Chương 8: Thói quen tư duy kiểu Văn hóa đảng

Mục lục

1. Mọi người cảnh giác lẫn nhau, trong ngôn ngữ có ý thức tranh đấu

2. Thói quen sáng tác không tách rời đảng

3. Ý thức cảnh báo nguy hiểm đối với những tư tưởng không phù hợp với quan niệm của đảng

4. Văn hóa đảng sử dụng những lời rập khuôn theo thói quen

5. Làm nhầm lẫn khái niệm đảng và chính phủ, đảng và quốc gia, đảng và dân tộc

Kết luận

========

Để hình thành nên một thể hệ văn hóa thông thường cần một khoảng thời gian dài, thế nhưng chỉ trong mấy chục năm ngắn ngủi, Đảng Cộng sản đã kiến lập nên Văn hóa đảng tại Trung Quốc, dựa vào sự  tuyên truyền với một cường độ cao bất thường, và dựa vào thực tiễn đẫm máu kinh động đến tinh thần người ta; tiêu chí cho sự thành công của việc tuyên truyền nhồi nhét này là biến người ta từ tiếp nhận tư duy Văn hóa đảng một cách bị động sang tư duy Văn hóa đảng theo thói quen. Một khi thói quen đã trở thành tự nhiên, Văn hóa đảng sẽ trở thành một phần của sinh mệnh con người, người ta cũng khó mà nhận ra được nó là một thứ ngoại lai, mà lại tin rằng nó xuất phát từ sâu thẳm tâm hồn của họ. Tư duy Văn hóa đảng đã trở thành “bản tính” của dân tộc chúng ta. Có dân tộc thích suy ngẫm, có dân tộc thích âm nhạc, có dân tộc thích sáng tạo, mỗi dân tộc có thể có các phương thức tư duy rất khác nhau, nhưng đều xuất phát từ nhân tính tự nhiên của con người. Nhưng cái “bản tính” mà Đảng Cộng sản nhồi nhét cho chúng ta lại không phải là nhân tính tự nhiên mà là đảng tính. Văn hóa đảng đã làm biến dị dân tộc chúng ta, khiến cho con người trở nên đề phòng cảnh giác khi giao tiếp với nhau, ngôn ngữ mang đầy tính tranh đấu; các sáng tác văn học, nghệ thuật đều đã hình thành một thói quen là không tách rời đảng; trong cuộc sống, người ta cảm thấy lo sợ khi họ có tư tưởng nào đó không phù hợp với quan niệm của đảng; họ nói theo thói quen ngôn ngữ văn phong dập khuôn của đảng; nhầm lẫn khái niệm đảng với chính phủ, đảng với quốc gia và đảng với dân tộc, v.v..

Kiểu tư duy Văn hóa đảng này đã thành quen thuộc đến mức tự nhiên đối với toàn xã hội, hình thành nên một kiểu “lực thói quen” ảnh hưởng đến mọi mặt tư duy, ngôn ngữ cho đến hành động của con người. Chúng tôi nhận thấy rằng, cho dù tổ chức Đảng Cộng sản có giải thể thì “thói quen tư duy” hình thành trong Văn hóa đảng cũng khó mà giải thể được, vậy thì trong tương lai Trung Quốc vẫn sẽ là một xã hội dù không có Đảng Cộng sản nhưng vẫn bị dư âm sâu sắc của Đảng Cộng sản. Nếu “thói quen” Văn hóa đảng trong tư duy, lời nói và hành động của chúng ta không thể được tẩy sạch, thì nó vẫn sẽ ảnh hưởng đến những phán đoán đúng sai, phân tích tin tức và các quyết sách của chúng ta, chúng ta có thể sẽ vẫn cảnh giác lẫn nhau, vẫn khai thác cạn kiệt tự nhiên, đấu với Trời đấu với Đất, vẫn cảm thấy “các thế lực phản Hoa trên thế giới chết hết thì mới yên tâm”, v.v.. Điều này ví như một chiếc xe hơi đang chạy tốc độ cao, cho dù động cơ của nó có cháy nổ thì nó vẫn có thể theo quán tính mà trượt thêm một đoạn dài nữa. Do vậy vào chương cuối cùng này, điều đặc biệt cần thiết là phải thanh trừ thói quen tư duy Văn hóa đảng của chúng ta.

1. Mọi người cảnh giác lẫn nhau, trong ngôn ngữ có ý thức tranh đấu

1) Mọi người cảnh giác lẫn nhau

Người Trung Quốc từ xưa đã rất hiếu khách. Khổng tử viết: “Có bạn từ xa đến, không vui mới lạ?” Thế nhưng người Trung Quốc ngày nay, nếu có người lạ muốn làm quen với bạn, bạn liền nghĩ rằng có thể họ không “vô duyên vô cớ” mà quan tâm đến bạn, đoán xem liệu người ấy có âm mưu gây rối không; trông thấy người mang theo trẻ nhỏ đến nhờ giúp đỡ, có lẽ bạn sẽ đoán rằng liệu hắn có phải “kẻ lừa đảo” định dùng đứa bé đó để lừa gạt mình không; trên đường có người gọi bạn lại nhờ giúp đỡ, bạn sẽ cảnh giác ngay liệu có đồng bọn của hắn ở gần đó không, kẻo lại tự mình chui đầu vào rọ.

Ngược lại, người Trung Quốc khi sang các nước phương Tây thì cảm nhận sâu sắc nhất chính là sự thân thiện của người dân. Đi trên đường, đến người không quen biết cũng có thể mỉm cười với bạn, chào hỏi bạn; nếu bạn bị hỏng xe dọc đường thì thường có người dừng lại hỏi bạn có cần giúp gì không; nếu bạn mang theo trẻ nhỏ thì người ta lại càng sẵn lòng giúp đỡ.

“Người quân tử biết cung kính lễ nghi, coi bốn biển đều là anh em”. Người Trung Quốc xưa rất coi trọng lễ nghi. Tại sao ngày nay ở đất nước vốn là quê hương của lễ nghi này lại không còn thấy cách cư xử nhã nhặn giữa người với người nữa, mà chỉ thấy “không thể không có tâm lý đề phòng người khác”, mang đầy tâm lý cảnh giác lẫn nhau? Kiểu tâm lý cảnh giác này không chỉ giới hạn với những người lạ, mà giữa cấp trên với cấp dưới, hàng xóm, đồng nghiệp, thậm chí là giữa bạn bè thân thiết với nhau, cũng thường có tâm lý phòng bị này. Ngay cả khi người ta đang chén chú chén anh, dốc hết tâm tình với nhau trên bàn tiệc thì họ vẫn không quên tâm lý cảnh giác, tự bảo vệ lấy mình, đề phòng người khác thay lòng đổi dạ.

Có thể nói mỗi người Trung Quốc ngày nay đều tự xây dựng cho mình một bức thành trì kiên cố bao quanh. Tâm lý cảnh giác lẫn nhau đã trở thành thói quen tư duy. Trong xã hội bình thường, người ta cũng không phải hoàn toàn không có chút cảnh giác gì, khi nhìn thấy có kẻ lét lút vụng trộm thì mang tâm lý cảnh giác cũng không có gì quá đáng. Nhưng tâm lý cảnh giác của người Trung Quốc hiện nay lại không đến từ những tín hiệu của đối phương, họ cảnh giác không phải vì đối phương biểu hiện ra sao, mà cứ nhìn thấy người là tự họ đã dấy lên tâm lý cảnh giác, họ tự giả dụ rằng đối phương có ý đồ không tốt. Ai ai gặp nhau cũng đều có tâm lý cảnh giác, đề phòng người khác, đây không phải là trạng thái bình thường của con người. Có người nói người Trung Quốc sống thật mệt mỏi. Quả đúng là như vậy.

(1) Thói quen cảnh giác là hậu quả do Văn hóa đảng gây nên

Con người đều đã từng chất phác, từng tin tưởng, chân thành với nhau. Nhưng trải qua các cuộc vận động chính trị đầy phong ba bão táp, bản thân người ta hoặc đã đấu tố người khác, hoặc bị người khác đấu tố, hoặc hôm nay đấu tố người khác ngày mai lại bị người khác đấu tố, hoặc đã nhìn thấy người này đấu tố người kia, hoặc hôm qua bị người khác đấu tố hôm nay lại đấu tố lại chính người đó, … Lịch sử của Trung Cộng suốt mấy chục năm qua là lịch sử của các cuộc đấu tranh, người người đấu tố lẫn nhau.

Người Trung Quốc xưa đời đời kế tiếp nhau, dựa trên chế độ gia tộc tự quản để duy trì các mối quan hệ giữa người với người, nhưng triết học đấu tranh của Trung Cộng đã cứng nhắc xé nát các mối quan hệ này, thay thế bằng các mối quan hệ đối lập giữa các giai cấp (quần thể) được xác lập theo địa vị kinh tế, xã hội. Người ta bắt đầu nhìn mọi người xung quanh bằng con mắt thù địch, dùng các thủ đoạn bạo lực của Đảng Cộng sản để đối xử với những người bất đồng ý kiến. Đảng tính, thú tính, tính giai cấp đã thay thế cho nhân tính, sự chuyên chính thay thế cho tình yêu thương, thù địch thay thế cho thân thiện, cảnh giác thay thế cho tin tưởng. Người ta bị buộc phải luôn luôn đề phòng với những gì bị gọi là sự “thâm nhập”, “công kích”, “phản công” của “kẻ thù”, do đó họ đã gánh vác trách nhiệm phòng bị “kẻ thù”, đồng thời họ cũng sản sinh ra tâm lý lo sợ “kẻ thù” làm tổn hại đến lợi ích thiết thân của mình. Trong một xã hội không tin tưởng vào đạo đức, không tin vào Thần Phật minh hiển, không tin vào Thiên lý, dường như chỉ suy đoán người khác bằng ác tâm, phải đề phòng người khác mới có thể đổi lại một chút cảm giác an toàn cho bản thân mình. Trường kỳ như vậy, kiểu tâm lý đề phòng kẻ thù này đã trở thành thói quen suy nghĩ trong tiềm ý thức của người ta, phòng bị người khác trở thành tâm lý thường thấy trong xã hội. Tâm lý cảnh giác với người khác có thể nói là hậu quả tất yếu của việc tín ngưỡng và đạo đức truyền thống bị đập nát và sự tiêm nhiễm quan niệm đấu tranh giai cấp của Trung Cộng.

Những trò hề đấu tố với những thủ đoạn bỉ ổi, vô nhân tính như: đặc vụ, mật báo, mách lẻo, tố giác, chỉ điểm, phản chiến, hai mặt, trung lập (tát nước theo mưa), phân chia ranh giới, “đại nghĩa” diệt thân, vợ chồng phản nhau, cha con đấu đá nhau, hàng xóm thù hận nhau, thầy trò tương đấu, nghe lén nhau (tai vách mạch rừng), v.v.. đã khiến cho tâm lý đề phòng trở thành bản năng sinh tồn của người ta.

Nếu ví tâm lý cảnh giác khi thấy người khác đấu tố lẫn nhau như một vết nứt nhỏ, thì những lời dối trá của Trung Cộng từ trên xuống dưới đã khiến cho vết nứt ngày càng sâu hơn. Xét về tâm lý học, nếu một người chân thành tin tưởng vào điều gì nhưng lại bị lừa gạt, thì sẽ gây cho người đó sự tổn thương sâu sắc về mặt tình cảm. Càng chân thành càng bị tổn thương mãnh liệt, họ càng biểu hiện ra tâm lý cảnh giác cao độ, thậm chí đi đến cực đoan, không tin tưởng bất kỳ ai. Người Trung Quốc lúc đầu đã tin tưởng vào Trung Cộng một cách mù quáng, nhưng sự trở mặt nhiều lần của Trung Cộng, sự xấu xa của những kẻ tham gia, kết cục tàn khốc của người bị hại, đã khiến người Trung Quốc bị tổn thương quá lớn về tinh thần. Bị bức hại, lừa gạt hết lần này đến lần khác, người ta đã hình thành nên một thái độ phòng bị đối với người khác theo bản năng. Người ta không còn dám tin tưởng vào bất cứ ai, làm việc gì trước tiên cũng phải hình dung ra người khác có ý đồ xấu, để nhắc nhở bản thân đề cao cảnh giác, bảo toàn tính mệnh của mình.

Tâm lý cảnh giác khiến người ta không còn tin tưởng người khác, hoài nghi tất cả. Sau khi tâm lý cảnh giác đã thành thói quen, người ta sẽ tự mình làm nó mạnh lên. Cũng có nghĩa là, “sự không tin tưởng” sẽ tạo nên tâm lý cảnh giác cao độ hơn.

Trong sách “Liệt tử” có kể một câu chuyện “Nghi ngờ hàng xóm lấy trộm rìu”. Có một người đánh mất rìu, anh ta nghi ngờ đứa con của nhà hàng xóm lấy trộm. Do đó anh ta quan sát kỹ lưỡng đứa trẻ, cảm thấy cậu ấy khi đi đường, nói năng đều có dáng vẻ giống như kẻ lấy trộm rìu, nét mặt, cử chỉ không có chỗ nào là không giống kẻ lấy trộm rìu của anh ta. Chỉ đến khi anh ta tìm lại được rìu của mình, lúc đó mới nhìn lại đứa con nhà hàng xóm, cảm thấy cậu ấy đi đường, nói chuyện, thái độ biểu đạt đều không giống kẻ lấy trộm rìu một chút nào.

Trung Cộng đã bồi dưỡng cho chúng ta một kiểu thói quen tư duy thế này: đầu tiên thấy mọi người không ai đáng tin, thế giới này đều không có người tốt, sau đó đứng trên lập trường giả định này để tìm kiếm chứng cứ. Lúc đó chúng ta cũng giống như người bị mất rìu, nhìn người khác bất luận thế nào đều không đáng tin. Văn hóa đảng là một kiểu văn hóa hoài nghi, “hoài nghi tất cả” đã trở thành tư tưởng chủ đạo trong tư duy và giao tiếp giữa con người, nó còn đề xướng, cổ xúy cho việc cảnh giác lẫn nhau. Câu trả lời của Karl Marx khi Jenny – con gái ông đến thăm có thể nói là “sặc mùi” Văn hóa đảng: “Lý giải về hạnh phúc – đấu tranh; màu sắc ưa thích – màu đỏ; lời răn dạy ưa thích – hoài nghi tất cả”.

Đấu tranh và dối trá mới chỉ là nhân tố hình thành bề ngoài của tâm lý cảnh giác. Đào sâu vào các tầng thâm sâu của quá trình hình thành nên Văn hóa đảng, chúng ta mới có thể thấy được tâm lý cảnh giác này đã được hình thành như thế nào. Trung Cộng phá hủy tín ngưỡng dân tộc, phủ nhận Văn hóa truyền thống, nhồi nhét triết học đấu tranh, tuyên truyền sự vĩ đại của Marx-Lenin-Mao Trạch Đông. Sau khi tất cả tín ngưỡng truyền thống bị phá hủy thông qua các cuộc vận động tạo Chúa của Trung Cộng, người ta đã bị tổn thương sâu sắc về tâm lý đến nỗi không dám tin vào bất cứ điều gì. Tất cả điều này đã tạo thành tâm lý cảnh giác cao độ khiến người ta không thể bài trừ được.

 (2) Sự kế thừa tâm lý cảnh giác

Có lẽ có người cho rằng bản thân mình chưa từng trải qua các cuộc vận động như thế, bây giờ có vẻ như không ai còn nhắc đến đấu tranh giai cấp như trước kia nữa. Nhưng trên thực tế, cơ chế xã hội tạo nên cho người ta thói quen cảnh giác thì vẫn tồn tại, mỗi thành viên trong xã hội đều không tránh khỏi bị nó ảnh hưởng.

Trên các kênh truyền thông miệng lưỡi của Trung Cộng, lúc nào cũng có thể đập vào mắt người ta những từ ngữ như: “nhận thức thanh tỉnh”, “đề phòng chặt chẽ”, “cảnh giác cao độ”, “phê bình nghiêm khắc”, “thế lực phản động”, “kẻ thù luôn muốn tiêu diệt chúng ta”, “khắc phục tư tưởng chủ quan, lơ là” v.v.. mọi thời khắc đều kích động tâm thái đấu tranh của người ta.

Cha mẹ hiện nay cũng dùng những bài học mà mình đã từng trải qua trong các cuộc vận động chính trị, để giáo dục đến nơi đến chốn cho thế hệ trẻ phải biết đề cao cảnh giác, khiến cho tư duy cảnh giác này được “kế thừa” đời đời. Bạn bè cũng thường xuyên nhắc nhở nhau: “Anh phải cẩn thận với người XX nào đó”, khiến cho ký ức về tâm lý cảnh giác càng được khắc sâu thêm, hiệu ứng của nó trong cuộc sống càng được khuếch trương.

Văn hóa tố cáo, mách lẻo lẫn nhau do Trung Cộng tiêm nhiễm, đến nay không những không mất đi, ngược lại còn tinh xảo hơn. Trẻ con từ khi học mẫu giáo, tiểu học đã bắt đầu được khuyến khích rằng bản thân chúng có thể có lợi thế hơn thông qua việc tố cáo người khác. Khi vào đại học, để được vào đảng và có được công việc tốt, các sinh viên dùng hình thức tố cáo lẫn nhau để thể hiện thái độ “cầu tiến”, quan hệ tốt với người phụ đạo. Trong đơn vị công tác, người phản lại lãnh đạo ghê gớm nhất lại thường là những “kẻ do thám” được chính lãnh đạo bổ nhiệm, cho rằng cấp dưới thân cận nên bớt đề phòng cảnh giác, mở rộng lòng thổ lộ những điều chân thật.

Tổ chức đảng của Trung Cộng có mặt khắp mọi nơi, kiểm soát mọi lĩnh vực. Từ báo giấy, tạp chí đến mạng Internet, từ học tập, làm việc đến cuộc sống sinh hoạt, khống chế, thao túng mọi mặt của xã hội. Nhất cử nhất động của người ta đều nằm dưới tầm giám sát của nó. Cuộc đàn áp ngày 4 tháng 6, các cuộc bắt bớ những người khiếu kiện, các cuộc đàn áp những người bất đồng ý kiến, cuộc bức hại đối với các đoàn thể tín ngưỡng, v.v.. đã nói lên rằng tư tưởng đấu tranh giai cấp của Trung Cộng vẫn được vận hành mọi nơi mọi lúc. Nhất là trong cuộc đàn áp Pháp Luân Công, nó đã dùng đến thủ đoạn phê phán, rợp trời dậy đất, huy động toàn dân tham gia, ai ai cũng phải qua kiểm tra, ai ai cũng phải bày tỏ thái độ, như vậy chẳng giống với cuộc Cách mạng Văn hóa là gì?

Hậu quả tất yếu của sự dối trá và hủ bại của chính quyền Trung Cộng, chính là khiến cho đạo đức xã hội ngày càng trượt dốc. Mà sự trượt dốc của đạo đức xã hội càng thúc đẩy người phải đề cao cảnh giác. Văn hóa đảng khiến người ta cảnh giác lẫn nhau đã thấm sâu vào tâm lý của người dân trăm họ, thể hiện ở tư duy và hành động của họ, họ lúc nào cũng mang tâm phòng bị người khác, lúc nào cũng phải phỏng đoán xem người ta có “rắp tâm” gì, lúc nào cũng lo lắng bị người khác “lợi dụng”. Một vị giám đốc người Hoa ở nước ngoài đã đến Trung Quốc vài năm trước để khảo sát, sau khi trở về đã cảm khái nói rằng: “Xã hội Trung Quốc đã trở nên cực kỳ phức tạp, người dân không còn giữ chữ tín và đạo đức nữa. Đối với bất kỳ ai mà nói, không có sự việc nào là đáng tin. Người với người  lừa dối nhau, chính phủ không tin nhân dân, nhân dân cũng không tin chính phủ, pháp luật không được thực thi. Đối với quốc gia thì tình trạng xã hội như vậy có phải là việc tốt không?

Một quá trình hình thành thói quen có thể phân thành ba giai đoạn, một là giai đoạn bị thế lực bên ngoài cưỡng ép làm một cách không tự nguyện, hai là giai đoạn tự giác hình thành nên các phản xạ có điều kiện một cách liên tục gia tăng, ba là giai đoạn phản ứng như là thói quen bản năng hoàn toàn từ bên trong. Toàn bộ tâm lý cảnh giác của người Trung Quốc ban đầu là do bị Trung Cộng cưỡng ép tuyên truyền và kích động, sau đó bị tăng cường lên qua các lần vận động chính trị, đến ngày nay, tâm lý cảnh giác của người ta đã hoàn toàn trở thành bản năng, tự động, không cần giám sát, cũng không cần sự nỗ lực của ý chí, nó là một thói quen tư duy rất tự nhiên.

 (3) Hậu quả của tâm lý cảnh giác

Tâm lý cảnh giác theo tư duy Văn hóa đảng đã khiến người Trung Quốc sống rất nặng nề. Cảnh giác có thể giúp người ta tạm thời bảo vệ mình hoặc giúp ích đôi chút, nhưng về lâu dài, vốn dĩ người ta có thể đối xử với nhau chân thành, tin tưởng lẫn nhau, sống nhẹ nhàng thanh thản thì nay lại phải luôn cảnh giác cao độ, nơm nớp lo sợ, đề phòng mọi thứ. Tâm lý cảnh giác này khiến họ cảm thấy mọi người đều là thù địch, đến những người thân yêu nhất bên cạnh mình cũng không dám tin tưởng hoàn toàn. Lâu dần làm cho chất lượng cuộc sống giảm sút nghiêm trọng, khó mà cảm nhận được niềm vui do sự tin tưởng và thanh thản mang lại, tỷ lệ mắc bệnh tâm thần và các loại bệnh tâm lý khác ngày càng gia tăng. Theo tính toán của các chuyên gia tâm thần học, Trung Quốc hiện nay có ít nhất 100 triệu người mắc các loại bệnh về tâm thần.

Trên chiến trường phải giữ cảnh giác là chuyện bình thường, nhưng trong cuộc sống thường nhật mà tâm lý lúc nào cũng căng thẳng, đề phòng người khác, thì đây không phải là cuộc sống của người bình thường. Tình trạng “mọi người cảnh giác lẫn nhau” này không hề tồn tại ở một xã hội bình thường. Ở rất nhiều nước, toàn xã hội đều khuyến khích phẩm chất trung thực, giữa người với người không cần phải câu nệ nhiều, không cần nhọc sức mà đi dò la người khác, quan hệ con người rất đơn giản, người ta cho rằng làm người phải sống thoải mái, nhờ đó mọi người đều có thể đạt được rất nhiều lợi ích. Tư duy cảnh giác cũng khiến người Trung Quốc rất khó hợp tác với nhau, do thường phát sinh nhiều mâu thuẫn. Đối với toàn xã hội mà nói, cái giá phải trả cho tâm lý cảnh giác quả là khó mà tính toán được.

