phải như kiểu tai hoạ mà Trung Cộng tuyên truyền.

Sau diễn biến hoà bình của nước Nga, Trung Cộng vẫn luôn sợ hãi nước Nga trở nên tốt, cho nên vẫn luôn là tuyên truyền nước Nga khốn khổ thế này thế kia. Nước Nga đương nhiên là có “tình hình đất nước” của bản thân, vấn đề có nhiều, nhưng mà, Trung Cộng lại lấy nước Nga làm phản ví dụ sau khi dân chủ hoá để tuyên truyền thì đúng là đang lừa gạt dân chúng. Một vài người Trung Quốc đến hải ngoại nghe được dự trữ ngoại hối của Nga đã tăng vọt so với thời “Đệ Tam Quốc tế” [3] (báo cáo vào tháng 7 năm 2006), thực sự bất ngờ, cảm thấy người Nga không phải là ngay cả cơm cũng không đủ ăn? Dân chủ ở Ấn Độ cũng vẫn luôn là đối tượng bị Trung Cộng chế giễu, là ví tấm gương kinh điển về thất bại của dân chủ. Thế nhưng, từ năm 1991 chính phủ Ấn Độ đã chính thức bắt đầu cải cách kinh tế cho đến nay, những năm này tỉ lệ tăng trưởng đạt 7%, tỉ lệ tăng trưởng này đã rất tiếp cận với mức của Trung Quốc. Ngành công nghiệp tài chính và thị trường vốn của Ấn Độ khá phát triển, hiệu suất kinh doanh khá cao, tỉ lệ nợ xấu ngân hàng xuống dưới 10%. Kết cấu kinh tế của Ấn Độ tương tự với một số quốc gia phát triển, lại thêm vào Ấn Độ có nhân tài kỹ thuật ưu tú nhưng lại chi phí thấp, do vậy có người dự đoán rằng Ấn Độ sẽ trở thành “văn phòng của thế giới” trong tương lai. Trên thực tế, Ấn Độ hiện nay đã trở thành một trong những trung tâm nghiên cứu phát triển trọng yếu của thế giới. Chúng tôi không có ý nói tốt cho nước Nga và Ấn Độ, họ đều có vấn đề nghiêm trọng và biến số phát triển của mình, nhưng mà chúng ta không nên bị Trung Cộng vì để duy hộ lợi ích vốn có của nó, không muốn toàn diện cải cách những báo cáo phiến diện sai lầm đã làm, không lặp lại một cách biện bạch cho luận điệu của Trung Cộng, chiểu theo cách nói của Trung Cộng mà suy xét vấn đề. Trên thực tế, Đảng Cộng sản ở nước Nga vẫn là một tổ chức hợp pháp, nếu như nhân dân nước Nga thực sự ưa thích Đảng Cộng sản, thì hoàn toàn có thể bầu trở lại Đảng Cộng sản trong khi tuyển cử.

Đối với vấn đề phân chia của cải xã hội mà Trung Quốc gặp phải hiện nay, có người dùng “tích luỹ nguyên thuỷ tư bản” để hình dung, ý nghĩa là trong quá trình hiện đại hoá của thế giới phương Tây cũng đã đi qua giai đoạn như thế này, cho nên, cũng chính là chính thường thôi. Chúng tôi không để nói sự tích luỹ nguyên thuỷ này là đúng hay sai, chúng tôi chí ít thấy được phương Tây sau khi tích luỹ nguyên thuỷ, tư bản rất nhanh chóng tiến nhập vào tái sinh sản, đồng thời giai cấp hữu sản đang có yêu cầu minh xác về chính trị, tham [dự] chính [trị], làm truyền thông, làm giáo dục, làm từ thiện v.v.. trở thành lực lượng trọng yếu để củng cố trật tự xã hội. Mà tích luỹ nguyên thuỷ dưới sự thống trị của Trung Cộng chính là kiếm tiền, kiếm đến mức không còn gì, sau đó chạy ra ngoài, hưởng lạc, căn bản không có ý ảnh hưởng đến chính phủ và Đảng Cộng sản, so với tình huống của phương Tây lúc đó căn bản khác nhau, làm sao có thể kỳ vọng vào sự tuần hoàn lành mạnh sau khi “tích luỹ nguyên thuỷ” được?

Còn có một ví dụ tương tự thoạt nghe rất triệt để: nếu như anh mà lật đổ quốc gia và chính phủ, anh xem có quốc gia nào mà không trấn áp anh không? Đây là một vấn đề đánh tráo khái niệm rất “xảo diệu”, rất có tính mê hoặc. Kỳ thực, cách nói này bản thân chính là biểu hiện điển hình của việc lẫn lộn khái niệm mà Trung Cộng tuyên truyền nhồi nhét lặp đi lặp lại mà thành. “Tội phiến động và lật đổ quốc gia” là tội danh thay thế về sau này mà Trung Cộng kế thừa từ cái “tội phản cách mạng” trước kia, cái tội danh này gom những hoạt động thông thường liên quan đến nhân quyền và tự do ngôn luận quy thành “phiến động và lật đổ quốc gia”, bản thân chính là xâm phạm nhân quyền. Rất nhiều những hành động bị Trung Cộng coi là “phiến động và lật đổ quốc gia”, “tiết lộ bí mật quốc gia” v.v.. thì ở các quốc gia dân chủ ở phương Tây căn bản chỉ là giành lại những quyền lợi căn bản được hiến pháp công nhận, chính phủ dân chủ làm sao có thể trấn áp đây? Làm báo mắng chửi chính phủ, ở Trung Quốc, đó chính là tội “kinh thiên động địa” lật đổ quốc gia, mà ở phương Tây là việc rất bình thường, căn bản không quan hệ gì với việc lật đổ quốc gia, trừ phi là chứa chấp vũ khí hoặc gây ra bạo động chủ nghĩa khủng bố.

Đối với việc làm chiến loạn và khủng bố xảy ra trên thế giới của một số thiểu số tổ chức tôn giáo cực đoan, cũng bị Trung Cộng dùng để phủ định tự do tôn giáo, làm tài liệu giáo dục phản diện mở lối thoát cho Vô Thần luận của Trung Cộng. Mà đối với việc rất nhiều những chính giáo chính tín đóng vai trò chủ lưu trên thế giới mang lại ý nghĩa chính diện đối với đạo đức xã hội và nhân tính, thì Trung Cộng lại hết sức né tránh. Rất nhiều người không hiểu biết, vì đó mà thuận theo Trung Cộng nhất loạt tiến hành phê phán đối với tín ngưỡng, bài xích những nỗ lực tranh thủ tự do tín ngưỡng của người khác.

Những ví dụ tương tự mang tính ‘tự thị nhi phi’ này còn rất nhiều. Điều mang ý nghĩa châm biếm là, những điều bất lợi đối với Trung Cộng kia, thì Trung Cộng liền không lấy ví dụ, mà là cường điệu tình hình quốc gia và màu sắc của Trung Quốc. “Tình hình quốc gia” đã thành một cây ‘Thượng Phương bảo kiếm’ cho việc Trung Cộng đi ngược lại với trào lưu thế giới. Kỳ thực, cái này không thể học, cái kia không thể học chính là bởi vì đã chạm đến lợi ích vốn có của Đảng Cộng sản mà thôi.

4) “Nói tôi chưa làm tốt, bản thân anh hãy làm tốt trước đã

“Nói tôi chưa làm tốt, bản thân anh hãy làm tốt trước đã”, đây là lối nói thường dùng khi người ta phản bác sự phê bình của người khác. Kỳ thực không đúng. Trong cuộc sống ai mà chẳng có thể đã từng khoa chân múa tay bình luận khen chê các minh tinh điện ảnh, vận động viên bóng đá, nhưng không yêu cầu bản thân nhất định phải biết biểu diễn, biết đá bóng hơn đối phương.

Thế nhưng, Trung Cộng rất thích dùng câu nói này để giảo biện cho việc hành ác của mình. Khi nước Mỹ phê bình vấn đề nhân quyền của Trung Cộng, phản ứng của Trung Cộng chính là nhân quyền của nước Mỹ cũng có vấn đề, hơn nữa còn xuất bản một báo cáo chỉ trích nhân quyền của nước Mỹ, từ đó coi vấn đề nhân quyền của bản thân cứ như không. Mà báo cáo nhân quyền nước Mỹ mà Trung Cộng xuất bản, nội dung của nó đều đến từ các báo cáo công khai của truyền thông nước Mỹ và những vụ án đáng quan tâm của chính phủ nước Mỹ, Trung Cộng vì cái gì mà phải tốn của nhọc dân làm chuyện này nhiều thế? Chính là vì để hả cái cơn “tức giận”, không phải vì cải thiện nhân quyền của nước Mỹ (thực tế là hy vọng những vụ xì căng đan về nhân quyền của nước Mỹ càng nhiều càng tốt, tiện bề cho Trung Cộng viết bài), thực ra là sự cưỡng từ đoạt lý cho tội xâm phạm nhân quyền của nhân dân của mình.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Trung Cộng vì tự mình giảo biện, đó là nó đã xấu đến mức độ nào rồi. Nhưng mà, không ít người dân phổ thông cũng phụ hoạ theo biện giải của Trung Cộng, thậm chí cho rằng lý do đáp ứng của Trung Cộng ít nhiều là “vì quốc gia mà giành vinh quang”, đây đúng là hồ đồ rồi. Hơn nữa bất kể là nhân quyền của nước Mỹ như thế nào, nước Mỹ phê bình nhân quyền của Trung Cộng, về mặt khách quan là đang giúp đỡ nhân dân Trung Quốc, bởi vì dưới sự bức hại nhân quyền của Trung Cộng, người bị hại chẳng phải là bản thân nhân dân Trung Quốc sao? Người khác kêu gọi Trung Cộng cải thiện nhân quyền, chẳng phải bản thân nhân dân Trung quốc hưởng lợi sao? Đáng tiếc là, bởi vì ảnh hưởng của Văn hoá đảng, cho rằng phê bình Trung Cộng, chính là phê bình toàn thể nhân dân Trung Quốc, động chạm đến cái tâm chủ nghĩa yêu nước tự tôn dân tộc hẹp hòi mà bị Trung Cộng nhồi nhét, kết quả mù quáng duy hộ bộ mặt của Trung Cộng. Có người vì Trung Cộng mà tìm lý do, nói phía sau người khác phê bình Trung Cộng nhất định có nào là mục đích “không thể nói cho người”, là đang dùng nhân quyền để ép Trung Cộng. Ngay cả nếu như vậy, nếu như chúng ta không mua sự biện hộ ngoại phạm của Trung Cộng, kiên trì đòi hỏi Trung Cộng chấm dứt bức hại nhân dân của mình, vậy thì, sau hành vi Trung Cộng cải thiện mình, người khác chẳng phải không có biện pháp để gây sức ép sao? Như thế, vừa mang lại lợi ích thực sự cho nhân dân Trung Quốc, lại đã đả kích người khác có mục đích “không muốn nói cho người”, nhất cử lưỡng đắc, chẳng phải càng sáng suốt hơn sao?

Cho nên, tư duy bình thường là, bất kể đối phương có làm đến như thế nào, chỉ cần điều chỉ ra là sự thật, thì nên lắng nghe và sửa cho đúng. Có người nói “chỉnh người khác thì hãy chỉnh mình trước”. Đây lại là một kiểu ngộ giải. Lời này nên là lời nói của người phê bình tự mình khích lệ, đó là người phê bình cảnh giới cao, vì để càng có lực thuyết phục hơn nữa, biểu hiện của việc nghiêm khắc yêu cầu bản thân. Thế nhưng, không thể cho là lý do mà người phê bình mâu thuẫn với ý kiến của người khác, không phải có câu nói gọi là “có thì sửa, không thì như là khích lệ” sao?

Khi nguyên thủ nước ngoài muốn đàm luận về vấn đề nhân quyền với Trung Cộng, có một câu được coi là câu trả lời “cơ trí” rất điển hình, chính là: “Ông làm gì có tư cách nói về nhân quyền của Trung Quốc với chúng tôi, bởi vì một trăm năm trước các ông đã từng xâm phạm nhân quyền của nhân dân Trung Quốc một cách nghiêm trọng.” Khi nói đến Trung Cộng trời không sợ đất không sợ, phá hoại tự nhiên, ô nhiễm môi trường, cũng có cách nói như thế này, chính là “Cường quốc phương Tây chẳng cũng chuyển dịch công nghiệp ô nhiễm, thậm chí mang phế thải đến nước khác sao?” Ý ở ngoài lời là gì đây? Chính là quốc gia phương Tây đã từng xâm phạm nhân quyền của nhân dân Trung Quốc, vì sao Đảng Cộng sản lại không thể xâm phạm nhân quyền của người dân Trung Quốc nhỉ? Quốc gia phương Tây có thể ô nhiễm Trung Quốc, còn Đảng Cộng sản sao không thể ô nhiễm Trung Quốc đây?

Trung Quốc nếu muốn đi theo thế giới, hội nhập với trào lưu thế giới, thì cần lắng nghe ý kiến của xã hội quốc tế, ngoài việc học tập kỹ thuật tiên tiến của người khác, còn phải nghiên cứu chế độ tiên tiến. Vì để hoá giải áp lực về các phương diện như nhân quyền, chủ nghĩa tự do của xã hội quốc tế, Trung Cộng vẫn luôn dùng “nói tôi chưa làm tốt, bản thân anh hãy làm tốt trước đã” để vô lý cãi cùn, lừa dối dân chúng, bị tổn hại chính là lợi ích lâu dài của quốc gia và dân tộc.

5) “Đối với Đảng Cộng sản phải nhìn nhận sự việc trên hai [mặt đối lập]

Đảng Cộng sản tự biết nó đã làm đủ việc xấu rồi, cho nên, hy vọng người ta có thể nhìn nó một cách toàn diện. Bản thân người dân cũng phụ hoạ theo nói rằng, “Lẽ nào Đảng Cộng sản một chút việc tốt cũng không có?” Loại quan điểm này nghe qua thì như thể có đạo lý, nhưng điều này nếu nhìn từ hai phía trường hợp và mục đích thì thực chất là gì.

Một kẻ phạm tội giết người, giết người đền mạng, chiểu theo pháp luật mà nói, chính là đã có thể định tính (quyết định sống chết) cho hắn rồi. Nếu như ở trong toà án yêu cầu nhìn một cách toàn diện, muốn lấy việc đứa trẻ đã từng giúp đỡ các bậc cha chú những việc như đẩy xe, trồng cây để giảm nhẹ tội giết người, thì không thể chấp nhận được.

Nếu lấy quốc gia và chính đảng để làm ví dụ, có thể xem một chút [tình huống] nước Đức trong Thế chiến thứ hai trước kia. Năm 1933, Hitler trở thành nguyên thủ của nước Đức, chính sách kinh tế của ông ta khiến kinh tế của nước Đức liên tục tăng trưởng với tốc độ 100% trong nhiều năm, tỉ lệ thất nghiệp của nước Đức từ 30% giảm xuống 0%, vị thế quốc tế của Đức lúc đó tăng rất cao, bởi vì sau Thế chiến thứ nhất, Đức là nước bại trận, các nước Anh, Pháp đối với Đức hết sức kỳ thị, muốn đòi bồi thường, nhưng sau khi Hitler trở thành nguyên thủ, Đức đã trở thành cường quốc của Châu Âu, đặc biệt là năm 1936 đã tổ chức Olympic thành công ở Berlin, khiến cho rất nhiều quốc gia trầm trồ thán phục. Lúc đó Đức đã xây dựng những đường cao tốc mà đều có thể hạ cánh máy bay chiến đấu, rất nhiều tuyến tàu điện ngầm đều được hoàn thành từ thời Hitler, hơn nữa lúc đó Hitler nói muốn khiến mỗi một gia đình ở Đức đều có xe hơi riêng, đấy chính là nguồn gốc của biển số xe “đại chúng” của nước Đức. Nhưng bất kể là Hilter về mặt kinh tế đã nỗ lực bao nhiêu, về mặt quân sự thu được thành công bao nhiêu, có người nói ông ta là nhà quân sự hoặc là nhà kinh tế, thì những điều này đều không quan trọng, bởi vì ông ta đã phát động Đại chiến Thế giới lần thứ hai, gây ra thương vong của 90 triệu người trên toàn thế giới, đã gây ra tổn thất 400 tỷ Đô la Mỹ, đồng thời ông ta đã tàn sát tàn khốc người Do Thái trong trại tập trung, có 6 triệu người Do Thái vì Thế chiến thứ hai ở trong trại tập trung mà mất đi sinh mệnh. Những việc này đã đủ để quyết định bản chất Hitler và Đức Quốc xã rồi, cho nên ngày nay nếu như bạn đến nước Đức, chẳng có ai nói chúng tôi phải tiến hành nhìn nhận toàn diện đối với Hitler và Đức Quốc xã, hơn nữa việc chứa chấp biểu tượng của quốc xã, hoặc sùng bái Hitler cũng đều là vi phạm pháp luật.

Chúng ta lại lấy người Nhật Bản làm một ví dụ. Quân xâm lược Nhật ở Trung Quốc trừ việc giết người, nó còn làm nên nhiều đóng góp cho công nghiệp. Đặc biệt là ở ba tỉnh Đông Bắc, nó mở công xưởng, mở công nghiệp khai khoáng, một mạch đến sau khi Trung Cộng đoạt được chính quyền, khi đó những cơ sở công nghiệp cũ ở ba tỉnh Đông Bắc, rất nhiều đều là cơ sở do người Nhật Bản lưu lại, bao gồm cả ba tỉnh Đông Bắc lúc đó được coi là địa khu có mạng lưới đường sắt phát triển nhất, cũng đều là người Nhật Bản làm. Thậm chí sau vụ đồ sát ở Nam Kinh, ở Trung Quốc, Nhật Bản cũng đã làm rất nhiều hoạt động văn hoá, ví dụ như lễ hội Vu Lan, đến hai bờ sông Tần Hoài ở Nam Kinh xem thử, thì ở đó cũng là thuộc về nơi phồn hoa đô thị, phú quý sung túc, Đại Thượng Hải ấy cũng là nơi có tiệc tùng ca hát mỗi ngày. Như vậy chúng ta nên chăng phải cảm ơn quân xâm lược Nhật đã làm ra những cống hiến cho sự phát triển kinh tế Trung Quốc? Cũng cần phải nhìn một cách toàn diện? Chúng ta dường như là không có ai muốn như vậy, bởi vì người Nhật Bản gây ra nạn đồ sát lớn ở Nam Kinh, có Đơn vị 731 (chuyên nghiên cứu vũ khí sinh học), có chính sách Tam Quang [4], hơn nữa cuộc chiến tranh xâm lược này đã gây ra thương vong của 20 triệu quân dân Trung Quốc, chỉ cần những sự việc này bản thân đã đủ để quyết định bản chất cuộc chiến tranh xâm lược rồi.

Cho nên quay trở lại Đảng Cộng sản, sau khi đoạt được chính quyền, Trung Cộng đã gây ra cái chết bất thường của 80 triệu người Trung Quốc, trong đó 40 triệu người là bị nó giết hại, 40 triệu người là sống lay lắt rồi chết đói, số lượng người biệt giết hại này đã vượt quá Phát-xít Đức Quốc xã mười mấy lần, vượt quá người Nhật Bản bốn lần, một mặt khác là, Đảng Cộng sản lại bán đi một triệu ki lô mét vuông đất lãnh thổ, cho nên chỉ bản thân hai sự việc này thôi, cũng đủ để xác định bản chất của Đảng Cộng sản rồi.

