Chương 2: Cải tạo tư tưởng một cách hệ thống

Mục lục

1. Phê phán Nho – Thích – Đạo

1) Phê phán Nho giáo

(1) Phê phán Khổng Tử
(2) Phê phán phần tử tri thức

2) Phê phán Thích giáo và Đạo giáo

(1) Phủ định sự tồn tại của Thần, Phật, làm sai lệch động cơ tôn giáo
(2) Hủy hoại hoàn cảnh vật chất của tu hành
(3) Hủy diệt thân thể
(4) Làm lệch lạc kinh điển tôn giáo, dung tục hóa tôn giáo
(5) Thành lập hiệp hội tôn giáo Trung Cộng, khiến người được ủy quyền phê phán tôn giáo từ trong nội bộ
(6) Ngụy tạo giả tướng về tự do tôn giáo

2. Phê phán quan niệm truyền thống

1) Phê phán việc kính sợ Trời
2) Phê phán sinh mệnh và thiện ác báo ứng
3) Phê phán sự nhu thuận và nhẫn nhịn
4) Phê phán trật tự xã hội truyền thống
5) Lấy tài sản làm căn cứ quan trọng để đo lường đạo đức
6) Tuyên dương Văn hóa đảng thô bỉ
7) Những quan niệm bị phê phán khác

3. Nhồi nhét tà thuyết tư tưởng đấu tranh, cá lớn nuốt cá bé, kẻ mạnh sinh tồn

1) Mục đích Trung Cộng nhồi nhét tư tưởng đấu tranh
2) Nhồi nhét trong đấu tranh chính trị
3) Quay trở lại với Đạo chung sống hài hòa

4. Nhồi nhét Thuyết tiến hóa và khoa học hiện đại

1) Mục đích thực sự của việc nhồi nhét thuyết tiến hóa – quảng bá Vô Thần luận và Triết học đấu tranh
2) Thuyết tiến hóa là giả thuyết chưa được qua kiểm chứng

(1) Một cơ sở logic yếu ớt
(2) Xác suất đã phủ định hạt nhân của Thuyết tiến hóa – Cơ chế đột biến gen
(3) Sự ngượng ngùng của Thuyết tiến hóa – tầng tầng nghi vấn về biểu thời gian tiến hóa

3) Hậu quả của việc nhồi nhét Thuyết tiến hóa
4) Mục đích chân thực của việc nhồi nhét khoa học hiện đại – Đàn áp tín ngưỡng
5) Trung Cộng không coi trọng “Khoa học”, chủ nghĩa Marx phản tự nhiên
6) Việc nhà khoa học tin vào Thần không hề là trở ngại ngăn cản thành tựu khoa học của họ
7) Chứng thực khoa học không phải là phương thức duy nhất khám phá về quy luật của vũ trụ
8) Chứng thực tính hạn chế của khoa học

*************

Học tập chính trị, cải tạo tư tưởng, những sự việc loại này người Trung Quốc ít nhiều đều đã trải qua. Có lẽ rất nhiều người sẽ hỏi, sao lại phải cải tạo tư tưởng của con người? Nguyên nhân căn bản của nó chính là một hệ thống tiêu chuẩn tốt xấu, phương thức tư duy và ngôn ngữ của Trung Cộng đều là phản nhân tính, không những không thể sản sinh một cách tự nhiên trong đại chúng, mà còn dễ bị nhân tính bài xích. Huống hồ, Đảng Cộng sản là một thể hệ độc tài chính trị-tôn giáo hợp nhất đáng bị phỉ nhổ, hết sức đối nghịch với Văn hóa truyền thống Trung Hoa. Trung Cộng muốn có chỗ đứng ắt phải tạo ra một môi trường Văn hóa đảng, cải tạo tư tưởng đã trở thành một bước tất yếu mà bức thiết.

Một bước cải tạo quan trọng chính là phê phán cái gốc tín ngưỡng của văn hóa Trung Hoa – Nho giáo, Thích giáo, Đạo giáo. Đồng thời những quan niệm truyền thống trong nhân gian cũng  phản ánh trong thế tục của giá trị quan mà tam giáo xác lập. Những quan niệm này sớm đã trở thành một bộ phận trong cuộc sống thường ngày, cũng dễ khiến con người hướng về nguồn cội tôn giáo của nó. Do đó việc phê phán quan niệm truyền thống, cũng là một bước trọng yếu để Trung Cộng nhổ tận gốc văn hóa truyền thống Trung Quốc và tín ngưỡng trong tư tưởng người Trung Quốc. Như vậy, người Trung Quốc sẽ mất đi năng lực phân biệt và phán đoán đối với Trung Cộng và Văn hóa đảng.

Việc Trung Cộng phê phán Nho giáo, Thích giáo, Đạo giáo và phê phán bài trừ quan niệm truyền thống chỉ thuộc về bước “phá”. Trung Cộng đồng thời còn phải “lập” cái phương thức tư duy mà nó cần, ví như luật rừng gồm tư tưởng đấu tranh, cá lớn nuốt cá bé, kẻ mạnh sinh tồn cho đến thuyết tiến hóa cùng khoa học hiện đại. Từ đó khiến con người tiếp nhận một cách có hệ thống tà thuyết của Trung Cộng vốn dựa trên cơ sở là Thuyết vô Thần, từ đó tạo ra và duy trì hoàn cảnh xã hội thích hợp cho sự sinh tồn của Trung Cộng. Đây chính là hậu quả của việc Trung Cộng tiến hành cải tạo tư tưởng một cách có hệ thống.