Cảnh giác khiến người ta không tin vào bất cứ điều gì, tất nhiên ngoài việc không tin vào tất cả những gì ngoài thể chế của Trung Cộng ra thì ngay đến chân tướng của sự việc họ cũng không tin. Khi sự thực mà Trung Cộng vốn che đậy được tiết lộ và trở lại như cũ, người ta cũng vẫn giữ một thái độ hoài nghi, không tin, do đó lại khiến sự tuyên truyền giả tạo, sự thao túng và lừa dối của Trung Cộng phần lớn trở thành hiện thực.

Tâm lý cảnh giác cũng tạo thành trở ngại trong quan hệ giữa Trung Quốc với quốc tế. Việc Trung Cộng kích động tâm lý cảnh giác và thù hận với bên ngoài, không chỉ khiến các nước khác khó mà có cảm giác tin tưởng Trung Quốc, mà cũng không thể giúp Trung Quốc thực sự hội nhập thế giới. Mang theo cái nhìn thù địch, coi người khác đều là “thế lực phản động”, thì làm sao hiểu được chính xác thông điệp của người khác, làm sao hợp tác với các quốc gia trên thế giới đây?

Người ta có thể cho rằng, nếu tôi không đề phòng người khác, không tự bảo vệ mình, thì chẳng phải người khác sẽ coi tôi là đồ ngốc mà lừa bịp hay sao? Quả thực, ai dám thực sự là người đầu tiên từ bỏ sự cảnh giác đây? Có người ví von điều này với việc đứng kiễng bằng đầu ngón chân. Nếu mọi người đều đứng kiễng chân lên để xem kịch thì rất mệt mỏi, nếu mọi người cùng hạ chân xuống thì đều sẽ cảm thấy thoải mái mà vẫn có thể nhìn rõ. Thế nhưng không ai tin ai, nếu tôi hạ chân xuống mà người khác không hạ thì tôi không nhìn được gì, chẳng phải là chịu thiệt à?

Đi tìm đáp án từ Văn hóa đảng là điều không thể, bởi vì tâm lý “mọi người cảnh giác lẫn nhau” là do Văn hóa đảng tạo thành. Chỉ có giải thể Trung Cộng mới có thể xóa đi hoàn cảnh tạo nên tâm lý cảnh giác. Người ta sau khi thoát khỏi bức hại và tấn công của Đảng Cộng sản thì mới có thể được tự do tín ngưỡng, mới dần dần phục hồi các quan niệm truyền thống của Trung Quốc như nhân – nghĩa – lễ – trí – tín. Như vậy tự nhiên sẽ có người tự nguyện lựa chọn việc hạ chân xuống, chỉ khi con người đối đãi thiện với nhau, nói lời chân thật với nhau, mới có thể khiến cho đạo đức toàn xã hội thăng hoa, từ đó quay trở về trạng thái xã hội bình thường.

2) Ngôn ngữ mang ý thức tranh đấu

Năm 2001, một học giả về ngôn ngữ ở Trung Quốc Đại lục đã tiến hành một cuộc điều tra về các từ ngữ đang thịnh hành trong giới trẻ, những từ ngữ có tính đả kích sâu cay như “độc ác”, “ngớ ngẩn”, “biến thái” cũng được liệt kê vào 10 từ ngữ thịnh hành, thật ngạc nhiên là xếp vị trí thứ hai là từ “đi chết đi”.

Ngôn từ có tính tranh đấu không chỉ tồn tại ở giới thanh thiếu niên. Đến nay mọi mặt trong cuộc sống của người Trung Quốc đều tràn ngập những ngôn từ như vậy. Ví dụ, trên áo phông cũng in chữ “Đừng có chọc tôi, anh sẽ phiền phức đấy”; các ca từ cũng cổ động “Khi nào cần ra tay thì phải ra tay”; tên sách lại đặt là “Trung Quốc có thể nói không”; mấy chục nghìn fan hâm mộ bóng đá trên khán đài đồng thanh hô to: “XX ngu ngốc”; “Mày thần kinh à?” “Mày uống nhầm thuốc rồi?” “Não mày bị úng nước rồi?” những thể loại ngôn từ như vậy đâu đâu cũng có thể nghe thấy.

Trong cuộc sống thường ngày, rất nhiều người đã tận mắt chứng kiến sự việc như thế này: vấn đề thảo luận không phải là việc cần thảo luận, mà là việc đả kích người khác, lấy những điểm không tốt của người khác ra mà nói, việc chính thì không xử lý được. Lời nói hàm ý chế nhạo, ngôn từ gay gắt cay nghiệt, đầy tính công kích, không đếm xỉa gì đến cảm giác của người khác. Gặp sự việc gì cũng không bình tĩnh và nói lời có đạo lý, mà là phải tranh nhau cái khẩu khí đã, có khi cũng không buồn nghĩ đến những quan điểm khác nhau của người khác, dù thế nào cũng phản đối trước đã mới thấy thỏa nguyện. Kiểu ngôn ngữ đã toát lên ý thức về đấu tranh một cách không tự biết này, trong cuộc sống đâu đâu cũng gặp.

Khi đi mua vé ở nơi công cộng, đang đứng xếp hàng, có thể không biết từ đâu đột nhiên xuất hiện một vài người đứng chen vào. Nếu như bạn nói: “Xin anh hãy xếp hàng một chút”. Rất có thể người ta sẽ quay ra nhìn bạn hằm hằm, lạnh lùng nói một câu: “Việc gì đến mày! Đồ thần kinh!” Đi bộ trên đường không may đụng phải người khác, đang định xin lỗi thì một giọng the thé đã vang lên “Không có mắt à?” Khi nhìn thấy hai người cãi cọ nhau, người bên cạnh có khi không những không khuyên giải, lại còn đổ thêm dầu vào lửa: “Cứ làm tới đi!” Giữa bạn bè với nhau lúc trêu đùa cũng nói: “Đợi lúc nào đánh chết cậu đi”.

Khi cha mẹ giáo dục con cái, ngôn ngữ lại càng lạnh lùng, không kiêng nể gì, sẵn sàng thượng cẳng chân hạ cẳng tay. “Đã nói rồi, tan học về việc đầu tiên là phải làm bài tập. Bây giờ tốt rồi, bài tập làm không xong, đợi xem cô giáo ngày mai phạt thế nào!”. “Mày xem xem đứa XX nhà ấy, lúc nào cũng giỏi hơn mày.” “Còn khóc à, chỉ biết khóc thôi à? Có khóc cũng không ai giúp đâu”. “Con không chịu nghe lời, vậy thì đợi thi kiểm tra xong chúng ta sẽ tính sổ.” “Mày đợi đấy, tao sẽ cho mày một trận”. “Đồ thỏ đế, không trị nổi người khác, tao còn không trị nổi mày sao?”

Người Đài Loan phát hiện ra rằng, người Trung Quốc Đại lục nói chuyện, thường có thói quen dùng câu hỏi phản bác lại, mà ngữ khí nghe rất nặng. “Sao có thế này mà cũng không biết à?” “Tự mình không nhận ra à?” “Không trông thấy tôi đang bận sao?” “Ai nói vậy?” “Tôi chẳng đã nói với cậu rồi sao?” “Sao không làm trước đi?” “Ở đâu có kiểu như cậu?” Kiểu ngôn ngữ này sặc mùi tranh đấu và mang tính trách cứ người khác, hàm ý chê đối phương “ngu ngốc”, “không bình thường”, đồng thời do sử dụng câu hỏi nên ngữ khí lại càng nặng.

Ngôn từ mang tính đấu tranh đã trở nên rất phổ cập như vậy, thế cho nên trong các loại hình văn nghệ cũng coi trọng việc đả kích bằng ngôn từ. Vài năm gần đây thịnh hành rất nhiều loại tiểu phẩm mà nội dung chủ yếu là các màn đối thoại giữa nam nữ diễn viên nhằm công kích, lăng mạ, nói xấu, phàn nàn lẫn nhau, mà họ lại trở thành những nhân vật chính trong tiểu thuyết, phim điện ảnh, truyền hình, rất nhiều nhà văn coi chua ngoa là sâu sắc, các diễn đàn trên mạng càng trở thành mảnh đất của các thứ ngôn ngữ chua cay này. Nông dân, người nghèo, người tàn tật, người xấu xí, người có trình độ học vấn thấp, v.v.. đều trở thành đối tượng bị người ta công kích, dè bỉu.

Trong một xã hội bừng bừng khí thế cạnh tranh khốc liệt này, trong cuộc thi “giọng ca nữ siêu đẳng” từng thịnh hành một thời ở Trung Quốc Đại lục, ban giám khảo đã nói với các nữ thí sinh những lời như thế này: “Sai nhạc rồi! Cô thực sự không biết rằng mình đang hát sai nhạc à?”, “Cô đúng là chẳng có chút tố chất âm nhạc cơ bản nào”, “Đúng là một sự sỉ nhục cho thể loại dân ca”, “Cô hát mà không khác gì nói chuyện”, “Nếu cô chăm chỉ học tập thì còn có tương lai, chứ theo nghiệp ca hát thì chỉ có đường chết”, “Đừng có làm cho các thí sinh sau cô phát sợ”, “Người khác hát thì thỉnh thoảng mới sai nhạc, còn cô hát thì thỉnh thoảng mới không sai nhạc”, “Bỏ tiền cho cô học nhạc thật là lãng phí”, “Cô còn trẻ mà cứ như oán phụ vậy”. Những câu nói như vậy đã trực tiếp đánh vào lòng tự tôn của người khác, không còn sự tôn trọng tối thiểu nào đối với họ, nhưng lại được thể hiện một cách lộ liễu trên truyền hình, phát sóng đến hàng triệu khán giả, mà người ta lại trở nên quen thuộc, không cảm thấy có gì bất bình thường, thậm chí còn say sưa hưởng ứng.

Kiểu ý thức đấu tranh này của người Trung Quốc không chỉ thể hiện ở ngôn ngữ có tính đấu tranh. Trong ngôn ngữ thông thường cũng tràn ngập ý thức đấu tranh. Khi người ta thảo luận một vấn đề với nhau, thường là không dựa trên thái độ xây dựng, không đứng trên quan điểm tích cực để cùng nhau giải quyết sự việc tốt đẹp, mà lại đứng trên lập trường phản bác lại, cái này không đúng, cái kia không được, kiểu gì thì người khác cũng không thông minh bằng mình, cho dù bản thân mình định làm thế nào vẫn chưa nghĩ tới, thì cũng phải thể hiện bản thân cao hơn người khác, có tầm nhìn xa trông rộng.

Một thế hệ cũ người Trung Quốc đã bị đầu độc bởi Văn hóa đảng suốt một thời gian dài, thế hệ trẻ từ nhỏ đã lớn lên trong môi trường như vậy, mọi người đều tưởng rằng người Trung Quốc từ xưa đến nay đều nói chuyện như vậy, nên cũng không cảm thấy cách nói đó có gì không đúng, không hay. Thực ra người Trung Quốc xưa coi trọng lễ giáo ôn hòa lễ độ, ngôn từ dịu dàng, đôn hậu, tin tưởng vào những tiêu chuẩn làm người “nhân lễ nghĩa trí tín”, chú trọng thái độ “ôn lương cung kiệm nhường” khi xử lý công việc, thái độ và ngôn ngữ rất khác biệt so với người Trung Quốc ngày nay. Ở các nước phương Tây, thái độ và hành vi của con người chịu sự ước chế mạnh mẽ của tôn giáo, đạo đức, pháp luật và đạo đức nghề nghiệp, ngôn ngữ có tính đấu tranh chỉ được giới hạn sử dụng trong các trường hợp như ở tòa án, hay tranh luận với các ứng cử viên, trong cuộc sống hàng ngày người ta nói chuyện khiêm tốn nhún nhường, toàn bộ xã hội được đặt trong trạng thái ôn hòa. Ngôn ngữ của toàn dân đều mang ý thức đấu tranh, mà lại là ý thức đấu tranh mạnh mẽ, hiện tượng này chính là đặc trưng của Văn hóa đảng.

(1) Nguyên nhân của ý thức đấu tranh trong ngôn ngữ

Cũng như “mọi người cảnh giác lẫn nhau”, “ngôn ngữ mang ý thức đấu tranh” cũng là sản phẩm của triết học đấu tranh và thực tiễn đấu tranh của Trung Cộng. Trong mắt Trung Cộng thì bạo lực là một phẩm chất không có gì phải bàn cãi. Triết học đấu tranh của Trung Cộng thông qua sách giáo khoa, các chương trình truyền hình, các tiết mục văn nghệ, ca khúc, truyện ngắn v.v.. đã thâm nhập một cách vô thức vào trí óc và tâm hồn của các thế hệ người dân Trung Quốc. Hành vi của người ta là do tư tưởng quyết định, nếu tư tưởng bị nhồi nhét vào những thứ như bạo lực, thù hận, thì lời nói và hành vi mà người ta biểu hiện ra tất nhiên cũng mang theo bạo lực và thù hận. Cho nên ý thức đấu tranh trong ngôn ngữ của người Trung Quốc chính là thể hiện của triết học bạo lực, văn hóa bạo lực và thực tiễn bạo lực của Trung Cộng đã trở thành phản ứng bản năng của con người. Trong cuộc sống và giáo dục suốt mấy chục năm, tư tưởng và hành động người dân đã bị hun đúc bởi tinh thần đấu tranh đó, mà di chứng để lại của nó là rất rõ ràng.

Trong các cuộc vận động chính trị lặp lại cứ 7, 8 năm một lần cũng tràn đầy các ngôn từ bạo lực. Trên các phương tiện thông tin của Trung Cộng, người ta thường nghe thấy những từ có tính đả kích mạnh mẽ như “phê phán”, “đấu tranh”, “đả đảo”, “đập nát”, “quét sạch”, “yêu ma quỷ quái” v.v.. Kiểu ngôn từ bạo lực này được sử dụng rộng rãi trong các bài xã luận, bình luận, phê bình văn chương trên báo chí,…. Ví dụ như nào là “chặt đứt móng vuốt của XX”, “ai dám phản đối chủ nghĩa xã hội, chúng ta sẽ đập nát xương của chúng”, “XX sẽ không có kết cục tốt đẹp”, “chiên rán, hỏa thiêu, lột da, rút gân”, “dẫm đạp lên hắn, khiến cho hắn cả đời này không ngóc đầu lên được”, v.v.. đều là những từ ngữ đầy rẫy bạo lực, uy hiếp, đe dọa, sặc mùi thuốc súng. Kiểu ngôn ngữ này hoàn toàn phù hợp với nhu cầu của kẻ độc tài muốn hăm dọa người dân, muốn tạo nên các công cụ khủng bố để thuần phục người dân. Tràn ngập trên các phương tiện thông tin, văn kiện, sách giáo khoa, tác phẩm văn nghệ, thẩm thấu vào cuộc sống hàng ngày của người dân, những từ ngữ này đã khiến cho ngôn ngữ của người Trung Quốc bị cải biến rất nhiều.

Khi Trung Cộng phát động các cuộc đấu tranh chính trị tàn khốc, tính tà ác trong đấu tranh của người ta bị kích động lên. Những kẻ độc ác nhất, không từ thủ đoạn nào để công kích, miệt thị, hãm hại người khác, những kẻ rất giỏi quy kết tội danh cho người khác, thêm mắm thêm muối, trung thành với đấu tranh giai cấp, đâm sau lưng người khác, thường được lãnh đạo và “tổ chức” trọng dụng, có cơ hội thăng tiến vùn vụt; còn những người bị tố cáo, bị công kích mà không tự biện hộ được thì thường có kết cục bi thảm. Để tránh rơi vào hoàn cảnh bị động như vậy, người ta đã cố gắng làm cho ngôn từ của mình có bản lĩnh hơn, khiến bản thân trở nên khéo ăn khéo nói, có thể nhanh chóng phản bác lại người khác bất cứ lúc nào. Ngày nay, “to mồm cũng là một loại bản sự”, điều này đã trở thành bản năng trong tiềm thức của họ.

Ý thức đấu tranh trong ngôn từ phản ánh cảm giác mất an toàn sâu sắc của con người khi sống trong Văn hóa đảng. Trong một xã hội bình thường, người ta tin tưởng vào lời giáo huấn của người xưa “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (Việc mình không muốn, đừng làm với người khác), không có ý đồ xấu với người khác, cũng không cần phải lúc nào cũng đề phòng người khác, tâm lý ổn định vững vàng, càng không dùng ngôn từ để tranh đấu với người khác. Nhưng Văn hóa đảng khiến người ta trở nên lúc nào cũng lo lắng rằng bản thân bị ức hiếp, chịu thiệt thòi, do đó phải dùng hành động hoặc ngôn ngữ để chiến thắng người khác, mong có được cảm giác an toàn. Trung Cộng tuyên truyền “học thuyết Darwin” cá lớn nuốt cá bé, kẻ yếu nhược cũng giống như thực vật bậc thấp trong chuỗi tiến hóa trở thành thức ăn cho động vật, chỉ có kẻ mạnh giống như động vật bậc cao trong chuỗi tiến hóa mới được an toàn nhất. Tư tưởng này đã biến mối quan hệ vốn dĩ hài hòa giữa con người với nhau trở thành mối quan hệ đấu tranh. Trong đấu tranh thì việc có giành được thắng lợi hay không đã trở thành tiêu chí quan trọng để người ta đánh giá mức độ an toàn của bản thân. Do đó trong cuộc sống hiện nay, người ta cho rằng khả năng lấn át được người khác là thể hiện của sự năng động, nhanh nhẹn, sự thông minh tài trí hơn người. Người ta thấy mình cao hơn người khác một cái đầu, mình mạnh hơn người khác, và rồi trong lòng cảm thấy dương dương tự đắc.

 (2) Sự kế thừa ý thức đấu tranh

Có lẽ rất nhiều người tưởng rằng lịch sử đấu tranh đã qua đi, nhưng phương thức tư duy của con người một khi đã hình thành thì rất khó thay đổi. Mặt khác, hệ thống ngôn ngữ có tính cố định. Để hình thành nên một hệ thống ngôn ngữ phải qua một thế hệ thanh niên để hình thành nên thói quen ngôn ngữ của họ. Nói một cách khác, quá trình mà đứa trẻ học nói chính là quá trình học một phương thức sử dụng ngôn từ, cũng là quá trình học một phương thức tư duy. Trong các cuộc đấu tranh chính trị trường kỳ, cha mẹ, thầy cô và toàn xã hội đã hình thành nên một tâm thái đấu tranh, nó đã thể hiện ra thành một biến thể khác trong thế hệ trẻ. Trẻ con ngày nay từ nhỏ đã coi trọng sự giàu sang, coi thường người nghèo, tâm đố kỵ mạnh mẽ, đều là biểu hiện của tâm lý đấu tranh. Suy nghĩ kỹ một chút chúng ta sẽ phát hiện ra rằng, “ý thức đấu tranh trong ngôn ngữ” giống như sợi chỉ xuyên suốt trong lịch sử mấy chục năm thống trị của Trung Cộng.

Chúng ta có thể phân các từ ngữ mang tính đấu tranh thành những thể loại như sau:

Thể loại kẻ mạnh thắng kẻ yếu

Ví dụ 1: “Chả trách gần đây xảy ra nhiều hiện tượng kỳ lạ phe cánh tả và cánh hữu cùng tụ tập hô hào tạo phản. Nói cho các người biết, ngọc trai không thể lẫn lộn với mắt cá được. Chúng ta chỉ cho phép cánh tả tạo phản, không cho phép cánh hữu tạo phản. Các người dám cả gan tạo phản thì chúng ta sẽ lập tức trấn áp. Đây là lo-gic của chúng ta. Dù sao thì bộ máy nhà nước cũng ở trong tay chúng ta”. (Báo Hồng vệ binh Trung học thuộc Trường đại học Thanh Hoa, năm 1966)

Ví dụ 2: “Tôi là công chức, đánh hắn thì có sao, đánh bị thương thì trả 100.000 tệ, đánh chết thì trả 200.000 tệ” (Cuộc xung đột quy mô lớn hàng vạn người xảy ra tại Vạn Châu, Trùng Khánh năm 2004, khởi đầu có một người tự xưng là công chức đã gây ẩu đả với một công nhân chẳng may quệt cái đòn gánh vào người vợ ông ta. Câu nói này đã châm ngòi cho cuộc xung đột).

Ví dụ 3: “Ai bảo anh không may sinh ra ở Trung Quốc cơ chứ?” (Cuối năm 2005, Hà Tộ Hưu trả lời phỏng vấn báo chí, khi nhắc đến các vụ tai nạn do khai thác khoáng sản xảy ra liên tiếp ở Trung Quốc, ông ta đã nói câu này)

Các ví dụ khác như “Thiêu đốt Đài Loan thành mảnh đất khô cằn” v.v.. Cách nói này là điển hình cho thái độ kẻ mạnh lấn át kẻ yếu.

Đố kỵ điên cuồng

Ví dụ: “Cái mà giai cấp vô sản mất đi chỉ là xiềng xích; nhưng họ sẽ có được cả thế giới.” (Trích từ “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”. Câu nói này thể hiện điển hình cho tính lưu manh của giai cấp vô sản: muốn biến toàn thế giới trở thành một mớ hỗn loạn, lúc đó “người vô sản” mới có thể nước đục bắt cá, làm giàu trong một đêm)

Còn nhiều ví dụ hơn nữa: “Có gì mà tài giỏi cơ chứ?” (ý nghĩa là không tài giỏi chút nào cả), “Mới mẻ nhỉ” (ý là chẳng có gì mới mẻ cả), “Năm mới thì nhà ai chả làm cỗ” (người khác gặp việc tốt hoặc có được thành tích gì, cũng chỉ như là năm mới thì nhà ai cũng sắm sửa nhiều hơn một chút, chẳng có gì hệ trọng, chẳng có gì đáng ngưỡng mộ cả), “Anh thì giỏi đấy” (ý là không có gì phải mang ra khoe khoang cả, thực ra tôi còn giỏi hơn anh).

Thể loại đối đầu

Ví dụ: “Anh không đánh thì hắn không ngã đâu”; “Gió đông đã thổi, trống trận đã vang lên, thế giới này rốt cuộc là ai sợ ai đây?”, “Tôi sẽ quyết chiến với hắn một phen”, “Muốn đấu với tao à? Mày sẽ không có kết cục ra gì đâu” .v.v..

Thể loại chê mình chê người (kẻ ác xoay chuyển tình thế)

Người sử dụng chiến lược này đầu tiên sẽ nói xấu bản thân mình (hoặc bất cứ ai) không ra gì, sau đó bắt đầu ra tay đả kích đối phương, mà không phải lo lắng đối phương sẽ phản kích lại. Sự tinh vi của chiến lược này là ở chỗ, người nói đặt mình vào vị trí đạo đức thấp nhất, nhưng lại tương đương với việc mình có quyền được nói nhất.