Từ một mặt khác mà giảng, Đảng Cộng sản bản thân nó khi làm các việc nó cũng thông thường không nhìn nhận một cách toàn diện, thông thường nó tuyệt đối hóa sự việc. Ví dụ trong các cuộc trấn phản của nó, tại sao không nhìn nhận một cách toàn diện với những quan binh vốn là Quốc Dân Đảng? Khi bức hại Lưu Thiếu Kỳ, đả đảo Lâm Bưu, Đặng Tiểu Bình, lúc ấy sao không nhìn nhận một cách toàn diện đối với họ đi? Ngày nay khi trấn áp Pháp Luân Công, sao không hề nghe được một câu nói tốt, toàn bộ đều là những lời vu khống Pháp Luân Công? Cho nên từ biểu hiện của nó mà nói, cái gọi là nhìn nhận toàn diện của nó, trên thực tế chỉ là tìm một cái cớ để duy trì sự thống trị của nó, để mọi người đối với nó có sự thông cảm ở mức độ nhất định mà chọn dùng một loại sách lược.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Nếu như thực sự muốn “nhìn nhận toàn diện”, vậy thì, Trung Cộng cũng nên đối diện với quá khứ, đối diện với sai lầm. Cái “nhìn nhận toàn diện” mà Trung Cộng nói kỳ thực chỉ là một cách che mắt. Nó trước hết tung hoả mù, nói sự việc luôn có tốt có xấu, khiến người ta cảm giác rất là “khách quan”, sau đó, lời nói chuyển một cái, “xấu” đã không nói nữa, tiến bước nữa liền là “tốt”. Cho nên, Trung Cộng không để người ta xét lại quá khứ của Trung Cộng một cách triệt để toàn diện, những việc xấu nó làm là không để người ta nói, nếu nói cũng chỉ có thể chiểu theo giọng điệu và thước đo của nó mà nói, hậu quả của việc nói như thế ngược lại là đánh bóng cho Trung Cộng hiện nay. Thủ tướng Đức Willy Brandt ở Vacxava quỳ xuống sám hối trước tội ác với người Do Thái, mà người lãnh đạo của Trung Cộng trước giờ vẫn chưa hề xám hối trước nhân dân toàn quốc. Nếu như ở Đức thì phương châm hiện tại là “tuyệt đối không được lãng quên”, mà ở Trung Quốc lại là “tuyệt đối không được nhớ đến”. Nhưng mà, lãng quên lịch sử thì xã hội có thể tự cứu không?

6) “Quyền no ấm cao hơn nhân quyền

Đối diện với trào lưu dân chủ trên thế giới, việc hành ác về mặt nhân quyền của Trung Cộng đã trở thành một gánh nặng lớn trên thế giới của Trung Cộng. Sau đó, nó sử dụng những nhà văn để bày đặt ra một cái oai lý về nhân quyền: “Quyền no ấm cao hơn nhân quyền”, “Anh đến thử hỏi những người nông dân đói kém ở kia xem, bọn họ là cần cơm ăn hay là cần dân chủ tự do?” Rất nhiều người khi đối diện với báo cáo phê bình nhân quyền của Trung Cộng của xã hội quốc tế, cũng sẽ dùng những lời này của Trung Cộng để tiến hành bác bỏ. Ở trong sách giáo khoa về chính trị của Trung Cộng và trong kỳ thi về chính trị hàng năm, đối với vấn đề này đều là có đáp án tiêu chuẩn. Trung Cộng trong các trường hợp ngoại giao khác nhau, thường có vẻ tự tin lắm, mang một bộ mặt đàng hoàng lắm. Người ta lặp đi lặp lại khẩu hiệu này, không phân biệt rõ đối với tuyên truyền và nhồi nhét của Trung Cộng.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên [Chú thích ảnh: Đất nước chúng ta kinh tế còn chưa phát triển, nhân quyền trước hết là quyền sinh tồn! (Khi Trung Quốc bị chỉ trích ‘không có nhân quyền’)]

Kỳ thực, đây là một kiểu nguỵ biện của logic gây lẫn lộn, nó coi tự do dân chủ thành một khái niệm trừu tượng, mà lấy điều trừu tượng này để tiến hành so sánh với cái cụ thể là “đồ ăn”, thêm vào ám thị trình độ giáo dục của nông dân thấp, sẽ chỉ muốn thứ cụ thể, mà không hiểu được những điều trừu tượng, từ đó đạt được rằng nông dân đều sẽ “muốn cơm ăn”, từ đó, liền phủ định sự quan trọng của tự do dân chủ, kết luận chính là “quyền no ấm còn hơn nhân quyền”.

Chúng ta hơi hoán đổi cách nói một chút, cụ thể hoá tự do dân chủ, những người nông dân sẽ không bị kìm hãm trong trò chơi con chữ của Trung Cộng. Gánh nặng quá lớn, áp lực đến mức nông dân không thể trở mình, liền cùng với bản thân Trung Cộng thừa nhận việc miễn giảm gánh nặng cho nông dân là một việc lớn liên quan đến quốc gia. Đối với những người nông dân đói kém, nếu như lấy câu chữ trừu tượng “dân chủ nhân quyền” chuyển đổi thành hành vi cụ thể, chúng ta có thể hỏi như thế này: “Nông dân chúng ta bị chỉnh đến là khổ, tìm người để phản ánh tình huống của các vị, các vị có muốn hay không?” “Quan chức ức hiếp nông dân, sưu cao thuế nặng nhiều thế, chúng ta bãi bỏ tên bí thư xã vô lại thôi, tuyển người chân chính vì chúng ta mà làm thực sự một chút, mọi người có vui lòng hay không?” Đối với đề nghị như thế này, có người nông dân lại cự tuyệt?

Bụng của người ta đói rồi, nếu mong muốn được giúp đỡ, thì đầu tiên phải phát ra thành tiếng, khiến người ta biết rằng bụng của các vị đói rồi. Chính là nói “quyền ngôn luận” so với “quyền no ấm” còn cấp bách quan trọng hơn. Nhưng mà, tại sao đối với sự giảo biện đảo lộn thứ tự của Trung Cộng, người ta lại có thể vui vẻ chấp nhận, bảo sao nghe vậy? Ngay cả với người ăn không no cũng chẳng có quyền nói, hiện tại chẳng phải có rất nhiều người đã ăn đủ no rồi sao? Tai sao không để người ta nói, hay là cho phép bọn họ thay những người ăn không no để nói xem?

Kỳ thực, “quyền no ấm” đối với Trung Cộng mà nói cũng không quan trọng, mục đích của Trung Cộng chỉ là khẩu hiệu chiếu lệ với người ngoài giới, mâu thuẫn với tự do ngôn luận thôi.

Những ví dụ tự thị nhi phi như trên đây vẫn còn rất nhiều rất nhiều. Sau khi Văn hoá đảng cải tạo tư tưởng của con người, đích xác khiến người ta trao đổi trở lại trở lại đều rất khó khăn, một vấn đề giải quyết rồi, còn có vấn đề khác lại nổi lên. Nếu tránh được việc dùng tư tưởng của đảng để suy xét vấn đề, tránh được việc dùng ngôn ngữ của giáo hội đảng để nói, một điểm rất quan trọng, chính là lấy các vai trò tách ra. Tách bản thân và đảng ra, khắc phục mối liên kết với mẹ đảng, đột phá điểm mấu chốt “không rời khỏi đảng”, không dùng Vô Thần luận, Duy vật luận và triết học đấu tranh, triết học thù hận của đảng để làm cơ sở của tư tưởng của bản thân. Đối với những quan điểm tự thị nhi phi kia, thử xem xem nếu như chư vị phụ hoạ với những quan điểm đó, rốt cuộc thì có lợi cho ai, là cổ động đảng làm việc xấu hay là giám sát đảng, ức chế đảng không để nó làm việc xấu. Trung Cộng có thể biện giải cho mình, nhưng mà, những người dân chúng ta không thể vào hùa theo. Khi người khác phê bình Trung Cộng, lại không phải là đang chửi người Trung Quốc. Mất mặt Trung Cộng không có nghĩa là mất mặt nhân dân Trung Quốc. Có thể khiêu chiến với độc tài, vì sự thật mà hiên ngang mà bước ra, ấy là dũng sĩ chân chính, là sẽ được người đời tôn kính, kiểu tôn kính này là tôn kính đối với nhân dân Trung Quốc.

2. Không tin Thần, tạo thành việc người ta làm các việc không tính đến hậu quả, việc xấu gì cũng dám làm

Vô Thần luận là một trong những hạch tâm trong Văn hoá đảng. Trung Cộng có thể vì thế tuỳ ý cải tưởng tư tưởng người ta, chính là đang cắt đứt Văn hoá truyền thống của dân tộc, dùng chủ nghĩa Mác-Lê để thay thế văn hoá nửa thần của Trung Quốc trong mấy nghìn năm, từ đó thuyết “Vô Thần luận” làm chủ Đại lục, kính Trời sợ Thần, thiện ác hữu báo đã biến thành mê tín phong kiến và vô tri ngu muội. Ngay cả từ lịch sử nhân loại mà nói, tín ngưỡng đối với Thần và tôn giáo đã duy trì đạo đức của nhân loại ở mức độ cao. Nếu không còn tin tưởng Thần, cũng chính là không còn ước thúc về đạo đức, không có ước thúc về đạo đức, ước thúc về pháp luật cũng chỉ có thể là hữu danh vô thực. Từ đó, vì để được mục đích mà có thể không từ thủ đoạn. Không tin vào ý nghĩa nhân sinh, không tin vào làm việc xấu sẽ có báo ứng, từ đó, làm việc gì cũng đều không tính đến hậu quả, việc xấu gì cũng dám làm.

1) Coi thường sinh mệnh tuỳ ý giết người

Từ sau năm 1949, trong những cuộc vận động chính trị như “trấn phản”, “cải cách ruộng đất”, “tam phản”, “ngũ phản”, “chống cánh hữu”, “cách mạng văn hoá”, v.v.. hết lần này đến lần khác, có hàng chục triệu người chết bất thường. Nhưng trong mỗi cuộc vận động, điều khởi tác dụng lại không chỉ là bản thân Trung Cộng. Trung Cộng làm các vận động xưa nay là kích động quần chúng đấu với quần chúng. Rất nhiều người bị hại thường là bị Trung Cộng chụp lên cái mũ nào đó, sau đó những người hàng xóm, thân thích thậm chí người nhà sẽ lao vào, khiến người ấy sống lay lắt, bị bắt nạt đến chết, đánh chết. Những kẻ đánh người kia bản thân một mặt quả đúng là bị Trung Cộng lừa gạt, nhưng bọn họ có thể làm được ra những việc ác như thế, lại có quan hệ cẩn mật với việc tẩy não của Văn hoá đảng. Một xã hội tin tưởng vào Thiên lý, tin tưởng vào nhân luân nhân tính, không thể có chuyện thương thiên hại lý, tiêu diệt nhân tính trên diện tích lớn như thế này


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên [Chú thích ảnh: Người sống bị dẫm chết]

Nạn đói lớn sau “Đại nhảy vọt”, số người chết ước chừng 40 triệu người, là nạn đói lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Nạn đói này đã bị Trung Cộng bóp méo thành “thiên tai tự nhiên ba năm”, trên thực tế ba năm ấy thời tiết thuận lợi, những thiên tai tự nhiên như lụt lội quy mô lớn, hạn hán, bão, sóng thần, động đất, sương giá, đóng băng, mưa đá, châu chấu cũng không hề phát sinh một lần, hoàn toàn là một trường “nhân hoạ” triệt để. Sự thực là, nếu như khi nạn đói xảy ra, có thể mở kho thóc, có thể tìm biện pháp giải quyết, thì số người chết trong nạn đói này đã không hẳn là cao như thế. Càng khiến cho người ta kinh hoàng hơn là, đối diện với người dân bị đói sắp chết, Trung Cộng lại ra lệnh cho quân nhân tiến hành phong toả đường xá, nhắm mắt để bọn họ sống lay lắt mà chết cũng không cho phép họ bò ra để tìm lối thoát.

“Đánh – ném – cướp” trong Cách mạng Văn hoá, học sinh không ngờ đã dùng thắt lưng để ép chết thầy giáo, con cái dùng gạch để ném chết phụ thân. Còn có người sau khi đánh chết đối phương rồi, còn lấy nội tạng ra để ăn.

Trung Quốc cổ đại giảng “nhân mệnh quan Thiên (mệnh người có liên quan đến Trời)”, “cứu một mạng người, hơn xây bảy tầng tháp”. Đối tượng bị đương cục thanh trừng, bản thân đã đủ đáng thương rồi. Nhưng hiện tại rất nhiều người lại không những thấy chết mà không cứu, còn thêm dầu vào lửa, thậm chí coi giết người làm vui. Chỉ cần Trung Cộng bảo làm gì thì liền làm nấy, cho rằng là cần thiết cho đảng tính, là cần thiết cho chính sách của đảng, hậu quả nào cũng đều có thể không màng. Sự đáng sợ của hậu quả việc cải tạo tư tưởng của Trung Cộng, có thể nhìn thấy rõ.

Đến tận hôm nay, cái kiểu tư duy Văn hoá đảng coi thường mạng người vẫn không hề theo thời gian trôi đi mà trở thành lịch sử. Bởi vì sự bại hoại và bạo chính của Trung Cộng, xã hội đã sản sinh ra số lượng lớn những đoàn thể bị áp bức. Người giàu người làm quan chức có thể lợi dụng đặc quyền để sống một cuộc sống hết sức giàu sang, mà những công nhân bị sa thải lại bởi vì không có tiền chữa bệnh tại gia mà tự thiêu chết, người mẹ của gia đình bần cùng bởi vì không có cách để trả học phí cho con mà treo cổ tự sát… Nhưng đối diện với cuộc sống khốn khổ của dân chúng ở tầng lớp dưới, rất nhiều người đã dửng dưng không màng, không hề quan tâm. Đối với dân chúng kháng nghị lên trên đáng thương không ai giúp đỡ, những người được gọi là nhân viên chấp pháp kia có thể ra tay đánh người, khiến người ta thương tổn thậm tệ, chẳng chút mảy may sống chết của người khác. Người gọi là Hà viện sĩ tức Hà Tộ Hưu, có thể đối diện với vô số tai nạn hầm mỏ, mà nói ra câu nói như của lang sói rằng “Ai bảo anh sinh ra ở Trung Quốc?” Mà tướng Chu Thành Hổ của Trung Cộng, còn buông ra câu: có thể hy sinh miền Đông của Tây An, không tiếc một nửa nhân khẩu của Trung Quốc để tiến hành chiến tranh hạt nhân, giống hệt như giọng điệu của Mao [Trạch Đông] rằng “Trung Quốc mà chết 300 triệu người, thì vẫn còn 300 triệu người”. Chỉ bởi vì không có “giấy tạm trú”, sinh viên đại học là Tôn Chí Cương đã bị bắt nhốt và bị đánh đến chết. Mà trong quá trình bức hại Pháp Luân Công, học viên Pháp Luân Công ở Đại lục bị tra tấn tàn khốc thậm chí tra tấn đến chết, đến năm 2006 đã phơi bày nạn mổ cướp nội tạng của học viên Pháp Luân Công khi còn sống từ sau năm 2001, quan chức và bác sĩ của Trung Cộng thu lợi khổng lồ từ đó. Sự tiêu diệt nhân tính, khiến người ta phải kinh hoàng.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên [Chú thích ảnh: Mổ lấy từ cơ thể còn sống, đảm bảo còn tươi]

Coi thường sinh mệnh không chỉ biểu hiện ở trong các cuộc vận động chính trị, cũng không chỉ thể hiện ở thái độ của kẻ quyền thế đối với người dân, hiện tại trong xã hội giữa người với nhau đều đầy ắp hiện tượng “hiếu dũng đấu ngận” (tham đánh tham giết), tàn sát tuỳ ý. Hiện tại những người trẻ tuổi động tí nào là chém, là giết, đối với người nào càng bạo lực thì càng tôn sùng. Những vụ án hung sát với thủ đoạn tàn nhẫn trong trường học xảy ra liên miên. Trong xã hội những sự việc vì tiền mà giết người, dùng tiền thuê giết người có thể thấy khắp nơi. Quan chức, kẻ nhiều tiền mướn côn đồ giết người, có lúc ngay cả vợ con bạn bè của mình cũng không ngoại lệ.

Khi đạo đức của con người sa đoạ đến cùng hung cực ác như thế này, cái xã hội này chẳng phải đã đến bước cực kỳ nguy hiểm rồi sao.

2) Đấu Trời đấu Đất phá hoại tự nhiên

Mấy chục năm vừa rồi, Văn hoá đảng khiến nhân dân Trung Quốc bị nhào nặn thành một tộc người “vô Pháp vô Thiên”, “Đấu trời đấu Đất”, từ “đại luyện sắt thép”, “vây hồ tạo ruộng”, “bắt chim sẻ một cách điên cuồng”, “chặt phá bừa bãi” lúc đương sơ cho đến việc dựa vào môi trường để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao như ngày nay, đều là chỉ quan tâm đến trước mắt, không màng đến phúc lợi của con cháu thế hệ sau, gây hủy hoại to lớn đối với tự nhiên. Tổng Cục Bảo vệ Môi trường Quốc gia Trung Quốc tiết lộ, mỗi khi sản xuất ra sản phẩm có giá trị 10.000 Đô la Mỹ, nguyên liệu mà Trung Quốc tiêu hao lớn gấp bảy lần Nhật Bản, gấp sáu lần nước Mỹ, chậm chí so với Ấn Độ còn gấp hai lần. Nếu như vấn đề môi trường không thể đạt được cải thiện, kỳ tích kinh tế của Trung Quốc sẽ rất nhanh trở thành quá khứ. Ngân hàng Thế giới nói, trên thế giới có 10 thành phố ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nhất, thì Trung Quốc đứng thứ 6. Diện tích xói mòn đất của toàn quốc chiếm tới 38% đất, 471 huyện của 18 tỉnh (địa khu), đất canh tác và vườn của gần 400 triệu nhân khẩu thuộc về nguy cơ sa mạc hoá, các chuyên gia ước tính, tương lai Trung Quốc sẽ có 150 triệu nhân khẩu trở thành nạn nhân sinh thái. Ngày 26 tháng 08 năm 2006, Ủy ban Thường vụ Đại biểu Nhân dân Trung Quốc trong một báo cáo kiểm tra môi trường, dựa vào những từ như “có nước đều ô nhiễm”, “mưa axit”, “mức độ ô nhiễm nặng nề đến độ tim đập chân run”, “không thể trì hoãn nữa rồi” để hình dung tính nghiêm trọng của ô nhiễm. Kênh 2 của Đài truyền hình Trung ương từng đưa tin, con số GDP mà Trung Quốc mỗi năm sản xuất ra, có 18% GDP là thông qua thấu chi môi trường sinh thái và tài nguyên mà ra. Có một bức ảnh chụp trái đất từ vệ tinh, rất nhiều quốc gia là sắc xanh đã phục hồi, mà Trung Quốc thì một dải đất vàng. Rất nhiều cư dân mạng đối diện với việc mẹ tổ quốc bị tàn phá như thế này, thấy được Trung Cộng còn đang hô hào “quật khởi”, bất giác mà “tuyệt vọng hoàn toàn”.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

“Một dải sông lớn sóng vỗ, gió thổi hương lúa hai bờ…”, đây từng là ca khúc chủ đề mà Trung Cộng tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước, có khảo chứng chỉ ra, dải sông lớn đẹp đẽ này chính là nói đến con sông lớn thứ ba của Trung Quốc – sông Hoài, với một phần sáu dân số toàn quốc định cư ở đây. Có một câu nói là “đi hàng nghìn dặm, cũng không như hai bờ sông Hoài”. Nhưng mà, chỉ vỏn vẹn trong mấy chục năm, sự ô nhiễm của sông Hoài đã kinh tâm động phách, khiến cho câu dân ca này trở thành lịch sử. Các xí nghiệp công nghiệp xử lý nước thải, nguồn nước của nông thôn ô nhiễm và nước thải sinh hoạt của thành phố, khiến [chất lượng nước] lưu vực sông Hoài ước chừng kém hơn chất lượng nước loại 5 đến 60%, ô nhiễm do trên mặt đất đổ xuống dưới lòng đất, trực tiếp ảnh hưởng cuộc sống của 130 triệu cư dân. Trung Cộng cũng hô hào xử lý nước sông Hoài, nhưng, nếu như nhân tâm không cải biến, thì không có tác dụng. Từ ngày 20 đến 27 tháng 07 năm 2004, sông Hoài bộc phát hàng loạt [biểu hiện] ô nhiễm lớn nhất trong lịch sử, có những cái như nấm màu đen khổng lồ, trôi nổi lềnh bềnh, quét qua nghìn dặm của sông Hoài, đám nước ô nhiễm màu đen bao phủ mặt sông kéo dài tới 133 km, tổng lượng vượt quá 500 triệu mét khối, dọc đường làm hư hại vô số kể sông hồ lớn, thuận theo thì sống, nghịch thì chết, đầy sông hắc ám, xác tôm cá trôi nổi hàng nghìn dặm. “Mười năm xử lý nước ô nhiễm đã trở về ‘điểm xuất phát’, 60 tỷ [nhân dân tệ] chi ra đã đổ sông đổ bể.”