 


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

1. Phê phán Nho – Thích – Đạo

Trong lịch sử mấy nghìn năm, ảnh hưởng của Nho Gia, Phật gia và Đạo gia đã thâm nhập đến từng giai tầng của xã hội Trung Quốc.

Nho gia Trung Quốc ca ngợi “Nhân”, ca ngợi “Nghĩa”. Khổng Tử nói “Kiến nghĩa bất vi, vô dũng dã” (Thấy việc nghĩa không làm không phải kẻ dũng), còn giảng: “Chí sỹ nhân nhân, vô cầu sinh dĩ hại [chữ] nhân, hữu sát thân dĩ thành nhân.” (Chí sỹ hiền nhân không mưu cầu sống mà hại nhân, có người mất mạng mà thành [chữ] nhân). Cách nhìn về mệnh Trời của Nho gia đã thâm nhập vào dân gian. Trong “Luận Ngữ” có nói: “Tử sinh hữu mệnh, phú quý tại thiên”, thiên mở đầu trong “Trung Dung” giảng “Thiên mệnh chi vị tính”, chỉ ra rằng đặc tính căn bản của con người là chịu mệnh trời. Theo cổ nhân, Trời là căn bản của vạn vật, là ngọn nguồn của mọi giá trị. Sinh mệnh của con người là do Trời ban tặng, mục đích của đời này là trở về với Thiên mệnh, thực hiện yêu cầu nội tâm hướng thiện. “Chu Dịch” – cuốn sách được Nho gia gọi là đứng đầu trong các kinh sách, giảng “Tam tài”, tức là Thiên – Địa – Nhân. Trời sinh con người, đất nuôi dưỡng con người; con người lại có thể lấy học theo Thiên Địa, “hợp với Đức của Trời, Đất”. Trời đất lại vận hành theo thiên lý bất biến. Người dân tin tưởng vào “ông Trời” trên cao ước chế tất cả mọi thứ tại thế gian, dùng thiên lý “bất biến” để đo lường mọi thứ tại nhân gian. Tư tưởng của Nho gia đã duy trì đạo đức và trật tự xã hội.

Phật gia giảng thiện, giảng từ bi, giảng nhẫn nhục, coi trọng sinh mệnh, tin tưởng rằng chúng sinh bình đẳng. Trước khi Trung Cộng nắm quyền, những tư tưởng như lục đạo luân hồi, tích đức hành thiện, nhân quả báo ứng của Phật gia đã trở thành nhận thức phổ biến của người dân trăm họ, chính là “Dục tri tiền thế nhân, kim sinh thụ giả thị; dục tri lai thế quả, kim sinh tác giả thị” (Muốn biết nhân đời trước hãy xem những thứ đắc được đời này; muốn biết quả đời sau hãy xem những việc làm đời này). Khách quan mà nói, quan niệm “thiện ác hữu báo” của Phật gia có tác dụng rất lớn trong việc ổn định xã hội, duy trì đạo đức con người.

Đạo gia nhấn mạnh “Chân”, nhấn mạnh thanh tĩnh vô vi, nhấn mạnh sự thống nhất hài hòa giữa con người và tự nhiên, đạt được mục đích phản bổn quy chân, tức là điều gọi là “Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên” (Người thuận theo đất, đất thuận theo Trời, Trời thuận theo Đạo, Đạo thuận theo tự nhiên). Trung y và khí công Trung Quốc đều bắt nguồn từ Đạo gia, ngoài ra phép hút khí nuốt khí, luyện đan chính là đạo dưỡng sinh của Đạo gia. Tính chính xác về quẻ bốc và dự đoán của Đạo gia khiến người ta không ngớt lời tán thưởng. Những người tu luyện Đạo gia lại có thần tích “nhục thân thành đạo, mọc cánh thành tiên”. Trên bề mặt thế gian, khi quan hệ giữa con người ngày nay và tự nhiên ngày càng trở nên đối lập, vấn đề môi trường đã trở thành một trong những chủ đề quan trọng nhất trên toàn cầu, thì tư tưởng của Đạo gia đã được học giả các nước coi trọng, càng thể hiện được giá trị đặc thù của nó.

Đối với Trung Cộng mà nói, “thiên mệnh” của Nho gia, nhân quả báo ứng của Phật gia, vô dục vô cầu, không tranh với đời của Đạo gia là chướng ngại ngăn cản Trung Cộng phát động “cuộc đấu tranh giai cấp”. Quan niệm đạo đức mà kinh điển Nho giáo, Thích giáo, Đạo giáo xác lập là chướng ngại cho việc gây dựng quyền uy đạo đức của nó, cũng là trở ngại cho những vận động chính trị của Trung Cộng như tạo phản, làm cách mạng, chuyên chính. Tu luyện Phật gia, Đạo gia đều khiến con người siêu việt khỏi sinh tử, Nho gia khiến con người xả thân vì nghĩa. Đây chính là chướng ngại cho việc Trung Cộng dùng thủ đoạn vật chất nhằm khống chế toàn xã hội. Những di tích như bờ bên kia niết bàn của Phật gia, mọc cánh biến thành tiên của Đạo gia, và Thiên mệnh quan của Nho gia đều bị Trung Cộng coi là chướng ngại để tuyên truyền vô Thần luận.