Ví dụ, khi có người dùng những chuẩn tắc đạo đức để phê phán Trung Cộng, Trung Cộng thường biện hộ rằng: “Trong xã hội giai cấp, đạo đức đều phải phục vụ cho giai cấp thống trị”, nói một cách khác, “Đạo đức, nhân quyền, tín ngưỡng tôn giáo, tự do tín ngưỡng ở các nước tư bản đều là dối trá, đều để phục vụ cho giai cấp tư sản; đã đều là dối trá thì cũng đừng trách cái mà Trung Cộng gọi là đạo đức theo chủ nghĩa xã hội, tự do tin tức mang bản sắc của Trung Quốc cũng là để phục vụ cho mục đích thống trị của Đảng Cộng sản”.

Một ví dụ khác: “Tôi là lưu manh thì tôi còn sợ ai?” v.v..

Thể loại hại người mà cũng không lợi ta

Triết học đấu tranh của Đảng Cộng sản sau khi phát triển đến cực điểm thì hình thành nên một kiểu tâm lý biến thái “anh sống thì tôi chết”, “chết thì cùng chết”.

Ví dụ 1: “(Chiến tranh) hạt nhân hiện giờ nếu xảy ra thì không biết sẽ phải chết bao nhiêu người, tốt nhất là còn lại một nửa, chí ít thì cũng còn lại 1/3; 2,9 tỷ dân còn lại 900 triệu dân, sau mấy đợt kết hoạch 5 năm là lại phát triển lên thôi, đổi lại là chủ nghĩa tư bản bị triệt tiêu hoàn toàn, chúng ta mãi mãi hòa bình. Chẳng có gì xấu cả.” (Mao Trạch Đông).

Ví dụ 2: “Bất luận thế nào, Đảng Cộng sản Trung Quốc chúng ta sẽ không rút lui khỏi vũ đài lịch sử. Chắc chắn rằng Đảng Cộng sản chúng ta trên toàn thế giới thậm chí toàn trái đất này cũng không rút khỏi vũ đài lịch sử. Hiện giờ chẳng phải có lý luận về “trói buộc hạt nhân” sao? Có nghĩa là vũ khí hạt nhân đã trói buộc sự an toàn của cả thế giới lại với nhau, phải chết thì mọi người cùng chết”. (Trì Hạo Điền – Chiến tranh không còn cách xa chúng ta, nó là người đỡ đầu của thể kỷ Trung Hoa)

Những ví dụ khác: “Tôi không khá giả thì cũng khiến anh không khá giả được”, “Tôi có chết cũng không để anh sống” v.v..

Thể loại “một liều ba bảy cũng liều”

Đây là kiểu ngôn ngữ đấu tranh đến mất lý tính, tự gây khó dễ cho bản thân. Người nói chuyện kiểu này bị chi phối bởi nhận thức “phục tùng một cách mù quáng”, khi kiên trì làm điều gì, họ không quan tâm điều mà mình kiên trì làm là sai lầm, không có ý nghĩa, chưa đâm vào tường thì không chịu quay đầu, chưa thấy quan tài thì chưa đổ lệ, thể hiện kiểu thái độ mất hết lý trí, vô trách nhiệm đối với bản thân.

Ví dụ 1: “Chỉ một chút khó khăn này thì đáng gì. Cứ đóng cửa đi, đóng cửa tám hay mười năm, mọi vấn đề của Trung Quốc sẽ được giải quyết hết. Người Trung Quốc có chết cũng không sợ, vậy còn sợ khó khăn sao? …” (Mao Trạch Đông).

Các ví dụ khác: “Tôi thế đấy”, “Anh thích gì nào?”, v.v..

Từ những ví dụ nêu trên, chúng ta có thể thấy rằng, mặc dù Đảng Cộng sản có sự thay đổi về chiến lược thống trị, ngôn từ của con người cũng ngày càng đa dạng, nhưng “ý thức đấu tranh” trong đó thì vẫn còn mãi.

Cần nhấn mạnh rằng, lời nói thẳng thắn không nhất định là bao hàm ý thức đấu tranh, tục ngữ có câu “Thuốc đắng giã tật, sự thật mất lòng”, những lời nói mang thiện ý thoạt nghe có thể không dễ vào tai. Vấn đề mấu chốt là, khi người ta nói chuyện phải mang một thái độ thiện lương với người khác, còn như có chủ tâm bới móc, phá đám, khiêu khích, có ý đồ đả kích, hạ nhục người khác, đề cao bản thân thì đó là mang tính đấu tranh.

 (3) Hậu quả của ngôn ngữ đấu tranh

Ngôn ngữ đấu tranh làm tổn thương người khác. Trung Quốc có câu ngạn ngữ “lời nói có thể cởi nút thắt trong lòng”, nhưng lời nói mang đầy tính đấu tranh chỉ có thể khiến tâm hồn người ta thêm tổn thương nghiêm trọng, chỉ có thể mở đầu cho các cuộc tranh cãi. Kiểu ngôn ngữ này không những không thể cởi nút thắt trong lòng, mà còn kết thêm nhiều nút thắt khó giải nữa trong tâm người ta. Một báo cáo nghiên cứu ở Bắc Kinh năm 2006 cho thấy, giáo viên sử dụng những từ ngữ bạo lực là một hiện tượng phổ biến. 72% số học sinh phổ thông cơ sở được điều tra đã thừa nhận rằng, giáo viên sử dụng những từ ngữ không văn minh đã gây nên nhiều sự tổn thương về tâm lý. Trong một báo cáo khác, 81,45% số học sinh tiểu học được điều tra cho rằng “sự tổn thương do ngôn ngữ” là vấn đề cấp bách nhất cần được giải quyết.

Bạo lực ngôn ngữ ở một thời điểm nhất định rất dễ chuyển thành hành động bạo lực. Bởi vì sự đấu tranh bằng ngôn ngữ khiến cho người ta từ không mâu thuẫn trở thành có mâu thuẫn, từ chuyện nhỏ có thể gây ảnh hưởng đến tính mạng. Năm 2005, có một cảnh sát đến Thái Nguyên, Sơn Đông, anh ta đứng trước ngã tư đèn xanh đèn đỏ nói vài câu cửa miệng với một cảnh sát ở Thái Nguyên, người cảnh sát ở Thái Nguyên cảm thấy chịu không nổi cái khẩu khí này, anh ta liền gọi một vài người đến đánh chết viên cảnh sát ở Bắc Kinh. Một thiếu niên 14 tuổi ở thành phố Tế Ninh, Sơn Đông, chỉ vì không vừa ý với một nickname trên mạng mà chửi mắng đối phương, sau đó đối phương đổi thành một nickname của con gái để làm quen với cậu ta, tìm ra được địa chỉ quán Internet mà cậu ta đang ngồi, rồi lập tức chạy đến cho cậu ta một nhát dao dẫn đến tử vong.

Ngôn ngữ đấu tranh định hướng người ta sử dụng nhãn quang về triết học đấu tranh để nhìn nhận vấn đề. Ngôn ngữ là công cụ tư duy của con người, ngôn ngữ quen mang ý thức đấu tranh hướng người ta dùng tư duy “đấu tranh” để giải quyết vấn đề. Giống như một người ban đầu định tìm một cái bào để kiếm sống bằng nghề thợ mộc, nhưng tìm mãi chỉ được một cái rìu, cho nên chỉ còn cách làm nghề đốn củi. Xã hội Trung Quốc ngày nay, người ta hục hặc nhau đều xuất phát từ tính đấu tranh trong ngôn ngữ. Ví dụ, lãnh đạo hất hàm sai khiến nhân viên, động một chút lại nói: “Tôi không tin rằng không trị nổi cậu.” Nhân viên không phục, trong lòng nghĩ: “Xem ông có thể làm gì được tôi nào?” Cứ như vậy người ta tranh đấu qua lại với nhau.

Trong môi trường chính trị và ngoại giao, kiểu ý thức đấu tranh này thể hiện ra càng rõ rệt, hậu quả lại càng khốc liệt. Ngày 19 tháng 05 năm 2003, bên ngoài hội trường đại hội y tế thế giới, phóng viên Đài Loan hỏi: “Ông có nghe nói rằng Đài Loan cần 20 triệu người (gia nhập tổ chức y tế thế giới) không? Sa Tổ Khang – đại biểu Trung Cộng tại Liên Hợp Quốc nói bằng giọng điệu khinh thường: “Đã sớm từ chối rồi,” còn nói với vẻ ngạo mạn: “Ai quan tâm đến bọn họ.” Cũng là Sa Tổ Khang, khi bị hỏi về việc các học viên Pháp Luân Công bị giam trong các bệnh viện tâm thần và bắt tiêm các loại thuốc hủy hoại thần kinh, ông ta không do dự trả lời “Đáng đời bọn chúng.”

Lý Triệu Tinh, được mệnh danh là “ngoại trưởng hồng vệ binh”, rất nổi tiếng về thái độ ngang ngược, vô lễ khi trả lời phỏng vấn của phóng viên. Một lần một phóng viên nước ngoài hỏi ông ta về tình trạng sức khỏe của Đặng Tiểu Bình, Lý trả lời: “Sức khỏe ông ấy rất tốt,” phóng viên lại hỏi: “Đặng Tiểu Bình ở nhà hay ở bệnh viện mới có được sức khỏe tốt như vậy?” Lý trả lời: “Một người có nhận thức bình thường cũng biết rằng người khỏe mạnh thì nên ở đâu. Tôi không biết là khi anh khỏe mạnh thì anh có ở trong bệnh viện không?” Câu hỏi của nhà báo không hề có tính châm biếm hay nói máy nói móc gì, hoàn toàn có thể trả lời bằng cách không mất phong độ ngoại giao, nhưng ý thức đấu tranh của ngoại trưởng Lý đã là thâm căn cố đế, cứ gặp thời là biểu hiện ra. Lại như, Đặng Tiểu Bình nói: “Học sinh nào mà không nghe lời, chỉ cần một khẩu súng máy là giải quyết được vấn đề.” Giang Trạch Dân nói: “Tôi không tin Đảng Cộng sản không thể chiến thắng Pháp Luân Công.” Những điều này đều là phản ánh trên ngôn ngữ của thói quen tư duy đấu tranh, bạo lực, trấn áp của Đảng Cộng sản.

Thói quen sử dụng ngôn ngữ có tính đấu tranh khiến người ta không thể tiếp nhận thông tin một cách bình tĩnh, xem xét vấn đề một cách lý trí, khi thảo luận người ta chỉ chực lấn át người khác bằng ngôn ngữ, không có thiện chí khi nghe đạo lý, càng không chịu nhận sai để mà sửa.

Kiểu nói chuyện có tính đấu tranh một khi khởi lên sẽ không ngừng biến đổi theo chiều hướng xấu hơn, giống như một người thường xuyên ăn đồ ăn có mùi vị nặng, khi tuổi tác cao dần, khẩu vị của người đó sẽ ngày càng nặng. Thường xuyên sử dụng ngôn từ gay gắt, lâu dần người ta sẽ cảm thấy không đủ, lại phải đi tìm, sáng tạo ra những từ ngữ có tính kích động hơn nữa. Cứ như vậy, người ta trở nên ngày càng chai sạn đi.

 (4) Loại bỏ ý thức đấu tranh và làm trong sáng ngôn từ của chúng ta

Một người chân thành, lương thiện, khoan dung, tự tin sẽ không động một tí là hô đánh hô giết, càng không áp đảo đối phương bằng ngôn từ, nói những lời tàn nhẫn, ngụy biện, nghĩ trăm phương nghìn kế dùng ngôn từ để sỉ nhục người khác, khiến người khác xấu hổ bối rối, từ đó mà cảm thấy một tâm lý thỏa mãn. Đằng sau ngôn từ đấu tranh là sự kết hợp giữa triết học đấu tranh của Trung Cộng với tâm thái méo mó vừa tự ti, vừa tự đại và nhân cách biến dị.

Trong xã hội bình thường, người ta khi đối xử với người cùng địa vị  với mình thì nhã nhặn, lễ độ; khi đối xử với người yếu hơn hoặc người bất hạnh hơn mình thì lời nói hết sức nhẹ nhàng, ôn hòa, có tính an ủi; giữa vợ với chồng tôn trọng nhau như khách, khi giáo dục trẻ nhỏ thì hướng dẫn từng bước tỉ mỉ; khi giảng đạo lý thì cân nhắc từng sự việc, tỉnh táo lý trí, nếu sai cũng thẳng thắn thừa nhận. Đằng sau phong thái của người quân tử là tâm thái bình tĩnh, tự tin, lấy thiện đãi người.

Đề xóa bỏ đi ý thức đấu tranh trong ngôn từ, chỉ dựa vào sự nỗ lực về mặt ngôn ngữ thì không thể giải quyết được vấn đề, mà chúng ta cần phải cải biến từ căn bản tư duy đấu tranh kiểu Văn hóa đảng.

2. Thói quen sáng tác không tách rời đảng

Ngày 13 tháng 11 năm 2005, xưởng hóa chất của công ty hóa chất Cát Lâm bị nổ, sông Tùng Hoa bị ô nhiễm bởi một lượng lớn hóa chất gây ung thư, khi hóa chất ô nhiễm khuếch tán theo dòng sông, vùng hạ lưu phải lập tức đưa ra biện pháp ngăn chặn, thế nhưng chính quyền Trung Cộng lại liên tục che giấu thông tin với người dân đến gần 10 ngày sau mới thừa nhận vụ tai nạn xảy ra. Vậy mà cuối tháng đó, đài truyền hình Hắc Long Giang đã phát sóng một chương trình đặc biệt “Tình của nước” kéo dài trong ba ngày. Theo báo cáo, có sáu tiết mục đặc sắc “được sáng tác ngay trong đêm” là: biểu diễn “Nước xanh cuồn cuộn từ tám phương đổ đến”, tấu hài “Kiến thức cộng đồng”, ca khúc “Tôi muốn nói với bạn”. Ý đồ thông qua các hình thức văn nghệ đơn ca, biểu diễn, vũ đạo, tấu hài, tiểu phẩm để ca ngợi công lao của chính quyền tỉnh trong xử lý tai nạn bất ngờ này, ca ngợi chính quyền có tầm nhìn xa trông rộng, hết lòng vì dân, nhấn mạnh sự chấp hành mệnh lệnh của người dân, v.v..

Biến việc tai ương thành việc ăn mừng, biến người dân bị hại thành vai phụ để đề cao vai chính là Trung Cộng, đó là điều thật khó tin đối với người dân ở một xã hội bình thường, vậy mà dưới sự thống trị của Trung Cộng, người dân Trung Quốc lại trở nên quen thuộc với điều đó. Kiểu tư duy sáng tác này không chỉ thể hiện ở các tác phẩm văn nghệ, mà còn thể hiện trên báo chí, các kênh tin tức phát sóng. Ví dụ sau khi tai họa trên xảy ra, các tin tức trọng điểm trên mạng của tỉnh Hắc Long Giang – vùng Đông Bắc – đều liên tiếp đăng về “Học sinh trung học, tiểu học tranh thủ thời gian nghỉ học do mất nước để đến hiệu sách đọc sách”, “Các cán bộ thành phố Cáp Nhĩ Tân mang nước tặng mọi người trong những ngày mất nước”, “Cảnh sát vũ trang trung đoàn Hoàng Kim tặng nước cho khu chung cư của người cao tuổi”, “Trong thời gian mất nước, không một bệnh viện nào giảm cung cấp cháo và canh cho bệnh nhân.”, “Cáp Nhĩ Tân khai thông đường ống nước chuyên biệt để cung cấp nước đảm bảo cuộc sống của người tàn tật”… Nói tóm lại “nhìn bề ngoài thì rất tốt đẹp”, thậm chí còn tốt hơn cả khi chưa xảy ra tai nạn, mục đích để ca ngợi “chính quyền tỉnh luôn lấy dân làm gốc”.

Sau bốn ngày thành phố Cáp Nhĩ Tân ngừng cấp nước, vào ngày đầu tiên nước được cung cấp trở lại, tỉnh trưởng tỉnh Hắc Long Giang đã uống ngụm nước đầu tiên trước mặt người dân, phóng viên mạng Tân Hoa đã có “sáng ý” lăng xê một bài thơ mà một người dân thường sáng tác để ca tụng công lao của đảng, thể hiện rằng sự tán dương này xuất phát từ nguyện vọng của người dân. Trong bài báo cáo “Tỉnh trưởng tỉnh Hắc Long Giang uống ngụm nước đầu tiên, người dân làm thơ ca ngợi”, trước khi tỉnh trưởng uống nước ông ta còn nói rằng “Lời nói của tôi không đáng kể gì, chỉ có lời của Đảng Cộng sản mới có giá trị, lời nói của nhân dân và chính phủ mới có giá trị.” Câu nói này đã lộ rõ dụng ý của sự kiện tỉnh trưởng uống nước, cứ như thể là việc làm trước đó của chính quyền nhằm giấu giếm sự thật về tai họa này không phải do Trung Cộng chỉ đạo. Sau sự kiện tỉnh trưởng uống nước lập tức có một người dân viết bài thơ ca ngợi “Yên tâm uống một chén nước; Trong tim hạnh phúc ngập tràn; Đảng mang yên vui, ấm áp cho mọi nhà; Nhân dân đắm mình trong ánh hào quang của đảng”. Kết thúc báo cáo có đoạn: “Trong căn phòng nhỏ, tất cả mọi người cùng đứng dậy cất tiếng cười vui vẻ, những lo lắng về sự ô nhiễm của dòng sông Tùng Hoa suốt bốn ngày qua bỗng chốc tan biến như mây khói bởi những tiếng cười thoải mái.” Một tai nạn gây ô nhiễm nghiêm trọng ảnh hưởng đến tính mệnh của hàng chục triệu người dân vậy là đã “tan như mây khói”. Kết luận là người dân gặp hoạn nạn, thật may là nhờ sự giúp đỡ của “đảng” mới qua khỏi.

Thói quen sáng tác trong Văn hóa đảng này không tách rời tư duy của đảng, trong mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau, đối với mỗi nhóm người khác nhau đều có những nguyên nhân phức tạp đằng sau và biểu hiện ra cũng muôn hình muôn vẻ. Nhưng nói về quá trình tư duy sáng tác, nếu không có sự ảnh hưởng của đảng mọi nơi mọi lúc thì cũng không có nhân tố để sản sinh ra nó.

Trung Cộng công khai tuyên truyền rằng văn nghệ phải phục vụ cho mục đích chính trị, đồng thời lợi dụng bộ máy và tổ chức tuyên truyền các cấp để đảm bảo rằng văn nghệ phải phục vụ cho mình, cho nên xuất phát điểm của các sáng tác đều phải xác định rằng văn nghệ là công cụ tuyên truyền Văn hóa đảng; các sáng tác văn nghệ yêu cầu phải phản ánh và thể nghiệm cuộc sống, nhưng trong cuộc sống đã sớm bị ô nhiễm bởi Văn hóa đảng thì những nội dung phản ánh này vẫn chỉ xoay quanh Văn hóa đảng; còn đối với tác giả mà nói, bản thân họ đã chịu ảnh hưởng sâu đậm bởi tư duy và lý luận của Văn hóa đảng, nên chỉ biết đi tìm cảm hứng sáng tác theo yêu cầu và tư tưởng của đảng; quan trọng hơn là, đảng khống chế mọi vấn đề ăn, ở, khám bệnh và sự nghiệp của người sáng tác và gia đình của họ, nên nó có thể cưỡng ép người sáng tác quay lưng lại với nguyện vọng và lương tâm của họ, khiến họ tự mê hoặc bản thân, đứng về phía Trung Cộng, lâu dần trở thành thói quen. Do vậy, từ động cơ đến nội dung, đến tư duy của người sáng tác đều gắn chặt vào bức màn Văn hóa đảng, khiến cho sáng tác càng không thể tách rời đảng.

1) Động cơ sáng tác không tách rời đảng

Nói về động cơ sáng tác của tác phẩm, một phần lớn là để ca ngợi công lao của đảng. Chịu ảnh hưởng của lịch sử bị Trung Cộng lừa dối và triết lý về “lịch sử phát triển xã hội” của đảng, rất nhiều người tự mê muội bản thân, coi Trung Cộng là “đại cứu tinh” của dân tộc, hát những lời ca ngợi nó, rồi lại ảnh hưởng đến nhiều người hơn, toàn xã hội hình thành nên một kiểu tư tưởng sùng bái cuồng nhiệt đối với Trung Cộng và lãnh tụ của nó. Các tác phẩm điển hình như “Hồng kỳ phổ”, “Bài ca tuổi trẻ”, “Hoa cải đắng”, “Tam gia hạng”, “Hồng nham”, “Đội tự vệ Hồng Hồ Xích”, “Nam chinh Bắc chiến”, “Đổng Tồn Thụy”, “Đỉnh núi Thượng Can”, “Sống mãi trong ngọn lửa”, “Tiểu binh Trương ca”, “Đội quân tóc dài màu đỏ”, v.v.. các hình thức văn nghệ từ tiểu thuyết, thơ ca cho đến ca kịch, điện ảnh, đều không nằm ngoài việc phản ánh cái gọi là sự lãnh đạo của Trung Cộng là tính tất yếu của lịch sử, phản ánh “hình tượng quang vinh” của Trung Cộng, “đại ân đại đức” của Trung Cộng đối với nhân dân. Rất nhiều bài hát như “Ơi đảng, người mẹ thân yêu”, “Mao Trạch Đông và Đảng Cộng sản nuôi dưỡng chúng ta trưởng thành” đúng là thể hiện ý đồ một cách trần trụi khiến người ta phát ngấy.

Nhìn lại các tác phẩm văn nghệ suốt gần 20 năm qua, dù thủ pháp nghệ thuật rất tinh tế, đề tài rất rộng, cũng rất chú trọng đến tính nhân văn trong tác phẩm, nhưng động cơ sáng tác của rất nhiều tác phẩm vẫn không thể tách rời quan điểm cơ bản của Trung Cộng, ví dụ như các bộ phim “Khai quốc đại điển”, “Chu Ân Lai”, “Đại quyết chiến”, “Tiêu Dụ Lộc”, “Ngày rời xa Lôi Phong”, “Khổng Phồn Sâm”, v.v..

Sau ngày “cải cách mở cửa” xuất hiện cái gọi là “văn học cải cách”, “văn học kinh tế thị trường”, động cơ sáng tác của các thể loại này là thông qua mô tả những thay đổi của xã hội sau ngày cải cách, để gián tiếp ca ngợi công đức của Trung Cộng. Bản thân việc cải cách là một trào lưu của lịch sử, là sự lựa chọn không thể nào khác của Trung Cộng sau mấy chục năm bế quan tỏa cảng. Nhưng trong các sáng tác nghệ thuật nó lại trở thành minh chứng cho sự vĩ đại của Trung Cộng, một thủ đoạn che giấu trách nhiệm và tội ác của nó trong lịch sử.