Văn hoá đảng mang đến cho người Trung Quốc tâm thái “không tính đến hậu quả”, càng biểu hiện ở sự nhiệt tình làm vận động [chính trị] lớn, dự án lớn, tốn tiền nhọc dân, không màng quy luật tự nhiên. Công trình lớn hơn nữa, luôn là hãy lên ngựa đã rồi hãy nói, nào quản chi hậu quả gì, đầy đủ tâm lý biến thái đấu trời đấu đất, muốn làm chuyện lớn lao, tới đâu hay tới đó, làm ra việc rồi tính “học phí”, coi tương lai của quốc gia dân tộc như trò đùa.

Ở trong những dự án trọng đại như “công trình Tam Hiệp” [5], “điều nước từ Nam lên Bắc”, người ra quyết sách còn dựa vào chính trị làm căn cứ ra quyết sách. Từ sau sự kiện “Lục tứ”, người dân Trung Quốc chán nản, công trình Tam Hiệp được chọn làm công trình để làm phấn chấn lòng người. Liên quan đến công trình Tam Hiệp, nên sửa hay không, điều người ta nghe được đều là tin tức một chiều, ngay cả đề cập tới tin tức trái chiều, thì cũng là sớm có đối sách “ứng phó”, mà những chuyên gia phía phản đối tiến một bước để phản bác và thảo luận chi tiết, thì người dân không thấy được, đó là cấm địa. Người có chút kiến thức cũng đều biết, nước muốn lưu động thì phải có độ dốc, giữa đầu và cuối khu bảo tồn cũng phải có chênh lệch, khu bị ngập sẽ ắt phải là một dải dốc. Nhưng mà “tổ di dân” của công trình Tam Hiệp vì để phục vụ việc giảm chi phí di dân của đương cục, mà đề xuất ra tuyến ngập nước cho di dân Tam Hiệp lại là bằng phẳng, chính là nếu như đập chứa nước lớn tới mức dự định là 175m, thì tuyến ngập nước của phía đầu kia của Trùng Khánh cũng là 175m. Nhưng căn cứ theo độ dốc thuỷ lực 0.7/10000 mà tổ chuyên gia bùn cát của công trình Tam Hiệp tính toán mà công bố, thì độ cao mực nước của hơn 600 km của Trùng Khánh sẽ không phải như mức 175 m mà hiện tại nói đến, mà là lớn hơn mượt nước biển 217 m, đến lúc ấy thì phải “chuẩn bị hậu sự” cho Trùng Khánh thôi. Nếu như muốn giữ Trùng Khánh, thì mực nước không thể trữ đến mức 175 m, vậy hiệu quả phát điện và phòng lũ như lúc ban đầu cũng sẽ giảm đi đáng kể. Nhiều quan chức tinh minh từ Trung ương đến địa phương như vậy, còn có nhiều nhà khoa học như vậy, đều biết rằng nước sẽ từ chỗ cao chảy xuống chỗ thấp, hậu quả nghiêm trọng như thế này mà không đáng nói sao? Còn nữa, giữa mục tiêu và thước đo trong công trình Tam Hiệp có mâu thuẫn lẫn nhau rất nhiều. Mâu thuẫn giữa phòng lũ và phát điện, mâu thuẫn giữa phòng lũ và vận tải, mâu thuẫn giữa phòng lũ và bài [nước] đục tích [nước] trong, mâu thuẫn giữa phát điện, phòng lũ, vận tải và di dân v.v.. Đập lớn phòng lũ cũng phải bảo trì mực nước thấp chuẩn bị tích lũ, mực nước giảm xuống thấp lại sẽ phải dẫn đến năng lực phát điện và vận tải xuống thấp. Ngày 17 tháng 05 năm 2000, giáo sư Trương Quang Đẩu – người tư vấn thi công công trình sau khi phát hiện ra sai lầm rằng khả năng phòng lũ của công trình Tam Hiệp không thể đạt được tiêu chuẩn thiết kế, đã kiến nghị với Chủ nghiệm Văn phòng Ủy ban Xây dựng phương án giải quyết vấn đề này: lập tức khống chế nước lũ tới mực nước thấp tới 10 m. Nhưng mực nước thấp tất nhiên ảnh hướng đến vận tải, đồng thời cũng tất yếu ảnh hưởng tới phát điện, vì vậy ông Trương Quang Đẩu chủ trương xây dựng nhà máy nhiệt điện dùng dầu, khí đốt hoặc than để tiến hành điều chỉnh mức nước cao nhất, Trương nhiều lần nói: “Nhưng việc này công khai cho xã hội là tuyệt đối không thể.” (‘Thăm dò Tam Hiệp’ – Kỳ thứ 27). Còn nữa, xử lý việc bùn cát ứ tích như thế nào cũng là một trong những nhân tố trọng yếu quyết định thành bại của khu bảo tồn nước, mà vùng Tam Hiệp dài 200 km là cảng tránh gió tốt nhất bằng sa thạch, khu dự trữ nước Tam Hiệp định chọn dùng phương thức vận hành theo “khơi trong gạn đục”. Hải ngoại có học giả dự ngôn rằng “gạn đục” chỉ có hiệu quả ở cự ly rất ngắn trước đập lớn, mà chuyên gia thuỷ lợi nổi tiếng ở đại học Thanh Hoa – giáo sư Hoàng Vạn Lý đã nói chắc như đinh đóng cột rằng một cục đá cũng không thể lọt được! Năm 1957, giáo sư Hoàng bởi vì phản đối việc xây dựng đập lớn Tam Môn Hiệp trên sông Hoàng Hà, đã bị Mao Trạch Đông đích thân “sờ gáy”, bị coi là cánh hữu. Sau nhiều năm, sự thất bại của đập lớn Tam Môn Hiệp đã chứng minh chủ trương của ông là chính xác. Liên quan đến công trình Tam Hiệp, giáo sư Hoàng đã từng viết ba lá thư, trần thuật lý do “công trình Tam Hiệp vĩnh viễn không thể xây”. Ông chỉ muốn xin người lãnh đạo Trung Cộng cho ông ta thời gian 30 phút, để nói rõ cho họ vấn đề của công trình Tam Hiệp, thuyết phục họ cải biến quyết sách này. Tuy nhiên, ngay cả đến thời gian 30 phút mà ông ta cũng không có được.

“Điều nước từ Nam lên Bắc” là kế tục sau “công trình Tam Hiệp”, đây được đánh giá là một công trình cấp thế giới, mục tiêu chủ yếu là sẽ lấy nước Trường Giang phân thành các tuyến Đông, Trung, Tây mà điều sang các địa khu thiếu nước nghiêm trọng ở Hoa Bắc và Tây Bắc. Công trình Đông tuyến, Trung tuyến đã khởi công từ cuối năm 2002; công trình Tây tuyến kế hoạch đến năm 2010 khởi công. Ban đầu, “công trình Tam Hiệp” vẫn còn như cuộc chinh phạt có đại biểu toàn quốc bỏ phiếu nặc danh, mà hiện tại người ta ngay cả vùng quá độ kia cũng đều là việc phải né tránh, những người thiết kế công trình Tây tuyến lấy nước ở Nam điều lên Bắc cũng còn nói rằng, Trung ương tuyên bố khởi công Đông tuyến, Trung tuyến, thì ngụ ý là Tây tuyến cũng khởi công rồi. Từ đầu tháng 07 năm 2001 thẩm tra về “cương yếu công trình Tây tuyến” của uỷ ban chuyên gia thuỷ lợi đã được thông qua, đến tháng 03 năm 2005 mới cho các nhà khoa học tự nhiên, chuyên gia kỹ thuật công trình, nhà kinh tế, nhà khoa học nhân văn đến công tác sinh hoạt dài hạn và khu điều nước mới thấy được “bộ mặt thật của Lư Sơn” kia, khiến cho những chuyên gia ở tuyến đầu này mười phần lo lắng. Công trình Tây tuyến nếu ở đầu nguồn mà lấy nước Trường Giang dẫn đến Hoàng Hà, mà Hoàng Hà lại cao hơn Trường gian 200m, so với công trình Tam Hiệp không biết là còn khó hơn gấp bao nhiêu lần, rủi ro cũng không biết là nhiều hơn gấp bao nhiêu lần. Có chuyên gia cảm thán “công trình Tây tuyến khiến người ta lo lắng, chẳng biết là cứu Hoàng Hà hay là giết Trường Giang, thậm chí cứu không nổi Hoàng Hà mà còn giết chết Trường Giang?” Kêu gọi Trung Cộng “cáo biệt huyễn tưởng cải tạo, chinh phục tự nhiên”. Nhưng mà, lời của bọn họ khi đến chỗ Trung Cộng lấy quyết sách chính trị làm trung tâm kia, liệu có thể truyền được bao xa đây? Tổng công trình sư cực lực ủng hộ thiết kế công trình Tây tuyến được thi công công trình trả lời với chất vấn ở ngoại giới rằng “tuỳ theo việc thúc đẩy dự án, hết thảy đều sẽ dần dần sáng tỏ”. Những người từng bị “đấu Trời đấu Đất” của Trung Cộng tẩy não, trên sông của mẹ dân tộc Trung Hoa bị động thổ, thái độ cố nhiên cũng là “dò đá mà qua sông”.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên [Chú thích ảnh: Thiên nhân hợp nhất – Nhân pháp Địa, Địa pháp Thiên, Thiên pháp Đạo, Đạo pháp Tự nhiên (Lão Tử) – Đại học chi đạo, tại minh minh đức – Nhân nghĩa lễ trí tín (Khổng Tử)]

3) Thói đời xuống dốc không nói chuyện đạo đức

Đạo đức nghề nghiệp của nhân viên công vụ cho đến các ngành nghề khác cũng đi xuống hàng ngày. Khám bác sĩ phải đưa phong bì, con cái nhập học phải giao phong bì, đi kiện cáo phải đưa phong bì, ký giả viết bài cũng nhận phong bì… Tiền bạc đã làm ô nhiễm hết thảy đạo đức nghề nghiệp cố hữu: mô thức vận hành của xã hội chính thường đã bị phá hoại; đạo đức nghề nghiệp của các ngành nghề cũ trở nên bại hoại; đạo đức nghề nghiệp của những ngành nghề mới căn bản không có môi trường phát triển lành mạnh, vừa ra đời đã bị ô uế bao vây rồi.

Ngay cả nói trình độ làm hàng giả, từ thuốc lá giả, rượu giả, dăm-bông giả, cho đến gạo độc, dầu ăn độc, sữa bột độc, cái gì cũng có. Năm 2003, ở Phụ Dương tỉnh An Huy đã phát sinh sự kiện “sữa bột độc” hại chết trẻ sơ sinh. Những trẻ sơ sinh dùng loại sữa bột này trong thời gian dài, đầu to thân nhỏ, thân thể suy nhược, phản ứng chậm chạp, lại kèm theo lở loét da với diện tích lớn, nội tạng trở nên sưng phù. Chỉ ở thành phố Phụ Dương, trẻ sơ sinh mắc hội chứng suy dinh dưỡng đã có 171 em, tử vong do biến chứng có 13 em. Rất nhiều gia đình nông dân [có con em] mắc phải “bệnh đầu to”, vì để chữa bệnh cho con cái, dường như đã tiêu hết toàn bộ tiền tích luỹ, có gia đình thậm chí bán cả gia sản. Không ít gia đình do không có năng lực kinh tế, buộc phải từ bỏ điều trị, giương mắt nhìn con mình chết. Năm 2006, Sở lương thực thành phố Bắc Kinh đưa những 2.300 tấn gạo cũ độc hại lưu hành trên thị trường, ở trong bao hàm lượng lớn chất gây ung thư, bao gồm chất hoá học gây ung thư là aflatoxin mạnh nhất mà hiện nay phát hiện. Sau đó thương gia vì lợi ích mà bất kể sống chết của người dân, gạo độc công nhiên tiến nhập vào thị trường lan ra toàn quốc, Hồ Nam, Hồ Bắc, Thượng Hải, Bắc Kinh, Quảng Đông, Liêu Ninh, Tứ Xuyên, Hồ Nam đều xuất hiện nhiều tấn gạo độc. Thậm chí tệ hơn, họ còn lấy gạo độc hại trộn với gạo tốt, khiến người dân không cách nào phân biệt được.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên [Chú thích ảnh: Bão cát, mưa axit, nước ô nhiễm, gạo độc, miến độc, dầu độc, sữa bột độc, rượu độc]

Quá khứ có câu kẻ cướp còn có đạo, trộn giả lừa tiền, cũng chỉ là lừa lấy tiền, thiếu đức thế nào đi nữa cũng không thể hạ độc. Mà người ta hiện nay, trừ thiểu số những người trong tâm vẫn còn tôn trọng truyền thống ước thúc đạo đức ra, đa số người là cảm thấy đạo đức, lương tâm có thể đáng giá bao nhiêu tiền? Vô Thần luận, duy vật luận của Trung Cộng, không nói chuyện thiên lý, không nói chuyện đạo đức, giáo dục ra chính là loại người chỉ vì tiền, vì lợi ích cá nhân, chuyện xấu gì cũng đều làm ra được.

Ngày 16 tháng 04 năm 2001, Chu Dung Cơ khi thị sát Học viện Kế toán Quốc gia Thượng Hải, đã viết một lời giáo huấn là: “Không làm tài khoản giả”. Tình cờ sau đó, trong báo cáo “Báo đô thị Tam Tương” ngày 24 tháng 03 năm 2003, có một số sở giáo dục nơi đó xuất bản “Tám điều nghiêm cấm” về “ba cái loạn” trong quản lý giáo dục, trong đó “nghiêm cấm quấy rối tình dục nữ sinh” là một trong số điều được xếp vào loại thực sự đáng chú ý. Không biết cách giáo huấn và quy định như thế này, là khiến nhân dân yên tâm hay là càng lo lắng hơn.

Khi một xã hội đã xác lập quy tắc của trò chơi, chế độ dân chủ xã hội, thể hệ pháp luật, giám sát của truyền thông và tự do ngôn luận cùng tín ngưỡng tôn giáo đã được kiến lập khá hoàn thiện, đạo đức của dân chúng duy trì ở trình độ nhất định, tâm thái quốc dân khá bình ổn, thì nếu có những thứ loạn bát nháo nữa, nó cũng sẽ ở trong quy tắc; đạo đức và pháp luật về mặt nguyên tắc là có sự ước thúc. Mà [đáng nói là] Trung Quốc khi quy tắc chưa được xác lập, thì đã học những thứ loạn bát nháo kia rồi, hơn nữa chỉ có quá chứ không kém, không có bất cứ ước thúc của cơ sở tôn giáo của chế độ đạo đức nào, hậu quả ra sao chỉ nghĩ thôi cũng biết.

4) Tình dục tràn lan gây ra nguy cơ xã hội

Trung Quốc ngày nay, là một thời đại “chê cười kẻ nghèo hèn, không chê cười phường ca kỹ”. Cải cách chính trị của Trung Cộng là cấm địa, ngược lại, “sinh hoạt tình dục” lại trở thành cái được giải phóng triệt để nhất. Quan hệ ngoài hôn nhân, bao bà hai, tình một đêm, trò chơi đổi vợ của giai tầng “cổ trắng” [6], sống thử trước hôn nhân, kết hôn trên mạng, kết hôn chớp nhoáng, kết hôn kín, cửa hàng người lớn, bán dâm, massage kích thích tình dục, biểu diễn tình dục, múa thoát y, biểu diễn có tính kích thích tình dục trên tiết mục truyền hình điện ảnh, mỹ nữ gợi cảm lẳng lơ ngập tràn trên truyền thông báo chí v.v.., nói đến xã hội Trung Quốc đổi màu chính trị, được gọi là đang phát sinh một cuộc “cách mạng tình dục” chưa từng có. Dữ liệu của bộ công an cho thấy, năm 1984 số lượng gái mại dâm bắt giữ là 6.000, đến năm 1999 lên đến con số 450.000, số người bị điều tra trực tiếp tăng lên, nhưng tỉ lệ bắt giữ là 1% hay là 10%, không có ai biết, nhưng tuyệt đối không vượt quá 10%. Trong “làn sóng vàng [tình dục]” bao quát toàn dân này, không chỉ là một thế hệ người trẻ có ý thức đi trước, mà ngay cả người trung lão niên cũng không ngoại lệ, dường như là muốn lấy lại quãng thời gian bị “lãng phí” trước kia. Câu danh ngôn trên bộ phim “Điện thoại di động” và của Nguyên Phó tỉnh trưởng tỉnh An Huy – Vương Hoài Trung “điều tra gái mại dâm là phá hoại môi trường đầu tư”, chính là hiện tượng khúc xạ của kiểu xã hội này. Nhớ trước kia “toàn quốc trên dưới một mảnh đỏ”, mà thấy thời nay “toàn quốc trên dưới một mảnh vàng [chỉ tình dục]”.

Bao bà hai, nuôi bồ nhí, hối lộ tình dục, đã trở thành một loại “lưu hành thời thượng” mà quan chức truy cầu, không chỉ không thấy thấy xấu hổ, ngược lại còn thấy vinh dự. Dữ liệu điều tra cho thấy, trong các tham quan ô lại bị điều tra, có 95% có bồ nhí. Vào năm 1999 ở Quảng Châu, Thâm Quyến, Châu Hải công bố trong số 102 vụ án quan tham ô hối lộ, có 100% có bao nuôi “bà hai”. Nhưng đây vẫn chỉ là phần nổi của tảng băng. Một cá nhân Trương Nhị Giang – Bí thư thành uỷ Thiên Môn đã có tới 107 bồ nhí.

Từ quan lại đến dân chúng, từ nhân vật quyền thế đến người dân phổ thông, đã không còn ước thúc về đạo đức, chỉ cần có điều kiện, thì đều nghĩ đến làm sao thỏa mãn vấn đề tình dục. Thượng cấp đối với hạ cấp, ông chủ đối với nhân viên, giáo viên đối với học sinh, đạo diễn đối với diễn viên, kẻ mạnh đối với kẻ yếu, xâm phạm về tình dục có thể thấy ở khắp nơi, Thiên lý, nhân luân đều có thể không màng.

Ngay trường học vốn là nơi dạy dỗ con người cũng xuất hiện lặp đi lặp lại thầy giáo cầm thú. Có học sinh bị cưỡng gian có thai, có học sinh bị cưỡng gian lại bị trở thành bà hai, có thầy giáo cưỡng gian không thành liền giết hại học sinh, có người thậm chí còn hạ thủ với bé gái còn hết sức nhỏ tuổi. Truyền thông trong nước năm 2003 báo cáo, ở huyện Đại Túc tỉnh Trùng Khánh có một thầy giáo tiểu học, từ năm 2002 đến năm 2003, trước sau đã thực hiện cưỡng gian và quấy rối tình dục 10 em nữ học sinh vị thành niên do chính mình dạy. Ở huyện Long Tây tỉnh Cam Túc có một thầy giáo dạy thể dục lấy cớ giúp học sinh đi từ cửa sau vào trong trường, đã cưỡng gian 12 em nữ sinh trung học, trong đó có hai em học sinh có thai sau khi bị cưỡng gian. Ở xã Hà Khẩu huyện Cẩm Bình tỉnh Quý Châu một thầy giáo 51 tuổi của trường tiểu học Trung Ngưỡng trong thời gian 1 năm rưỡi đã cưỡng gian 12 em nữ học sinh 42 lần, quấy rối tình dục 16 em nữ học sinh 35 lần, chỉ có 3 em là thoát khỏi nanh vuốt của ông ta. Tháng 06 năm 2004, một thầy giáo ở trường tiểu học ở huyện Lâm Hạ trong thời gian một năm rưỡi trước sau đã cưỡng gian và quấy rối tình dục nhiều lần 9 em học sinh cùng học lớp 3, trong đó em bị số lần nhiều nhất là những 10 lần, mà những đứa trẻ này em lớn nhất chưa đầy 15 tuổi, những em khác đều là từ 9 đến 10 tuổi. Ở một trường tiểu học ở thị trấn Nam Hưng thành phố Lôi Châu thuộc thành phố Trạm Giang, hiệu trưởng Lâm Đăng Bình trong vòng 3 tháng đã gây tội ác 7 lần, tổng cộng cưỡng gian 11 em, đều là bé gái vị thành niên ở trong trường, em bị hại nhỏ nhất mới chỉ 10 tuổi… Làm ác đến mức điên cuồng táng tận lương tâm, kinh hoàng như vậy, ngày nay đã không còn là chuyện hiếm thấy.