1) Phê phán Nho giáo

(1) Phê phán Khổng Tử

Trong tam giáo Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo thì tư tưởng Nho gia là thâm nhập vào cuộc sống sâu rộng nhất, cũng vì người Trung Quốc vẫn luôn lấy gia tộc làm trung tâm trong cuộc sống, mà điều văn hóa Nho gia quy phạm chính là luân lý gia đình, lại mở rộng luân lý gia đình ra ngoài cuộc sống xã hội và chính trị.

Gần 2.500 năm qua, phần nhập thế trong văn hóa Trung Hoa về cơ bản lấy văn hóa Nho gia làm chủ đạo. Bắt đầu từ khi Lỗ Ai Công lập miếu tế Khổng Tử, Hán Cao Tổ dùng lễ tiết Nho gia để chế định lễ nghi triều đình; Hán Vũ Đế phế truất bách gia, chỉ giữ lại Nho thuật; Đường Thái Tông truy phong cho Khổng Tử là Văn Tuyên Vương, đến Đại đế Khang Hy, Thanh Thánh Tổ tự tay viết bốn chữ “Vạn thế Sư biểu” trong miếu Khổng Tử tại Khúc Phụ, qua các triều đại Khổng tử đều được truy phong và tế tự. Dù là triều Nguyên với mức độ ít bị người Hán đồng hóa nhất, Nguyên Thành Tông cũng phong thêm cho Khổng Tử là “Đại Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương”. Ảnh hưởng của Khổng Tử tới nhân loại sớm đã vượt khỏi biên giới quốc gia, không chỉ những quốc gia Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam đã kế thừa tư tưởng của Nho gia, ngay cả Voltaire, đại triết học gia thời kỳ Khai Sáng tại Phương Tây cũng tự xưng là học trò của Khổng Tử.

Kể từ thời Hán, hương hỏa tế tự Khổng Tử không hề tắt. Vừa cướp đoạt chính quyền quốc gia lại lăng mạ Khổng Tử, đập Khổng miếu, thì chỉ duy có Đảng Cộng sản mà thôi.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Trung Cộng bắt đầu từ Mao Trạch Đông đã hết sức thống hận văn hóa Nho gia. Nguyên nhân này đã được phân tích trong chương 9 cuốn “Cửu Bình”, tại đây chúng ta không nhắc lại lần nữa. Một nguyên nhân quan trọng mà Mao thích Tần Thủy Hoàng, cũng là vì y và Tần Thủy Hoàng cùng dùng quyền mưu gian xảo của Pháp gia để họa loạn quốc gia, y đặc biệt tán thưởng, mô phỏng và vượt qua cả việc đốt sách và chôn sống nho sĩ của Tần Thủy Hoàng.

Khổng Tử đề xướng “Văn, Hành, Trung, Tín” bị Trung Cộng thóa mạ thành “Thầy của mọi lý luận cũ, linh hồn của thế lực ác”, còn nói “Từ khi có dân sinh đến nay, thực chưa từng có ai tội ác cực đại như Khổng Tử, là kẻ thù chung của đại đa số con người và những người lương thiện. Từ nay về sau nhân loại hãy cùng công kích nó, đúng thay! Từ cổ chí kim, từ trong ra ngoài, trong ngôn ngữ hành vi của mọi nhà tư tưởng, Khổng Khâu {Khổng Tử} có thể được coi là hoang đường nhất.”

Những ngôn luận thóa mạ kiểu đầu đường xó chợ đó đã chiếm vị trí chủ lưu trong những bài viết mà Trung Cộng phê phán Khổng Phu Tử. Bởi vì Trung Cộng ngoài việc dùng ngôn luận của Khổng Tử cắt riêng ra một đoạn tách khỏi toàn văn, giăng bẫy logic ra, thì xưa nay chưa hề lấy ra và cũng không thể lấy ra được chứng cứ khiến con người tin phục.

Sự phê phán của Trung Cộng đối với Nho gia là lấy đấu tranh giai cấp làm xuất phát điểm và cơ sở, nói Khổng Tử đại biểu cho lợi ích của giai cấp chủ nô. Ngày nay khi những nhà tư bản đã gia nhập Trung Cộng, hoặc quan chức Trung Cộng đã trở thành nhà tư bản quyền quý hoặc địa chủ quyền quý tiền bạc đầy kho, thìlý luận đấu tranh giai cấp đã phá sản tới mức độ Trung Cộng không muốn nhắc tới nữa. (Đương nhiên điều đó hoàn toàn không gây trở ngại cho việc Trung Cộng dùng thủ đoạn đấu tranh giai cấp để tiếp tục bức hại những người bất đồng với mình). Khi đó ngoảnh đầu lại chỉ thấy việc phê phán Nho gia đã trở thành trò hề, do đó Trung Cộng vì bảo hộ cho sự thống trị của mình, cũng không thể không giả vờ ca ngợi Khổng Tử. Vài năm gần đây nhằm tiến hành mặt trận thống nhất mà Trung Cộng lại chuẩn bị thành lập cái gọi là “Học viện Khổng Tử” tại hải ngoại, âm mưu lợi dụng Khổng Tử vốn từng bị chính nó phê phán nhằm lừa gạt những người hướng về văn hóa Trung Quốc. Mặt khác, trường học trong dân gian ở Đại Lục dạy học sinh đọc thuộc Thập tam kinh của Nho gia lại bị Trung Cộng thủ tiêu.