Một động cơ sáng tác nữa là phục vụ cho việc tuyên truyền tư tưởng Văn hóa đảng. Ví dụ: vào thời đại “Cách mạng Văn hóa”, khắp nơi đều có những “tấm gương cách mạng”, để phối hợp với cuộc Cách mạng Văn hóa, cổ vũ tinh thần đấu tranh giai cấp và bạo lực cách mạng. Một số từ ngữ đầy tính tuyên truyền chính trị trở thành những từ ngữ được lưu truyền trong dân gian, “làm người phải như vậy chứ”, “những con người xông xáo của thời đại tranh đấu”, “tay nâng quyển sách quý ấm lồng ngực”, “chưa tiêu diệt hết lũ lang sói thì không rời chiến trường”, “nợ máu phải trả bằng máu”, “rượu ngọt, máu nóng viết nên thiên sử”, “thù hận trong tim sắp nảy nở”, v.v..

Đồng thời nó huy động đội quân đông đảo người dân tham gia vào lĩnh vực điện ảnh, bộ phim “Anh hùng” tiêu tốn 30 triệu USD nói về chủ đề lịch sử, ca ngợi Tần Thủy Hoàng, thực chất là cổ xúy cho tư tưởng Văn hóa đảng coi thường sinh mệnh, độc tài chuyên chế. Điện ảnh đã gián tiếp trở thành người nhạc công đắc lực phục vụ cho giọng ca chính là Trung Cộng. Điện ảnh coi giang sơn của Đảng Cộng sản lẫn lộn với lợi ích của mọi người trong thiên hạ, từ đó mà đề cao những nhà chính trị không lùi bước vì quyền lực địa vị, giết người để duy trì chính quyền bạo lực được đặt lên hàng chính nghĩa, đại diện cho lợi ích của mọi người dân, nhồi nhét một cách vô thức vào đầu người dân rằng nên hy sinh tính mệnh cá nhân để bảo vệ chính quyền bạo lực.

2) Nội dung sáng tác không tách rời “đảng”

Ngay từ thời kỳ cuộc chỉnh phong ở Diên An, Trung Cộng đã đặt định cho sáng tác văn nghệ rằng: văn nghệ phải phục vụ cho chính trị. Sau khi Trung Cộng giành chính quyền, nó vẫn thực hiện “phương châm chỉ đạo nghệ thuật” này. Trung Cộng còn thành lập Bộ tuyên truyền để bảo đảm việc chấp hành nghiêm ngặt theo “phương châm nghệ thuật” của nó, điều này khiến cho nội dung của các sáng tác nghệ thuật không thể tách rời yêu cầu của đảng.

Các chương trình dạ hội năm mới hàng năm của đài truyền hình trung ương Trung Quốc tập hợp những diễn viên, nghệ thuật gia và các nhóm sáng tác hàng đầu trong cả nước, mấy trăm đài truyền hình khác trong nước phát sóng lại những chương trình này hoặc trực tiếp phát ra nước ngoài. Dạ hội năm mới là hình ảnh thu nhỏ của tình hình chính trị, xã hội và sáng tác nghệ thuật trong một năm, có thể gọi đó là sân chơi của Văn hóa đảng. Đến thế kỷ 21 mà các “chương trình dạ hội năm mới” vẫn hoàn toàn không được đả động chút nào đến những mảng tối trong tình hình chính trị Trung Cộng, nội dung đã được định trước, chủ yếu là viết những bài thơ ca phù hợp với “chương trình dạ hội năm mới”, “những ngày tươi đẹp”, “ngày càng tốt đẹp”, “ngũ phúc lâm môn”, “trăm họ vui mừng”, “chúc mừng thời kỳ thịnh vượng”, lấy chúc mừng đảng thay cho niềm vui của dân tộc, lấy Văn hóa đảng thay cho Văn hóa truyền thống. Nỗi thống khổ của người dân, những nguy cơ của dân tộc đã bị che lấp hết trong những chương trình nồng nặc bầu không khí chính trị như vậy.

Do đảng quy định nghiêm ngặt tư tưởng chủ đạo của các tác phẩm văn nghệ, cho nên người ta không thể không tuân theo những yêu cầu, quy định này, nếu không tác phẩm sẽ bị tiêu hủy.

Khắp nơi ở Trung Quốc đều có những giai điệu dân ca êm ái, trữ tình vẫn luôn được lưu truyền trong dân gian. Nhưng nội dung của dân ca chủ yếu là tình ca, một số bài dân ca có nội dung ca ngợi vẻ đẹp của quê hương đất nước, nhưng nói tóm lại là khác xa so với tư tưởng văn nghệ phải phục vụ cho chính trị của Trung Cộng, do vậy vào những năm 80 của thế kỷ trước, những bài hát này vốn phần lớn đều không nằm trong phạm vi cho phép lưu truyền của Trung Cộng. Nhưng những bài hát dân ca trữ tình này cũng bị giới văn nghệ sỹ, những người bị đầu độc bởi Văn hóa đảng, hoặc trực tiếp lấy cắp đưa thêm những ca từ ca ngợi công đức của đảng, hoặc viết lại theo yêu cầu Văn hóa đảng, “sáng tác lại” theo nội dung chính trị, trở thành những bài “dân ca mới” đầy dối trá mà người dân vừa thích truyền miệng nhau hát, Trung Cộng lại cũng thấy hài lòng, ví dụ bài hát “Đông phương hồng”, “Bài ca đổi đời”, “Hoa loa kèn nở đỏ thắm” có nguồn gốc từ dân ca vùng Thiểm Bắc, “Mặt trời mọc không lặn trên thảo nguyên”, “Tôi cưỡi ngựa băng qua thảo nguyên” bắt nguồn từ dân ca Mông Cổ, “Trên núi Kim Sơn ở Bắc Kinh”, “Chiếc khăn Hada tặng Mao chủ tịch” bắt nguồn từ dân ca dân tộc Tạng, “Bài ca lái đò trên sông Ô Tô Lý” có nguồn gốc dân ca Hách Triết, bài hát “Anh Ba Mao chủ tịch” có nguồn gốc dân ca dân tộc Ha Ni. Những bài hát này sau khi được “sáng tác lại” và quay trở lại dân gian thì gây ra cho người dân một kiểu giả tướng, như thể là những bài dân ca này đều ủng hộ nhiệt liệt cho Trung Cộng và người đứng đầu của nó. Mà những tác phẩm giống như phụ thể bám vào nền âm nhạc dân tộc này lại được Trung Cộng vô liêm sỉ tự thổi phồng lên thành cái gọi là “cống hiến” của nó cho sự nghiệp “phát triển nền âm nhạc dân tộc”.

Năm 2005, đài truyền hình Hồ Nam phát động cuộc thi “giọng hát nữ siêu đẳng” phổ biến toàn quốc, nhận được sự hoan nghênh nhiệt liệt của giới trẻ. Bởi vì chương trình này trực tiếp uy hiếp đến đài truyền hình trung ương – phương tiện truyền thông đầu não của Trung Cộng, cho nên chương trình chỉ mang tính giải trí này rất mau chóng đã chịu sự đả kích của các phương tiện truyền thông, đâu đâu người ta cũng la hét muốn tiêu diệt nó. Trong cuộc thi giọng hát nữ năm nay, ban tổ chức nhân tiện mời một “nghệ sỹ lão làng” vốn nổi tiếng nhờ hát các bài ca ca ngợi đảng lên hát song ca cùng thí sinh đạt giải quán quân, cùng hát bài “Màu đỏ kinh điển”, “Mẹ ơi, hãy đi chậm lại”, “Chỉ có sơn ca kính trọng người”, và mời “nghệ sỹ lão làng” chọn ra một thanh niên. Kiểu sáng kiến không tách rời đảng này rất có khả năng xuất phát từ việc không có cách nào khác là phải đồng thuận với âm điệu văn nghệ mà Trung Cộng kiểm soát.

Thói quen tư duy sáng tác không thể xa rời đảng còn thể hiện ở việc đảng phủ nhận điều gì thì cũng phải phủ nhận theo. Tín ngưỡng đối với Thần Phật bị coi là phong kiến mê tín thì còn phủ nhận hơn nữa; Văn hóa truyền thống trở thành từ đồng nghĩa với chuyên chính độc tài; các nhân vật lịch sử trước thời của Trung Cộng chắc chắn phải tồn tại “giới hạn lịch sử”, một câu “phong kiến” là đủ để đưa toàn bộ các đức hạnh truyền thống trung hiếu nhân nghĩa hàng nghìn năm của Trung Quốc, hoàng đế tướng quân, tài tử giai nhân, thánh hiền trung lương, v.v.. liệt vào hàng ngũ những phần tử bất hảo; sự phá hoại của cuộc Cách mạng Văn hóa suốt 10 năm đã trở thành sai lầm của “bè lũ bốn tên”; nạn đói do con người gây ra làm chết đói mấy chục triệu người dân trở thành ba năm “thảm họa tự nhiên”; trong cuộc thảm sát ngày 4 tháng 6, hành động của chính phủ là có thể lý giải được, ngược lại học sinh phải chịu trách nhiệm lớn cho sự kiện này; những lời lẽ phỉ báng Pháp Luân Công lại càng phô thiên cái địa; những đoàn thể chính đảng nào không nhất trí với Trung Cộng, thì rất hiếm khi không mang nghĩa xấu; ngược lại nghe lời Trung Cộng thì mới là yêu nước; phê bình Trung Cộng thì bị coi là phản quốc. Những đối tượng bị Trung Cộng phủ nhận này, trong các sáng tác nghệ thuật phần lớn bị phê bình, bị nói xấu, bị cố ý biến thành hình tượng phản diện méo mó.

Trong lịch sử và trong cuộc sống hiện tại, mặt tối của Trung Cộng và đối tượng bị Trung Cộng đả kích bị coi là vùng cấm của sáng tác mà người ta nên tránh xa. Khi một số phóng viên, nhà văn vì thỉnh thoảng động chạm đến vùng cấm của Trung Cộng (ví dụ như các chủ đề về dân chủ, chính trị dân chủ, nhân quyền v.v..) thì đều lũ lượt bị bắt, rất nhiều người đã tự ước thúc bản thân, không động chạm đến những nguyên tắc của Trung Cộng nữa. Rất nhiều người cho rằng hiện nay phạm vi sáng tác rất rộng, tác phẩm rất phong phú. Đặc biệt là vài năm gần đây, cùng với việc phát triển công nghệ thông tin, số lượng quần chúng tham gia vào sáng tác văn nghệ ngày càng đông đảo, đề tài sáng tác ngày càng rộng, thậm chí rất nhiều chủ đề sáng tác mà người ta trước đây không dám nghĩ tới giờ cũng bắt đầu thịnh hành, ví dụ như cái gọi là “tác phẩm phơi bày hiện thực” đã được lưu hành. Điều này không phải bởi vì sáng tác của người dân có thể hoàn toàn tự do, tách khỏi đảng, mà do người ta biết rằng những chủ đề này không uy hiếp đến hình thái ý thức của Trung Cộng, nên nó sẽ có thể không bị để mắt đến. Trung Cộng cho phép người ta làm vậy cũng bởi vì “vùng cấm của đảng” đã dần dần thâm nhập vào ký ức của người dân, mon men ngoài vùng cấm đã trở thành một phần của thói quen tư duy sáng tác, thực ra nó là thể hiện cho sự phục tùng nguyên tắc sáng tác do Trung Cộng đặt ra.

3) Quá trình tư duy sáng tác không tách rời “đảng”

Ảnh hưởng lớn nhất của Văn hóa đảng đối với sáng tác văn nghệ, không gì khác chính là kiềm chế tư tưởng của con người.

Trong số rất nhiều bộ phim cổ trang đang thịnh hành, chốn hoàng cung thời cổ đại đều được xây dựng như là nơi đầy những thủ đoạn tranh đấu, chốn quan trường thời cổ đại cũng như vậy, thiên hạ ở đâu cũng đen tối như nhau. Kiểu tư duy sáng tác này chính là do bị ảnh hưởng trực tiếp bởi thế giới quan lịch sử của Văn hóa đảng, quan niệm truyền thống đã bị xóa bỏ, dùng quan niệm của người hiện đại để áp đặt cho cổ nhân. Mô tả bức tranh xã hội Trung Quốc truyền thống mấy nghìn năm lịch sử trở thành bức tranh đen tối, một xã hội mà người người đấu tranh với nhau, “người trừ khử người”, để làm nổi bật lên sự “quang minh” của Trung Cộng. Biến tham ô hủ bại trở thành căn bệnh biểu hiện của chốn quan trường từ xưa đến nay, để làm mờ đi sự hủ bại của Trung Cộng, lừa gạt người Trung Quốc rằng nguyên nhân sự cai trị độc ác của Trung Cộng bắt nguồn từ Văn hóa truyền thống.

Các tác phẩm ký sự cũng theo hình thức như vậy: nếu như xảy ra thảm họa tự nhiên, thì ngay từ những tình tiết nhỏ sẽ nói về việc đảng quan tâm đến người dân thế nào; nếu là quan chức, sẽ là phục vụ nhân dân dưới sự lãnh đạo của đảng như thế nào, kiểu như “Khổng Phồn Sâm” vậy; nếu là quan chức làm điều xằng bậy, cuối cùng đảng sẽ duy trì được chính nghĩa; nếu là chính sách sai lầm, cuối cùng đảng sẽ cải chính lại như thế nào; nếu là mặt tối của xã hội, sẽ quy trách nhiệm cho sự vô năng của cá nhân quan chức, cuối cùng vẫn phải làm nổi bật lên sự “vĩ đại, quang minh, chính xác” của đảng. Bất cứ thành quả kinh tế nào cũng nhất định không thể tách rời “chính sách anh minh” của đảng; bất cứ sự phát triển của doanh nghiệp nào, nhất định không thể tách rời sự “quan tâm sâu sắc” của đảng và nhà nước; bất cứ thành quả giáo dục, kỹ thuật nào, đều không tách rời “sự lãnh đạo đúng đắn” và “sự quan tâm sâu sắc” của “trung ương đảng”. Bất cứ người tài nào xuất hiện, cá nhân có thành tích gì, nhất định không tách rời sự “bồi dưỡng” của đảng; thắng lợi của quân đội lại càng “không tách rời sự lãnh đạo của đảng”. Đến một người công nhân “thôi giữ vị trí” (thực ra là thất nghiệp) cuộc sống được cải thiện đôi chút, cũng không tách rời sự “quan tâm và hỗ trợ” của đảng; đến giới tôn giáo cũng là “mỗi thành tựu đều không tách rời sự quan tâm giúp đỡ, sự lãnh đạo của đảng, chỉ có giữ vững sự lãnh đạo của đảng, đi theo con đường Chủ nghĩa Xã hội, mới có được tương lai tươi sáng”, v.v..

Do sự hủ bại của Trung Cộng ngày càng nghiêm trọng, những oan ức của người dân nổi lên ở khắp nơi, cho nên gần đây những bộ phim về sự hủ bại được người dân rất hoan nghênh, điển hình như “Lựa chọn sinh tử”, “Đại án đầu tiên của Trung Quốc mới”, v.v.. Kỳ thực những tác phẩm này cũng giống với nền văn học bị sứt mẻ và những bộ phim tương ứng vào thời kỳ mới kết thúc cuộc Cách mạng Văn hóa, “Truyền kỳ Thiên Vân Sơn”, “Du khách mang xiềng xích”, “Đứa bé sơ sinh nước ngoài”, v.v.. bất luận là các bộ phim này đào sâu vào những vấn đề gì, suy nghĩ thế nào về lịch sử và hiện thực, có ý đồ chọc phá một chút vào vùng cấm tư tưởng của Trung Cộng thế nào, quan tâm đến cuộc sống sinh tồn của con người thế nào, mở rộng hình thức biểu đạt nghệ thuật thế nào, thì đều không thể tách rời ảnh hưởng của tư duy Văn hóa đảng, tác phẩm cuối cùng cũng chốt lại là phải tin tưởng vào tổ chức, tin tưởng vào đảng, đảng có quyết tâm sửa chữa sai lầm; còn những tệ nạn xã hội, nỗi thống khổ của người dân do Trung Cộng tạo nên lại bị quy kết một cách mơ hồ cho “bi kịch thời đại”, nhằm giảm nhẹ tội lỗi của Trung Cộng.

Trong dân gian Trung Quốc, thường thịnh hành các sáng tạo có tính châm biếm. Ví dụ doanh nghiệp nào đó in hình ảnh Lôi Phong và lời Mao (Mao ngữ lục) lên bao bì của sản phẩm bao cao su. Có vẻ như đây là sự đối nghịch lại với việc Trung Cộng nhồi nhét Văn hóa đảng trong nhiều năm, thực ra vẫn là sự thừa nhận những thần tượng và quyền uy do Trung Cộng xây dựng nên, vẫn là không thể xa rời ảnh hưởng của đảng. Văn hóa đảng ở khắp mọi nơi, ngày nay mọi phương diện về cuộc sống của người dân Trung Quốc đều bị “đảng” chiếm lĩnh, điều này dẫn đến tư duy của người dân không cách nào bài trừ được những yếu tố ngôn ngữ mang Văn hóa đảng, người ta không thể không dùng những yếu tố này để suy nghĩ và biểu đạt. Một vài ngôn ngữ quảng cáo có sự sáng tạo đặc biệt như “làm … đến cùng”, “… nhất định thành hiện thực” cũng là những ví dụ về yếu tố ngôn ngữ không thể tách rời Văn hóa đảng trong quá trình tư duy sáng tạo.

Bắt đầu từ cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, rất nhiều người dân Trung Quốc đều mê muội với cái gọi là “nhạc cũ lời mới”, nghĩa là phối khí lại theo các nhạc cụ hiện đại, hoặc biểu diễn lại theo lối hiện đại những “bài hát nhạc đỏ” ca ngợi Trung Cộng một cách trơ tráo. Rất nhiều người cho rằng làm như vậy thuần túy chỉ là gợi lại chuyện xưa, chứ không phải xuất phát từ sự “yêu mến lãnh tụ vĩ đại”. Nhưng có học giả chỉ ra rằng, thật khó tưởng tượng rằng nhân dân nước Đức sau năm 1945 có thể dùng âm nhạc để gợi lại hình ảnh Hitle, hoặc Liên Xô cũ sau đại hội lần thứ 20, nhân dân Liên Xô có thể thông qua bài hát để gợi nhớ lại sự kiện Stalin đã tàn sát 20 triệu người dân Liên Xô cũ. Người ta sở dĩ có thể yêu thích những bài hát cũ, thực ra là vì những cái gen của đảng đã được cấy vào từng tế bào văn hóa của người dân, khiến người ta cảm thấy chúng là một phần của bản thân họ.

Những biểu hiện của thói quen tư duy không tách rời đảng này có nguyên nhân là do trong một xã hội tràn ngập Văn hóa đảng, trong trường kỳ bị tiêm nhiễm Văn hóa đảng đã hình thành nên thói quen như vậy, cũng trong tình cảnh chịu áp lực trong thời gian dài mà như vậy, cũng có người vì muốn giành được lợi ích, lợi thế trong chính trị mà hữu ý làm như vậy, còn có người muốn thoát khỏi Văn hóa đảng mà không thoát được, mà thói quen tư duy sáng tác không tự giác mà cứ gắn bó với đảng (những tác phẩm “châm biếm xã hội” vẫn xoay quanh Văn hóa đảng). Nói tóm lại, đảng thông qua các thủ đoạn cưỡng bức để làm bảo đảm, lấy Văn hóa đảng làm “món ăn tinh thần” duy nhất mà người dân có thể có được để nuôi dưỡng các nghệ sỹ hết thế hệ này đến thế hệ khác; ngược lại các tác phẩm của họ lại ảnh hưởng lại quần chúng và bản thân họ, cuối cùng khiến cho Văn hóa đảng trở thành hình thức cố định trong thói quen tư duy sáng tác của người dân, khiến người ta không thể tách rời đảng.

Cần phải nói rằng, văn nghệ chỉ là một phương diện rất điển hình trong sáng tác, phương thức tư duy sáng tác không thể tách rời đảng đã thâm nhập vào mọi ngành nghề. Các sáng tác cụ thể có thể không giống nhau, nhưng người ta chịu ảnh hưởng của Văn hóa đảng, từ lựa chọn đề tài đến tư duy đến sáng tác cụ thể, mỗi bước đều không qua khỏi cái khung của Văn hóa đảng. Nếu muốn có sáng tác thực sự tự do, phát huy được tài năng của bản thân, đầu tiên phải nhảy thoát ra khỏi tư duy Văn hóa đảng đã.

3. Ý thức cảnh báo nguy hiểm đối với những tư tưởng không phù hợp với quan niệm của đảng

“Những lời này sau này quyết không thể nói – đặc biệt là không thể nói ra ngoài.”

“Những tư tưởng này phản động, rất nguy hiểm, ngay cả nghĩ cũng không được nghĩ.”

“Chú ý, không được nói những chủ đề nguy hiểm này, không có lợi cho bạn đâu.”

“Chúng ta đổi chủ đề được không? Bạn biết không, nói về vấn đề này rất nguy hiểm…”

Đây là một số phản ứng mà chúng ta thường hay gặp phải. Đối với những cách nghĩ không phù hợp với quan niệm của đảng, mọi người đều có sự nhạy cảm cao độ, đó là khu vực cấm nguy hiểm.

1) “Ý thức cảnh báo nguy hiểm” không nơi nào là không có

Vào thời kỳ đầu mở cửa, một nhà sử học Đài Loan nhận lời mời tới tham dự buổi giao lưu học thuật tại Đại lục. Đứng trước mặt những nhà sử học Đại lục, ông trực tiếp kể lại lịch sử sai lệch của Đảng Cộng sản, đặc biệt là về lịch sử kháng Nhật của Quốc dân đảng. Người chủ trì hội nghị lúc đó, cũng là một nhà sử học nổi tiếng sau khi nghe thấy đã mau chóng nói: “Ông dám nói, nhưng tôi không dám nghe.”

Lại có một học giả Đại lục lần đầu tiên tại hải ngoại nhìn thấy đoàn diễu hành Pháp Luân Công mấy nghìn người, ông đã miêu tả cảm nhận của mình như sau: “Tôi ngay lập tức cảm nhận được  trên đầu hình như có một sợi dây ăng-ten, đang hoảng hốt thăm dò bờ bên kia của Thái Bình Dương. Tôi đang thăm dò cái gì? Tôi thăm dò đủ những cấm kỵ và quy định tại Đại lục. Tôi đang suy xét từng chữ mà tôi nhả ra, sau khi về nước chắc sẽ gặp phải phiền phức. Vào thời khắc đó, tôi đặc biệt cảm nhận được miệng và chân tôi dường như đang run lên, tôi đặc biệt cảm thấy sự gian nan khi làm một người Trung Quốc!”

Năm 2004, tại một phiên họp nhân dân xét xử Giang Trạch Dân tại Canada, người tổ chức mời một người cao tuổi tới xem. Trong điện thoại, ông cụ nghĩ một lát rồi nói tôi vẫn không đến được. Hỏi ông vì sao, ông nói: “Tôi đã ra nước ngoài 17 – 18 năm, chưa một lần về nhà, tôi vẫn muốn trong những năm tháng còn lại về nhà một chuyến. Lỡ ngày mai có người nhìn thấy đi tố cáo tôi, đời này chẳng phải xong hết rồi sao?” Ông đã 76 tuổi, dù đã sống ở Canada 16 năm, nhưng tâm hồn vẫn chưa thực sự được tự do.