Người Trung Quốc về vấn đề tình dục từ thời cổ đều nhìn nhận nghiêm túc, coi việc giữ gìn tiết hạnh rất nặng. Chỉ có sau khi kết hôn thì mới có thể ở cùng nhau. Lúc kết hôn phải bái cha mẹ, bái Thiên địa, có Thiên địa Thần minh chứng giám cho hôn nhân của mình. Ngược lại, nếu như có người bị buộc tội tư thông, dâm loạn, thì ấy là một tội lớn. Cưỡng gian lại càng như giết người phóng hoả, tội không thể tha thứ. “Vạn ác dâm vi thủ”, nhưng người Trung Quốc ngày nay, dường như đã hoàn toàn quên mất lời dạy của người xưa. Cục diện như thế này, không thể không nói đến sự liên quan mật thiết với việc Trung Cộng phá hoại giá trị đạo đức truyền thống, tuyên truyền vô Thần luận, duy vật luận. Trong Văn hoá đảng của Trung Cộng, quyền lực chính là thuyết minh lớn nhất cho đạo đức. Chỉ cần có quyền, chỉ cần có điều kiện, thì có thể tuỳ ý làm bừa. Từ cái “cộng sản cộng thê” trong những năm đầu của Đảng Cộng sản, cho đến sự dâm loạn của Mao Trạch Đông, rồi đến sự hủ bại truỵ lạc của quan chức Trung Cộng hiện tại, từ quan lại đến thường dân, hết thảy giá trị truyền thống đều bị đảo lộn rồi, hết thảy quan niệm nhân luân gia đình đã bị vứt bỏ rồi. Nhưng lịch sử hết lần này lần khác bảo với chúng ta rằng, loạn tình dục thông thường là dấu hiệu cho thấy sự huỷ diệt của dân tộc. Phát triển tiếp nữa, chúng ta rốt cuộc kỳ vọng vào tương lai như thế nào?

5) Công nghiệp hoá tình dục, cờ bạc, ma tuý – Quan chức trở thành ô dù bảo hộ

Công nghiệp mại dâm của Trung Quốc vẫn luôn phi pháp, ngành công nghiệp tình dục ắt phải kết hợp với quân đội cảnh sát mới có thể sinh tồn và phát triển. Có một số công nghiệp tình dục căn bản chính là hợp tác với quân đội cảnh sát mà làm, có người cũng không che giấu điểm này, bởi vì đây là cung cấp sự bảo đảm an toàn, ví như nơi chiêu đãi của quân đội hoặc công an thay vì làm khách vãng lai. Lợi ích kinh tế liên quan đến ngành phục vụ tình dục càng ngày càng khổng lồ, ngay như nhân viên chuyên nghiệp ước chừng có 10 triệu người, chi phí liên quan đến mỗi năm ước chừng 1.000 tỷ nhân dân tệ. Nhờ hành động của cảnh sát năm 2000, nhà kinh tế học Trung Quốc Dương Phàm đã ước tính, chi phí của các công nhân nữ thất nghiệp giảm xuống thấp, GDP của Trung Quốc vì vậy mà giảm thiểu 1%. Nghiên cứu viên bán thời gian của Sở nghiên cứu Sự nghiệp công ích Trung Quốc thuộc Đại học Bắc Kinh, trong phần “đánh giá tính toán” tại hội nghiên cứu Vương Tăng Tiên đã nói, mỗi năm sẽ có gần 600 tỷ Nhân dân tệ tiền đánh bạc đổ vào những nơi như Hồng Kông – Macao, thị trường ma tuý lên đến 300 tỷ Nhân dân tệ, người hút ma tuý vượt quá 10 triệu người. Đội trưởng chi đội chống ma tuý Thẩm Dương là Trần Hâm, Nguyên Cục trưởng Phân cục Thẩm Hà là Khúc Nguyệt Phúc và Cục trưởng đương nhiệm Trương Bảo Hoa cùng 100 nhân viên cảnh sát khác làm bảo kê cho những kẻ buôn ma tuý. Buôn ma tuý và cảnh sát câu kết, bán loại ma tuý “nhất điều long”. Ba thị trường lớn tình dục, đánh bạc, ma tuý gần như quan hệ tương hỗ mà cùng nhau phát triển, do là những người của ba nghề lớn này cần địa vị và bối cảnh đặc thù, bởi vậy, những nhân viên quan trọng trong quân đội cảnh sát đến chính phủ Trung Quốc đã trở thành kẻ hưởng lợi chủ yếu nhất của ba nghề lớn ấy. Bởi vì nếu không có chính phủ cho đến quân đội cảnh sát làm bối cảnh thì ba nghề lớn này ở Trung Quốc rất khó làm. Quan chức tham gia vào tình dục, đánh bạc, ma tuý, trên thế nào dưới như thế, khiến cho người Trung Quốc đã coi hút ma tuý, buôn ma tuý, đánh bạc, mại dâm kỹ nữ như chuyện thường, thậm chí đích thân tham dự, không cảm thấy bản thân đang làm chuyện xấu.

Khi cảm thụ cuộc sống hiện đại do kinh tế phát triển mang đến, người ta thấy đau lòng nhất chính là sau khi đạo đức xã hội trượt dốc đem đến một loạt các vấn đề xã hội. Có người hình dung “đức dục, trí dục, thể dục” trong sách giáo khoa trước kia mà Đảng Cộng sản đã tuyên truyền, ngày nay đã sớm biến thành “tham quyền, tham tiền, tham tình” khởi lên toàn diện trong thực tiễn xã hội rồi, được mệnh danh là “tiến sĩ ba chơi (chơi quyền, chơi tiền, chơi phụ nữ)”. Hàng giả thịnh hành, sắc tình tràn lan, xã hội đen hoạt động ngầm, quan lại thương nhân câu kết, cảnh sát và cướp cùng một hội, mà khó khăn của người dân thì không có ai quan tâm, xã hội công chính càng không được phát triển. Trong xã hội như thế này, không có đạo đức ước thúc ở bên trong, không có dư luận ước thúc từ bên ngoài, không có pháp luật ước thúc từ bên ngoài, mỗi cá nhân đều là kẻ bị hại.

3. Không sợ Trời không sợ Đất, mở miệng là nói dối, miệng đầy lời dơ bẩn, hành vi thấp hèn

Trung Quốc vốn nổi tiếng thế giới là “lễ nghi chi bang” (mảnh đất lễ nghi). Kính trời tin vào Thần, tin vào thiện ác hữu báo là truyền thống mấy nghìn năm của người Trung Quốc, cho dù cả những người không có tin ngưỡng minh xác, cũng tin vào sự tồn tại của “ông Trời”. Theo truyền thống thì người Trung Quốc tuân theo lời dạy của Thần Phật, Thánh hiền mà nỗ lực hoàn thiện nhân cách của mình. Thái độ của người ta đối với Thiên, Địa, Nhân là cung kính, khiêm tốn, cả xã hội thông qua lễ nghi mà quy phạm.

Nhưng điều mà Đảng Cộng sản cổ xúy là “không sợ Trời không sợ Đất”. Chỉ có cải tạo con người thành không sợ gì cả, Trung Cộng lợi dụng để đoạt quyền, làm vận động mới thuận tiện. Nếu như người với người có cái lễ, đối với vật có quý tiếc, đối với trời đất Thần linh có sự kính sợ, người như vậy sẽ không coi việc “nghe lời của đảng” là vị trí số một. Cho nên trong quá trình thành lập Văn hóa đảng, thuyết vô thần mà Trung Cộng nhồi nhét có thể khiến người Trung Quốc rời xa sự kính nể của tổ tiên Hoa Hạ đối với trời đất Thần linh và sự quan ngại đến kết cục của sinh mệnh; tư tưởng đấu tranh của nó lại khiến người Trung Quốc cũng không tin vào lời dạy xưa rằng “Bích lập thiên nhẫn, vô dục tắc cương, hải nạp bách xuyên, hữu dung nãi đại” (Vách núi nghìn trượng sừng sững, không mang dục vọng thì có thể giữ mình cương trực. Biển lớn dung nạp trăm nghìn dòng sông, tấm lòng bao dung mới có thể trở nên vĩ đại), cũng không tin vào lời dạy “Kỷ sở bất dư, vật thi vu nhân” (Điều ta không muốn, chớ làm cho người); chủ nghĩa duy vật của nó lại khiến người Trung Quốc triệt để vứt bỏ sự siêu việt về tâm linh, cái “Đạo” để thăng hoa về nhân cách mà tổ tiên vẫn luôn tìm kiếm bấy lâu nay, coi sự “từ bi” đến từ phương Đông và “bác ái” đến từ phương Tây thành “thuốc phiện tinh thần làm mê muội nhân dân” và “tấm màn che sự giả tạo”. Trong ngôn ngữ của người ta đầy những sự hùng hổ hăm dọa “người nếu phạm ta, ta ắt phạm người”, đầy những sự cuồng ngạo “đấu Trời đấu Đất”, cử chỉ thô tục, miệng đầy lời dối trá và dơ bẩn, lại không cho là nhục, mà lại tưởng là vinh quang.

1) Mở miệng liền nói dối

Trên thế giới nói chung, quốc gia nào cũng đều có người nói dối, thế nhưng, về cơ chế của cả xã hội của rất nhiều quốc gia là dựa vào thành tín làm cơ sở, cho rằng tín dụng là vốn liếng xã hội mà một người có thể đặt chỗ đứng lâu dài. Mà dưới sự thống trị của Trung Cộng, nói dối trở thành “cái gốc lập quốc” của xã hội Trung Cộng, toàn xã hội dựa vào nói dối để chống đỡ, nói dối trở thành kỹ năng cơ bản để sinh tồn trong xã hội của người ta.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Lịch sử của Trung Cộng chính là một bộ sử dối trá, nói dối là trụ cột để duy trì sự thống trị của Đảng Cộng sản. Bất kể là công khai, hay là lén lút, bất kể là đối nội, hay là đối ngoại, bất kể là chuyện lớn, hay là chuyện nhỏ, khắp nơi đều đầy rẫy lời nói dối. Trong sự đấu tranh chính trị, từ trong những tấm gương của Trung Cộng, người ta cũng đã học cách nói dối. Vì để phù hợp với yêu cầu của đảng, tránh khỏi việc bị trở thành đối tượng đả kích khi vận động [chính trị], người ta phải hùa theo đảng nói dối, theo đó hô hào “vượt qua Anh đuổi kịp Mỹ”, “một mẫu cho sản lượng vạn cân”, “một hình thế tốt đẹp”. Ở Trung Quốc Đại lục có lưu truyền một bài thơ mua dầu như thế này: “Thôn lừa xã, xã lừa huyện, hạ cấp lừa thượng cấp, tỉnh trưởng lừa trung ương, từng cấp từng cấp lừa lên trên, lừa mãi lừa đến Quốc vụ viện.” Liên tiếp nói tới nói lui, người ta cảm thấy quen đến mức thành tự nhiên, như thể nói dối chính là việc hợp với lẽ trời, toàn thế giới và xã hội chính là vận hành như thế.

Bộ phim “Điện thoại di động” đã phản ánh một phía của hiện tượng xã hội cứ mở miệng là nói dối: Bởi vì đã có tình nhân, cho nên phải dày công biên tạo lời nói dối để lừa người khác, gia đình đã trở thành chiến trường lừa gạt và bóc mẽ. Không chỉ như thế, nó cũng đã diễn xuất ra rất nhiều lời nói dối kinh điển đã trở thành quen dùng trong sinh hoạt. Toàn xã hội tồn tại chứng sợ hãi điện thoại di động, không phải là sợ điện thoại, mà là bởi vì điện thoại di động dễ dàng [bị] vạch trần lời nói dối. Đạo diễn của bộ phim có câu: “Có rất nhiều lúc nói dối chống đỡ cho cuộc sống của chúng ta.”

Trong quan niệm truyền thống, Đạo gia giảng làm người “Chân”, Phật gia giảng người xuất gia không được nói lời dối, Nho gia giảng Tín, đều cho rằng nói dối là không đúng. Khổng Tử coi “Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín” là Ngũ thường. Trong đó thành tín giữa người với người, là một trong những mỹ đức quan trọng nhất của con người. Cho nên Khổng Tử cũng nói: “Người mà không có Tín, chẳng làm chi nên việc”, có nghĩa là nếu như con người không có tín nhiệm, thì chẳng biết được họ còn có thể làm được gì.

Đạo lý cai trị quốc gia lại thường không phải như thế này. Học trò của Khổng Tử là Tử Cống từng hỏi thầy về biện pháp trị quốc. Khổng Tử nói: “Một là khiến người dân đủ ăn đủ mặc; hai là quốc gia sở hữu quân đội lớn mạnh; ba là đạt được sự tín nhiệm giữa quan và dân.” Tử Cống hỏi: “Nếu như bất đắc dĩ phải bỏ đi một điều, thì nên bỏ đi điều gì trước?” Khổng Tử nói: “Bỏ đi quân đội.” Tử Cống lại hỏi: “Nếu như bỏ đi một điều nữa thì thế nào?” Khổng Tử đáp: “Bỏ đi ăn mặc, thà không đủ ăn, cũng phải giữ vững tín nhiệm. Nếu như không đạt được sự tín nhiệm giữa quan và dân, quốc gia sớm muộn cũng sẽ diệt vong.”

Bởi vì thuyết duy vật nhấn mạnh vật chất là đệ nhất tính, nên người ta suy xét vấn đề đều là xuất phát từ lợi ích vật chất. Sau khi quan niệm truyền thống bị phê phán phủ định, người Trung Quốc không có bất kể sự cố kỵ nào đối với nói dối và ước thúc nào đến từ đạo đức. Cả thể hệ Văn hóa đảng lại kích động nói dối, người ta nói dối chẳng có bất kể cảm giác tội lỗi gì. Nói dối đã biến thành một loại hành vi bản năng mà không có bất kể lý do gì. Chỉ cần có lợi với mình thì bất chấp tất cả, không sợ trời không sợ đất, vì vậy việc dùng nói dối để đạt được lợi ích của bản thân đã trở thành hiện tượng phổ biến, không chỉ mở miệng là nói dối, hơn nữa trong khi nói dối đã tính đến tiếp theo sẽ nói thế nào làm thế nào để không có sơ hở.

Còn có người coi hiện tượng xã hội nói dối không coi trọng thành tín, quy kết thành bản tính của thị trường đặc điểm riêng của “giai cấp tư sản” phương Tây, chỉ biết có lợi. Song kinh tế thị trường ở các nước phát triển phương Tây đã có lịch sử mấy trăm năm rồi, mà những nước này cũng không hề bởi vì thực hành kinh tế thị trường mà trở thành xã hội dối trá. Hoàn toàn ngược lại, các nước phương Tây hết sức chú trọng thành tín, thành tín là phẩm chất cá nhân không thể thiếu và sự giàu có của nhân tính quan trọng nhất. Ở phương Tây, thành tín đã trở thành chuẩn tắc cơ bản nhất trong giao lưu kinh tế, cũng là mục tiêu theo đuổi của công ty. Khi phát sinh xung đột giữa lợi ích và tín nghĩa, người ta sẽ lựa chọn tín nghĩa, bởi vì chỉ có tín nghĩa mới có thể mang lại lợi ích được kéo dài, nhất thời lừa gạt sẽ thu được lợi ích ngắn hạn, nhưng cuối cùng sẽ trở thành trở ngại cho sự phát triển của công ty. Không coi trọng thành tín, ở các nước phương Tây, qua thời gian sẽ khó mà cất bước.

Văn hóa đảng khiến con người nói dối còn biểu hiện ở trong hai hệ thống thoại ngữ, chính là một bộ ở trên đài, một bộ ở dưới đài. “Thi hành lấy đức trị quốc, … thâm nhập triển khai đấu tranh phản hủ bại.” (Trích lời Bí thư tỉnh ủy Quý Châu Lưu Phương Nhân, nhận hối lộ 660 vạn đồng, tù chung thân), “Tâm nguyện lớn nhất của tôi là trong vòng 5 năm tới giải quyết được vấn đề bần cùng của 160 vạn nhân khẩu mà chưa giải quyết được.” (Trích lời Tỉnh trưởng tỉnh Vân Nam Lý Gia Đình, nhận hối lộ 1800 vạn đồng, tử hình hoãn thi hành), “Mong muốn Quảng Tây còn có 700 vạn người chưa thoát nghèo, tôi làm chủ tịch đây cũng cảm thấy ngủ không ngon.” (Trích lời Phó ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc Thành Khắc Kiệt, nhận hối lộ 2000 vạn đồng, tử hình), “Công tác chống hủ bại đề xướng liêm khiết một khắc cũng không thể buông lỏng, luôn luôn giữ đầu não thanh tỉnh, cờ xí tươi đẹp, thái độ kiên quyết.” (Trích lời Bí thư thị ủy Thượng Hải, Ủy viên Bộ chính trị Trần Lương Vũ, liên quan đến Quỹ bảo trợ xã hội 1 tỷ NTD, bị cách chức điều tra)… Cũng vậy, dân chúng phổ thông cũng tồn tại hai bộ mặt, hai hệ thống thoại ngữ. Khi biểu đạt thái độ chính trị, viết báo cáo học tập chính trị thì sử dụng một bộ ngôn ngữ chính trị lạnh nhạt, còn trong cuộc sống thì sử dụng một bộ ngôn ngữ khá nhân tính hóa.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Người người mở miệng là nói dối, vừa là vì để thích ứng với hoàn cảnh chính trị của Trung Cộng, đồng thời, cũng đã biến thành tập quán tư duy của người ta, nói dối đã tạo thành nguy cơ về thành tín của xã hội, người dân cuối cùng không thể không nuốt quả đắng sa đọa về đạo đức  xã hội. Một xã hội hủ bại toàn diện, giả dối toàn diện, bản thân người ta đều nói “Pháp bất trách chúng” (luật pháp không phạt đám đông), ai cũng không biết nên thu thập mớ bòng bong mà Trung Cộng tạo ra này như thế nào.

2) Văn hóa đảng dạy người ta học lời nói dơ bẩn lưu manh

Trừ việc nói dối ra, miệng đầy lời nói dơ bẩn cũng là một nét đặc sắc trong Văn hóa đảng. Quan niệm truyền thống đo lường tốt xấu thì xét ở phẩm chất đạo đức, mà chủ nghĩa duy vật lịch sử của Trung Cộng là dưới tiêu chuẩn “cách mạng” và “giai cấp” để phân người tốt và người xấu, lấy truyền thống lễ nghi của Trung Hoa một cước đạp xuống đất.

Công xã Paris là chính quyền chuyên chính của giai cấp vô sản đầu tiên trong lịch sử thế giới, có thể nói là tổ tông của Đảng Cộng sản. Những người xã viên công xã Paris tự xưng là vô sản lưu manh theo lịch sử ghi lại là lưu manh chính cống, năm đó những người chưa được giáo dục này, những kẻ du côn lưu manh của xã hội dựa vào bắt gà trộm chó sống qua ngày đã lấy danh nghĩa chủ nghĩa cộng sản để cướp sạch thành phố Paris. Lấy cảm hứng từ khởi nghĩa lưu manh công xã Paris và được bồi dưỡng của cộng sản Liên Xô, Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng là dựa vào những kẻ vô sản lưu manh mà lập nghiệp. Trung Cộng cho rằng “lưu manh cặn bã là tầng lớp vứt đi của xã hội, nhưng trong cách mạng nông thôn, thì họ là dũng cảm nhất, triệt để nhất, kiên quyết nhất”. Trong “Phân tích các giai cấp xã hội Trung Quốc” Mao Trạch Đông cũng không dè dặt về tác dụng cách mạng của du côn vô lại mà còn lớn tiếng kêu lên vô lại [làm] vận động “rất là tốt”. Trong “Bài giảng các vấn đề liên quan đến triết học” ngày 18 tháng 08 năm 1964, Mao còn nói: “Nào là Đại học Bắc Kinh, Đại học Nhân dân! Hay là cái đại học nào đi nữa, ta chính là đại học Lục Lâm [7], ở đó mà học được một chút.”