Ngay khi Trung Cộng mới cướp đoạt được chính quyền, nó đã cho xuất bản cuốn sách của Thái Thượng Tư tên là “Tổng phê phán về tư tưởng truyền thống của Trung Quốc” (dưới đây gọi tắt là “Phê phán”) của Thái Thượng Tư vu khống, lạm dụng nhằm bôi nhọ, lăng mạ và phê phán Khổng Tử. Trong đó cái bẫy logic mà Trung Cộng quen dùng cũng đáng để phân tích sơ bộ. Bởi vì những vấn đề logic này vẫn là thủ đoạn trọng yếu mà Trung Cộng dùng để phê phán gay gắt trong Văn hóa đảng.

Thủ đoạn thứ nhất là “đoạn chương thủ nghĩa”. Từ việc Khổng Tử phải thu học phí (lễ thầy học thời xưa) liền đoán định Khổng Tử chỉ phục vụ giới quý tộc, hoàn toàn không quan tâm tới chủ trương “học trò đều như nhau” của Khổng Tử. Trong số học trò của Khổng Tử thì có Tử Lộ xuất thân bần hàn.

Thủ đoạn thứ hai là “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, dùng lời của người khác gán cho Khổng Tử. Ví như “Xuân Thu Cốc Lương truyện” là đệ tử của Tử Hạ làm ra, “Phê phán” lại lợi dụng phần luận thuật có liên quan đến Bá Cơ trong đó để công kích Khổng Tử.

Thủ đoạn thứ ba là suy diễn không hợp lý. Từ câu nói của Khổng Tử: “Bất tại kỳ vị, bất mưu kỳ chính.” (Không ở vị trí đó, không mưu đoạt triều chính đó) lại kết luận vô lý thành “điều này không khác gì ‘Quốc gia hưng vong, thất phu vô trách’ (Quốc gia hưng vong, thất phu không có trách nhiệm)”. Như vậy đã suy diễn từ thái độ của cá nhân đối với quyền chức thành nghĩa vụ công dân.

Thủ đoạn thứ tư là so sánh không hợp lý, coi vị thế độc tôn của Nho thuật từ thời nhà Hán cũng giống như việc Tần Thủy Hoàng độc tôn Pháp gia, hoàn toàn không quan tâm đến sự khác nhau giữa việc Nho gia dùng đức cảm hóa con người, còn Pháp gia dùng thưởng phạt để dẫn dụ và uy hiếp con người.
Thủ đoạn thứ năm là gây nhầm lẫn mối quan hệ không tương đương giữa mệnh đề thuận và mệnh đề nghịch. Ví dụ trong “Phê phán” nói: “Nếu nữ giới đều là tiểu nhân thì có thể ngẫm mà thấy được nam giới toàn là quân tử.”

Thủ đoạn thứ sáu là chụp mũ “phản khoa học”, gọi Khổng Tử là “phản lại khoa học tự nhiên”. Trên thực tế, những điều mà Khổng Tử đàm luận đa phần đều là những chuyện ở tầng diện lý luận và chính trị. Những điều này đều không can hệ tới khoa học tự nhiên, cũng giống như không thể dùng thước mà đo trọng lượng, nguyên lý của khoa học tự nhiên cũng không thể đo lường được thiện ác trong hành vi con người. Huống hồ trong “Lục nghệ” mà Khổng Tử quy định đã bao gồm “toán học”, đây chính là cơ sở cho khoa học tự nhiên sau này.

Thủ đoạn thứ bảy là “nem đá dấu tay”. Người đề xuất “Tam cương” rõ ràng là những người như Hàn Phi Tử của Pháp gia, Đổng Trọng Thư của Hán Nho, cuốn “Phê phán” cũng thừa nhận điều này. Nhưng khi chỉ ra chuyện phụ nữ tự sát vì giữ tròn trinh tiết đã đưa ra một vài ví dụ rất thảm khốc. Những ví dụ này không hề liên can gì tới Khổng Tử, mà là điều ngược lại. Trong “Lễ ký” có ghi con dâu và cháu dâu của Khổng Tử đều là tái giá. Hơn nữa xuyên suốt bối cảnh chung phê phán Khổng Tử, khó tránh khỏi việc người đọc không tính những thảm kịch trong cuốn “Phê phán” lên đầu Khổng Tử.

Thủ đoạn thứ tám là kích động lòng đố kỵ của con người. Cuốn “Phê phán” tìm cách tô vẽ cuộc sống quý tộc của Khổng Tử để kích động lòng đố kỵ của con người. Kỳ thực, cho dù Khổng Tử làm theo “Ngư nỗi nhi nhục bại bất thực” (Cá ươn thịt rữa không ăn) thì đây chính là đạo dưỡng sinh cơ bản, hoàn toàn không phải cuộc sống quý tộc.

(2) Phê phán phần tử trí thức

“Tả truyện” viết: “Thái thượng hữu lập đức, kỳ thứ hữu lập công, kỳ thứ hữu lập ngôn, tuy cửu bất phế, thử chi vị bất hủ.” (Thái thượng lập đức, tiếp nữa lập công, tiếp nữa lập ngôn, dù lâu mà không bị phế bỏ, nên gọi nó là bất hủ) Văn hóa truyền thống Trung Quốc đã cung cấp cho phần tử trí thức vũ đài lịch sử vinh quang quần tinh chói sáng, địa linh nhân kiệt.