Một khách du lịch tới Hồng Kông, khi thấy tin tức có liên quan tới “Cửu bình Đảng Cộng sản” phản ứng đầu tiên của cô là: “Ai da, những người này thật to gan lớn mật, dám nói những lời ‘phản động’ này, nếu ở Trung Quốc thì đã sớm bị bắt lại rồi.” Bởi vì mọi người biết rằng những tin tức này không phù hợp với quan niệm của Trung Cộng, cho nên dù cho không còn ở Trung Quốc nhưng vẫn không thể không nảy sinh ý thức cảnh báo nguy hiểm, trốn tránh “theo bản năng”.

Mọi người đều biết những vật nguy hiểm như điện cao áp, vượt đèn đỏ, hỏa hoạn, những thứ này sẽ khiến con người nảy sinh ý thức cảnh báo nguy hiểm. Nhưng đây đều là những thứ hữu hình, dù có đáng sợ nhưng cũng có thể tránh được. Mà nỗi sợ hãi với những thứ hữu hình của con người đôi khi còn xa mới theo kịp nỗi sợ hãi với những thứ vô hình. Biểu hiện cực đoan nhất của sự khống chế xã hội của Đảng Cộng sản trong tâm hồn người Trung Quốc chính là sự khống chế đã biến thành một công tố viên vô hình nhưng không nơi đâu không có mặt, giám sát khống chế nhất cử nhất niệm của con người bất cứ lúc nào. Những cách nghĩ không phù hợp với quan niệm của đảng trong ý thức của mỗi người đều có thể xuất hiện. Một khi nảy sinh ý thức cảnh báo nguy hiểm này, thường sẽ mang đến cho con người sự bất lực và tuyệt vọng cùng cực không nơi trốn chạy. Kèm theo đó là những ước tính và dự đoán về hậu quả có thể xảy ra, tự mình hù dọa mình lại càng làm tăng thêm sự hoảng sợ về loại nguy hiểm này.

Một biểu hiện điển hình nhất hiện nay là tâm lý khiếp sợ với tội danh “làm chính trị”. Theo cách nói của ông Tôn Trung Sơn, chính vốn là chuyện của dân chúng, trị chính là quản lý, cho nên chính trị chính là quản lý chuyện của dân chúng. Trong lịch sử Trung Quốc, cách nói “hữu học nhi ưu tắc sỹ” (có học để ra làm quan) chính là chỉ những người có học thức có năng lực nên trở thành bậc hiền tài trị quốc, đó là một việc làm rạng rỡ tổ tông. Trong lịch sử Trung Quốc có rất nhiều chính trị gia nổi tiếng, như Gia Cát Lượng, Lý Thế Dân, “nhà chính trị” xưa nay đều là từ mang nghĩa tích cực.

Nhưng với người Trung Quốc hiện đại, chỉ cần nghe tới “chính trị” có thể sẽ phát sinh phản cảm, thậm chí là sợ hãi. Nếu có người đòi hỏi quyền lợi chính đáng, hoặc giả có ý kiến về chính sách và hiện tượng xã hội, hoặc vừa nhắc tới Đảng Cộng sản ngay lập tức sẽ bị Trung Cộng chụp cho cái mũ “làm chính trị”. Trung Cộng dễ dàng khiến “làm chính trị” trở thành một tội danh dùng để vu khống danh dự của người khác, thỏa sức đả kích người khác, khiến mọi người cảm thấy nguy hiểm mà tránh xa những người hay đoàn thể bị chụp lên cái mũ này.

Điều khôi hài là mặc dù người Trung Quốc cho rằng “chính trị” là nguy hiểm, nhưng mọi người vẫn luôn sống trong chính trị từng thời từng khắc. Mọi chuyện của Trung Cộng đều do chính trị dẫn dắt. Từ cái gọi là giáo dục “đạo đức nhân phẩm tư tưởng” khi còn là học sinh cho tới khi lên đại học, đi làm, tham gia nghĩa vụ quân sự đều không thoát khỏi sự thẩm tra chính trị. Với những sự kiện quan trọng trong xã hội, lại càng không tránh khỏi việc phải biểu đạt thái độ. 40 năm trước, trong nhà có trồng vài cây cải, nuôi vài con gà cũng đều là vấn đề chính trị, phải bị cắt bỏ cái đuôi Chủ nghĩa Tư bản. Trong lịch sử, nếu không theo kịp tình thế của nước nhà thì những người “tư tưởng chính trị không tích cực, yêu cầu tiến bộ” thông thường sẽ trở thành đối tượng bị xã hội kỳ thị. Điều đảng phản đối không phải là bản thân việc làm chính trị, mà là xem bạn có nhất trí với đảng hay không. Khi nhất trí với đảng thì có làm chính trị mạnh nữa cũng đều là chính xác, khi không nhất trí với đảng dù không phải là chuyện liên quan tới chính trị cũng sẽ bị chụp lên cái mũ “làm chính trị”.

2) Sự cầm tù về tâm hồn do Văn hóa đảng gây nên

Tục ngữ có câu “Sơ sinh ngưu độc bất phạ hổ” (Chú nghé mới sinh không sợ hổ). Chú nghé nhỏ vì chưa từng gặp hổ nên tự nhiên sẽ không cho rằng hổ nguy hiểm. Còn rất nhiều người Trung Quốc hoàn toàn không trực tiếp bị Trung Cộng bức hại, nhưng tư tưởng này hầu như người Trung Quốc ai ai cũng có. Nguyên nhân do đâu? Chính là do Văn hóa đảng đã khiến người Trung Quốc nảy sinh ý thức cảnh báo nguy hiểm với những cách nghĩ không phù hợp với quan niệm của đảng, tạo thành sự cầm tù về tâm hồn cho người Trung Quốc.

Về mặt tâm lý, “ý thức cảnh báo nguy hiểm” bắt nguồn từ “nỗi sợ”. Trong đầu nghĩ gì không ai biết, sao lại sợ? Bởi vì ngôn luận và hành vi của con người bị tư tưởng của con người khống chế. Nếu trong tư tưởng có những quan niệm không phù hợp với đảng, không chắc vào một lúc nào đó sẽ lòi ra cái đuôi hoặc nói lỡ miệng, chẳng phải sẽ bị Trung Cộng trị hay sao? Biết bao nhiêu người trong lịch sử đã chịu thiệt thòi này. Cho nên mọi người vì bảo vệ mình, ngay cả tư tưởng bất đồng với đảng cũng đều không dám có, phải tự mình câu thúc. Không chỉ bản thân mình không được có mà còn phải khiến người khác cũng đều không được có. Cả một xã hội tạo thành một môi trường như vậy, môi trường này lại quay ngược lại gia tăng “ý thức cảnh báo nguy hiểm” của mình.

Những ý thức về sự nguy hiểm của những tư tưởng không phù hợp với quan niệm của đảng không thể tách rời khỏi sự nhồi nhét tư tưởng và đàn áp thống trị trường kỳ của Trung Cộng.

Trung Cộng từ ngày thành lập đảng tới nay đã tiến hành những cuộc giết người, đàn áp, làm vận động theo chu kỳ, mục đích chính là cường điệu ký ức khủng bố trong nhân dân, củng cố chính quyền của Trung Cộng. Đủ loại thủ đoạn đàn áp tàn khốc trong lịch sử Trung Cộng đã tạo ra tâm lý hoảng sợ khắc sâu trong mọi người. Trung Cộng khống chế mọi tài nguyên, nắm quyền sinh quyền sát, thủ đoạn bức hại của nó không có điểm dừng, cũng không có phạm vi có thể dự báo. Đặc biệt là những người có ý kiến bất đồng với “đảng” sẽ gặp phải tầng tầng đàn áp và bức hại từ nhỏ tới lớn, từ kinh tế, danh dự, tâm hồn, thể xác cho tới sinh mệnh. Những người không tin, hoài nghi tà thuyết Chủ nghĩa Cộng sản, bất mãn và phê phán sự chuyên chế một đảng của Đảng Cộng sản sẽ bị định đoạt trọng tội “tội phản cách mạng”. Ngay cả những cán bộ cao cấp của đảng, nếu như có những ý kiến bất đồng với đảng, cũng sẽ bị thanh trừ một cách khắc nghiệt.

Ngày nay trong thế kỷ 21, Trung Cộng vẫn tiến hành thống trị bằng áp lực cao độ, thống trị bằng đặc vụ, và thống trị bằng xã hội đen. Thủ đoạn của nó bao gồm: phong tỏa sự tự do tin tức, nghe lén ngôn luận của mọi người, tiến hành bắt giam các văn nhân, không cần tội danh cũng bắt giam những người dân theo đuổi tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận và đấu tranh hợp pháp, khống chế những nhân sỹ từ hải ngoại tới Trung Quốc, ăn trộm tài nguyên quốc gia để tuồn ra hải ngoại.

Cảnh giác giữa người với người đã gia tăng thành tâm lý sợ hãi mọi người. Mọi người không biết là rốt cuộc ai sẽ đâm cho mình một nhát, tiết lộ bí mật của mình, thậm chí đó là người mình xả thân cứu sống. Chỉ điểm mật báo đã trở thành một bối cảnh văn hóa nhơ bẩn dưới sự thống trị của Trung Cộng. Vì đảm bảo an toàn cho bản thân mình, rất nhiều người đã áp dụng cách làm nhất trí với đảng, không dám bộc lộ suy nghĩ thực của mình về những vấn đề “hơi nhạy cảm”.

Cho nên, những người tiếp nhận Văn hóa đảng đã chủ động dùng tư duy của Đảng Cộng sản suy nghĩ vấn đề, cố gắng tìm kiếm tâm tư của Trung Cộng, lãnh ngộ quan điểm của Trung Cộng. Hình thức biểu hiện như: Đầu tiên giả thiết mình là Trung Cộng, luôn nhất trí với Trung Cộng, sau đó đoán định điều gì phù hợp với quan niệm của đảng hiện nay, tiếp đó dùng quy tắc này để đo lường cách nghĩ của bản thân và người khác, giống như tự khoanh vùng giam bản thân mình, nỗ lực bài trừ cách nghĩ nào của bản thân không phù hợp với quan niệm của đảng, đến nghĩ cũng không muốn nghĩ; còn ngăn trở và khuyên can khi người khác nói đến vấn đề “mẫn cảm”, thậm chí còn có người trực tiếp đi báo cáo hay mách lẻo, trực tiếp để cho đảng tới bức hại những người có cách nghĩ bất đồng; dù là người Trung Quốc đã ra nước ngoài không ở trong môi trường có đảng khống chế, vẫn sợ hãi một cách “bản năng”, mọi người giống người máy phục tùng mệnh lệnh của đảng.

3) “Ý thức cảnh báo nguy hiểm” nguy hại cho dân tộc

Sau khi có ý thức cảnh báo nguy hiểm với những cách nghĩ không phù hợp với quan niệm của đảng, tự động hình thành tư duy nhất trí với đảng, con người trở nên cẩn thận chi li mọi nơi, lo lắng tìm kiếm an toàn, quen với vâng vâng dạ dạ, vâng mệnh là cách để có được ân sủng của kẻ chuyên quyền và cấp trên từ xưa tới nay, giống như sống đời nô lệ, tôn nghiêm của con người đã mất đi một cách triệt để. Ngày 4 tháng 6, có một giáo sư tham gia đoàn diễu hành đã viết ra bức biểu ngữ với dòng chữ: “Quỳ quá lâu rồi, đứng lên đi dạo”. Có thể thấy người Trung Quốc bị nô dịch đã lâu, ngay cả kháng nghị cũng yếu ớt – đi dạo xong lại về quỳ. Điều đáng buồn là, có rất nhiều người quả thực lại quỳ tiếp.

Văn hóa truyền thống Trung Quốc nhấn mạnh tinh thần quan lại, Thôi Trữ – đại thần nước Tề thời Xuân Thu chiến quốc đã giết vua, bị quan sử ghi chép vào sử sách, Thôi Trữ giết chết quan sử này, nhưng quan sử thứ hai vẫn viết như vậy. Quan sử thứ hai, thứ ba đều bị giết, những quan sử khác vẫn kiên trì như vậy. Đây chính là kiểu khí tiết, là hạt nhân tinh thần khiến dân tộc có thể sinh tồn trường cửu, cũng là cội nguồn tâm hồn của dân tộc Trung Hoa. Nhưng sự nhồi nhét Văn hóa đảng và sự bức hại của Trung Cộng lại vô tình hủy hoại đi cái tinh thần này, các phần tử trí thức hoặc bị bức hiếp, hoặc là bị mua chuộc, “Trợ Trụ vi ngược”, giúp Trung Cộng bịa đặt ra nhiều lời lừa dối hơn nữa để lừa gạt dân chúng, để bảo vệ cho sự thống trị độc tài của Trung Cộng.

Cổ nhân Trung Quốc cũng nhấn mạnh khí khái đại trượng phu: “Phú quý bất năng dâm, uy vũ bất năng khuất, bần tiện bất năng di” (Giàu cũng không thể dâm loạn, uy vũ cũng không thể cúi đầu, bần tiện cũng thể thay lòng đổi dạ). Các triều đại đều xuất hiện không ít những người không sợ cường quyền, khinh thường quyền quý, vì tôn nghiêm và giá trị có thể không tiếc hy sinh sinh mệnh. Trong xã hội phương Tây cũng có câu danh ngôn “mất tự do, chi bằng chết đi còn hơn”. Nhưng Trung Quốc ngày nay, dưới chính quyền bạo lực và sự nhồi nhét Văn hóa đảng của Trung Cộng, dũng khí của người Trung Quốc lại tan biến vào hư vô, thay thế vào đó chính là tâm sợ hãi và khủng hoảng cực đoan.

Cho nên tôn nghiêm dân tộc Trung Quốc từ xưa đã tan biến, khả năng thay đổi vận mệnh của một dân tộc đã bị bóp nghẹt. Có người nói Trung Quốc sớm đã thành nô lệ mất nước, là vùng thuộc địa. Không sai, từ sau năm 1949 tới nay, Trung Quốc quả thực đã mất nước về mặt tinh thần. Đảng Cộng sản đã bóp chết tinh thần của dân tộc Trung Quốc, điều được thiết lập không phải là “Trung Quốc mới” mà là đế quốc chuyên chế tàn bạo về cả vật chất và tinh thần.

Một tác gia nổi tiếng bị mù từng nói: “Thân thể tôi không tự do, nhưng tinh thần tôi tự do.” Những người bình thường trong một xã hội bình thường có thể có đủ kiểu giá trị quan và phương thức tư duy, có quyền được lựa chọn một cách đầy đủ, cuộc sống phong phú đa dạng, mọi người là chủ nhân trong cuộc sống của mình. Còn người Trung Quốc hôm nay dù được tự do ăn uống cờ bạc trác táng, nhưng lại mất đi mái nhà tinh thần của mình. “Ý thức cảnh báo nguy hiểm” khiến người Trung Quốc nhốt mình trong nhà tù tư tưởng, nhất loạt không tiếp thu những điều không phù hợp với quan niệm của “đảng”, thậm chí là sợ hãi, trốn tránh. Người Trung Quốc sinh sống trong thể hệ hà khắc như vậy, rất khó có thể tư duy ngoài thể hệ của đảng. Chỉ có thể có những thứ phù hợp với Văn hóa đảng và quan niệm của Trung Cộng trong nhà tù linh hồn của mình, cách nhìn thế giới của bản thân cũng chỉ có một chút đó trong cái khung của mình mà thôi. Tư duy bắt nguồn từ trong Văn hóa đảng, chịu sự nô dịch về tinh thần của nó, mất đi tự do và niềm vui tư tưởng, đời người cũng chỉ là sống vì Trung Cộng mà thôi.

4) Giải thoát khỏi nỗi sợ vô hình, làm chủ đầu óc của chính mình

Chúng ta cần rõ ràng về một thường thức cơ bản: ý nghĩ về “ý thức cảnh báo nguy hiểm” trực tiếp vi phạm tinh thần pháp trị hiện đại. Điều mà pháp luật của bất kỳ một nước văn minh nào trừng phạt đều là hành vi phạm tội của con người, chứ tuyệt đối không phải là tư tưởng của con người. Cũng chính là vì pháp luật chỉ có thể căn cứ vào việc một người đã làm gì mà trừng phạt họ, chứ tuyệt đối không thể căn cứ vào điều họ nghĩ gì mà trừng phạt họ. Khi chúng ta cảm thấy một cách nghĩ nào rất nguy hiểm chúng ta nên ý thức được đây là di chứng của cách làm dã man quy tội cho tư tưởng của Trung Cộng.

Cách tư duy Văn hóa đảng theo thói quen và “ý thức cảnh báo nguy hiểm với những tư tưởng không phù hợp với quan niệm của đảng” này không hề có lý tính và vô căn cứ. Đại não của con người là do mình chi phối, nghĩ gì do mình quyết định; một người có tư tưởng độc lập của mình, Đảng Cộng sản cũng hoàn toàn không thể làm gì người đó. Nói về mục đích chủ quan của nó, Đảng Cộng sản quả thực muốn khống chế tư tưởng của con người. Nhưng dù vào thời kỳ điên cuồng nhất của tà linh cộng sản, mục tiêu này cũng không thể được thực hiện một cách hoàn toàn. Ngày nay Đảng Cộng sản mong muốn tiến hành kiểm soát tư tưởng của nhân dân mãnh liệt hơn bao giờ hết, nhưng khả năng khống chế của nó lại suy yếu hơn bao giờ hết. Người Trung Quốc phải bước ra khỏi nỗi sợ hãi vô hình do Trung Cộng tạo ra đó, nhất định có thể bước ra khỏi nỗi sợ hãi vô hình đó. Thoát khỏi tâm lý sợ hãi phi lý tính đối với Đảng Cộng sản, đã đến lúc phải làm điều này rồi.

Thoát khỏi nỗi sợ hãi, chúng ta mới có thể khôi phục tôn nghiêm làm người, mới có một xã hội tự do.

4. Văn hóa đảng sử dụng những lời rập khuôn theo thói quen

“Phải nỗ lực học tập những kỳ tích tiên tiến và tinh thần cao cả của xxx, không ngừng giữ vững và phát triển gì gì đó, tiếp tục đoàn kết dẫn dắt nhân dân các dân tộc trên toàn quốc dũng mãnh tiến trên con đường vĩ đại xxx.”

“Phải nhận thức sâu sắc về tính trường kỳ, tính phức tạp, tính gian khổ to lớn về…, coi công việc là nhiệm vụ chiến lược quan trọng, kiên trì giữ vững, một phút cũng không được buông lơi.”

“Các đồng chí trong toàn đảng phải đoàn kết mật thiết hơn nữa coi xxx là hạt nhân xung quanh trung ương đảng”, kiên trì xxx nhằm chỉ đạo quán triệt một cách toàn diện việc thực hiện xxx, nhằm xây dựng một cách toàn diện xxx, tiếp tục phấn đấu nhằm không ngừng khai sáng xxx.”

Đây là những đoạn trích trong báo cáo đại hội của Trung Cộng. Những lời rập khuôn rỗng tuếch, lời khuôn sáo thành văn như vậy của đảng tràn ngập trong những buổi họp lớn nhỏ, trên ti vi đài phát thanh, tạp chí báo chí. Những lời rập khuôn của đảng là hệ thống ngôn ngữ điển hình, nhưng lời rập khuôn của đảng không chỉ giới hạn ở các quan chức, mà đồng thời còn phổ cập vào trong nhân dân. Từ giới quan chức cho tới nhân dân, nói lời rập khuôn của đảng đã trở thành một phương thức tư duy theo thói quen.

Điều cần chỉ ra là, Mao Trạch Đông, lãnh đạo Trung Cộng từng viết một bài “Phản đối lời rập khuôn của đảng” nhưng dụng ý chân thực của y hoàn toàn không phải là phản đối những lời rập khuôn của đảng, mà là mượn cớ dùng những lời mơ mơ hồ hồ như “mở miệng ra liền xưng ta là Hy Lạp”, nhằm ám chỉ và đả kích phái quốc tế cộng sản trong nội bộ đảng còn lưu giữ bối cảnh của Nga, chủ yếu là nhằm vào Vương Minh, người bị y cho là kẻ gây chướng ngại lớn nhất cho y trong cuộc tranh giành quyền lãnh đạo tối cao trong đảng. Nói cách khác, Mao không phải vì muốn phản đối những lời rập khuôn của đảng mà là muốn dùng những lời rập khuôn của đảng theo phương thức của Mao thay thế cho những lời rập khuôn của đảng theo các phương thức khác. Điều này đã giải thích vì sao trong Đại Cách mạng Văn hóa khi nhân dân toàn quốc rộ lên việc đọc “Lão tam thiên”, rộ lên việc đọc “Mao ngữ lục”, rộ lên việc “Tiểu hồng thư” (Cuốn sách nhỏ màu đỏ), Mao không bao giờ nhắc đến việc “phản đối những lời rập khuôn của đảng”.

1) Bộc lộ những lời rập khuôn của đảng theo thói quen trong mọi thời điểm

Mỗi lần họp đại hội gì đó, nhất định cần phải biểu đạt thái độ chính trị, nói gì cũng không thoát khỏi những lời lộng ngôn sáo rỗng kiểu như hạt nhân kiên cường của đảng, không thoát khỏi chủ nghĩa gì đó, tư tưởng gì đó, lý luận gì đó, quan điểm gì đó; hoặc giả lịch sử chứng minh điều gì điều gì chính xác. Còn những lời đao to búa lớn như phải kiên trì sự lãnh đạo nào đó, dùng tư tưởng gì chỉ đạo, dùng cái gì đó để vũ trang nhân dân, tiến theo con đường đặc sắc nào đó, hoặc là đoàn kết mật thiết xung quanh những người nào đó, giương cao lá cờ gì đó, cống hiến hơn nữa cho sự nghiệp gì đó.

Mỗi lần gặp phải lãnh đạo phát biểu liền nịnh nọt nói nào là “phát biểu quan trọng”, để làm nổi bật địa vị của người phát ngôn, nâng cao nội dung diễn thuyết, nói một loạt những lời hay ý đẹp như thuyết minh một cách sâu sắc cái gì đó, tạo thành ảnh hưởng trọng đại nào đó, có ý nghĩa trọng đại nào đó…

Đại diện cấp trên phát ngôn thì nhất định phải nói tới trung ương đảng vô cùng quan tâm, vô cùng coi trọng.

Quan chức qua đời, những lời điếu văn điển hình chính là trong suốt một đời của đồng chí nào đó là một đời cách mạng, một đời chiến đấu đã cống hiến một cách vĩ đại cho sự nghiệp gì gì đó.

Quan chức xuất hiện vấn đề gì đó, nhất định là do xa rời khỏi lý luận gì gì đó, không thấu hiểu tinh thần gì gì đó của đảng, thể hiện quyết tâm rằng nhất định sẽ làm tốt hơn nữa.