Tháng 10 năm 1927, Bành Phái lãnh đạo những kẻ vô sản lưu manh ở huyện Hải Phong tỉnh Quảng Đông làm bạo loạn vũ trang, thành lập chính quyền Xô-viết nông thôn đầu tiên (Ảnh: Đại Kỷ Nguyên)

Trung Quốc cổ đại cũng có ví dụ về lưu manh đắc được thiên hạ, thời trẻ Lưu Bang ở huyện Bái làm đình trưởng, nổi danh nhờ có tiếng háo sắc ham rượu. Nhưng sau khi ông ta đoạt được chính quyền, cũng hiểu được đạo lý rằng được thiên hạ trên lưng ngựa, nhưng không thể trị thiên hạ trên lưng ngựa được. Ông ta ra lệnh chú cháu nhà nho thông tri cho môn đồ của ông ta lại một chỗ, chế ra triều nghi (nghi lễ triều đình), dùng tư tưởng Đạo gia, dựa vào đạo đức nhân nghĩa, thanh tĩnh vô vi để lệnh cho thiên hạ tu dưỡng sinh sống. Lưu manh thời cổ cũng biết được duy trì chính quyền phải dùng văn hóa chính thống chứ không thể dùng thủ đoạn lưu manh.

Nhưng sau khi Trung Cộng nắm quyền, lại tiếp tục dựa vào thủ đoạn lưu manh để thống trị quốc gia. Trong thể hệ Văn hóa đảng, khắp nơi đầy những giọng điệu cường đạo ác bá lưu manh, đọc sách biết đạo lý thì là “phong tư tu (trang sức của phong kiến)”, phần tử tri thức là “xú lão cửu” [8], thô bỉ hạ lưu trở thành [nhóm người] mang “tinh thần cách mạng” nhất. Công nhân tay đầy chai sạm là tâm ‘hồng’ nhất [cách mạng nhất], nông dân trên chân dính phân bò là thơm nhất. “Mặc dù tay của bọn họ là đen, dưới chân có phân bò, nhưng so với phần tử tri thức giai cấp tiểu tư sản thì vẫn còn sạch sẽ chán.” Nếu anh cảm thấy phân bò thối, vậy thì cho thấy rằng cảm tình giai cấp của anh có vấn đề, cho nên dường như tất cả phần tử tri thức đều ắt phải nói rằng phân bò là thơm, càng ngửi càng thơm. Trải qua mấy chục năm tuyên dương ca tụng của văn hóa thô bỉ lưu manh của Trung Cộng, qua tích lũy dần dần khi sinh hoạt hàng ngày đã cải tạo tập tính sinh hoạt của người ta, khiến người ta biến thành miệng đầy lời dơ bẩn, hành vi thấp kém. Tại các diễn đàn trên Internet, đầy những lời dơ bẩn và những bài viết chửi rủa có thể nói là một nét đặc sắc của trang web tiếng Trung. Vốn có thể bình tâm tĩnh khí mà thảo luận, lại biến thành nơi mà người nào cũng dùng các loại ngôn ngữ ác hạ lưu để tiến hành chửi rủa và giở thói ngang ngược công kích cá nhân mãnh liệt.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Từ ngôn ngữ lưu manh của người lãnh đạo cao nhất, như là “tụt quần”, “cắt đuôi”, “đánh rắm” được viết vào sách giáo khoa, cho đến việc cổ vũ hành vi và ngôn ngữ lưu manh trong vận động toàn dân cách mạng văn hóa, và đến việc sau thập niên 80 coi tác phẩm điện ảnh ông chủ xí nghiệp lưu manh kiểu như “Bến Thượng Hải” như là tấm gương, lưu manh lại có thể công khai trở thành đại gia là đối tượng có thể bắt chước noi theo.

Trong xã hội hiện nay, tín ngưỡng thiếu vắng, lý tưởng bị phá mất, quyền lực, kim tiền trở thành mục tiêu theo đuổi và điều hưng phấn duy nhất. Người ta chịu ảnh hưởng của học thuyết tiến hóa, kẻ mạnh tranh giành ức hiếp người khác, cho rằng thành công phải cần đến “khí chất thổ phỉ”. Một người thường không có quyền lực đánh người một cách tùy tiện, chửi lời dơ bẩn thì có thể dẫn đến khiến kẻ yếu nể sợ, cho bản thân tác dụng lên gân: “Ta là lưu manh ta còn sợ gì ai?” Đúng là đằng sau những lời nói dơ bẩn tâm thái không sợ Trời không sợ Đất đã phác họa một cách chân thực.

3) Văn hóa đảng khiến cử chỉ hành vi của con người thấp kém

Nếu như bạn trực tiếp nói với một vị là người Trung Quốc đương đại, rằng hành vi của anh thấp kém, rất có khả năng họ 90% cảm thấy rằng bạn có vấn đề, rằng hành vi của mình hết sức bình thường, thấp kém ở chỗ nào?

Tháng 09 năm 2006, trên trang web chính thức Cục Du lịch quốc gia Trung Quốc đã công bố hành vi không văn minh của du khách Đại lục khi du lịch trong và ngoài nước khá phổ biến do công chúng phản ánh.

Những hành vi không văn minh thường thấy của công dân Trung Quốc khi ra nước ngoài bao gồm:

1, Tùy tiện vứt rác, vứt đồ, tùy nơi nhổ đờm, hỉ mũi, nhổ kẹo cao su, đi vệ sinh không xả nước, không chú ý vệ sinh để lại vết bẩn;

2, Không đếm xỉa đến biển cấm hút thuốc, muốn hút thì liền hút, gây ô nhiễm không gian công cộng, gây hại cho sức khỏe của người khác;

3, Khi tham gia phương tiện giao thông công cộng thì tranh cướp xô đẩy, khi mua sắm, tham quan thì chen lấn gây tắc, khi xếp hàng đợi thì vượt qua vạch kẻ;

4. Ở những nơi công cộng như xe, thuyền, máy bay, nhà ăn, khách sạn, điểm du lịch thì lớn tiếng nghe điện thoại, hô hoán bạn bè, sai quyền hành lệnh, tụ tập gây ồn ào;

5, Ở những nơi tôn giáo như giáo đường, chùa chiền thì vui đùa, cười đùa, không tôn trọng phong tục của cư dân địa phương;

6, Ở nơi đông người thì tháo tất cởi giày, cởi trần phanh ngực, xắn quần đến đầu gối trở lên, ngồi bắt chéo chân này lên chân kia, sau khi cơm no rượu say thì xỉa răng không che miệng, đi ra ngoài mặc áo ngủ hoặc đồ lót không chỉnh tề, khó coi.

7, Nói lời dơ bẩn liên thiên, cử chỉ thô lỗ hách dịch, khi gặp phải tranh chấp hay chuyện không vừa ý thì phát tiết, ngôn ngữ cay độc nói thẳng vào mặt, thiếu hụt tu dưỡng xã giao cơ bản;

8, Ở cửa hàng không giảm giá thì vẫn cứ mặc cả, ép buộc lôi kéo người nước ngoài chụp ảnh, chụp ảnh cùng;

9, Đi lại ở tụ điểm mại dâm, tham gia hoạt động đánh bạc;

10, Không tiêu thụ nhưng lại chiếm cứ khu vực tiêu thụ trong thời gian dài, khi ăn tiệc đứng thì lãng phí, khi rời khỏi quán ăn của khách sạn mà đi không tặng phẩm, sau khi hưởng thụ phục vụ thì không trả tiền tip, tham chiếm chỗ tiểu tiện.

Ở trong nước thường gặp những hành vi không văn minh, cùng với 10 điều gần như tương tự ở trên, nhưng có nhiều nội dung hơn chút. Ví như, viết vẽ bừa bãi lên văn vật của cảnh quan, thiết bị phục vụ, giẫm lên nơi cấm đi lại, trèo lên vặt hoa và cây cối; không nghe lời khuyên mà cho ăn, ném đánh động vật, gây nguy hại cho an toàn của động vật. Một người khách du lịch bình thường được coi là có chút tiền, địa vị xã hội và được giáo dục trình độ cũng khá cao, những người này còn như vậy, thì một người sinh sống trong xã hội Trung Quốc bình thường sẽ càng không thể nằm ngoại lệ những hành vi thấp kém này.

Người ở những nơi khác trên thế giới cũng như vậy chăng? Kỳ thực không hẳn. Câu nói “Làm ơn giữ yên lặng” ở nhà thờ Đức Bà Paris [viết bằng tiếng Trung] chỉ để viết cho người Trung Quốc đọc, những người Trung Quốc đi qua nhà thờ Đức Bà Paris đều sẽ thấy được bảng ghi bằng tiếng Trung câu này. Ở Paris, những chỗ có tiếng Trung ở nơi công cộng cũng không nhiều, mà các quốc gia khác bao gồm du khách nước Pháp lại không hề có kiểu “lịch sự” này. Trong toilet của Hoàng cung Thái Lan có bảng ghi tiếng Trung bắt mắt, “Làm ơn xả nước sau khi vệ sinh”. Thùng rác ở Trân Châu cảng ở Mỹ đều có biển bằng tiếng Trung, “Thùng rác tại đây”. Kiểu bảng thông báo chỉ viết bằng tiếng Trung giản thể này, cũng có ở những điểm đến chủ yếu của khách nước ngoài người Trung Quốc – Các nước như Pháp, Đức, Nhật Bản, Thái Lan, Singapore đều xuất hiện thường xuyên.

Người Trung Quốc trước kia có như vậy chăng? Trung Quốc được coi là “lễ nghi chi bang” đã có mấy nghìn năm lịch sử rồi. Trong Lục nghệ [9] truyền thống “Lễ Nhạc Xạ Ngự Thư Số” của Trung Quốc, chữ “Lễ” đứng đầu, đã đủ để nói lên rằng người Trung Quốc coi trọng truyền thống lễ nghi. Trong “Luận Ngữ” có một chuyện cổ, Khổng Tử cảnh cáo con trai Khổng Lý rằng: “Bất học lễ, vô dĩ lập.” Ý nghĩa là, nếu như không học lễ, thì không có cách nào để lập chỗ đứng. Trong cuốn “Tam tự kinh” từng được biết đến rộng rãi có chỉ ra, làm con cái, từ bé khi lớn lên, phải nên thành thục các loại lễ tiết trong các trường hợp khác nhau, học tập những việc lễ tiết nghĩa văn. Trong lịch sử trong một số “gia huấn”, “học quy” nổi tiếng, đều có một lượng lớn quy phạm lễ nghĩa liên quan đến các phương diện như ăn ở đi lại, đối nhân xử thế hàng ngày. Giao lưu giữa người và người, xưng hô đối phương thế nào, có hai bên thì đứng thế nào, đón tiếp thế nào, v.v.. đều có quy định về lễ. Ngay cả là ăn cơm, cũng nên thể hiện ra tu dưỡng của bản thân trong từng cử chỉ chân tay, gọi là ‘thực lễ’. Hành vi hợp với lễ, là có biểu hiện của tu dưỡng, ngược lại ắt không thể leo lên nơi thanh nhã. Có thể nói, khi đó chủ lưu của xã hội là yêu cầu văn minh, tu dưỡng, lễ nghi, hành vi thanh cao lễ độ, nếu như muốn được xã hội thừa nhận, thì phải tu thân dưỡng đức mà quy phạm hành vi của bản thân.

Vào thời Đường Tống trước kia, văn hóa Trung Hoa là đại từ ưu nhã, Trung Quốc là nước xuất khẩu lễ nghi. Lịch sử ghi chép thương nhân Trung Quốc đến Đông Nam Á, được coi là thượng nhân – người đến từ “lễ nghi chi bang”, thậm chí còn miễn phí ăn ở. Nhật Bản và Triều Tiên cũng một mực chịu ảnh hưởng sâu của văn hóa thời nhà Đường. Hàn Quốc và Nhật Bản hiện tại vẫn đang kế thừa một vài quy phạm lễ nghi đến từ Trung Quốc, người ta còn khá coi trọng việc sử dụng ngôn từ và cử chỉ nhã nhặn kính trọng.

Trong Văn hóa đảng của Trung Cộng còn có bộ phận [văn hóa] cá lớn nuốt cá bé theo thuyết tiến hóa, kích động người ta chèn ép lẫn nhau, không hề đề xướng bộ phận [văn hóa] tôn trọng lễ đối với cá nhân, tuyên dương thô bỉ, trong hành vi của cá nhân, không nghĩ đến người khác, tùy tùy tiện tiện, chuyện ta ta làm, làm sao cho thuận tiện mà làm.

Dân chúng Đại lục hiện nay đối với nhận thức về “giới tính”, càng là “hợp thời”, “hướng lên” đến độ “giới tính”, “gia đình”, “hôn nhân” đối đãi tách biệt, coi “giới tính” là một hoạt động giải trí của xã hội, rất nhiều người còn cho rằng là tiến bộ. Cái kiểu hành vi thấp kém này đã dẫn đến sự hỗn loạn về luân lý xã hội, đã phá hoại quan niệm gia đình của người Trung Quốc mấy nghìn năm qua. Có người cảm thấy người nước ngoài chẳng phải cũng rất cởi mở về giới tính sao? Thế nhưng, ở xã hội phương Tây có ước thúc của tôn giáo và đạo đức, pháp luật ở đó, sự tình sẽ không đi quá giới hạn, hiện tại ngay cả người phương Tây đến Đại lục, đều cảm khái rằng sự cởi mở về giới tính ở Đại lục sớm đã “sóng sau xô sóng trước” rồi.

Trong tâm lý học có một hiện tượng nổi tiếng, chính là hiệu ứng đám đông. Cho rằng cá nhân cứ luôn có khuynh hướng theo cách nghĩ hoặc thái độ của đại đa số người, về nhận thức và hành vi sẽ bảo trì nhất trí với đa số người một cách bất tri bất giác, để chứng minh rằng bản thân họ cũng không phải cô lập, mà là tồn tại trong một quần thể. Cũng vậy, trong xã hội mà việc Văn hóa đảng thô bỉ chiếm chủ đạo như thế này, coi những người có thói quen vệ sinh kém, trình độ giáo dưỡng thấp thành tấm gương về hành vi, nếu người ta không noi theo, chính mình cũng cảm thấy là lạ không hợp với xung quanh. Người ta đã hình thành tập quán, không cảm thấy hành vi của mình đã bị Văn hóa đảng cải biến đến mức thấp kém rồi.

Trung Cộng dựa vào thuyết chọn lọc tự nhiên của thuyết tiến hóa, phương thức tư duy rằng kẻ thích nghi thì sinh tồn, cho rằng những thứ mới là trải qua chọn lọc mà phù hợp với quy luật phát triển lịch sử, là tốt hơn so với cái cũ, cổ nhân đều là lạc hậu. Bởi vậy, người ta chiểu theo chính trị hình thái ý thức của Trung Cộng mà cho rằng Văn hóa đảng là tiêu chuẩn chính xác, không phân biệt được tốt xấu đối với tư tưởng truyền thống, văn hóa truyền thống, phong tục truyền thống, tập quán văn minh truyền thống mà tiến hành phá hoại, giáo dưỡng lễ nghi bị coi là chủ nghĩa phong kiến mà phê phán, văn minh chỉnh tề bị coi là tư bản chủ nghĩa mà phỉ nhổ, văn minh của “lễ nghi chi bang” kéo dài mấy nghìn năm đã bị phá hủy rồi.

4. Loại bỏ Văn hóa đảng, người ta cũng sẽ không nói lời nói của con người bình thường, sẽ không dùng tư duy của người bình thường

Nói người Trung Quốc hôm nay ly khai Văn hóa đảng, thì sẽ không biết tư duy như thế nào nữa, sẽ không nói lời nói của người bình thường nữa, có người cảm thấy lời này quá “quá phận”, mang theo tính “sỉ nhục”, nhưng mà, sự thực chính là như vậy, bởi vì các loại lý luận, hệ thống ngôn ngữ và phương thức tư duy của Văn hóa đảng đã sớm thẩm thấu vào các ngóc ngách trong tư tưởng người ta.

Dưới sự thống trị 50 năm của Trung Cộng, thông qua các loại thủ đoạn nhồi nhét đã tạo nên cả xã hội là hoàn cảnh do Văn hóa đảng cấu thành, khiến người ta quen tai quen mắt. Đồng thời, sau khi đã phủ định Văn hóa truyền thống và quan niệm truyền thống, phê phán Nho giáo Thích giáo Đạo giáo, khiến người Trung Quốc đã tiếp nhận thuyết vô Thần, thuyết duy vật, thuyết tiến hóa và tư tưởng đấu tranh, đã tạo thành người Trung Quốc kiến lập trên Văn hóa đảng một bộ đầy đủ phương thức tư duy và tiêu chuẩn thiện ác. Logic của Trung Cộng trở thành logic của đại chúng, ngôn ngữ của Trung Cộng trở thành ngôn ngữ của đại chúng, kiểu logic và ngôn ngữ này ngược lại lại làm mạnh thêm tư tưởng của người ta. Lấy lời đảng biến thành từ vựng hàng ngày của dân chúng phổ thông, và rồi dung nhập vào sinh hoạt hàng ngày của người ta, từ căn bản khiến cho ý chí của đảng dung nhập vào nhân tâm. Trong khi người ta nói chuyện, lấy tư duy Văn hóa đảng trong đầu trở thành tư duy của chính mình một cách mang tính tập quán.

Hàm nghĩa biến dị của bộ ngôn ngữ, hành vi và mô thức tư duy đó, là do Trung Cộng cưỡng thêm lên, cũng không phải là phương thức biểu đạt của xã hội chính thường, chỉ có những người từng tiếp thụ tiêm nhiễm của Văn hóa đảng mới có thể lý giải và giải độc. Loại hiện tượng mà mô thức ngôn ngữ, hành vi và phương thức tư duy của Văn hóa đảng toàn phương vị và trải khắp xó xỉnh của xã hội do bị cưỡng chế nhồi nhét mà hình thành này, vô luận là xã hội cổ đại truyền thống Trung Quốc, hay là trong văn minh chủ lưu hiện đại, đều chưa từng có xuất hiện qua. Bởi vậy, ngôn ngữ, hành vi và phương thức tư duy của người ta dưới sự thống trị của Trung Cộng, đều chẳng ăn nhập gì với giá trị của xã hội truyền thống Trung Quốc, chủ lưu của thế giới. Lời nói và hành vi của những người lãnh đạo của Trung Cộng khi thăm viếng khiến người ta cảm giác kỳ quái mà không cách nào hiểu được.

1) Hệ thống ngôn ngữ của Văn hóa đảng đã khống chế tư tưởng của người ta

Lời của đảng là dựa vào phương thức “hệ thống” mà tồn tại trong cuộc sống của người Trung Quốc hiện nay. Sự khác nhau với ngôn ngữ tự nhiên là, hết thảy những thứ của đảng đã cấu thành nên thể hệ ngôn ngữ chính trị mà “ngầm định với nhau” một cách nhân tạo, đã thay thế cho nội dung cuộc sống, tư tưởng và giao tế ngôn ngữ được hình thành tự nhiên của xã hội bình thường, người Trung Quốc sinh sống trong kết cấu xã hội do lời của đảng vẽ ra.

Sau khi Trung Cộng thiết lập chính quyền, “nhân dân” có lẽ là một trong những từ ngữ được sử dụng rộng rãi nhất: chính phủ tự nhận là “chính phủ nhân dân”, quân đội gọi là “quân đội nhân dân”, tiền tệ gọi là “nhân dân tệ”, thậm chí đường đi cũng được gọi là “con đường nhân dân”, còn có “đài truyền hình nhân dân”, “quảng trường nhân dân”, “công viên nhân dân”, “bệnh viện nhân dân”, “ngân hàng nhân dân”… cũng như hết thảy quốc gia cộng sản, một mặt các loại cơ quan, cơ cấu, đoàn thể tự xưng là “nhân dân” ám chỉ rằng hết thảy lợi ích, quyền lợi của mỗi cá nhân dường như đều được thực hiện cụ thể, không cần bản thân phải phí tâm nữa; một mặt khác, “nhân dân” đã bị chụp thêm lên vòng ánh sáng thần thánh, đến nỗi người dân thấp cổ bé họng run rẩy sợ hãi không biết được rốt cuộc ai là nhân dân.