Việc cải tạo tri thức phần tử cũng được Trung Cộng coi là một bước vô cùng quan trọng. Xã hội truyền thống Trung Quốc nói về bốn giai tầng là “Sỹ, Nông, Công, Thương”. Trong đó “Sỹ” là gọi tắt của phần tử trí thức. Giai tầng “Sỹ đại phu” là người gánh vác truyền thống đạo đức. Do đó từ góc độ đạo đức mà xét, họ thậm chí còn có lời nói có trọng lượng hơn cả người thống trị. Trung Cộng không tán đồng với quan niệm đạo đức truyền thống mà phần tử trí thức đại biểu, nhưng phải dùng phần tử trí thức làm trung gian cải tạo tư tưởng của những người bình thường. Do vậy ngay khi vừa mới nắm quyền, việc đầu tiên Trung Cộng phải làm chính là cải tạo tư tưởng của phần tử trí thức.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Tháng 06 năm 1950, khi Mao Trạch Đông phát biểu tại trong phiên họp toàn thể thứ 3 của Đại hội đảng toàn quốc khóa 7 của Trung Cộng đã nhấn mạnh, đối với phần tử trí thức “phải dùng họ, đồng thời phải giáo dục và cải tạo họ. Phải để họ học một số chương trình học như lịch sử phát triển của xã hội, lịch sử thuyết duy vật…”. Cái mà Mao gọi là giáo dục và cải tạo không gì khác ngoài việc lệnh cho thầy cô giáo các trường trung học, đại học phải đọc ba văn kiện lớn về chính trị hiệp thương, lịch sử phát triển xã hội và bài luận Tân chủ nghĩa dân chủ. Bắt đầu từ mùa thu năm 1951, Trung Cộng đã tổ chức cho hàng loạt phần tử trí thức tham gia hoặc tham quan các cuộc vận động như kháng Mỹ viện Triều, cải cách ruộng đất và trấn áp cuộc vận động phản cách mạng. Chuỗi các cuộc vận động đẫm máu khiến rất nhiều phần tử trí thức nhìn thấy sự tàn nhẫn và độc ác của Đảng Cộng sản, khiến rất nhiều người sợ đến mềm cả cột sống. Tháng 01 năm 1952, Ban thường vụ Chính trị Hiệp thương Nhân dân toàn quốc đưa ra “Quyết định về việc triển khai vận động học tập cải tạo tư tưởng nhân sỹ các giới”, tức là đưa những phần tử trí thức sau khi được cải tạo, mở rộng những tư tưởng mà Trung Cộng nhồi nhét cho họ ra toàn quốc, cải tạo tư tưởng của tất cả người khác.

Từ sớm sau khi cuối thời nhà Thanh phế bỏ khoa cử, trong phần tử trí thức có rất nhiều người quay sang lệ thuộc vào đảng cầm quyền. Quá trình này là một quá trình thống khổ, cũng là quá trình phần tử trí thức “chủ động” tiến hành chuyển biến tư tưởng. Sự chuyển biến này đương nhiên sẽ không được Trung Cộng cho là đủ. Bởi vì cho dù phần tử trí thức cho rằng họ cần giương cao lá cờ dân chủ và khoa học, nhưng tuyệt đại đa số học vấn tu thân lập mệnh của Nho gia vẫn được cho là chuẩn tắc để xét đoán thị phi. Đây chính là điều mà Trung Cộng không thể dung nhân được.

Tháng 12 năm 1939, trong bài phát biểu “Cách mạng Trung Quốc và Đảng Cộng sản Trung Quốc”, chỉ bằng một nét bút Mao Trạch Đông đã khoanh phần tử trí thức vào “phạm trù giai cấp tiểu tư sản”. Trong những năm tháng coi đấu tranh giai cấp là nòng cốt, cái mũ “giai cấp tiểu tư sản” này đã khiến phần tử trí thức không thể ngóc đầu lên được.

Trung Cộng thông qua bộ máy tuyên truyền của mình ca ngợi công nhân và nông dân, biến kiến thức nông cạn của họ thành động lực cách mạng, tuyên truyền “sự thù hận của giai cấp chất phác” dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản sẽ có thể khiến cách mạng đi tới thắng lợi. Mặt khác, phần tử trí thức “được” điện ảnh gán cho bộ mặt với dấu hiệu đặc thù – đeo một cặp mắt kính, co ro cúm rúm, cố chấp vào sách vở, xem thường quần chúng, làm việc chủ quan…

Năm 1958, bộ phim “Cô gái Thượng Hải” trình chiếu không lâu liền bị phê bình gay gắt. Nguyên nhân rốt cuộc lại là: “Thứ nhất, phần tử trí thức không có một bí thư đảng ủy hay bí thư chi bộ nào phê bình, giáo dục, mà lại có thể kiên định nguyên tắc, phát huy tài cán của mình trong xây dựng, thì đây chính là thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng, phản đối sự lãnh đạo của Đảng; thứ hai, không viết về những khuyết điểm của phần tử trí thức như tính mềm yếu, hay dao động, thoát ly hiện thực, thoát ly quần chúng… Đó là tô vẽ cho giai cấp tư sản, phần tử trí thức; Thứ ba, biểu hiện ông chủ bị ảnh hưởng bởi một số tư tưởng lạc hậu của công nhân mới dẫn tới nôn nóng cầu thành công… Đây chính là bôi nhọ bộ mặt của giai cấp công nhân.” Nguyên nhân của điểm thứ ba cũng là cách gây gián cách cho quan hệ giữa công nhân và phần tử trí thức.