Được biểu dương nhất định sẽ biểu thị sự cảm kích do đảng bồi dưỡng, không thể tách rời sự quan tâm và chăm lo của tổ chức, cuối cùng phải cống hiến nhiều hơn nữa cho sự nghiệp gì gì đó.

Trong xã hội hoặc trong đảng xuất hiện vấn đề gì đó, nhất định sẽ thêm vào những từ như “một số rất ít”, “trường hợp cá biệt”, “một nhóm phần tử gì đó”.

Với cách nhìn về xu thế quốc tế, đều là “Chúng ta nên chú ý đến thế lực nào đó của phương Tây…”

Còn có một bộ những lời rập khuôn như phải dùng cái gì đó chỉ đạo, lấy cái gì đó làm cơ sở, làm động lực nào đó, chứng minh điều gì đó, lấy gì đó làm mục tiêu, lấy gì đó làm trung tâm… những bài phát biểu của lãnh đạo hầu như bài nào cũng như vậy, đưa ra một bộ những lời này nhằm biểu thị sự khắc sâu và toàn diện.

Còn phải theo sát khẩu hiệu tuyên truyền chính trị, mở miệng nào là “tam giảng” (ba bài giảng), “tam đại biểu”, “trị quốc bằng pháp luật”, “dùng đức trị quốc”, “kinh tế thị trường chủ nghĩa xã hội”, “giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội”, “nghèo khó không phải là chủ nghĩa xã hội”, “ổn định áp đảo tất cả”, “chiến lược phát triển ba bước”, “hướng tới hiện đại hóa”, “hướng tới thế giới”, “hướng tới tương lai”, “chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc của Trung Quốc”, “một nước hai chế độ”, “kiên trì cải cách mở cửa”, “kiên trì bốn nguyên tắc cơ bản”, “tiến bước cùng thời đại”,“xã hội hài hòa”…

Có người đã từng tổng kết “Sáo thoại đại toàn” (Đại toàn thư về những lời sáo rỗng) như họp không lần nào không long trọng, bế mạc không lần nào không thắng lợi, diễn thuyết không ai không quan trọng, nghị quyết không cái nào không thông qua, vỗ tay không lần nào không nhiệt liệt, lãnh đạo không ai không coi trọng, đi thăm không ai không gần gũi, tiến triển không cái nào không thuận lợi, kết thúc không việc nào không viên mãn, thành tựu không cái nào không to lớn, công tác không cái nào không thiết thực, hiệu suất không cái nào không rõ nét, lòng người không ai không phấn chấn, không lớp nào không đoàn kết, quần chúng không gì không mãn nguyện… đều là những lời rập khuôn điển hình.

Đoạn kết khi viết văn khó tránh khỏi việc xuất hiện câu: “Chúng tôi tin rằng, dưới sự nỗ lực của xxx., xxx nhất định sẽ xxx.”

Trong văn nghệ, giải trí, trong đời sống thường ngày cũng tràn ngập những lời rập khuôn như vậy.

Trong vở kinh kịch nổi tiếng “Tứ Lang thám mẫu” (Tứ Lang thăm mẹ) trên đĩa CD “Tứ Lang thám mẫu” trình diễn những vở kịch kinh điển chúc mừng Viện kinh kịch Trung Quốc tròn 50 năm, ghi một đoạn ấn tượng như sau:

“Nửa thế kỷ nay, dưới phương châm chỉ đạo nghệ thuật của Viện kinh kịch Trung Quốc, sáng tác và trình diễn một loạt những vở kinh kịch hiện đại và truyền thống xuất sắc được nhân dân đón nhận nồng nhiệt, thành tựu một loạt nhân tài nghệ thuật. Là một đoàn thể biểu diễn nghệ thuật cấp quốc gia, Viện kinh kịch Trung Quốc đã có những cống hiến tích cực trong việc truyền thừa nghệ thuật của dân tộc, hồng dương tinh thần dân tộc, thúc đẩy xã hội phát triển, xúc tiến giao lưu văn hóa Trung Hoa.”

Sáng tác “Tứ Lang thám mẫu” là việc của vài trăm năm trước, được hát trên sân khấu kinh kịch gần 200 năm không ngừng nghỉ. Nguyên nhân thành công là do kịch bản tốt, diễn đạt, không hề có quan hệ gì với Trung Cộng. Ngược lại, kinh kịch còn bị Trung Cộng phá hoại thảm hại. Mã Liên Lương, Hề Khiếu Bá, Chu Tín Phương trong bốn diễn viên kinh kịch lớn, Tấn Huệ Sinh, Thượng Tiểu Vân trong 4 tên tuổi lớn, những nhân vật nổi tiếng của giới kinh kịch đều bị bức hại. Do đó, đoạn giới thiệu đó thực chất chính là sự báng bổ kinh điển kinh kịch truyền thống, đằng sau đó phản ánh tư duy nịnh bợ chính quyền mà nói lời rập khuôn của đảng.

Món ăn Triều Châu đã có trong lịch sử mấy nghìn năm của Trung Quốc. Nhưng trong lời mở đầu của công thức nấu ăn trong “Món ăn Triều Châu chính tông của Trung Quốc” có một đoạn như sau: “Sau khi Trung Quốc mới thành lập ẩm thực  …. Lại có một bước phát triển mới. Đặc biệt là gần 10 năm qua, làn gió xuân cải cách mở cửa đã mang đến bước nhảy vọt về kinh tế của khu Triều Sán… ngày nay món ăn Triều Châu đã tiến nhập vào một thời kỳ phát triển đỉnh cao.” Dù là ẩm thực chính tông, đương nhiên thương hiệu khẩu vị đó càng lâu càng tốt, càng truyền thống càng tốt, không biết vì sao làn gió xuân cải cách có thể thổi vào trong nồi, khiến món ăn Triều Châu tiến nhập vào “thời kỳ phát triển đỉnh cao”. Điều này phản ánh một lối tư duy nói lời rập khuôn của đảng theo thói quen.

Có thể nói, ai cũng biết những lời rập khuôn của đảng không tốt, ai cũng đều thấy lời rập khuôn của đảng khiến người khác muốn ói mửa. Nhưng vì sao mọi người lại hay nói lời rập khuôn của đảng với tần suất cao như vậy? Thậm chí rất nhiều người còn không cho là chuyện đáng xấu hổ, ngược lại cho đó là vinh quang, cảm thấy hợp thời? Vậy rốt cuộc đằng sau đó phản ánh tâm thái nào?

2) Tâm thái đằng sau những lời rập khuôn của đảng

Đằng sau những lời rập khuôn của đảng ẩn chứa một loại tâm lý sợ hãi. Mọi người hình thành tư duy nói lời rập khuôn của đảng, mọi lúc mọi nơi thuận miệng là nói lời rập khuôn của đảng, về một ý nghĩa nào đó chính là đang nói với chính quyền rằng: anh ấy phục tùng trật tự độc tài đó, không hề có bất kỳ ý đồ phản kháng nào. Dưới sự chuyên chế của Trung Cộng, mọi người không biết tư tưởng độc lập và ngôn luận tự do của mình khi nào sẽ mang tới những hậu quả không tốt cho mình, thậm chí là mang tới họa sát thân. Cho nên lặp lại lời của đảng chính là một biện pháp phòng hộ tốt nhất, ngoài những từ đảng đã dùng, mọi người không dám dùng tùy tiện. Còn nếu đảng nói ra lời nào đó, thì lại phải “theo sát xu thế”, như vậy mới có cảm giác an toàn. Khi mọi người nói những lời rập khuôn của đảng, thì ít nhất về chính trị là chính xác, không chỉ là người khác không thể tìm lỗi mà còn có thể đứng trên điểm cao mà công kích người khác. Tâm lý sợ hãi này là nguyên nhân trực tiếp khiến mọi người nuôi dưỡng tư duy quen nói lời rập khuôn của đảng.

Những lời rập khuôn của đảng cũng là kết quả sự nhồi nhét cưỡng chế của Trung Cộng. Tivi, báo đài, lãnh đạo giảng nói, khắp nơi đều tràn ngập những lời rập khuôn của đảng, còn có “Thời báo”, “Tài liệu nội bộ”, “thông tấn”, “tin tức” rối rắm phức tạp do ban ngành quan liêu các cấp phát hành, khiến những từ này đã chiếm cứ tư duy của mọi người. Khi mọi người dùng ngôn ngữ để trần thuật sự thật hoặc nói lên cách nghĩ của mình thì sẽ tự động nhớ tới những câu này trước. Còn rất nhiều những người không biết sự nguy hại của những lời rập khuôn của đảng lại quen bắt chước như vẹt, đảng nói gì thì mình nói đó.

Những lời rập khuôn của đảng cũng là do hệ thống ngôn ngữ của Văn hóa đảng quyết định. Trong Văn hóa đảng, ca ngợi công lao, nịnh nọt theo đuôi, biểu đạt thái độ chính trị đã cấu thành ba đặc sắc lớn trong quan trường Trung Cộng. Giống như phân tích trong chương 6, lời của đảng của Trung Cộng có tác dụng kiểm duyệt thân phận như của xã hội đen. Biết nói những lời rập khuôn của đảng là yêu cầu cơ bản của các thành viên trong phe phái của nó, là thẻ thông hành để thành viên đó bay cao bay xa. Những người không nói những lời rập khuôn của đảng thì bị cho rằng không phải người trong cái vòng này, không được tín nhiệm, mà bị bài xích tập thể. Mọi người phải giả vờ, phải vắt óc suy nghĩ, hoặc chỉ vì sinh tồn một cách thấp hèn trong khe nứt, đều đành phải nói những lời rập khuôn của đảng. Còn có người cho rằng những lời rập khuôn của đảng mới phù hợp với giới “chủ lưu” trong xã hội do Trung Cộng thống trị, coi những lời rập khuôn của đảng như những lời chính thức có thể trích dẫn vài đoạn mọi lúc mọi nơi, thể hiện rằng bản thân mình rất hợp thời, có bản sự. Người khác cũng cảm thấy anh ấy biết ăn nói, rất khâm phục, như vậy lại càng làm trầm trọng thêm thói quen này, cả xã hội hình thành một phương thức sống như vậy.

3) Sự độc hại của những lời rập khuôn của đảng

Tư duy Văn hóa đảng quen nói những lời rập khuôn của đảng mang tới những hậu quả nghiêm trọng.

Khi mọi người truyền bá những lời rập khuôn của đảng, dù là mọi người cố tình hay châm biếm, đều khiến Văn hóa đảng trở thành một bộ phận trong cuộc sống sinh tồn của mọi người. Do đó không ngừng sáng tạo môi trường sinh tồn cho Trung Cộng, khởi tác dụng duy hộ tà giáo hắc phái Trung Cộng. Bởi vì mọi người sử dụng hệ thống ngôn ngữ của Văn hóa đảng cũng chính là tiếp nhận nhân tố của Trung Cộng, chính là tăng cường cho cái trường nơi Trung Cộng dựa vào đó mà tồn tại.

Tư duy nói những lời rập khuôn của đảng cũng khiến người Trung Quốc và xã hội quốc tế rất khó giao tiếp. Những lời rập khuôn của đảng là văn hóa bè phái giả tạo, nó khiến con người khó giao tiếp với người khác về mặt ngôn ngữ. Người những nước khác khi nói chuyện với lãnh đạo Trung Cộng, nghe những người ấy nói ra một bộ những lời rập khuôn của đảng thường choáng váng không sao hiểu nổi, không biết quốc gia lớn như vậy rốt cuộc xảy ra chuyện gì, vì sao lại không thể tìm ra một nửa người nói chuyện một cách bình thường trong cả tỷ người để quản lý đất nước này.

Đồng thời, mọi người khi đã quen với những lời rập khuôn của đảng có lẽ cũng không ý thức được nhân tố của Văn hóa đảng đã bắt đầu bóp nghẹt ngôn ngữ độc lập, bóp nghẹt tư duy độc lập, ngược đãi cho tới chết nhân cách độc lập của con người, làm ủ dột năng lực sinh sống của bản thân. Dù Trung Cộng làm hết thảy những chuyện xấu, thì hệ thống ngôn ngữ của Văn hóa đảng của Trung Cộng đều có thể dễ dàng khống chế tư duy con người, làm sai lệch tiêu chuẩn phán đoán của con người, đồng thời che giấu trách nhiệm tội ác của mình, kết quả đã khiến rất nhiều người biện hộ cho Trung Cộng như một thói quen. Do đó, dù cho Trung Cộng hết lần này đến lần khác mang tới những khổ nạn trầm trọng cho dân tộc Trung Hoa, phạm phải hết tội ác này đến tội ác khác không thể dung tha, vẫn không thể xua đuổi được Trung Cộng phụ thể dân tộc Trung Hoa và trường kỳ khống chế người Trung Quốc bằng ngôn ngữ như một cơn ác mộng.

4) Đột phá lồng giam ngôn ngữ, khôi phục tự do tâm trí

Ngôn ngữ của một người phản ánh thế giới tinh thần của người đó. Ngôn ngữ phản ánh ra lại có thể vun đắp thế giới tinh thần của con người. Những lời rập khuôn của đảng phản ánh một tâm hồn bệnh hoạn giả dối, xấu xí, cứng nhắc. Quá trình quen dần với những lời rập khuôn của đảng chính là quá trình dần vứt bỏ tư duy tự do và nhân cách độc lập, chính là quá trình trở thành thi thể mang Văn hóa đảng. Còn ngôn ngữ thành thật, hòa ái, lương thiện khoan dung, nhân nghĩa, tự do, linh hoạt, nho nhã lại phản ánh thế giới nội tâm tốt đẹp, đồng thời cũng hỗ trợ cho việc bồi dưỡng thói quen tư duy tự do và làm phong phú đa dạng cá tính.

Hãy cáo biệt những lời rập khuôn của đảng, cáo biệt lồng giam bó buộc ngôn ngữ và tâm trí của chúng ta. Chỉ có như vậy trí tuệ của nhân dân Trung Quốc mới có thể thực sự được phát huy, xã hội Trung Quốc mới có thể phục hồi lại sức sống.

5. Làm nhầm lẫn khái niệm đảng và chính phủ, đảng và quốc gia, đảng và dân tộc

Sau khi Đảng Cộng sản cướp đoạt chính quyền, đã gọi thay triều đổi đại là “kiến quốc”, tiếp đó còn dùng dáng vẻ “Chúa cứu thế”, “Đấng sáng thế” mà bắt đầu tiến hành tuyên truyền nhồi nhét mấy chục năm nay trên mảnh đất Trung Hoa rộng lớn, dường như 5.000 năm lịch sử của chúng ta hoàn toàn chưa từng tồn tại trên trái đất. Cho nên, chính phủ trở thành chính phủ mãi không thay đổi do đảng sáng lập, quốc gia trở thành quốc gia do đảng sáng tạo lãnh đạo trọn đời, dân tộc trở thành dân tộc do đảng tới cứu thế, đại biểu một cách vô điều kiện. Không có Đảng Cộng sản, chính phủ chắc sẽ trở thành vô chính phủ, quốc gia chắc sẽ trở nên hỗn độn, dân tộc chắc sẽ thành nô lệ mất nước. Đảng quy định cho mình quyền “chí cao vô thượng”, điều khiển “chính phủ”, “quốc gia”, “dân tộc”.

Nhằm ổn định sự thống trị của đảng, Trung Cộng kiểm soát xã hội và mọi phương diện trong cuộc sống của người Trung Quốc một cách nghiêm ngặt. Cơ cấu của đảng từ trung ương cho đến vùng xa xôi hẻo lánh không nơi nào không có mặt; hành sự từ việc sát nhân phóng hỏa đến đấu với Trời, đấu với Đất có thể nói là không gì không dám làm; dù là hôn nhân lễ tết hay phụ nữ sinh mấy con, đảng không việc gì không quản. Đảng ở khắp mọi nơi, “chính phủ”, “quốc gia” và “dân tộc” đã trở thành con rối trong tay đảng, cái dây nằm trong tay đảng, phục vụ đảng.

Nhiều người dân Trung Quốc ngày nay không phải là không biết đảng và chính phủ, quốc gia và dân tộc là hai chuyện khác nhau, đạo lý này mọi người đều hiểu, nhưng về tâm lý thì hình bóng của đảng nặng nề như vậy, vi quan như vậy, “đảng” trở thành bùa chú không thể phá giải nắm giữ vận mệnh người Trung Quốc. Vấn đề quan trọng nhất là mọi người cảm thấy tách rời Đảng Cộng sản mà nói tới chính phủ này, duy hộ quốc gia này, làm giàu mạnh dân tộc này thì không còn có ý nghĩa thực chất nữa, giống như cá tách khỏi nước, cảm thấy quả thực là nói chuyện phiếm. Cho nên sự khác biệt trên lý luận về những khái niệm đảng, quốc gia, chính phủ, dân tộc không thể ngăn nổi sự hỗn tạp trong phạm vi kinh nghiệm đó, tình cảm của nhân dân với quốc gia và dân tộc toàn bộ đều chuyển thành tình cảm dành cho đảng. Phản đảng chính là phản chính phủ, chính là không yêu nước, chính là phản Trung Hoa, chính là bán nước, chính là làm người Trung Quốc mất mặt, bôi nhọ dân tộc. Đảng ngụy trang thành quyền trượng của chính phủ, thành hóa thân của quốc gia, đại diện của dân tộc. Tóm lại, đảng chính là tất cả.

1) Đảng chính là “tất cả”

(1) Đảng tự phong cho mình là “người mẹ thân thương”

Khổng Tử nói: “Hiếu đễ dã giả, kỳ vi nhân chi bản ru” (Hiếu thuận là gốc của Nhân). Hiếu thuận là đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc Trung Hoa, trong đạo hiếu sự hiếu thuận với mẹ là nổi bật nhất. Đảng Cộng sản liền coi mình như mẹ, thậm chí là người thân còn thân thiết hơn cả mẹ, từ đó nhận được sự hiếu thuận vô ngần của nhân dân. Con cái không chê mẹ xấu, Đảng Cộng sản dù xấu xa thế nào mọi người cũng muốn duy hộ hình tượng của đảng.

(2) Đảng tự xưng mình dưỡng dục nhân dân

Đảng không trồng trọt không dệt vải, đâu có thể dưỡng dục nhân dân? Ngược lại, là nhân dân dưỡng dục đảng, là tiền của “người nộp thuế” đã nuôi sống đảng.

Nhưng đảng thông qua bộ máy quốc gia khống chế toàn bộ của cải và tài nguyên của người Trung Quốc, “cộng” toàn bộ tài sản của toàn Trung Quốc. Lấy đi những thứ vồn thuộc về người Trung Quốc rồi mang đi “thi ân” cho bách tính, mọi người tự nhiên cảm thấy là đảng cho mình đi học, sắp xếp công việc cho mình, giới thiệu đối tượng cho mình, phân nhà mới cho mình, phát lương hưu cho mình. Tình mẹ được tạo nên từ việc phong bế nhồi nhét trường kỳ này khiến mọi người phổ biến cảm nhận một cách đảo lộn rằng “dù Đảng Cộng sản không tốt ra sao, nhưng cũng có ân dưỡng dục mình.” Kỳ thực chính là ngược lại, mọi người trong xã hội bình thường đều phải đi học, làm việc, thành gia lập nghiệp, xưa nay không hề nghe nói đến công lao nào của đảng, tất cả đều là công lao và cống hiến mà bản thân mỗi người nên có, là trạng thái sinh sống bình thường. Sự cải thiện cuộc sống của người dân Trung Quốc tuyệt đối không phải bắt nguồn từ Đảng Cộng sản, mà là lao động cần lao của bản thân mình. Hơn nữa không có sự bóc lột và chèn ép của Đảng Cộng sản, cuộc sống của người Trung Quốc khẳng định là tốt hơn hiện tại. Những nước không có Đảng Cộng sản, chẳng phải có nhiều người đi học hơn, có càng nhiều công việc tốt, nhà càng rộng và tiền lương hưu càng nhiều hơn sao?

(3) Đảng khống chế bát cơm

Không phải ai ai cũng đều tin tưởng “người mẹ” ngoại lai tà ác đủ đường này, nhưng “người là sắt, cơm là thép, ba ngày không ăn đói phát hoảng.” “Mẹ đảng” có cách “đại nghĩa diệt thân” dành cho những người không biết nghe lời. Không cho bạn cơm ăn, bạn làm thế nào? Trước “cải cách mở cửa”, Trung Cộng đã lũng đoạn mọi tư liệu sản xuất, bất kỳ một người nào muốn tìm việc, đều phải tới tìm đảng, điều này tạo thành cảm giác sai lầm cho con người, dường như giống như đảng cho chúng ta bát cơm vậy. Tới tận ngày nay, chỉ cần đảng muốn, nó có thể không màng bất kể đạo lý nào mà cướp bát cơm của chúng ta. Điều này lại khiến mọi người cảm thấy: đảng vốn dĩ có thể cướp đi bát cơm của chúng ta, nhưng nó lại không cướp. Do đó mọi người lại “mang ơn mang nghĩa” với nó, cảm thấy bát cơm là đảng cấp cho, nhưng lại không nghĩ rằng bản thân tiền đề “đảng vốn dĩ có thể cướp đi bát cơm của tôi” chính là sự vô lý. Về góc độ tâm lý mà nói, đảng khống chế chặt chẽ bát cơm, mọi người cũng càng cảm thấy là đảng bảo đảm sự sinh tồn cơ bản cho mình. Nhân dân không thể rời xa bát cơm, khi con người coi đảng và bát cơm giống nhau, thì “phản đảng” chính là “phản lại nhân dân”.

(4) Đảng đại biểu “sự tiên tiến”

Đảng Cộng sản rất hứng thú với việc vạch rõ “phần tử tiên tiến” và “phần tử lạc hậu”. “Phần tử lạc hậu” là đối tượng để đấu tranh, còn đảng viên phải là “phần tử tiên tiến”, là “đội tiên phong”, là “tinh anh của xã hội”, đại diện cho “năng lực sản xuất tiên tiến”, “văn hóa tiên tiến”. Cho nên, đảng trở thành “rường cột”, “tương lai”, “xu hướng” của quốc gia và dân tộc. Dưới thế tuyên truyền tấn công đường đường chính chính như vậy, ác đảng lại trở thành “người tốt”, cho nên trong ý thức của mọi người càng thêm ỷ lại vào Đảng Cộng sản.

(5) Đảng là “lối thoát”

Quyền lực của toàn xã hội đều bị khống chế trong tay đảng, không gia nhập đảng thì không được đề bạt, không gia nhập đoàn thì tiền đồ cá nhân sẽ bị ảnh hưởng, thậm chí không vào đội đều sẽ trở thành nỗi sỉ nhục to lớn. Gia nhập vào các tổ chức của đảng trở thành điều kiện tiền đề cho mọi người tìm được lối thoát trong xã hội. Đảng và sự nghiệp cũng như cuộc sống của mọi người có quan hệ mật thiết với nhau.