Có một câu chuyện như thế này, thời những năm 70 của thế kỷ trước có người nào đó đến “thương trường nhân dân” để mua sắm, “doanh nghiệp viên nhân dân” thái độ thô bạo, khách hàng chất vấn: “Anh là vì nhân dân phục vụ thế này ư?” Đáp rằng: “Vì nhân dân phục vụ? Anh đại biểu cho nhân dân ư?” Khách hàng nhất thời không biết nói sao.

Đương nhiên, tình hình tương tự, cũng có thể phát sinh trong khi giao tiếp với “chính phủ nhân dân”, “cảnh sát nhân dân” … Ở Trung Quốc, mặc dù “nhân dân” không hề có định nghĩa về mặt pháp luật, nhưng trong Văn hóa đảng của Trung Cộng “nhân dân” có hàm nghĩa đặc thù. Ở trong đó chỉ có Trung Cộng mới có thể đại biểu cho “nhân dân”, mới có quyền chỉ ra ai là “nhân dân”, ai không phải; mà kẻ đến sau sẽ trở thành “kẻ thù của nhân dân”, có thể không cần qua trình tự pháp luật mà tước đoạt quyền lợi của họ. Bọn họ thông thường bị đội lên một kiểu xưng hô đặc định khác: “một nhóm nhỏ”, mặc dù “một nhóm nhỏ” có lúc đạt đến mức hơn hàng chục triệu người, ví như “cánh hữu” vào năm 1957 đề xuất ý kiến với Trung Cộng, nhóm người kiên trì tu luyện Pháp Luân Công, v.v… Một từ “nhân dân” mặc dù không phải Trung Cộng nghĩ ra, nhưng trong Văn hóa đảng đã bị gán cho hàm nghĩa đặc định, khi người ta sử dụng những ngôn từ như “nhân dân”, “một nhóm nhỏ” theo thói quen ở các loại hoàn cảnh khác nhau, đã vô ý thức mà tán thành với việc tùy ý định ra ai là “nhân dân” ai không phải “nhân dân” của Trung Cộng, hoặc chiểu theo ý đồ của Trung Cộng mà tiến hành phân loại và xếp hàng chính trị.

Kiểu ngôn ngữ Văn hóa đảng thẩm thấu vào các phương diện sinh hoạt như vậy còn rất nhiều. Ví dụ Trung Cộng thành lập chính quyền mãi cho đến nửa cuối thế kỷ, học sinh sau khi tốt nghiệp, đều muốn “phân phối công tác”. Một từ “phân phối” đúng là biểu hiện rõ “đảng” là có quyền chi phối, cho nên rất nhiều người cảm thấy bát cơm là Trung Cộng “ban cho” một cách hạ ý thức, mà không phải là bản thân thông qua nỗ lực mà đạt được. Đặc biệt là rất nhiều cảnh sát khi đang hùa theo Trung Cộng bức hại dân chúng đều nói một cách dõng dạc: “Đảng Cộng sản cho tôi bát cơm, thì tôi phải nghe theo Đảng Cộng sản.”

Hệ thống đảng thoại là hình thái ý thức của đảng, ý chí của đảng, tải thể và công cụ của vận hành thực thi của đảng, Trung Cộng lợi dụng hết thảy thủ đoạn quốc gia và công năng quốc gia để hoàn thành việc kiến lập, quy phạm và sử dụng thể hệ ngôn ngữ của đảng. Tất cả cơ cấu sản sinh ngôn ngữ tiêu chuẩn – truyền thông dư luận đều do quan chức chiếm hữu, còn Ban tuyên giáo Trung ương có chức năng đặc biệt phối hợp với Trung Cộng cho đến hệ thống tuyên truyền cấp dưới, cán bộ bồi dưỡng huấn luyện và hệ thống tổ chức cuộc sống, cơ cấu giáo dục tư tưởng từ Trung ương cho đến các cấp giáo dục của đảng. Bấy lâu nay báo chí, văn kiện, lời nói của quan chức, tài liệu giáo dục ở trường học đều là phương thức chế độ truyền bá thống nhất ngôn ngữ đảng. Vận động chính trị qua nhiều lần tạo ra lượng lớn các từ mới. Các cấp tổ chức hướng dẫn quần chúng sử dụng và củng cố trong cuộc sống hàng ngày, hình thành nên cơ sở của truyền thống đảng, Văn hóa đảng. Quy phạm văn nghệ, điện ảnh, quảng bá, hý kịch, thiết lập nhà văn của đảng, tấm gương Văn hóa đảng, thúc đẩy tiêu chuẩn hóa ngôn ngữ đảng. Sự khiếp sợ các bản án văn tự trong mỗi lần vận động chính trị có tác dụng to lớn và lâu dài. Sau khi hoàn thành quá trình kiến lập ngôn ngữ đảng, Trung Cộng lại lập pháp để cho có đủ tính hợp pháp. Tất cả những điều này đều khiến cho hệ thống ngôn ngữ đảng trở thành chủ đạo ngôn ngữ của người Trung Quốc. Dường như mỗi người Trung Quốc, khi cần đều có thể tùy miệng mà nói ra từng đoạn hoàn chỉnh những lời khuôn mẫu của đảng cực kỳ tiêu chuẩn.

“Nói dối lặp lại nghìn lần chính là chân lý”, câu nói này tuyệt không phải là chỉ mang đủ ý thức về tu từ. Người ta đều ghê tởm khuôn mẫu đảng, nhưng mà từ văn kiện, lời nói, báo cáo, tổng kết, xã luận báo chí, sách giáo khoa đại học trung học tiểu học, tin tức, TV, điện ảnh v.v.. của Trung Cộng, vừa đúng là những đảng thoại được Trung Cộng chế tạo được lặp lại lượng lớn kia, những lời này lại không bởi vì người ta ghê tởm chúng mà chúng không phát huy tác dụng. Hoàn toàn ngược lại, chúng dựa vào hình thức phù hiệu ngôn ngữ mà tồn trữ ở trong nơi sâu thẳm vô thức của người ta, tùy thời đều sẽ phát sinh tác dụng, chi phối tư tưởng và hành vi của người ta.

Có một câu chuyện, kể rằng có một người đầu bếp, người nhà chịu nhận bức hại của Đảng Cộng sản nặng nề, rồi di cư đến California, Mỹ để định cư. Khi ở trong nhà bếp nhà hàng chặt thịt, kèm theo tiết tấu từng nhát dao từng nhát dao mà ngâm nga giai điệu, rất là thú vị. Chỉ là, ông ta ghét cay ghét đắng Đảng Cộng sản, nhưng hát lên lại là “Sách của Mao chủ tịch, tôi thích đọc nhất, nghìn lần vạn lần bỏ công sức,” người khác chỉ ra cho ông, ngay cả chính ông ta cũng khóc dở mếu dở. Trong tư tưởng của người ta bị nhồi nhét quá nhiều những thứ Văn hóa đảng và quá nhiều ngôn ngữ Văn hóa đảng rồi, đã trở thành logic tư duy và bộ phận tự nhiên trong lời nói của người ta.

Sau khi Trung Cộng thiết lập chính quyền, người dân của Trung Cộng liền rơi vào nhà tù của sự thống trị độc tài của cái chính trị tôn giáo hợp nhất là Trung Cộng, nhưng Trung Cộng lại tuyên truyền thành “giải phóng”; Tác hại của Trung Cộng đối với văn hóa chính thống của dân tộc Trung Hoa, bức hại với người Trung Quốc vượt quá bất kể một dân tộc nào khác, nhưng Trung Cộng lại tự xưng là “Trung Quốc mới”; việc tiến hành “Xô-viết” “chính quyền cách mạng” ở Thụy Kim của Trung Cộng kỳ thực là hoạt động phân chia quốc gia, là chính quyền bán nước dựa vào Liên Xô; “Trường chinh” của Trung Cộng kỳ thực chính là một cuộc chạy thoát lớn; “Vận động sản xuất lớn” ở Vịnh Nam Nê trên thực tế là vận động trồng thuốc phiện phi pháp; “Vận động chỉnh phong” ở Diên An của Trung Cộng kỳ thực là một cuộc bức hại tinh thần có hình thức địa ngục tại nhân dân nghe đến đã thấy sợ; “Ba năm thiên tai tự nhiên” làm chết đói mấy chục triệu người kỳ thực là một trường nhân họa; “Đại Cách mạng Văn hóa” kỳ thực là một cuộc phá hoại lớn về văn hóa, tẩy não lớn toàn dân và thanh trừ lớn về chính trị; “Cách mạng khai phóng” kỳ thực là tạm thời buông lỏng chuyên chế áp lực cao, là chiêu số cứu mạng bất đắc dĩ của Trung Cộng… vân vân, nếu như khôi phục trở lại một phần mười của diện mục chân thực của các sự kiện lịch sử, cũng đủ để cải biến tất cả vòng ánh sáng từ ngữ lừa người kia mà Trung Cộng đã tạo ra. Nhưng mà, bởi vì nhồi nhét và lũng đoạn ngôn ngữ của Trung Cộng, người ta một mực tiếp tục sử dụng, nếu như bỏ đi những từ ngữ này, rất nhiều người sẽ thực sự không biết mô tả và suy nghĩ những sự kiện lịch sử kia như thế nào, không biết nói những lời như thế nào nữa.


Vận động đại sinh sản Diên An – gieo trồng anh túc, chế tạo nha phiến. Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Rõ ràng đã bị Đảng Cộng sản bức hại rồi, một ngày “bình phản”, thì lại đội ơn đội đức với nó; vừa nhắc tới nhân quyền, liền nói là “làm chính trị”; phương Tây có người vừa mới phê bình Trung Cộng, liền nói là “thế lực phản Hoa”; người Hoa hải ngoại kháng nghị bạo hành của Trung Cộng; liền bị coi là “không yêu nước”, là “bôi đen”; nghe nói Trung Cộng bán ra lượng lớn lãnh thổ, trái lại còn đi tìm bậc thang cho kẻ bán nước, cảm thấy đảng làm như vậy nhất định có sự “nhìn xa trông rộng” gì mà chúng ta chưa được biết (để nó bán rồi còn giúp người ta đếm tiền); nghe Đài truyền hình Trung ương một năm 365 ngày nhồi nhét mà cảm thấy rất tự nhiên, nhận được mấy cuộc điện thoại, bưu kiện, hay mấy chục phút radio quảng bá chân tướng phơi bày việc hành ác của Trung Cộng, liền cho là đang “phá hoại trật tự xã hội”; đối với một kẻ phạm nhân hành hung, người ta cần phải truy đến cùng, đưa ra công lý, mà đối diện với tội ác không ghi hết tội trong lịch sử của Đảng Cộng sản, trái lại người ta lại cho rằng Đảng Cộng sản tốt với kẻ phạm lỗi, còn sẽ “có dũng khí cải chính sai lầm” … khi người ta tự nhiên bộc lộ tư duy, những từ ngữ “bình phản”, “làm chính trị”, “thế lực phản Hoa”, “không yêu nước”, “bôi đen”, “nhìn xa trông rộng”, “phá hoại trật tự xã hội”, “có dũng khí cải chính sai lầm” v.v.., đều là từ vựng tuyên truyền to tát của Trung Cộng, nhưng lại sớm trở thành cơ sở lý luận của tư duy logic của người ta rồi.

Trung Quốc hiện đại, câu cửa miệng của người ta phần nhiều đều là rất có ngôn từ của Văn hóa đảng Trung Cộng. Ví dụ “đồng chí”, “quán triệt”, “lãnh đạo”, “hiệu triệu”, “nguyên tắc cơ bản”, “lộ tuyến cơ bản”, “giai đoạn sơ cấp của chủ nghĩa xã hội”, “đặc sắc XXX”, “theo XXX tiến hành đến cùng”, “chống lại Đảng Cộng sản, không có kết cục tốt”, “không có Đảng Cộng sản, thì không có Trung Quốc mới”, “thân cha thân mẹ không bằng thân Đảng Cộng sản”, “nghe lời của Đảng Cộng sản, đi theo Đảng Cộng sản”, “chiến sĩ của Mao chủ tịch nghe lời đảng nhất”, “đoàn kết chính là sức mạnh”, “sao đỏ soi sáng chúng ta đi chiến đấu”, “giương cao ngọn cờ vĩ đại của tư tưởng Mao Trạch Đông”, “bước trên con đường lớn chủ nghĩa xã hội”, “cách mạng không phải là mời khách ăn cơm”, “hình thế tốt đẹp”… bỏ đi những ngôn ngữ Văn hóa đảng này, rất nhiều người có thể cảm thấy việc biểu đạt cơ bản hàng ngày sẽ rất cật lực. Ngôn ngữ Văn hóa đảng khống chế người Trung Quốc thâm sâu, vượt xa rất nhiều sự tưởng tượng của người bình thường.

2) Cái gọi là từ mới cũng là trong tư tưởng của Văn hóa đảng mà chế tạo ra

Đảng thoại không chỉ dừng lại bất biến. Người ta hình thành nên tư duy Văn hóa đảng thì như là công xưởng gia công, cơ khí và quy trình đều là sẵn có rồi, tín tức mới và hiện tượng xã hội xuất hiện khi trải qua gia công của tư duy Văn hóa đảng liền trở thành đảng thoại mới. Chúng thuộc về hệ thống của đảng, trang bị nội hàm mà đảng cần, nhưng lại bởi vì không phải là từ vựng trong hình thái ý thức của đảng một cách trần trụi, cho nên càng không dễ phân biệt.

Trên mạng hiện nay lưu hành một kiểu chữ viết tắt là “FB”, hai chữ này này nguyên bản là hai chữ phiên âm của từ “hủ bại”, bình thường đại biểu cho việc tụ tập ăn uống, cũng có một số người bèn nói thẳng thừng rằng: “Hôm nay đi hủ bại một chút”. Cái từ này sinh ra từ trong nhân gian, bản thân không phải do Trung Cộng tạo ra, nhưng nó là dưới sự ảnh hưởng của tư tưởng Văn hóa đảng mà tạo ra. Nó lấy hành vi hủ bại vốn thuộc về phụ diện đem chính quy hóa, làm yếu đi áp lực đạo đức của xã hội đối với hành vi hủ bại, trên thực tế cũng đã tán thành hiện tượng hủ bại không đâu không có, ám chỉ sự hủ bại của Trung Cộng không phải là việc lớn gì lắm. Điều này rất giống như là người ta đã quen với việc gọi hành vi chính thường hàng ngày thành trộm cắp, mà kẻ trộm cắp thật sự thì lại không cảm thấy hành vi của bản thân là đáng xấu hổ.

Một từ “quần thể yếu thế”, cũng là sinh ra trong nhân gian, tùy theo việc sử dụng thường xuyên, đến năm 2002 cũng đã bắt đầu xuất hiện trong văn kiện chính thức của Trung Cộng. Từ này thông thường chỉ quần thể người không thích ứng với “trào lưu lớn” của biến đổi xã hội mà bị yếu đi, như nguyên là người thất nghiệp trong xí nghiệp quốc hữu, nông dân công nhân trước kia v.v.. Dưới ảnh hưởng của tà thuyết “cá lớn nuốt cá bé”,” kẻ thích nghi thì tồn tại” của Văn hóa đảng, người ta thường thường cho rằng quần thể này thuộc về bên kém thế trong “cạnh tranh sinh tồn”, cho nên là quần thể người không thích ứng với biến đổi của thể chế xã hội mà bị đào thải. Điều này từ căn bản đã che đậy từ “yếu thế” kỳ thực là một sự thực do chế độ chuyên chế phi nhân tính của Trung Cộng tạo ra như vậy. Quần thể này kỳ thực là quần thể bị chế độ chuyên chế của Trung Cộng áp bức và tước đoạt quyền lợi. Lấy “quần thể yếu thế” lớn nhất Trung Quốc – nông dân làm ví dụ, nông dân Trung Quốc về chính trị và kinh tế có địa vị thấp trong thời gian dài, đây hoàn toàn là chính sách phân biệt của Trung Cộng tạo ra. Kiểu phân biệt này có thể so sánh với chính sách chủng tộc của Nam Phi có tai tiếng trước kia. Ở đây dẫn một đoạn sách giáo khoa địa lý tiểu học miêu tả khái quát về Nam Phi được biên soạn vào 40 năm trước của Trung Cộng, độc giả không ngại thì thử so sánh một chút tình cảnh của nông dân Trung Quốc và người da đen ở châu Phi: “Chính phủ liên bang Nam Phi trước sau đã ban bố những 70 loại pháp lệnh phân biệt chủng tộc và áp bức như ‘giấy tờ thông hành’, ‘luật cách ly chủng tộc’, ‘luật nô dịch’, mỗi một pháp lệnh chính là một cái gông cùm, quyền lợi và tự do của người châu Phi bị tước đoạt sạch sẽ. Lấy ‘giấy tờ thông hành’ mà nói, mục pháp lệnh này quy định người châu Phi đủ 16 tuổi buộc phải mang theo những hai mươi loại giấy tờ như ‘chứng minh thư’, ‘giấy di cư’, ‘thẻ tìm việc’, ‘biên nhận nộp thuế’, ‘giấy tạm trú’, để cho cảnh sát kiểm tra. Nếu như giấy tờ không đầy đủ hoặc quên mang theo, thì phải làm ‘du dân thất nghiệp’ chịu bắt bớ. Căn cứ vào báo cáo của Cục cảnh sát Liên bang Nam Phi, chỉ trong năm 1958, đã có gần 600 nghìn người châu Phi do vi phạm ‘giấy tờ thông hành’ và ‘luật kiểm tra’ mà bị bắt bớ.” Nhưng dưới sự tẩy não của Văn hóa đảng, những người có thể tỉnh táo nhận ra chính sách phân biệt của Trung Cộng và tiến hành kháng nghị hợp pháp thì cũng không nhiều.

Những năm gần đây, có rất nhiều từ mới có tính đại biểu, ví dụ như “đặc sắc Trung Quốc”, “bốn hiện đại hóa”, “giai đoạn sơ cấp”, “xã hội tiểu khang”, “về vườn”, “chờ việc”, “kinh tế chế độ phi công hữu”, “kiến thiết tư tưởng đạo đức”, “nâng đỡ nghèo”, “tam giảng”, “tam đại biểu”, “lấy đức trị quốc”, “tiến cùng thời đại”, “nội dung không lành mạnh”, “tín tức có hại”, “trỗi dậy hòa bình”, “tôn sùng khoa học”, “quan điểm phát triển khoa học”, “xã hội hài hòa”, “nâng cao năng lực chấp chính” v.v.. Những từ mới này cũng đều là sản vật của Văn hóa đảng, đã bị Trung Cộng gán cho hàm nghĩa đặc định, dùng những ngôn từ này để duy hộ sự thống trị của Trung Cộng, tin tức có hại hay không không phải là nói về nhân dân, mà là có “nguy hại” đối với Trung Cộng hay không, hô hào “trỗi dậy” là một sự tô vẽ chủ nghĩa dân tộc cho người ta, khiến mọi người quên đi nguy cơ xã hội mà đi ủng hộ Trung Cộng. Kế tiếp sau “tam đại biểu” của Trung Cộng, lại làm ra “tám vinh tám nhục” (quan điểm vinh nhục của chủ nghĩa xã hội khoa học), kỳ thực, mỗi một nội dung bên trong đều là ở trong phạm vi của Văn hóa đảng mà nói ra: Cái gì là mê tín phong kiến, cái gì là tôn trọng khoa học? Cái gì là chủ nghĩa yêu nước? Hoàn toàn là định nghĩa của Văn hóa đảng của Trung Cộng. Phù hợp với Đảng Cộng sản thì chính là “tôn trọng khoa học”, ủng hộ Đảng Cộng sản thì chính là chủ nghĩa “yêu nước”.