Sự tuyên truyền vu khống này nhắm vào phần tử trí thức đã khởi tác dụng cực lớn, vì nguyên nhân của nó là ở chỗ phần tử trí thức vẫn luôn là người lãnh đạo tư tưởng của xã hội, vẫn luôn là người phát ngôn trước những vấn đề của xã hội, vẫn luôn là người truyền thừa và phân tích trình bày  Văn hóa truyền thống. Sau khi hình tượng của phần tử trí thức bị bôi nhọ, những giá trị mà họ đại biểu cũng theo đó mà bị đảo lộn. Trong mắt quần chúng, phần tử trí thức không còn là đối tượng được trân trọng và xin chỉ giáo, mà là đối tượng để cười nhạo và phê phán.

Nếu như nói những lời vu khống trên thuộc về “bôi nhọ danh dự”, thì việc chặn đứng bát cơm của phần tử trí thức chính là “vắt kiệt tài chính”, từ cuộc vận động phản Hồ Phong đến phản cánh hữu, cách mạng Văn hóa lại là một phần của “hủy hoại thể xác”. Rất nhiều những nhân sỹ dân chủ cùng Trung Cộng vào sinh ra tử, dốc sức trợ giúp trong những năm cướp chính quyền, đã rất ngây thơ cho rằng mình là công thần khai cơ lập nghiệp, do đó Trung Cộng “thực tâm đối đãi, vinh nhục cùng hưởng”, cũng sẽ cho họ với tinh thần trách nhiệm xã hội cao cả và có hoài bão to lớn có cơ hội được thi triển. Trong lời mời trăm hoa đua nở “chân tình”, những cao nhân nghĩa sỹ “kẻ sỹ chết vì người tri kỷ” này, càng là chính nghĩa hừng hực, thì lại càng ngã một cách thê thảm hơn. Khi mọi người được chứng kiến những gì Trung Cộng làm, khi hàm nghĩa chân thực của “thiên hạ của Đảng” cuối cùng cũng hiện rõ cho thiên hạ: “chuyên chính dân chủ nhân dân hay còn gọi là độc tài dân chủ nhân dân”. Những văn nhân nổi tiếng như Chương Bá Bách, Chương Nãi Khí, La Long Cơ, Trữ An Bình,… dù là tiến sỹ hay du học sinh yêu nước mà quay trở về hay nhà tư bản hiến tài sản cho Trung Cộng, những vị trí từ bộ trưởng, giáo sư, nhà văn, tổng biên tập, phóng viên v.v.. đều lần lượt bị ném vào “chuồng bò” cánh hữu của Đảng Cộng sản, đến chết họ cũng không thể hiểu rõ “dân chủ” và “độc tài” có thể được Trung Cộng kết hợp thành “chuyên chế nhân dân” như thế nào trong hiện thực lạnh lùng đó. Những phẩm cách truyền thống được ca ngợi đời đời trong lịch sử Trung Quốc như “trung quân báo quốc”, “xả thân vì nghĩa”, “nhân cách tôn nghiêm”, “lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ” đều mất đi trên vũ đài lịch sử kể từ sau khi thế hệ cuối cùng của những nhân sỹ bác học học giả uyên thâm chết trong đơn độc . Mọi người hoảng sợ khi thấy rằng cái Đảng Cộng sản vốn tích cực treo lên miếng mồi thiên đường nhân gian ấy, nhưng điều nó gây dựng trước tiên lại là địa ngục nhân gian.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Những người may mắn sống sót, từ đó phải run sợ, không dám tiếp tục nhắc tới giá trị truyền thống, không dám tiếp tục kiên trì giữ tư tưởng độc lập và nhân cách của phần tử tri thức nữa. Ví dụ như Phùng Hữu Lan, Quách Mạt Nhược, chỉ vì một câu phê bình của Mao Trạch Đông mà sợ tới mức gấp rút thay đổi quan niệm học thuật của mình. Đối với phần tử trí thức mà nói, tư tưởng độc lập và nhân cách cũng như là sinh mệnh. Sự phá hủy này đã khiến nội tâm của phần tử trí thức vô cùng đau khổ, ngòi bút cũng không thể lột tả hết.

“Phần tử tri thức” đã từng là từ đồng nghĩa với “đạo đức”, đại diện cho hình tượng xã hội thanh bần, chính nghĩa, trí thức, hàm dưỡng, không nịnh nọt bợ đỡ. Đến thời Giang Trạch Dân, trong giới quan chức của đảng xuất hiện vai trò này – “thợ trang điểm chính trị”, quá khác biệt so với văn nhân chính thống. Họ là những người thợ thủ công, nịnh hót bợ đỡ trên vũ đài chính trị, không còn phò tá quân tử thánh hiền, mà là hùa vào cùng quân đầu trộm đuôi cướp Giang Trạch Dân.

Trong vũng máu thảm sát bởi xe tăng và súng máy, trong tiếng sóng phản đối và lên án của cộng đồng quốc tế, kẻ lên nắm quyền là Giang Trạch Dân cần phải bôi trát một lớp sơn màu chính trị thật dày. Vậy là nhóm văn nhân này phát minh ra cái gọi là “Ba đại diện”. Họ không chỉ tống táng vận mệnh của đất nước về chính trị, màvề phương diện đạo đức còn làm vấy bẩn sự thanh bạch cần có của phần tử trí thức

Tới nay, các “học giả chuyên gia” của Trung Quốc sớm đã không còn giống với phần tử trí thức đã kế thừa văn hóa chính thống và phương thức hành vi sâu dày đó. Trong đó tuyệt đại đa số đều bị tẩy não bằng Thuyết vô Thần, triết học đấu tranh và lịch sử phát triển xã hội của Trung Cộng. Họ chỉ là những nhân viên chuyên nghiệp nắm vững khoa học kỹ thuật, hoàn toàn chưa từng nghiên cứu sâu về văn hóa Nho – Thích – Đạo, lại càng chưa từng dung nhập nó vào cuộc sống.