(6) Đảng trà trộn vào cuộc sống

Bí thư chi bộ đảng không cần nghề chính đáng, cũng không cần nghề gì chính đáng, ngoài việc tuyên truyền nhồi nhét phương châm chính sách, thêm vào việc nắm bắt công tác tư tưởng. Công tác tư tưởng này không chỉ có việc giám sát quần chúng xem có tư tưởng chính trị đoàn kết chặt chẽ xung quanh đảng hay không, mà điều này bao gồm những tranh chấp giữa hàng xóm, chức vụ và mâu thuẫn gia đình, đảng và cuộc sống thường nhật của mọi người, bao gồm đời sống riêng tư cũng không thể tách rời.

(7) Đảng quảng cáo mình là “hóa thân của đạo đức”

Mặc dù đạo đức xã hội của Đảng Cộng sản rất hèn hạ, đặc biệt là tại Trung Quốc Đại lục hiện nay, nguy cơ tha hóa đạo đức đã trở thành nhận thức chung của xã hội, nhưng Đảng Cộng sản trong khi tuyên truyền vẫn nhất quán dán nhãn cho mình là hóa thân của đạo đức. Mỗi một thời kỳ đều có một lô những khẩu hiệu đạo đức, nào là “ba kỷ luật lớn”, “tám điều cần chú ý”, “học theo hình mẫu Lôi Phong”, “ngũ giảng tứ đức”, “văn minh tinh thần”, “tam đại biểu”,“lấy đức trị quốc”, “bát vinh bát sỉ (tám điều vinh quang, tám điều sỉ nhục)”, “xã hội hài hòa”… Bởi vì quan niệm đạo đức mà nó đề xướng chỉ là những quan niệm như trung thành với đảng, duy hộ Đảng Cộng sản, còn bản thân Đảng Cộng sản lại không nói chuyện đạo đức, cho nên đạo đức càng ngày càng trượt dốc, đến nay nát như tương bần. Nhưng những cuộc vận động tuyên truyền đạo đức, chính trị này lại khiến mọi người nhầm tưởng rằng đảng nhấn mạnh đạo đức. Ở trường những bài học đạo đức là thuộc về bài học chính trị, cột chặt vào với đảng khiến con người tin rằng đảng yêu cầu con người học đạo đức, mặc dù mục đích cuối cùng mà đảng tuyên truyền đạo đức chính là để con người “nghe lời đảng, đi theo đảng, đảng bảo làm gì thì làm nấy.” Nhưng từ nhỏ đã bị nhồi nhét cái thể chế giáo dục mà trong đó đảng là “hóa thân của đạo đức”, khiến con người vẫn luôn tin rằng bản thân đảng là tốt, việc xấu là do cá nhân cá biệt làm. Tất cả đều tách rời với những đạo đức bại hoại do tự thân đảng tạo thành.

(8) Đảng tự đứng ở vị trí là người đại diện cho quốc gia, dân tộc.

Nhiệt tình yêu nước và cảm tình dân tộc là ý thức công dân chất phác nhất, nhưng Đảng Cộng sản lại thao túng sự biểu đạt những tình cảm này trong tay mình. Nền tảng cơ sở của giáo dục chủ nghĩa yêu nước và tự tôn dân tộc về cơ bản là được tuyên truyền thông qua những tổ chức của Đảng Cộng sản như Đội Thiếu niên Tiền phong, Đoàn Thanh niên Cộng sản và Chi bộ đảng. Khi tuyên truyền thì luôn lấy danh nghĩa giáo dục chủ nghĩa yêu nước cũng như hàng loạt những lời giả dối để nhồi nhét tình yêu Đảng Cộng sản. Như vậy, từ nhỏ tới lớn đã quen với việc tiếp nhận những tin tức về quốc gia dân tộc thông qua đảng, mọi người không chỉ cảm thấy Đảng Cộng sản yêu nước và duy hộ lợi ích của dân tộc, mà điều quan trọng là mọi người càng yêu đảng hơn, người tự đặt mình ở vị trí đại diện cho quốc gia, dân tộc.

Khi Trung Cộng tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước còn có một vốn từ chuyên dùng, gọi là “nhân sỹ tiến bộ yêu nước”. “Tiến bộ” ở đây chính là chỉ việc duy hộ Đảng Cộng sản. Hàm ý là gì? Chính là ý nói chỉ với những người ủng hộ Đảng Cộng sản thì yêu nước mới có ý nghĩa, mới là chính xác. Những kẻ phản đảng không xứng yêu nước, hoặc yêu nước là “lạc hậu”. Kiểu tuyên truyền này quả thực làm đảo lộn tư duy của con người. Yêu nước là yêu nước, là vượt khỏi chính trị. Chiêu này của Trung Cộng ngược lại đã nói rõ rằng Trung Cộng không yêu nước.

Trung Cộng còn có một từ gọi là “phản đảng, phản nhân dân”. Nó đã quàng hai chuyện không hề liên can tới nhau, sau một thời gian dài, mọi người cũng quen với việc phản đảng chính là phản nhân dân.

(9) Đảng là một ban quản trị

Trung Cộng nhiều năm kêu gọi “chính phủ và đảng phân khai”, nhưng đảng sẽ không vứt bỏ quyền lợi của mình, căn bản không thể phân khai. Từ trung ương tới địa phương tới làng xã thôn xóm, bí thư vĩnh viễn là một người cầm trịch. Cơ cấu quyền lực dày đặc những người cầm trịch từ trên xuống dưới khiến mọi người đành phải tiếp nhận hiện thực “đảng mới là người quản lý chân chính”, mọi người đã quen với việc nói “đảng và chính phủ” chứ không phải “chính phủ và đảng”, cảm thấy nói chuyện mà tách khỏi đảng sẽ không còn ý nghĩa.

(10) Đảng đồng thời khống chế chính phủ từ vĩ quan tới vi quan

Đảng Cộng sản hoàn toàn không phải cứ cử một bí thư xuống một đơn vị là xong việc, mà bản thân nó từ trung ương tới địa phương phải có một hệ cơ cấu điều khiển chính phủ. “Quân ủy trung ương” và “Quân ủy quốc gia”, “Trung ương đảng” và “Quốc vụ viện”, “Tỉnh ủy” và “Ủy ban nhân dân tỉnh”, “Huyện ủy” và “Ủy ban nhân dân huyện”, “Ủy ban nhân dân tỉnh”, “Xã ủy” và “Ủy ban nhân dân xã”. Chính phủ có “Công an kiểm sát hành pháp”, đảng có “Ủy ban Chính trị Pháp luật”, chính phủ có “Đài truyền hình và phát thanh”, đảng có “Bộ tuyên truyền”, chính phủ có “Bộ nhân sự”, đảng có “Bộ tổ chức”, chính phủ có “Bộ giám sát”, đảng có “Ban kiểm soát”. Đảng là một người cầm trịch, đảng vĩnh viễn lãnh đạo chính phủ. Mọi người không thể tưởng tượng được nếu không có đảng, các ban ngành chính phủ sẽ vận hành ra sao. Đồng thời, quan chức chính phủ đều nhận lệnh từ hệ thống đảng, quan chức chính phủ ngược lại tuyệt đại đa số đều là đảng viên. Tính hai mặt trong thân phận quan chức lại càng khiến đảng và chính phủ bắt rễ đan xen vào nhau. Trong một xã hội thông thường, đảng viên, cơ cấu tổ chức của các đảng phái không được những người nộp thuế cấp dưỡng. Nhưng Đảng Cộng sản lại trực tiếp làm phụ thể bám trên thân chính phủ, đủ loại cơ cấu đảng vụ chuyên trách, bán chuyên trách được cấp dưỡng từ những đồng tiền mồ hôi xương máu của những người nộp thuế một cách cưỡng chế.

Sự vận hành của một quốc gia vốn là dựa vào chính phủ, nhưng Đảng Cộng sản đã ký sinh chính phủ và khống chế chính phủ từ vĩ quan tới vi quan, nắm rõ mọi quyết sách lớn nhỏ của chính phủ. Xét về mặt vĩ quan, tầng tầng lớp lớp các ban ngành chính phủ do lãnh đạo đảng, “Trung ương đảng” lãnh đạo “Quốc vụ viện”, cho nên chính phủ phải nghe theo bí thư. Về mặt vi quan, quan chức chính phủ vốn là đảng viên, trong những cuộc họp nhóm đảng viên, cấp dưới phải phục tùng các cấp, toàn đảng phục vụ trung ương, cho nên những chuyện không thể dàn xếp về mặt vĩ quan thì đảng thông qua biện pháp vi quan nhất định sẽ dàn xếp ổn thỏa. Như vậy, một mặt đảng hoàn toàn khống chế chính phủ, biến chính phủ thành con rối của đảng, mặt khác lại khiến mọi người khó có thể phân biệt được rốt cuộc đâu là đảng, đâu là chính phủ, do đó thường hay lẫn lộn đảng và chính phủ.

 (11) Đảng lợi dụng mọi chuyện tốt đẹp để tô vẽ cho mình

Vận động viên đoạt giải, nhà khoa học đưa vệ tinh lên trời, nông dân có mùa bội thu, xin tổ chức Olympic, sửa hồ nước,… Trung Cộng đều tính công về phần mình. Sau một thời gian dài, mọi người quả thực còn công nhận tà thuyết này. Chèo kéo những người có biểu hiện nổi trội gia nhập đảng, như vậy việc tốt đều thành ra đảng làm. Cho nên xảy ra hiện tượng, chỉ cần nói một chút về những việc tốt của Trung Quốc, mọi người tự nhiên cảm thấy đang nói những việc tốt của đảng, đều trở thành bột màu cho Trung Cộng tô vẽ. Có một từ là “chính sách của đảng là tốt”. Đảng không quản nông dân, nông dân có cơm ăn, đảng không quản hộ cá thể, hộ cá thể cũng phát tài, không có đảng can nhiễu cuộc sống của người dân tốt đẹp hơn, điều này vốn đã vạch trần việc Trung Cộng không tốt như thế nào, nhưng Trung Cộng ngược lại lại gọi là “chính sách tốt”, nhân dân trăm họ liền cảm tạ ơn đức. Sự phồn vinh trên bề mặt trong nền kinh tế Trung Quốc hiện đại, cái gốc của nó chính là dựa vào sức lao động giá rẻ, là sự chăm chỉ và thông minh của những nhà đầu tư hải ngoại và người Trung Quốc, Trung Cộng lại coi tất cả những điều này là vốn của mình. Kỳ thực, ngược lại, thái độ muốn thành công mau chóng nhằm duy hộ tính hợp pháp của nó đã gây ra biết bao sự lãng phí tài nguyên, phá hoại môi trường và sự tha hóa về đạo đức xã hội. Chính vì Trung Quốc có thị trường lớn mấy tỷ người nên mới rộ lên trào lưu Trung Quốc, nhưng tuyên truyền của đảng thường là coi sự xem trọng của thế giới với Trung Quốc thành sự ủng hộ với Trung Cộng.

(12) Đảng hễ một chút lại đại diện cho tất cả, lãnh đạo tất cả

Trung Cộng độc tài chuyên chế, nhưng lại rất thích mở miệng ra là nói “quốc gia”, “dân tộc” và “nhân dân”, động một chút là phát biểu nó phải “đại biểu” toàn thể nhân dân Trung Quốc như thế nào như thế nào đó. Nhân dân trăm họ không có phần phát biểu ngôn luận, đành phải bị “đại biểu”. Nhưng cứ bị “đại biểu” hết lần này đến lần khác cũng thành quen, dường như Trung Cộng là “đại biểu” thật.

Đảng không chỉ đại diện tất cả mà còn quản tất cả. Đảng quản chính phủ, đảng quản quân đội, đảng quản ngoại giao, đảng quản từ việc ăn ở đi lại vệ sinh của mỗi người. Đảng chính là tế bào ung thư, thâm nhập vào từng ngóc ngách trong toàn xã hội. Đây quả thực là điều đại bất hạnh cho dân tộc.

(13) Đảng dán nhãn “phản đảng” thành “phản Trung Hoa”

Mặc dù đảng không nơi nào không có mặt, khiến mọi người không thể phân biệt rạch ròi khái niệm giữa đảng và chính phủ, quốc gia dân tộc, nhưng “Con giun xéo lắm cũng quằn” lại là những tuyên truyền thị phi mà đảng muốn che giấu nên chủ động gây nhầm lẫn, tô trát “phản đảng”, “phản cộng” thành “phản Trung Hoa”.

Chính quyền bạo lực của Đảng Cộng sản trên thế giới đã mang tai tiếng rất không tốt, tại các nước phương Tây khi di dân có ba loại người không được chào đón là phát xít, chủ nghĩa khủng bố và Đảng Cộng sản. Nói có người phản cộng đó là chuyện rất đỗi bình thường. Nhưng khi Trung Cộng phê phán ngôn luận phản Đảng Cộng sản thường hay dán mác “phản Trung Hoa” cho đối phương, “Thế lực phản Hoa trên thế giới chết hết thì mới yên tâm”, những người kiên định phản cộng thì bị gọi là “thủ lĩnh phản Trung Hoa”. Nếu người Trung Quốc tự mình phản đối Trung Cộng lại càng bị mắng là “bán nước”, “bôi nhọ nhân dân Trung Quốc”…, ngấm ngầm nhồi nhét “Trung Cộng” chính là “Trung Quốc”, chính là “nhân dân Trung Quốc”.

Sau khi đảng trở thành tất cả, mọi người quả thực không thể phân rõ mối quan hệ giữa đảng và chính phủ, quốc gia và dân tộc.

2) Mọi người nhầm lẫn khái niệm đảng và chính phủ, đảng và quốc gia, đảng và dân tộc

Trong số những người phê bình tổng thống Mỹ, không có ai bị công kích là không yêu nước, người phê phán Đảng Cộng hòa của Mỹ cũng sẽ không bị ai công kích là không yêu nhân dân Mỹ; phản đối đảng cầm quyền, hoàn toàn không có nghĩa là phản đối chính phủ Mỹ; dù cho người Mỹ đứng trước tòa Bạch Ốc tại nước Mỹ hay ở bên ngoài nước Mỹ mà phản đối chính phủ Mỹ cũng sẽ không bị ai chụp mũ là không yêu nước, cũng không bị mọi người nghĩ rằng họ đang làm người Mỹ mất mặt. Phản đối bất kỳ một đảng nào đó lại càng không bị mang tội danh là kích động làm hỗn loạn quốc gia.

Nhưng khi có người vạch trần Đảng Cộng sản, phê bình những đen tối trong xã hội rất nhiều người lại lớn miệng mắng rằng: “Anh có phải người Trung Quốc không?” Ở hải ngoại nếu có người kháng nghị trước Đại sứ quán Trung Quốc, cũng sẽ có rất nhiều người phẫn nộ không kiềm chế được, cho rằng làm người Trung Quốc mất mặt. Khi chính phủ nước ngoài muốn phê phán Trung Cộng, Trung Cộng sẽ bất chấp tất cả, nhân dân cũng sẽ phụ họa theo. Sự phẫn nộ của những người này thường xuất phát từ nội tâm. Khi bạn đang vạch trần hành vi tà ác của Trung Cộng, họ cảm thấy bạn đang làm họ mất mặt từng thời từng khắc, họ cho rằng vì bạn vạch trần những chuyện xấu của Trung Cộng mà khiến họ bị người nước ngoài khinh miệt, xem thường họ, khiến họ không còn thể diện khi đứng trước người nước ngoài. Nhưng người nước ngoài căn bản lại không có phản ứng này. Người Trung Quốc dám vạch trần một chính quyền chuyên chế, ngược lại càng khiến người nước ngoài khâm phục dũng khí và lương tâm của bạn. Vì sao người Trung Quốc chúng ta lại mắc loại bệnh “chứng hoang tưởng mất thể diện” này? Chính là do nhầm lẫn khái niệm giữa đảng và chính phủ, đảng và quốc gia, đảng và dân tộc, coi mình là một phần tử của Trung Cộng. Rất nhiều người vô hình chung đã coi yêu nước đồng nghĩa với yêu đảng, cho rằng phê bình Trung Cộng chính là phê bình Trung Quốc, phản đối Trung Cộng chính là phản đối Trung Hoa, chính là đồng nghĩa với bán đứng người dân Trung Quốc.

Lãnh đạo Trung Cộng khi viếng thăm nước ngoài, hiện nay có một cảnh tượng rất đặc biệt, chính là có một nhóm người kháng nghị, lại cũng có nhóm người hoan nghênh do đảng tổ chức, nhưng nhóm người hoan nghênh cơ bản là không nhìn thấy người được hoan nghênh. Vậy vì sao vẫn đến hoan nghênh? Lý giải của họ là hoan nghênh không phải mục đích, vốn đã biết rằng lãnh đạo sẽ không gặp mặt họ, mục đích sắp xếp họ tới hoan nghệnh hoàn toàn là nhằm vào nhóm người kháng nghị. Năm 2006 khi Hồ Cầm Đào viếng thăm tòa Bạch Ốc của Mỹ, khi có hãng truyền thông phương Tây phỏng vấn người tổ chức thuộc đội ngũ tới hoan nghênh rằng: “Anh hãy nhìn phía đối diện xem, có cả một đội ngũ hơn 2.000 người kháng nghị, anh thấy chuyện này thế nào?” Người tổ chức đội hoan nghênh trả lời rằng: “Lãnh đạo Trung Quốc tới viếng thăm là những thời khắc rất khấn khởi, kháng nghị lãnh đạo vào lúc này quả thực là việc không đúng lúc.” Câu trả lời này thật nực cười, bởi vì anh nói lúc này không phải lúc, vậy anh có cho những người kháng nghị này cơ hội kháng nghị thích hợp không? Bạn ở Trung Quốc Đại lục căn bản là không có cơ hội gặp được lãnh đạo Trung Quốc, còn thỉnh nguyện vấn đề mẫn cảm là “làm loạn trật tự xã hội”, phải ngồi tù. Còn khi lãnh đạo Trung Quốc viếng thăm những nước dân chủ, nhân dân mới có cơ hội đi kháng nghị, thay mặt những đồng bào không có quyền ngôn luận trong nước biểu đạt, vậy mà lại có người nói “trong thời khắc khấn khởi” này đi kháng nghị là “việc không đúng lúc”, lãnh đạo viếng thăm nước ngoài lại đều rất khấn khởi, vậy thì không còn bất kỳ cơ hội nào để kháng nghị. Những người đi hoan nghênh cảm thấy họ đang biểu đạt nhiệt tình yêu nước nhằm đối phó với nhóm người kháng nghị. Nhưng không để cho những vị lãnh đạo nghe thấy tiếng lòng của nhân dân bị bức hại, Trung Cộng có thể sửa sai thế nào đây? Không thể sửa sai, tiếp tục bức hại nhân dân, đối với quốc gia và nhân dân mà nói chẳng phải là tai nạn hay sao? Hậu quả này là yêu nước hay hại nước? Nói thẳng ra, những người hoan nghênh đó cho rằng đang vì thể diện yêu nước, kỳ thực là vì thể diện yêu đảng.

Trong xã hội bình thường, mọi người ủng hộ chính phủ thì không cần biểu đạt, vì lá phiếu bầu cử của họ đã biểu đạt điều này. Ngược lại, mọi người cần biểu đạt sự bất mãn với chính phủ. Dù cho chính phủ có làm tốt thế nào đi nữa, đó cũng đều là những chuyện thuộc bổn phận của nó, chẳng phải ban đầu nhân dân thấy anh làm tốt mới chọn anh sao? Ngược lại, chính phủ làm không tốt, đó chính là mất quyền, thay chính phủ khác làm tốt hơn. Cho nên chúng ta xưa nay không hề thấy Tổng thống nước Pháp khi viếng thăm thì Đại sứ quán của Pháp phải tổ chức người nghênh đón ông. Lãnh đạo của chính phủ do dân lựa chọn cũng có sự tự tin này, ông không cần những hình thức bên ngoài như vậy để chứng minh quyền lực và tính hợp pháp của mình. Còn khi Đảng Cộng sản làm như vậy, bản thân nó không ý thức được, những người tới hoan nghênh cũng không ý thức được đây là cách làm chắp vá giả tạo do Trung Cộng thiếu tính cầm quyền hợp pháp.

Tư tưởng hỗn loạn không phân khai giữa đảng và nước là do Trung Cộng cố ý tạo nên. Trung Cộng biết rằng mình chỉ có cơ sở mấy chục năm, lại là thứ du nhập ngoại lai, cho nên phải tìm một chỗ dựa. Người Trung Quốc yêu nước xưa nay đều có lòng tự hào dân tộc rất mãnh liệt, cho nên mấy chục năm nay Trung Cộng vẫn luôn tự hào rằng mình là người yêu nước, tô điểm cho mình thành đại biểu cho lợi ích của dân tộc Trung Hoa, lừa gạt người dân trăm họ. Đồng thời nó vẫn luôn liên kết đảng và quốc gia, nhân dân, chính phủ, yêu đảng yêu nước, phản đảng phản nhân dân, phản đảng phản chính phủ, do đó đã tạo ra sự hỗn loạn giữa đảng và nước.

3) Trung Cộng không phải là Trung Quốc

Chúng ta cần xác lập một nhận thức chung là Trung Cộng không phải là Trung Quốc. Đảng chính trị và quốc gia, dân tộc vốn không phải là một khái niệm. Trung Quốc là một quốc gia, một dân tộc tồn tại đã mấy nghìn năm, còn Trung Cộng mới xuất hiện chỉ có hơn 80 năm lịch sử, thống trị Trung Quốc mới chỉ có hơn 50 năm.

Từ Trung Quốc này đã có từ xưa, sớm nhất là chỉ vùng đất trung nguyên nằm giữa trung tâm “thiên hạ” (thế giới), đặc biệt là sau năm 1912 khi Trung Hoa Dân Quốc thành lập, từ “Trung Quốc” này bắt đầu trở thành khái niệm mang tính pháp luật và chính trị với ý nghĩa là dân tộc quốc gia. Thông thường, từ góc độ lịch sử, “Trung Quốc” bắt đầu từ thời có truyền thuyết về tam hoàng ngũ đế, trải qua một chỉnh thể lịch sử liên hoàn với một loạt các triều đại và chính quyền gồm Hạ, Thương, Chu, Tần, Hán, Ngụy, Tấn, Nam Bắc Triều, Tùy, Đường, Ngũ đại thập quốc, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, Trung Hoa Dân Quốc và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Về góc độ địa lý, nằm tại phía đông Đại lục Châu Á, bên bờ Tây Thái Bình Dương, là quốc gia có nhân khẩu nhiều nhất (khoảng 1,3 tỷ người), diện tích quốc gia xếp thứ ba trên thế giới. Về góc độ chính trị và cầm quyền, hiện nay tồn tại hai thể hệ chính trị gồm “Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” tại Trung Quốc Đại lục, Hồng Kông, Ma Cao và Trung Hoa Dân Quốc tại khu vực Đài Loan.