3) Ý thức đấu tranh của Văn hóa đảng trở thành tập quán sinh hoạt của người ta

Trong tư duy của người Trung Quốc truyền thống, Nho gia giảng yêu người, điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người, Phật gia giảng lấy thiện đãi người, Đạo gia giảng thuận theo tự nhiên. Nhưng đại đa số người Trung Quốc hôm nay, lại thừa nhận đồng ý ở mức độ tương đối việc Trung Cộng coi 5.000 năm lịch sử văn minh huy hoàng của Trung Hoa nói thành là lịch sử đấu tranh của tranh quyền đoạt lợi giữa các giai cấp. Trong con mắt của rất nhiều người Trung Quốc hôm nay, thậm chí từ rất nhiều phần tử trí thức mà nhìn, hai mươi bốn bộ sử huy hoàng của Trung Quốc, chỉ bất quá là một bộ sử đầy những mưu toan tranh đấu, kẻ lừa người dối, tranh giành quyền lực v.v.. đầy những tranh đấu quỷ kế. Người Trung Quốc đều tin vào việc đọc sử có thể khiến người ta minh trí, có thể hiểu lý, có thể tăng tiến trí tuệ, nhưng nếu như lịch sử Trung Quốc thật đúng là đầy những gian trá  như Trung Cộng tô vẽ, một khoảng tối tăm, thì liệu người ta làm sao minh trí, minh lý? Liệu một dân tộc tối tăm ngu muội như thế làm sao lại có thể từng sáng tạo ra văn minh cổ đại huy hoàng rực rỡ được?

Thế giới bên ngoài mà người ta nhìn thấy được, kỳ thực hoàn toàn chỉ là phản xạ của thế giới nội tâm của bản thân, nên gọi là “nhân giả kiến nhân, trí giả kiến trí” (Người nhân nghĩa thì muốn gặp người nhân nghĩa, kẻ thông minh thì muốn gặp kẻ thông minh). Những người được ý thức đấu tranh của Văn hóa đảng “trang bị” cho đại não, thấy được lịch sử Trung Quốc tự nhiên cũng chính là tranh đấu và chém giết lẫn nhau, mà không thấy được mỹ đức nhường ngôi của thời Đường Nghiêu, sự vô tư của Đại Vũ trị thủy, khoan dung độ lượng hòa thuận với nhau, không thấy được sự cương trực thẳng thắn của Khuất Nguyên, cũng không thấy được khí tiết bất khuất của Tô Vũ, một lòng trung can của Văn Thiên Tường, tinh trung báo quốc của Nhạc Phi. [10]

Trung Cộng ngày nay mặc dù không “lấy đấu tranh giai cấp làm cương lĩnh” nữa, nhưng tư tưởng của người ta vẫn đang chịu ảnh hưởng của “phân tích giai cấp”, “hoài nghi tất cả”, “khoét sâu động cơ tư tưởng”, cho đến nay vẫn là rất nhiều người khi phán đoán sự vật thì phản ứng đầu tiên là: phân tích sự việc ngày 4 tháng 6 Trung Cộng trấn áp học sinh, bởi vì động cơ của lãnh tụ học sinh là bất thuần, cho nên họ đáng phải gánh chịu hết thảy trách nhiệm, Trung Cộng mở màn giết người ngược lại không có tội gì cả; hải ngoại có người phơi bày tội ác của Trung Cộng phạm phải đối với nhân dân Trung Quốc, thì động cơ của họ nhất định là vì để “nói xấu Trung Quốc”, tội ác của Trung Cộng có thật đi chăng nữa trái lại cũng không quan trọng nữa; nông dân công nhân vất vả một năm lại bị quỵt tiền lương, bất đắc dĩ phải chọn những phương thức cực đoan như tự sát, nhảy lầu để đòi lương, động cơ của họ là vì để “làm đẹp”, cho nên phải trừng trị bằng luật pháp, mà người đương sự khuất nợ tiền lương và chế độ xã hội gây ra thảm kịch thì trái lại không có trách nhiệm pháp luật gì cả; Trung Cộng phát động “đại nhảy vọt” làm chết đói 40 triệu người dân Trung Quốc, bởi vì động cơ của nó nghe nói là vì để “đuổi kịp Anh, vượt qua Mỹ”, cho nên tội của Trung Cộng trái lại là có thể tha thứ.

Tư duy của người Trung Quốc chịu ảnh hưởng Văn hóa đảng, được Văn hóa đảng chống đỡ, trong đó phép duy vật biện chứng giảng về đấu tranh giai cấp, thuyết tiến hóa giảng “cá lớn nuốt cá bé”, chỉ đơn giản nhằm coi lịch sử Trung Quốc trở thành lịch sử đấu tranh mưa máu gió tanh, những điều này đều tăng thêm cho người Trung Quốc ý thức đấu [tranh]. Trung Cộng gieo trồng văn hóa cộng sản mà lấy bạo lực làm hạch tâm một cách lặp đi lặp lại, khiến mấy thế hệ người trở thành đầy lòng thù hận, hướng tới “chiến sĩ của giai cấp vô sản” xung kích, “con người mới chủ nghĩa xã hội”, “công cụ ngoan ngoãn của đảng”. Cái [tâm] đấu tranh của người Trung Quốc đã khởi tác dụng chủ đạo trong tư duy, việc người Trung Quốc yêu thích đấu đá nội bộ đã trở thành sự thực được chúng ta công nhận. Phá đám lẫn nhau, tranh đấu đến mức ngươi chết ta sống, quy tắc sinh sống của người Trung Quốc đã biến thành quy tắc mạt chược – đề phòng nhà trên, coi kỹ nhà dưới, chính mình không hòa được, cũng không để người khác hòa. Có người đã có thành tựu, thông thường bị xa lánh, vu khống, có người không phải là thấy người hiền thì noi theo, mà là lửa đố kỵ thiêu đốt bên trong. Thế là thượng đài giơ nắm đấm, hạ đài dùng dây trói. Đấu còn không chỉ là vì lợi ích, mà còn là lấy việc hủy hoại nhân cách của đối phương làm mục tiêu, thủ đoạn được sử dụng cũng tập trung trí tuệ bất hảo của người Trung Quốc mà trở thành lớn, không tội ác nào không làm, không lý gì đến bất kể quy tắc nào.

Kiểu tư duy không bình thường của Văn hóa đảng này khi giải quyết sự tình, thông thường niệm đầu đầu tiên chính là chỉnh người, đấu với người, trị người, khuất phục người ta, về khí thế thắng đối phương, nắm chắc “quyền chủ động”, cưỡng chế đối phương chiểu theo ý nguyện của mình mà hành sự. Thể hiện về mặt ngôn ngữ chính là trong ngôn ngữ mang theo ý thức về đấu tranh, đã vượt quá phạm trù của người bình thường, toàn bộ nhân tố chủ đạo của hệ thống ngôn ngữ chính là đấu tranh. Ngữ khí mang theo ý vị của chất vấn, phản vấn, gây hấn, lời nói ra để đâm người. Nếu như nói không thông, thông thường nhũng nhiễu, không nói đạo lý, cãi chày cãi cối.

Có người từng làm một cuộc trắc nghiệm nhỏ, hỏi học sinh đến từ Đài Loan và từ Đại lục, nếu như đến một phòng học mà bên trong thấy rất nóng, khi muốn mở cửa sổ thì nói như thế nào. Học sinh đến từ Đài Loan sẽ có khuynh hướng là: “Trời nóng quá, tôi mở cửa sổ, anh không ngại chứ?” Còn học sinh đến từ Đại lục chắc sẽ có khuynh hướng nói: “Nóng như thế này, sao còn chưa mở cửa sổ?” Ý tứ của hai câu nói là tương tự, nhưng câu trả lời khiến đối phương hãm vào thế bị động, dường như không mở cửa sổ là không bình thường, không nên thế. Người nói câu nói sau kỳ thực thông thường là vô tâm. Đó là bởi vì tâm tranh đấu của Văn hóa đảng đã thâm nhập vào tập quán ngôn ngữ của người ta rồi, người ta đều đã quen quá hóa nhàm rồi.

Rất nhiều người, bao gồm không ít phần tử trí thức, khi đàm luận quốc gia đại sự về kiểu nhũng nhiễu, ngoan cố, thái độ hoài nghi tất cả kia, khiến người ta rất khó bình hòa và hiểu nhau. Chẳng hạn nếu anh ta hoài nghi tất cả, nhưng anh ta hết lần này lần khác cũng không hoài nghi Đảng Cộng sản; nếu nói Đảng Cộng sản không tốt, anh ta nói cái đảng đó không có làm chuyện xấu; nếu nói Trung Cộng vì lợi ích của mình mà cản trở cải cách toàn diện, anh ta nói đó là thuộc về việc nước; nếu nói Đảng Cộng sản đang bức hại nhân quyền, anh ta nói chứng cứ ở đâu; anh đưa ra chứng cứ xem, anh ta nói dựa vào cái gì để tin chứng cứ của anh; nếu nói anh ta yêu thích Đảng Cộng sản, anh ta lại đang bận đem giàu có và con cái tặng cho Trung Quốc dưới sự thống trị của Trung Cộng; nếu nói anh ta không thích tự do ngôn luận, anh ta lại rất thích lợi dụng tự do ngôn luận của phương Tây để biện hộ cho việc hành ác của Đảng Cộng sản… Có một câu chuyện cười không ra chuyện cười: bạn kể ra rất nhiều việc xấu mà Đảng Cộng sản làm, anh ta phủ định từng cái một, nhũng nhiễu ngoan cố, cứ là tìm lý do cho Trung Cộng, hỏi chứng cứ của bạn ở đâu; nói Trung Cộng vậy mà cắt yết hầu của phạm nhân, anh ta cũng không tin, phản bác nói rằng cho miếng bông làm tắc thở là xong rồi, ai ngu si mới phí sức lực để cắt yết hầu; bạn nói rằng trên mạng có cả, anh ta còn rất dõng dạc, hỏi rằng ai trong các bạn đã nhìn thấy? Anh ta nói những thứ trên mạng mà bạn cũng tin ư? Khi bạn nói ra tên của Trương Chí Tân, anh ta trợn tròn mắt, anh ta mới nghĩ ra Trương Chí Tân [11] bị cắt yết hầu trước khi hành hình đúng là bản thân Đảng Cộng sản cũng đã lớn giọng thừa nhận rồi.

4) Người ta không nhảy thoát khỏi cái khuôn mẫu tư duy của Văn hóa đảng

Trong cuộc sống Văn hóa đảng đã tạo ra một cái “trường”, chỉ cần thuận theo Văn hóa đảng mà nói mà tư duy thì giống như “thuận nước đẩy thuyền”, “như cá gặp nước”, dường như hết sức “tự nhiên” và “ngay thẳng”. Ngược lại, muốn thanh lọc tư duy biến dị của Văn hóa đảng, dường như phải “bơi thuyền ngược dòng”. Càng như thế, thì người ta càng chìm đắm vào Văn hóa đảng, càng khó nhảy ra khỏi Văn hóa đảng.

Một hiện tượng thường thấy chính là, người ta không chỉ dùng cái “yêu” đối với Đảng Cộng sản để tìm lý do cho Đảng Cộng sản, đồng thời, còn dùng cái “hận” đối với Đảng Cộng sản để biện hộ cho Đảng Cộng sản — họ có thể dùng “phát triển bề ngoài của kinh tế” để tô son trát phấn cho Trung Cộng, họ cũng có thể dùng “Trung Cộng là cường quyền, giết người không chớp mắt” để chống lại và phơi bày bạo lực hành ác của Trung Cộng, cho rằng “không có tác dụng”, từ đó tiếp tục duy hộ sự thống trị của Trung Cộng. Một mặt khác họ nói: “Chế độ đa đảng là sự đồng thuận cá nhân, rất nhiều đảng viên đều ý thức được vấn đề này, Trung Cộng cũng sẽ có ngày đi đến đó.” Dùng sự mong đợi chính diện để ca ngợi Trung Cộng. Một mặt khác, nhắm vào việc nhân dân tổ chức đảng phái dân chủ, họ sẽ nói: “Đó là làm loạn! Đảng Cộng sản là cường quyền, làm sao tha cho anh?” – lấy đó làm nhận thức phản diện để duy trì hiện trạng của Trung Cộng. Yêu đối với Trung Cộng có thể ở trong Văn hóa đảng mà tìm cộng hưởng, hận đối với Trung Cộng có thể ở trong Văn hóa đảng mà được trút giận, nhưng mà, Văn hóa đảng cũng đã trở thành một hệ thống phong bế, hoàn toàn có thể lấp đầy “yêu hận tình thù” của người ta đối với Đảng Cộng sản, khiến người ta không muốn ly khai.

Đơn cử một câu hỏi đơn giản: “Đảng cộng sản đã giết 80 triệu người Trung Quốc, có nên thanh toán hay không?” Nếu như chiểu theo logic tư duy bình thường, giết người đền mạng, điều này rất dễ dàng trả lời, đương nhiên là nên bị thanh toán. Nhưng mà, rất nhiều người Trung Quốc ngày nay, họ không trả lời nổi cái câu hỏi đơn giản này. Họ sẽ vòng vo khiến cho vấn đề trở nên rất phức tạp. Họ sẽ hỏi: “Anh làm sao biết được có 80 triệu? Anh có chính mắt trông thấy 40 triệu người chết đói không?” Khi bạn nói chính nội bộ Trung Cộng đã đưa ra tiết lộ số người tử vong lớn như thế. Giả thiết bạn đưa tài liệu cho họ xem rồi, họ vẫn sẽ nói: “Anh đây chẳng phải là ăn miếng trả miếng sao? Anh phải cấp cho người phạm sai lầm cơ hội [sửa sai] chứ?” Bạn nói phạm tội giết người trước tòa án có thể tự bào chữa cho mình, [có thể] đòi hỏi một cơ hội cho kẻ phạm sai lầm? Họ vẫn sẽ nói: “Cũng không thể đều là lỗi của Đảng Cộng sản?” “Châu Phi cũng có nước xảy ra thảm sát mà!” “Đảng Cộng sản hiện tại thay đổi rồi, làm gì mà cứ bám lấy quá khứ mà không buông?” “Đảng Cộng sản là gì? Ai dám thanh toán Đảng Cộng sản? [Nó sẽ] chỉnh chết anh!” Bạn nhìn thẳng vào họ, chỉ muốn họ trả lời một đáp án đơn giản của con người với tư duy bình thường: Nên hay là không nên. Bị bức bách rồi, họ sẽ nói với bạn: “Đối chọi với Đảng Cộng sản, có tác dụng gì đây?” “Vấn đề này của anh chẳng có ý nghĩa gì.” Nói tóm lại, Đảng Cộng sản đã giết bao nhiêu người, đều là không nhất thiết phải truy cứu nữa. Trung Cộng vì vậy có thể tác oai tác quái, tiêu diêu ngoài vòng pháp luật.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Chúng tôi thấy được, khi yêu cầu họ bỏ đi Văn hóa đảng mà trả lời một câu hỏi đơn giản, thì họ sẽ lấy “không có ý nghĩa” để đối phó. Rời khỏi Văn hóa đảng, họ thật sự không biết được tư duy như thế nào nữa, Đảng Cộng sản đã trở thành cơ sở tư duy của họ, bất kể là tư duy “không có Đảng Cộng sản” hay là “thanh toán Đảng Cộng sản” đối với họ mà nói, đúng là khủng bố rồi, cũng không thể tưởng tượng nổi. Họ sẽ dừng ngay ở đó, là bởi vì họ không dám đề cập đến nỗi sợ hãi ở nơi sâu trong nội tâm đối với Trung Cộng của mình, càng không dám nhìn thẳng vào nhân tố Văn hóa đảng của chính mình.

Một ví dụ khác, người ta thường dùng lời như thế này để biểu đạt sự đồng ý với chính sách của Trung Cộng: “Nếu tôi là Đặng Tiểu Bình, tôi cũng sẽ cho nổ súng ngày 4 tháng 6”, “Nếu tôi là Giang Trạch Dân, tôi cũng phải trấn áp Pháp Luân Công”, “Nếu tôi là Đảng Cộng sản, tôi cũng sẽ làm độc tài chuyên chế”, v.v.. Người ta nói như vậy sẽ cảm thấy rất tự nhiên, cảm thấy rất an toàn. “Nếu tôi là ABC,” vốn là dùng để đánh giá một sự việc “nên hay không nên”, lấy sự việc vốn không phải là của bản thân mình, đặt mình vào vị trí người ta để giả thiết một chút, dùng kiểu phương thức ấy để làm nổi bật thái độ của cái “tôi”. Nhưng mà, khi dùng vào Trung Cộng, “nếu tôi là ABC” liền biến thành việc dùng “người khác (Đảng Cộng sản) nên hay không nên” để thay thế cho việc “tôi nên hay không nên”, điểm chính không phải là thái độ của cái “tôi”, mà là để biểu đạt thái độ của Trung Cộng, cái “tôi” đã bị ẩn đi rồi, từ đó mà thú nhận, xúi giục việc hành ác của Trung Cộng. Truy vấn một chút, bản thân họ rốt cuộc là thái độ gì? Họ sẽ nói, thái độ của tôi không quan trọng, “không có ý nghĩa”. Có nghĩa là, khi muốn họ trả lời với tư duy bình thường, họ lại cảm thấy “không có ý nghĩa” nữa rồi. Kỳ thực, mọi người nên hướng đến người tốt mà noi theo, so sánh bản thân với kẻ sĩ chính nghĩa trong lịch sử, thử xem xem khi gặp phải việc Trung Cộng bức hại nhân dân, thì nên như thế nào. Ngay cả là nhát gan, không dám nói “nếu tôi là luật sư Cao Trí Thịnh, tôi cũng phải giúp đỡ bảo vệ quyền lợi cho người bị Trung Cộng bức hại”, cũng quyết không nên phải so sánh mình với kẻ phạm tội cưỡng gian, phạm tội giết người hoặc là kẻ độc tài chứ, đó không phải là sự so sánh đáng xấu hổ sao?

Sự cục hạn về tư duy của người Trung Quốc đối với Văn hóa đảng, cũng quán xuyến các phương diện của cuộc sống xã hội. Trong Văn hóa đảng lấy vô Thần luận làm cơ sở, [thì] không có giá trị phổ biến vượt khỏi [vấn đề] giai cấp, cũng như Mao từng nói rằng: “Trên thế giới không có yêu mà vô duyên vô cớ, cũng không có hận vô duyên vô cớ.” Quá khứ biện pháp để Trung Cộng không thừa nhận giá trị phổ biến như tự do, nhân quyền là cho thêm vào tất cả những điều đó định ngữ “của giai cấp tư sản”, cho nên là “hư ngụy”, “giai cấp vô sản” không cần; ngày nay lại đổi lấy lý do “tình hình đất nước đặc thù Trung Quốc” để tiến hành cự tuyệt. Tiếp thụ kiểu tư duy chật hẹp này, đặc biệt là khi cả xã hội đều đã rơi vào thờ ơ về đạo đức, xuất hiện nguy cơ về thành tín, khi thiện ác hữu báo bị chê bai thành điều “mê tín lừa người”, rất nhiều người cũng không còn tin tưởng vào lương tri, đạo nghĩa nữa.