Trung Cộng ngày nay làm ra thứ biểu ngữ “Tôn trọng tri thức, tôn trọng nhân tài”, biểu diễn cái gọi là “Đảng ân hạo đãng”. Phần tử ngụy trí thức thì dồn hết sức biên đạo, lặp lại những lý luận để làm luận chứng cho tính hợp pháp về sự thống trị của Trung Cộng, hay là các loại tính hợp lý cho những thảm kịch trong xã hội. Trung Cộng đã thành công trong việc tạo ra tam giác sắt “Tinh anh chính trị, tinh anh kinh tế và tinh anh văn hóa”, điều nó cần là phần tử trí thức giống như Hà Tộ Hưu khi đối diện với công nhân mỏ bị chết trong hầm mỏ đã nói rằng: “Ai bảo anh bất hạnh sinh ra tại Trung Quốc”.

Còn có một số phần tử trí thức bị ô nhiễm nghiêm trọng bởi Văn hóa đảng, dẫu vẫn còn giữ được lương tri cơ bản làm người, nhưng lại chỉ biết lo cho nước cho dân, nhưng khổ nỗi không có đường báo quốc an dân nên đành phải tranh thủ thân phận “trong thể chế”, mong muốn rằng “cải cách trong thể chế”, gặp phải chuyện gì tìm cách “giải quyết trong thể chế”. Giải quyết trong thể chế chẳng qua là trước tiên xưng thần (bề tôi) với Đảng Cộng sản, thừa nhận quyền khống chế và quyền sử dụng tùy ý của Đảng cộng sản và Văn hóa đảng với mình, từ đó mà xin được một chút quyền phát ngôn đáng thương. Trong một môi trường xã hội không có sự lựa chọn, một số người lớn lên trong sự thấm đẫm của văn học Liên Xô và những tác phẩm “to” của Đảng Cộng Sản, họ trân quý những gì tích lũy trong quá trình bản thân mình trưởng thành, không hề biết rằng đó là thuốc độc, khó có thể vứt bỏ nút thắt trong tâm về lý tưởng với Đảng Cộng sản, ngoài việc gào thét trước những bất công trong xã hội, cũng không thể giúp mọi người nhận rõ Trung Cộng mới thực sự là ngọn nguồn của vạn tội ác. Cách những người này ký thác hy vọng vào Đảng Cộng sản thực ra là dùng nghĩa cử cá nhân mình mà che giấu sự xấu xa của Trung Cộng, kéo dài thọ mệnh của Trung Cộng.

2) Phê phán Thích gia và Đạo gia

(1) Phủ định sự tồn tại của Thần, Phật, làm sai lệch động cơ tôn giáo

Tư tưởng của Lão tử từng được Khổng Tử cho là “Rồng trong mây”. Ngày nay giới học giả phương Tây vẫn luôn tôn sùng tư tưởng của Lão Tử. Những câu cách ngôn trong “Đạo Đức kinh” như “Phúc hề họa chi sở ỷ, họa hề phúc chi sở phục” (Trong phúc có họa, trong họa có phúc), “Thiên lý chi hành, thủy vu túc hạ” (Hành trình nghìn dặm bắt đầu từ dưới bước chân) vẫn có sức ảnh hưởng trường tồn cho tới tận ngày nay. Bắt đầu từ thời Hán, môn phái Phù Lục, và môn phái Đan Đỉnh của Đạo gia đều rất sùng kính Lão Tử, đã lưu lại thần tích của những người tu luyện Đạo gia như Trương Đạo Lăng, Khâu Hoằng Tế, Hứa Tinh Dương, Cát Hồng, v.v.. bạch nhật phi thăng. Những bậc Đế vương trong các triều đại thường để Đạo sỹ làm Quốc sư, Trương Lương từng tự xưng là “dùng ba tấc lưỡi làm thầy giáo của vua”, những người còn lại như Gia Cát Lượng thời Thục Hán, Viên Thiên Cương, Lý Thuần Phong thời nhà Đường, Miêu Quang Nghĩa thời Tống, Lưu Bá Ôn triều Minh đều được những vị vua khai quốc đối xử bằng nghi lễ dành cho Quốc sư. Thành Cát Tư Hãn những năm cuối cũng không ngại đường xa vạn dặm thỉnh mời Khâu Xử Cơ, hiệu Trường Xuân Tử tới giảng Đạo.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Thích Ca Mâu Ni ngồi dưới gốc cây Bồ đề bảy bảy bốn chín ngày, sau cùng khai công khai ngộ, thấu triệt mọi chân tướng về vũ trụ trong cảnh giới của ông. Ông dạy con người trọng đức hành thiện, nhảy thoát khỏi luân hồi. Thích Ca Mâu Ni có mười đại đệ tử, đều có thần thông rất cao. Đạt Ma, đệ tử đời thứ 28 của ông qua sông chỉ với một cọng lau, người phi thường mới có thể làm được như vậy. Sau đó ông ngồi quay mặt vào núi Tiểu Thất chín năm, mang thân hình in trên đá, trở thành kỳ quan thiên cổ. Huệ Năng, Lục tổ của Thiền Tông đã viên tịch hơn 1.000 năm mà nhục thân vẫn không bị hư nát, đến nay vẫn ngồi an nhiên trong chùa Nam Hoa tỉnh Quảng Đông.