Khi một người nhắc tới Trung Quốc, trong đầu bạn xuất hiện điều gì? Có lẽ là một tấm bản đồ Trung Quốc hoặc bạn bè người thân ở đó, một nhóm người đi lại nhộn nhịp, cũng có thể là Vạn lý Trường Thành, sông Hoàng Hà, những kiến trúc đánh dấu lãnh thổ, di tích văn vật hoặc là văn hóa Trung Hoa bác đại tinh thâm… chứ không phải là một đảng chính trị. Đây là phản ứng tự nhiên của con người. Nội hàm của quốc gia bao gồm quốc thổ, rất nhiều phương diện như nhân dân các dân tộc, kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa, ẩm thực, giáo dục, lễ tết, xã hội, tôn giáo và chính trị trên lãnh thổ đó. Trung Quốc là chỉ Trung Quốc trong lịch sử, về địa lý, về văn hóa về huyết thống, còn Trung Cộng không phải là Trung Quốc. Lấy một ví dụ đơn giản, hàng Trung Quốc hiện nay thịnh hành trên toàn thế giới, dán nhãn “Trung Quốc sản xuất”, không ai hiểu là “Trung Cộng sản xuất”.

Hơn nữa trong cuộc sống thực tế, người Trung Quốc quả thực đã coi Trung Cộng là Trung Quốc, yêu nước thành yêu đảng. Chỉ cần nhắc tới Trung Cộng, rất nhiều người đều trong tiềm thức của mình liền cảm thấy như đang nói Trung Quốc thế này thế kia, “không có Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ ra sao?”, “không có Đảng Cộng sản Trung Quốc làm thế nào?” những câu này vẫn còn thị trường rộng lớn.

Ngày nay khi đại đa số người Trung Quốc không còn tin vào Chủ nghĩa Xã hội, tham ô hủ bại lộng hành, những khẩu hiệu chính trị như “đảng luôn luôn chính xác”, “Chủ nghĩa Xã hội tốt” không còn đủ để khiến người Trung Quốc tin vào Đảng Cộng sản nữa. Nhằm duy trì sự thống trị của Trung Cộng, không để mọi người nghi ngờ vì sao phải để Đảng Cộng sản thống trị Trung Quốc, Trung Cộng lại một lần nữa làm nhầm lẫn khái niệm đảng và quốc gia, lợi dụng chủ nghĩa yêu nước hẹp hòi và chủ nghĩa dân tộc cực đoan nhằm dẫn dụ tình cảm của người Trung Quốc dành cho bản thân đảng. Hành vi và tư tưởng yêu đảng được Trung Cộng tuyên truyền là hành vi và biểu hiện của lòng yêu nước.

Mục đích quan trọng mà Trung ương Trung Cộng chế định ra “Đề cương tiến hành giáo dục chủ nghĩa yêu nước” chính là phải dùng thành quả kiến thiết kinh tế của Trung Quốc nhằm khiến con người kiên trì con đường của đảng, dùng nội dung con đường của đảng để tiến hành giáo dục lòng yêu nước. Đầu tiên là tự mình khẳng định, những việc đảng làm đều vì tốt cho Trung Quốc; sau đó đổi trắng thay đen nói rằng thành tựu của Trung Quốc đều do đảng tạo thành; cuối cùng định nghĩa lòng yêu nước thành kiên trì con đường của đảng; đạt được mục đích làm nhầm lẫn những khái niệm, khiến con người ta đánh đồng yêu đảng với yêu nước.

4) Yêu nước không phải yêu đảng

Từ cổ chí kim Trung Quốc đều không thiếu người yêu nước, nhưng yêu nước không đồng nghĩa với yêu đảng. Người yêu nước chân chính quan tâm tới khổ nạn của nhân dân, chứ không phải trung thành với một lãnh tụ, đảng chính trị hay đảng phái nào. Do đó người yêu nước thường chỉ thẳng ra vấn đề. Khuất Nguyên đã từng cảm thán “Trường thái tức dĩ yểm thế hề, ai dân sinh chi đa gian.” (Tiếng thở dài che đi dòng nước mắt, thương dân lành bao nỗi gian nan), Đỗ Phủ thì thổ lộ rằng “Chu môn tửu nhục, lộ hữu đông tử cốt.” (Cửa son trải đầy thịt thối, trên đường xương người đã đóng băng). Đây đều là những người yêu nước chân chính của Trung Quốc. Theo tiêu chuẩn ngày nay của Trung Cộng những tội danh như “công kích chính phủ một cách ác ý”, “phản đảng phản chính phủ” sẽ bị phê phán và tống vào nhà giam.

Quan niệm được lưu hành tại Trung Quốc Đại lục ngày nay kỳ thực chính là phải nằm trong ý chí của chính quyền Trung Cộng, hành động theo phương hướng đã định của nó và hoan hô thành tựu phù hợp với lợi ích của Trung Cộng, đây chính là yêu nước. Kỳ thực đây là ý thức yêu nước và hành vi yêu nước hoang đường, lệch lạc. Năm 2003, dịch Sars bùng phát, Trương Văn Khang, Bộ trưởng Bộ y tế đường hoàng đảm bảo rằng Trung Quốc rất an toàn, dịch Sars đã được khống chế. Nhưng điều mà ông thể hiện chính là sự trung thành với đảng chứ không phải trung thành với nhân dân. Ông ta yêu đảng, yêu cái mũ ô sa của mình, chứ không phải yêu nước, yêu dân tộc, cái giá phải trả cho lòng yêu đảng như vậy là sinh mệnh của người Trung Quốc. Người yêu nước chân chính phải giống như bác sỹ Tương Ngạn Vĩnh dám công bố chân tướng dịch SARS ra bên ngoài, khiến dịch SARS được chú ý đến, khiến mọi người có thể áp dụng những biện pháp phòng ngừa, cứu vãn thêm nhiều sinh mệnh. Lòng yêu nước chân chính không phải là biểu thị sự trung thành của mình với Trung Cộng mà làm ra đủ thứ biểu hiện “yêu nước”, mà là trách nhiệm với Trung Quốc xuất phát từ nội tâm. Phản đối sự bức hại của Trung Cộng với nhân dân Trung Quốc là biểu hiện chân chính của lòng yêu nước, là vì Trung Cộng vu khống, Trung Cộng làm nhầm lẫn khái niệm giữa đảng và chính phủ, Trung Quốc nên mới tạo nên tầng tầng lớp lớp những hiểu lầm về tư duy, khiến mọi người không thể lý giải được ý nghĩa chính diện của việc đấu tranh hòa bình của những người bức hại.

5) Ai đang làm tổn hại hình tượng của Trung Quốc?

Với những người phê bình Trung Cộng, Đảng Cộng sản thường dùng một từ chính là làm tổn hại hình tượng của Trung Quốc, làm tổn hại tới tình cảm của người Trung Quốc. Nhưng điều vô cùng rõ ràng là, Trung Cộng không phải là Trung Quốc, phê phán Trung Cộng đương nhiên không phải là phê phán Trung Quốc. Trên thực tế, kẻ làm tổn hại hình tượng của Trung Quốc chính là Trung Cộng. Cổ nhân Trung Quốc có câu “viễn nhân bất phục, tắc tu văn đức dĩ lai chi.” (Người ở xa không phục thì dùng lễ nghĩa đạo đức dẫn dụ người tới) Bản thân mình làm tốt, thì hình tượng trong mắt người khác tự nhiên sẽ trở thành tốt. Trung Cộng bức hại nhân dân Trung Quốc, bức hại nhân quyền của những người mang tín ngưỡng, những người có tư tưởng độc lập, những người dám phát ngôn, lợi dụng thể hệ của Đảng Cộng sản thống trị một cách tàn bạo, dung túng cho những kẻ độc tài trên quốc tế, những hành vi đó chính là nguyên nhân căn bản khiến quốc tế phê bình Trung Cộng. Do đó, chính những chính sách tàn bạo áp đặt của Trung Cộng, làm tổn hại hình tượng của Trung Quốc. Còn những người phê phán cách làm bức hại nhân dân của Trung Cộng, lại chính là những người duy hộ hình tượng Trung Quốc. Điều đó có nghĩa là người Trung Quốc dám bảo vệ tôn nghiêm của bản thân, dũng cảm sửa chữa sai lầm của bản thân.

Ngày 24 tháng 10 năm 2005, một người phụ nữ Mỹ da đen tên là Rosa Parkes tạ thế. 50 năm trước trên một chiếc xe buýt tại Alabama, bà đã cự tuyệt phục tùng pháp lệnh kỳ thị chủng tộc bất công, cự tuyệt “nhường chỗ” cho người da trắng. Nghĩa cử của bà đã làm dấy nên một cuộc vận động dân quyền ngùn ngụt, chế độ ngăn cách chủng tộc do đó bị phế bỏ. Trong đám tang của bà, Kennedy, nghị sỹ quốc hội đã nói rằng nước Mỹ mất đi một anh hùng chân chính. Cũng là người da đen, ngoại trưởng Mỹ đã phát ngôn rằng: “Không có bà, tôi hôm nay cũng không thể đứng đây với thân phận là bộ trưởng bộ ngoại giao”.

Một lãnh tụ dân quyền khác được nhân dân Mỹ vô cùng tôn kính là tiến sỹ Martin Luther Gold. Năm 1963, ông đã tổ chức một cuộc họp mặt gồm 250.000 người tại đặc khu Washington DC, thủ đô của nước Mỹ phản đối kỳ thị chủng tộc, yêu cầu bình đẳng chủng tộc. Chính tại buổi họp mặt này, ông đã phát biểu bài diễn thuyết nổi tiếng “Tôi có một giấc mơ”. Năm sau ông đã nhận được giải Nobel Hòa bình. 15 năm sau khi ông mất, nước Mỹ đã thiết lập ngày nghỉ toàn quốc – “Ngày Martin Luther Gold” để tưởng niệm vị lãnh tụ dân quyền này, ông là một người bình thường duy nhất nhận được vinh dự này ngoài tổng thống Washington.

Không ai cho rằng Rosa Parkes và Martin Luther Gold làm xấu mặt người Mỹ, làm tổn hại hình tượng quốc gia nước Mỹ. Ngược lại, họ đã mang lại vinh quang cho nước Mỹ, bởi vì họ đã dùng sự dũng cảm lớn lao của mình để bảo vệ tôn nghiêm nhân quyền, mang tới bình đẳng và công lý, giành được sự tôn trọng của mọi người. Nỗ lực của họ đã thay đổi vận mệnh của một chủng tộc, thay đổi nước Mỹ, thậm chí thay đổi thế giới.

Trung Cộng vu khống mọi người vạch trần chính quyền Trung Cộng và Trung Cộng bức hại người dân Trung Quốc, thường viện lý do là làm tổn hại hình tượng của Trung Quốc. Nhưng nếu chúng ta thực sự minh bạch tinh thần và mục đích của những người chính nghĩa, nếu chúng ta minh bạch rằng Trung Cộng mới thực sự là kẻ làm tổn hại hình tượng của Trung Quốc, vậy thì chúng ta sẽ dễ dàng hiểu được vô số những người kháng nghị chính quyền bạo lực Trung Cộng ngày nay, đặc biệt là nỗ lực giảng chân tướng và phản bức hại của hàng triệu học viên Pháp Luân Công. Duy hộ tín ngưỡng và ngăn chặn Trung Cộng bức hại bách tính vô tội là quyền chính đáng. Nỗ lực của họ, trên thực tế chính là duy hộ nhân quyền và sự tôn nghiêm thiên phú của tất cả người Trung Quốc, duy hộ hình tượng Trung Quốc.

6) Tiếng chuông báo tử vang lên vì Trung Cộng

Có một số người bị Văn hóa đảng tẩy não rất nặng, vừa nghe tới Trung Cộng sắp hết đời liền nghĩ rằng chúng ta nên làm thế nào đây? Dường như Trung Cộng hết đời, họ cũng hết đời.

Trong một “cuộc thảo luận nghiên cứu về Cửu Bình”, một bà lão đặt câu hỏi: Sau khi Đảng Cộng sản sụp đổ, ai sẽ phát tiền lương hưu cho chúng tôi? Một người dẫn chương trình đáp rằng: không có Đảng Cộng sản thì không có hệ thống quan chức khổng lồ này, mà hệ thống quan chức khổng lồ này là một đám viên chức hủ bại nhất thế giới, sau khi không có bọn họ, tiền lương hưu của nhân dân Trung Quốc sẽ tăng bội phần.

Dân tộc Trung Hoa là một dân tộc vĩ đại. Chỉ cần nhìn những người gốc Hoa tại hải ngoại là có thể thấy được, không có Đảng Cộng sản, cuộc sống hoàn toàn tốt đẹp hơn. Nếu Trung Quốc Đại lục không phải do Đảng Cộng sản thống trị, thì thu nhập bình quân của người Trung Quốc ngày nay có lẽ cũng tương đương với Đài Loan, vậy thì quy mô kinh tế ngày nay của Trung Quốc sẽ gấp hai lần nước Mỹ, bằng tổng bình quân của vài nước mạnh như Mỹ, Nhật, Nga cộng lại. Trung Quốc lẽ nào vẫn mang bộ dạng ngày nay sao?

Với những quan chức chính phủ của Trung Quốc, không có Đảng Cộng sản không phải là ngày tận thế của họ, mà là sự giải phóng chân chính dành cho họ. Không có Đảng Cộng sản họ mới có thể thi triển tài hoa, phát huy tài năng. Quan chức hiện nay đều đành phải chủ động thuận theo sự lãnh đạo thô bạo của Trung Cộng hoặc chắc chắn là bị hệ thống của đảng bó buộc tay chân, muốn làm việc chân chính cũng không thể làm được, muốn không trụy lạc cũng chẳng xong.

Người Trung Quốc ngày nay đều sinh sống tại Trung Quốc cộng sản nửa đời hay cả đời người. Tuy rằng giai đoạn lịch sử này đầy khủng bố và những lời dối trá, nhưng tuổi thanh xuân, lý tưởng, tình bạn, tình yêu, hôn nhân, gia đình thành tựu thậm chí là cả kiếp nhân sinh của rất nhiều người đều ràng buộc không thể tách rời khỏi đoạn lịch sử thống trị này của Trung Cộng. Trí huệ và đắng cay vất vả của những người đã phấn đấu bao nhiêu năm vì tự do dân chủ đó cũng đều cột chặt vào đoạn lịch sử này của Trung Cộng. Do đó, rất nhiều người mặc dù có thể nhận thức được phần nào tội ác của Trung Cộng, nhưng về tình cảm vẫn còn sức ỳ khá lớn vào Trung Cộng và Văn hóa đảng của Trung Cộng. Ví như có người hát “ca khúc cách mạng” một cách vô thức kết hợp với tình cảm trong lòng mình, hay coi “kinh điển màu đỏ” này nọ là nghệ thuật, bị đối xử bất công thì hoài niệm về bình quân tuyệt đối của thời “Mao chủ tịch”, với những người lo lắng về sự xung đột văn hóa ngoại lai thì lại lầm tưởng coi Văn hóa đảng là Văn hóa Trung Hoa mà duy hộ nó. Cảm xúc hoài niệm này ngược lại lại khiến con người không thể thực sự lý trí để xem xét lịch sử của Trung Cộng và hiện trạng của Trung Quốc. Bởi vì những trải nghiệm của bản thân mình đã được liên hệ với Trung Cộng, nên sự duy hộ và trân trọng bản thân mình vô hình chung lại dành một phần cho Trung Cộng. Một khi không có “đảng” những người này dường như không biết nói năng, lúng túng không biết làm gì, ý nghĩa nhân sinh cũng không biết nên ký thác vào đâu, trong tâm thậm chí còn thấy trống trải.

Kỳ thực, thành tựu của một cá nhân cũng chỉ là một sự nghiệp, giá trị nhân sinh hiện thực có rất nhiều phương thức khác nhau, chính Trung Cộng đã ép buộc con người tới hẻm nhỏ hoang tưởng và nguy hiểm “phấn đấu trọn đời vì Chủ nghĩa Cộng sản”. Thánh nhân từ cổ tới nay trong xã hội bình thường đều thông qua sự tu chỉnh và hàm dưỡng bản thân mà đạt được cảnh giới nhân sinh tôn quý, “Trời sinh ta ắt sẽ dùng”, tinh anh của các ngành các nghề cũng đều có thể dùng phương thức của mình cống hiến cho xã hội, từ đó lưu danh sử xanh. Xã hội Trung Quốc không có Đảng Cộng sản sẽ khôi phục lại những đạo đức truyền thống của Trung Hoa gồm Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, giữa người với người sẽ càng thêm ấm áp, yêu thương.

Sau khi những nước cộng hòa Đông Âu giải thể, nhân dân sống trong Văn hóa đảng đã được giải thoát khỏi cuộc sống bao bọc bởi những lời dối trá. Họ phát hiện ra rằng không cần phải tiếp tục xem những tin tức đã bị chính phủ thẩm duyệt, không cần phải dùng tới tư duy do Văn hóa đảng nhào nặn, mà có quyền lựa chọn cuộc sống mà mình muốn, đây mới là trạng thái sinh hoạt chân chính nên có của con người. Mặc dù hãng truyền thông Trung Cộng vẫn luôn tiến hành những tuyên truyền ma quái với những nước Đông Âu để chứng tỏ cho người dân Trung Quốc rằng quyết không thể lựa chọn vứt bỏ Trung Cộng và con đường quá độ hòa bình. Trên thực tế ngoài một số quốc gia khác, cuộc cải cách Đông Âu xét một cách tổng thể đã thành công. Đông Âu chuyển hướng tới nay đã gần 20 năm, dù cho Đảng Cộng sản có thể một lần nữa tham gia tranh cử, nhưng không có một quốc gia nào lại tiếp tục lựa chọn Đảng Cộng sản, cũng không có dân tộc nào tiếp tục lựa chọn Văn hóa đảng. Điều mà những người dân Đông Âu vứt bỏ Đảng Cộng sản và Văn hóa đảng mất đi chính là mất đi một nhà ngục và được an hưởng tự do một cách bình yên và cuộc sống của người bình thường, xã hội và quốc gia không những không hề sụp đổ, ngược lại còn ngày thêm phồn vinh.

Do đó, tiếng chuông báo tử dành cho Trung Cộng đã vang lên, vong đảng không có nghĩa là vong quốc. Trung Cộng là nguồn gốc khổ nạn của người Trung Quốc hiện đại. Hoài niệm một cách không lý trí sẽ chỉ làm mạnh thêm sự khống chế của Trung Cộng lên tâm linh của bạn, khiến bạn không thể thoát khỏi cơn ác mộng ngày hôm qua.

Đối với người Trung Quốc mà nói giải thể Trung Cộng, giải thể Văn hóa đảng đều có nghĩa là một cuộc sống mới.

Kết luận: Trở lại với tư duy bình thường

Đầu óc con người giống như một cái túi, đựng vào đó vàng thì anh ta là một túi vàng, đựng vào Văn hóa đảng thì người này là một túi tư tưởng Văn hóa đảng, vô hình chung trở thành cái loa truyền thanh của Trung Cộng. Những lời tuyên truyền của Trung Cộng đã bao trùm mọi lĩnh vực trong cuộc sống của người Trung Quốc, người Trung Quốc từ những học giả có thành tựu cho tới dân thường khi rời xa Văn hóa đảng đều không thể suy nghĩ một cách bình thường, không thể nói những lời bình thường.

Đảng Cộng sản chính là muốn Văn hóa đảng, muốn dùng hình thái ý thức, nỗi sợ hãi với đảng thẩm thấu tới nơi thâm sâu trong từng tế bào, nơi sâu thẳm trong tâm hồn của người Trung Quốc, hình thành nên phản xạ có điều kiện. Điều này không phải là sự sản sinh và truyền bá văn hóa theo hàm nghĩa thông thường, mà là “hệ thống chuyên chính mềm” cần thiết nhằm kiến lập chính quyền bạo lực độc tài Trung Cộng, cũng chính là hệ thống chuyên chế về tư tưởng. Trong Văn hóa đảng, dù là quan chức cấp cao nhất của Trung Cộng hay là người dân thường đều sinh sống trong Văn hóa đảng, khó có thể thoát khỏi ảnh hưởng tư duy mang Văn hóa đảng. Đây là hậu quá khá đáng sợ.

Tư duy Văn hóa đảng của người Trung Quốc không phải được hình thành ngày một ngày hai, đó không phải là vấn đề của một cá nhân hay một quan viên nào đó, mà là trạng thái phổ biến của toàn xã hội. Quá trình này là do Trung Cộng cố ý tạo thành một cách trường kỳ. Nó vận dụng một bộ những tiêu chuẩn đạo đức thiện ác lệch lạc, dùng bạo lực để nhồi nhét và khủng bố bằng máu tanh, dùng những lời tuyên truyền dối trá và lô gic méo mó khiến người Trung Quốc cảm kích một tập đoàn chiếm cứ tài nguyên của xã hội Trung Quốc một cách cưỡng chế, khiến con người khủng hoảng, khiến con người trở thành tù nhân và nô lệ của Văn hóa đảng, vui vẻ tiếp nhận những lời dối trá của Trung Cộng mà bài xích tư duy thông thường. Chính tư duy bất thường này, duy trì những lời dối trá lừa gạt, duy trì chuyên chế bạo lực, dẫn tới những bi kịch và khổ nạn cho người dân Trung quốc.

Muốn thay đổi một tư duy hoặc mô thức tâm trí đã định hình cần phản tỉnh một cách sâu sắc, một kiểu phản tỉnh tập thể. Nhưng tư tưởng Văn hóa đảng lại không phải là phản tỉnh nội tâm. Trong khi Trung Cộng phong tỏa tin tức, mọi người muốn nghe được các cách nhìn từ các giác độ khác nhau đều rất khó khăn, càng không nói tới đó lại là một góc nhìn mới xung đột với tư duy thông thường của mọi người. Nhưng muốn thoát khỏi cái bẫy Văn hóa đảng, trở về tới tư duy thông thường, thực sự làm chủ nhân tâm hồn và tư tưởng của mình, ngày nay chúng ta không thể không nhìn thẳng vào tư duy đã bị Trung Cộng làm lệch lạc, chủ động thay đổi quan niệm và phương thức tư duy đã hình thành dưới ảnh hưởng của Văn hóa đảng.

Muốn thực sự yêu nước, thực sự biết nghĩ tới tương lai của dân tộc, thì cần vứt bỏ tư duy Văn hóa đảng, tư duy theo phương thức của người bình thường. Muốn thực sự có được cuộc sống và xã hội lành mạnh, mỗi người cần phải thanh trừ tư duy Văn hóa đảng của mình. Bởi vì xã hội Trung Quốc do từng người Trung Quốc tổ hợp thành, trong đó bao gồm cả bạn.


Bản tiếng Hán:

http://www.epochtimes.com/gb/6/11/14/n1520631.htm

http://www.epochtimes.com/gb/6/11/19/n1526477.htm

Ngày đăng:15-06-2015
Copyright © 2008 www.9binh.com. All rights reserved.