Trung Cộng thông qua trường kỳ tuyên truyền một cách trần trụi hoặc ám thị một cách nửa kín nửa hở để tô đậm cho sự vĩ đại của “người lãnh đạo Trung ương” của nó, từ tuyên truyền sự “vĩ đại” của Marx-Engels-Lenin-Mao ngày trước, cho đến ca ngợi “hồng thái dương”, cho đến tán dương “kiến trúc sư của cải cách khai mở”, “người lãnh đạo kế thừa quá khứ mở ra tương lai” ngày hôm nay, tạo thành việc rất nhiều người Trung Quốc lấy sự thành kính của tôn giáo để tín nhiệm “lãnh đạo Trung ương”. Rất nhiều người đều rất rõ ràng sự hủ hóa trụy lạc của quan chức địa phương của chính bản thân Trung Cộng, nhưng điều này cũng không ảnh hưởng tới ấn tượng tốt đẹp dành cho “lãnh đạo Trung ương” của họ. Mặc dù mọi người đều biết “lãnh đạo Trung ương” của Trung Cộng ngay nay đều là từ quan chức địa phương từng bước một mà leo lên, nhưng người ta cũng không suy xét vì sao quan chức địa phương tham nhũng một khi tiến vào giai tầng “lãnh đạo Trung ương” thì liền trở nên “anh minh” thế. Cho nên việc xấu đều là quan chức địa phương lừa dối “Trung ương” làm ra, vấn đề trọng đại chỉ cần “kinh động đến Trung ương”, hoặc “Trung ương cho người đến rồi”, thì liền cảm thấy có hi vọng giải quyết rồi; đối diện với rất nhiều những vấn đề xã hội quốc kế dân sinh mà Trung cộng trong vòng mấy chục năm tạo ra, rất nhiều dân chúng thà rằng tin tưởng một lòng một dạ “lãnh đạo Trung ương” luôn có biện pháp giải quyết, mà không như dân chúng các nước tự do kia, độc lập suy nghĩ cho quốc gia và xã hội và đề xuất kiến giải của mình. Trung Cộng trấn áp Pháp Luân Công, rất nhiều người mặc dù không hiểu vì sao Trung Cộng lại ầm ĩ với một đoàn thể khí công dân gian như vậy, nhưng phản ứng đầu tiên thông thường là: “Trung ương làm như vậy chắc là có đạo lý của nó,” dùng cái đầu của “Trung ương đảng” để thay thế cho suy nghĩ của mình, mà không suy xét một cách có lý tính “quần chúng Pháp Luân Công rốt cuộc có vi phạm pháp luật hay không,” “Trung Cộng làm như vậy rốt cuộc có hợp pháp hay không,” sau khi công trình Tam Hiệp của Trung Cộng khánh thành, có chuyên gia hải ngoại chỉ ra trong luận chứng về tính khả thi của nó có sơ hở to lớn. Có cư dân mạng lập tức nghi vấn trình độ của chuyên gia hải ngoại một cách dõng dạc, và nói: “Nếu quả đúng là như vậy đi nữa, thì lẽ nào từ Trung ương đến địa phương đều là lũ ngốc và điên rồi, nếu không làm sao mà để công trình ngu xuẩn thế này khánh thành được? Ý ở ngoài lời là, những người “lãnh tụ anh minh” không thể làm việc ngu ngốc, không thể có tư tâm, cho nên “ngu dân bách tính” bất tất phải bận tâm.

Chính là bởi vì người ta không nhảy ra khỏi Văn hóa đảng, mới khiến cho Trung Cộng điều động, khống chế tư tưởng và hành vi của nhân dân đến mức dễ như trở bàn tay. Trung Cộng đúng là như kẻ sắp chết, phần lớn dựa vào việc không ngừng tiêm thuốc trợ tim – những công trình thể diện, đập Tam Hiệp, [tên lửa] Thần Châu 5 Thần Châu 6, tranh cử thế vận hội v.v.. Chúng ta thấy được vô số người Trung Quốc hùa theo cùng với Trung Cộng phấn chấn, cùng nhau hô hào. Trong thời kỳ rối loạn nguy cơ tứ phía này, chúng ta không thấy được sự tỉnh táo và lý tính của người ta, điều thấy được chỉ là trong huyên náo mù quáng cảm thụ sự hãnh diện và vênh váo đắc ý mà Văn hóa đảng nhào nặn ra. Trung Cộng tiêu lượng lớn tiền vào làm các công trình thể diện, mà không quan tâm đến sự tình có quan hệ đến sinh tử của người dân, có chăng chỉ là “bôi son trát phấn” vào sự thống trị lung lay sắp đổ, lừa gạt nhân tâm.

Mọi người đều biết rằng, bảo đảm về giáo dục và y tế là một tiêu chí quan trọng cho mức độ cuộc sống của một quốc gia. Giáo dục là quan hệ đến quốc kế dân sinh đặc biệt là việc lớn của tương lai của dân tộc, chỉ bất quá, bởi vì không phải lợi ích của Trung Cộng ở đó, cho nên trường kỳ cho đến giờ Trung Cộng chỉ đầu tư tư bản vào giáo dục chiếm tỷ lệ chỉ có chưa đến 2%-4% trong tổng sản lượng quốc dân, thậm chí thấp hơn nước nhỏ Uganda thuộc top 100 trên thế giới của châu Phi. Chế độ y tế của Trung Quốc càng tạo ra bệnh coi thường cho người dân. Quá khứ là phần lớn nông dân không có bảo đảm y tế, hiện tại là rất nhiều nhân khẩu thành thị cũng có bệnh coi thường. Vì sao tỉ lệ dự trữ của người Trung Quốc cứ cao mà không giảm, chính là không có cảm giác an tâm vào tương lai, có tiền không dám tiêu. Truyền thông phương Tây thường hỏi về câu hỏi này, Trung Cộng một mặt vì để làm cường quốc thế giới mà chỗ nào cũng rêu rao, một mặt khác đối với vấn đề cơ sở khiến cho Trung Quốc lớn mạnh thực sự thì lại tránh né trường kỳ. Khiến họ cảm thấy nghi hoặc không hiểu được, lãnh đạo Trung Cộng rốt cuộc là muốn làm gì đây?

Cải cách của Trung Cộng là cải cách khập khiễng, nhưng mà, từ trong cái khung của Văn hóa đảng, liền trở nên phá lệ để lý giải Trung Cộng, “tán thưởng” Trung Cộng. Nói là bởi vì có trở lực về hình thái ý thức, cải cách của Trung Cộng là “toàn làm không nói”, có hiệu quả đã rồi mới tăng lên đến lý luận, từ cải cách kinh tế rồi sẽ một mạch thúc đẩy đến cải cách về chính trị. Như thể là có một ngày nhân dân Trung Quốc đều toàn dân tuyển cử để tuyển ra tổng thống, có hiệu quả rồi, Trung Cộng mới chính thức tuyên bố phải làm dân chủ thì cũng thế. Kỳ thực, Trung Cộng không có nguyên tắc, chỉ cần có lợi cho sự thống trị của nó, thì điều gì cũng có thể làm. Nhưng mà, bất kể có cải cách thể chế chính trị có ý nghĩa thực chất nào cũng tất nhiên dẫn đến sự sụp đổ của Trung Cộng, cho nên, trong lĩnh vực kinh tế Trung Cộng là “toàn làm không nói”, người ta đều lo kiếm tiền hưởng lạc, mà trong lĩnh vực chính trị, Trung Cộng lại là “toàn nói không làm”. Nếu như ở trên mạng tìm kiếm “cải cách thể chế chính trị”, bạn sẽ phát hiện trong truyền thông của Trung Cộng đó là một từ rất là ‘nóng hổi’: “Toàn diện xúc tiến cải cách thể chế chính trị kinh tế”, “Thiết lập đặc khu cải cách thể chế chính trị”, “Toàn diện chính xác nắm vững mục tiêu và căn bản của cải cách thể chế chính trị”, “Cải cách thể chế chính trị xúc tiến dân chủ chủ nghĩa xã hội”, “Cải cách thể chế chính trị phá băng ra khơi”, “Cải cách thể chế chính trị Trung Quốc đã thu được thành tựu to lớn”, “Cải cách quản lý môi trường và thể chế chính trị”, “Dựa vào cải cách thể chế chính trị để xúc tiến đấu tranh chống hủ bại”, “Cải cách thể chế chính trị là đường ra duy nhất cho phát triển kinh tế Trung Quốc”… nhưng mà, tất cả những ngôn luận của bọn họ đều là chuyển quanh trong cái khung của Văn hóa đảng, cũng giống như là một tòa nhà lớn sắp sụp rồi, điều người ta muốn vẫn là những việc trang trí gian phòng thế nào. Nhảy xuất khỏi Văn hóa đảng, mới có thể thấy rõ cốt lõi của cải cách của Trung Cộng, cải cách của Trung Cộng bất quá chỉ là vì duy hộ sự thống trị của nó mà cải cách. Mới biết được nó không muốn cũng không dám thoái xuất khỏi vũ đài lịch sử, trông chờ Trung Cộng hoàn lương, chẳng khác chi lên cây bắt cá.

Có người nói thay đổi người lãnh đạo, một thế hệ mới lên, chắc sẽ có tự do thôi? Đó là một sai lầm rất lớn. Nếu như không có sự nỗ lực của nhân dân, quốc gia độc tài sẽ không có tự do dân chủ một cách chân chính.

Mọi người đều chú ý đến một hiện tượng, chính là sau khi thế hệ những người trẻ tuổi hiện tại thăng lên đến bất kể cương vị lãnh đạo nào, rất nhiều người còn to gan hơn cả thế hệ trước đó. To gan ở đây không phải là to gan [làm] dân chủ, mà là to gan nắm quyền, nắm tiền và và làm những việc ô uế bẩn thỉu. Bọn họ chính là ở trong cái thể chế kia của Đảng Cộng sản đã nắm rõ cách luồn cúi đó của Đảng Cộng sản mà đi lên, là mang theo cái gốc tội lỗi của Đảng Cộng sản mà lên, bọn họ chẳng có lý tưởng gì, tâm tưởng đều là đặt vào lợi ích của cá nhân, gia tộc, tập đoàn, trông cậy bọn họ mang quyền lực giao cho nhân dân, là không thể nào, ngay cả nếu có người cá biệt làm, thì điều bọn họ đối diện là cả một bộ cơ khí bạo lực và tập đoàn lợi ích sống cùng sống, chết cùng chết của Đảng Cộng sản.

Thấy được lãnh đạo hiện tại của Trung Cộng chuyển giao quyền lực khá bình ổn, có người lại nghĩ, Trung Cộng đã tiến bộ rồi. Kỳ thực, quá khứ bởi vì địa vị của đảng rất vững chắc, tranh đấu quyền lực liền biểu hiện ra tranh đấu một cách trần trụi giữa cá nhân với cá nhân, bọn họ không có nỗi lo canh cánh rằng “đảng sắp xong đời rồi”. Mà hiện tại, “nguy cơ mất đảng” đã lửa xém lông mày, duy hộ sự thống trị của đảng bản thân đã trở thành “đồng thuận” của Trung Cộng, lợi ích tập đoàn của đảng là cái ô bảo hộ tốt nhất cho lợi ích cá nhân. Cho nên, đấu tranh quyền lực đã diễn biến trở thành đấu tranh kiểu “phe cánh” của bang phái với bang phái dưới sự “bảo hộ đại cục”. Trên bề mặt như thể là bình tĩnh, nhưng trên thực tế, đấu tranh hộp đen càng kịch liệt hơn, vừa phải duy hộ đảng không sụp đổ, vừa phải tranh quyền đoạt lợi, mâu thuẫn càng phức tạp, nguy cơ càng thâm trọng. Cũng như trên một con đường, quá khứ là hai tên ác ôn đánh nhau trên đường, hiện tại là kéo bè kết cánh, chuyển xuống dưới đất, biến thành tổ chức xã hội đen, những thứ này trước kia càng đáng sợ. Cái gọi là “chế độ hóa” của chuyển giao lãnh đạo hiện tại của Trung Cộng, chính là chế độ hóa hộp đen, phe cánh hóa, xã hội đen hóa hoàn toàn.

Lời kết

Mấy chục năm vừa qua nỗ lực cải tạo tư tưởng người khác của Trung Cộng vẫn luôn không thay đổi. Đại hội phê bình đấu tranh kịch liệt, học tập chính trị khô khan, tiết mục văn nghệ hay nghe vui nhìn, đều là công cụ hữu hiệu để nhồi nhét Văn hóa đảng của Trung Cộng. Di sản văn hóa năm nghìn năm, cuối cùng cũng không địch nổi cái kiểu tuyên truyền dư liệu theo phương thức phong bế này của Đảng Cộng sản. Tư tưởng của người ta thật sự đã bị cải tạo rồi.

Chúng ta thường nói dân tộc Trung Hoa là dân tộc trí tuệ cần lao dũng cảm, đã sáng tạo ra văn minh lịch sử huy hoàng. Hiện tại dưới cái tình hình đất nước gọi là “nhân khẩu nhiều, nền tảng kém”, càng yêu cầu trí tuệ và can đảm của toàn dân tộc, đồng lòng lo việc nước. Nhưng trí tuệ của dân tộc lại bị Văn hóa đảng khống chế, đưa quyền suy xét đẩy vào tay Đảng Cộng sản, đối diện với quốc sách trọng đại chỉ nghĩ theo cách của đảng nghĩ, chỉ làm theo cách đảng làm, trí tuệ bị Đảng Cộng sản hạn chế rồi.

Đảng Cộng sản đã biến con cháu của Viêm Hoàng [vốn] tuân theo văn hóa Thần truyền trở thành dân tộc không tin vào Thần, đã xúi bẩy người dân lương thiện [vốn] kính sợ trời đất Thần linh trở thành kẻ cuồng không sợ Trời không sợ đất, đạo đức bại hoại, chuyện xấu gì cũng dám làm, miệng đầy lời nói dối, hành vi thấp kém, dân tộc như vậy làm sao có thể “trỗi dậy” với thế giới đây?

Tai nạn mà Văn hóa đảng đưa đến cho dân tộc chúng ta là quá nặng nề. Điều Đảng Cộng sản quan tâm là lợi ích của cá nhân mình và tập đoàn, vì việc hành ác của mình mà chế tạo các loại lý do tự thị nhi phi, đóng vai trò một loại tâm lý tội phạm, kiểu tình huống này có tính tất nhiên của nó. Nhưng mà bất kể là bản thân chúng muốn thế nào, nhân dân đại chúng trừ việc quan tâm đến cuộc sống ngày hôm nay, cũng còn quan tâm đến sự ổn định lâu dài của quốc gia và dân tộc như thế. Nếu như tiếp nhận tư tưởng và logic của Đảng Cộng sản, lấy việc duy hộ lợi ích của bản thân chúng làm mục đích căn bản mà không đoái hoài gì đến tương lai của dân tộc, thì đó chính là hành động không sáng suốt.

“Cho Trung Cộng thời gian”, là lý do thường dùng để người ta tránh né vấn đề Trung Cộng. Nghe qua thì như thể người ta có rất nhiều sự lựa chọn, trước hết lần này cho Trung Cộng thời gian nhiều chút thử xem thế nào. Kỳ thực, dân tộc căn bản không có cơ hội lựa chọn, nói như vậy là tìm cho mình một sự cân bằng tâm lý. Thời gian bản thân không thể cải biến Trung Quốc, chỉ có là trong đoạn thời gian này nỗ lực của dân tộc mới có thể thực sự cải biến Trung Quốc. Giải thể Trung Cộng, giải thể Văn hóa đảng, trừ tận gốc nhân tố căn bản gây trở ngại Trung Quốc tự do phát triển, để nhân dân quay trở về với tư duy chính thường, dân tộc mới có hy vọng chấn hưng trở lại.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên


Bản tiếng Hán:

http://www.epochtimes.com/gb/6/10/12/n1484154.htm

http://www.epochtimes.com/gb/6/10/14/n1486695.htm

Chú thích:

[1] Khuyển nho (Cynieism) một trường phái triết học Hy Lạp cổ đại, còn gọi là trường phái hoài nghi ích kỷ, do Diogenes sáng lập

[2] Bất thức Lư Sơn chân diện mục: Câu thơ trong bài “Đề Tây Lâm bích” của Tô Đông Pha

[3] Đệ Tam Quốc tế còn gọi là Cộng sản Đệ Tam hay Comintern là tổ chức của những người cộng sản, được thành lập vào tháng 03 năm 1919 ở Moskva và giải tán năm 1943, được tái sinh lại năm 1947 và giải tán năm 1956, sau Đại hội XX của Đảng Cộng sản Liên Xô.

[4] Trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, quân xâm lược Nhật Bản đã thực thi ở Trung Quốc chính sách “đốt hết, giết hết, cướp hết”. Chính sách này được biết đến ở Trung Quốc với tên gọi là Tam Quang.

[5] Đập Tam Hiệp chặn Trường Giang (sông dài thứ ba trên thế giới) tại Tam Đẩu Bình, Nghi Xương, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Việc xây dựng bắt đầu vào năm 1994. Đây là đập thủy điện lớn nhất thế giới. Con đập này có 32 tuốc-bin chính, ngoài ra còn có 2 máy phát điện nhỏ hơn (mỗi máy 50 MW) phục vụ cho nhà máy, tổng công suất phát điện của đập là 22.500 MW.

[6] White collar (Anh) hoặc Blanc col (Pháp) – cổ trắng là danh từ dùng chỉ giới công chức, nhân viên có trí thức mặc áo sơ-mi trắng lịch sự. Blue collar (Anh) hoặc Bleu col (Pháp) – cổ xanh là danh từ chỉ giới công nhân, lao động chân tay, thường mặc áo bảo hộ lao động màu xanh dương.

[7] Lục Lâm, bắt nguồn từ khởi nghĩa Lục Lâm thời nhà Tân chống lại sự cai trị của Vương Mãng. Danh từ riêng Lục Lâm sau này trở thành danh từ chung “lục lâm”, chỉ các lực lượng thảo khấu (giặc cướp) chống đối chính quyền.

[8] “Xú lão cửu” (臭老九): chín loại thối tha. Tương tự như “Ngũ hắc loại (黑五类)” (gồm địa chủ, phú nông, chống cách mạng, phần tử có ảnh hưởng xấu, tư sản), Xú lão cửu mà Mao Trạch Đông đưa ra trong Cách mạng Văn hóa ngoài năm thành phần giống như trong “Ngũ hắc loại” còn có thêm bốn thành phần nữa là: người hoạt động trong cánh hữu, kẻ phản bội, gián điệp và trí thức.

[9] Lục nghệ: Lễ (nghi lễ), Nhạc (âm nhạc), Xạ (bắn cung), Ngự (cưỡi ngựa), Thư (đọc sách), Số (toán pháp)

[10] Hạ Vũ (còn được gọi là Đại Vũ) là một vị vua huyền thoại ở Trung Quốc cổ đại nổi tiếng với về việc chống lũ, xác lập chế độ cha truyền con nối ở Trung Quốc bằng cách thành lập nhà Hạ và nhân cách đạo đức ngay thẳng của mình.

Tô Vũ tên thật Tô Tử Khanh, người đất Đỗ Lăng, là một bầy tôi trung của vua Hán Vũ Đế. Thời đó, nhà Hán thường bị giặc Hung Nô ở phương Bắc hay quấy nhiễu, dòm ngó. Năm 100, Hán Vũ Đế sai Tô Vũ đi sứ Đại Nhục Chi để hai nước liên kết đánh Hung Nô. Dọc đường Tô Vũ bị Hung Nô bắt, không giết mà cũng không cho về, đành phải tạm ở lại Hung Nô, chăn cừu sống với một phụ nữ Hung Nô trong núi, được một đứa con, sau trốn thoát, chịu không biết bao nhiêu gian nan, tới được Đại Nhục Chi, nhưng lúc này họ hết muốn trả thù Hung Nô rồi, chỉ muốn sống yên ổn, làm ruộng, trồng trọt. Tô Vũ đành trở về tay không, trên đường lại bị Hung Nô bắt một lần nữa.

Văn Thiên Tường, năm 17 tuổi, ông tham gia kỳ thi Hương ở Lô Lăng, tên đậu đầu bảng. Khi quân nhà Nguyên tràn vào đất Tống, ông ứng “chiếu Cần Vương” dưới cờ vua Tống Cung Đế. Công cuộc kháng chiến chống Nguyên không thành và ông bị quân Nguyên bắt đưa về Yên Kinh (Bắc Kinh ngày nay). Vua Nguyên thấy ông là người có tài và có khí tiết định giam giữ dụ hàng, nhưng ông đã khảng khái nói:”Tôi hiện đang là Tể tướng triều Tống, chỉ lấy cái chết để đền nợ nước, nếu lấy gươm đao dọa nạt, chẳng làm gì được đâu.”

Khuất Nguyên, tên Bình, biệt hiệu Linh Quân (340 TCN – 278 TCN) là một chính trị gia, một nhà thơ yêu nước nổi tiếng của Trung Quốc. Ông là người trong hoàng tộc nước Sở, làm chức Tả Đồ cho Sở Hoài Vương. Ông học rộng, nhớ lâu, giỏi về chính trị, lại có tài văn chương. Lúc đầu ông được vua yêu quý, sau có quan lại ganh tài ông, tìm cách hãm hại.

[11] Trương Chí Tân là một nữ trí thức bị ĐCSTQ tra tấn đến chết trong Đại Cách mạng Văn hóa vì dám nói lên sự thực.

Ngày đăng:24-11-2014
Copyright © 2008 www.9binh.com. All rights reserved.