Trung Cộng một mặt tuyên truyền lịch sử phát triển xã hội, phủ định sự tồn tại của Thần; mặt khác khiến những người đại diện trong nội bộ các tôn giáo phát tán những lời phủ định người sáng lập tôn giáo. Phật giáo cho rằng Phật là người sáng tạo ra thế giới thiên quốc, như thế giới Cực Lạc là do nguyện lực của Phật A Di Đà mà thành. Còn Triệu Phác Sơ – Hội phó Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc trong cuộc gặp gỡ với Tổng thống Sukarno của Indonesia vào đầu năm 1965 lại nói: “Phật Đà được thần thánh hóa”, “Phật không phải là đấng sáng thế ra vạn vật… không thể làm chủ được hung cát, phúc họa của con người.” Cũng giống như vậy, Ngô Diệu Tông Chủ tịch Giáo hội Tam Tự của Ki-tô giáo cũng chịu sự khống chế của Trung Cộng, đã nói rằng thần tích của Giê-su đã bị ông ta ‘vứt bỏ’ rồi, còn nói: Thượng Đế đã đoạt lại từ tay giáo hội chiếc chìa khóa giúp nhân loại được cứu vớt, và đã giao cho Đảng Cộng sản rồi.”

Thần Phật là cái gốc của tôn giáo. Vô luận là Phật giáo, Đạo giáo hay những chính giáo khác, các tín đồ đều nỗ lực đề cao cảnh giới của mình, cuối cùng cũng là vì để tới được thế giới thiên quốc của Thần Phật, như Tịnh Độ Tông của Phật giáo, hy vọng sau khi vãng sinh được tới thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà. Nếu phủ nhận sự tồn tại của Thần Phật, phủ định thế giới Thiên quốc, đối với tín đồ tôn giáo mà nói tu luyện hoàn toàn không còn chút ý nghĩa, còn đoàn thể tu luyện của tôn giáo này cũng sẽ tan rã.

Trung Cộng là kẻ tuyên truyền Vô Thần luận, mô tả tôn giáo là “sự phản ánh hư cấu của lực lượng tự nhiên và lực lượng xã hội trong ý thức của con người”, là “sự sợ hãi và tuyệt vọng của người lao động trước những khổ nạn to lớn do chế độ bóc lột gây ra”. Xét về tuyên truyền này, mọi giáo nghĩa liên quan tới Thiên quốc, Địa ngục, thiện ác báo ứng đều là đối tượng bị Trung Cộng phủ định trực tiếp.

Trung Cộng tuyên truyền rằng: “Khổ nạn của xã hội là mảnh đất phì nhiêu cho tôn giáo tồn tại và phát triển”, và cố tình coi chuyện một số người thường gặp khổ nạn, đau khổ tuyệt vọng mà gia nhập vào tôn giáo là chuyện thường tình của các tín đồ tôn giáo.

Kỳ thực, Trương Đạo Lăng (tức Trương Thiên Sư) của Đạo gia từng ba lần được Hán Hòa Đế thỉnh mời làm Thái phó (Trong chế độ quan cửu phẩm là quan đứng đầu nhất phẩm). Trương Đạo Lăng đều không nhận lời, mà ẩn cư tu luyện trong núi Hạc Minh. Trước khi Phật Thích Ca Mâu Ni xuất gia, ông là thái tử của nước Ca Tỳ La Vệ. Cha ông vì muốn ngăn trở ý niệm xuất gia của ông nên đã xây một đại hoa viên, tu sửa cung điện nguy nga tráng lệ, lệnh cho mấy trăm cung nữ ngày đêm ca múa đàn hát bầu bạn cùng ông và lấy cho ông đệ nhất mỹ nữ Ấn Độ Yaśodharā làm vợ. Vậy mà thái tử vẫn nửa đêm cưỡi ngựa vượt tường thành, tới khổ tu trong rừng núi. Sau khi Thái Tử thành Phật, 51 người trong 56 người đầu tiên được cứu độ đều là công tử gia tộc giàu có của nước Ba La Nại. Thế Tôn về nước thuyết giảng Phật Pháp, có 500 con em phẩm mạo đoan chính của các vương tộc quyền quý, đều theo Phật xuất gia. Do đó xuất gia tuyệt đối không phải là chạy trốn trước khổ nạn hiện thực (do thất tình hay kinh tế khó khăn), mà là phát tâm bồ đề, là đại nguyện dùng huệ kiếm cắt đứt duyên trần.

Trước khi Trung Cộng đoạt được chính quyền, dân gian có môi trường tín Thần. Những người tu hành trong Thích giáo và Đạo giáo được gọi là “Pháp sư”, “Đạo trưởng”, “Cao tăng đại đức”, là biểu tượng đức cao vọng trọng, cũng là đối tượng được mọi người tôn kính. Dù là Hoàng Đế trong những hoàng triều truyền thống gặp cao tăng cũng đều lễ độ và tôn trọng.

Sau khi Trung Cộng cướp chính quyền, nó bèn cưỡng chế quảng bá giáo dục “Lịch sử phát triển xã hội”, phá hoại môi trường tín Thần, miêu tả những người tu hành như những kẻ xuẩn ngốc, vô tri, mê tín, thậm chí còn lợi dụng tôn giáo để kiếm lợi. Lúc này, địa vị xã hội của người tu hành rớt xuống thê thảm, từ người được kính trọng thành đối tượng bị nhân dân chế diễu. Rất nhiều người xuất gia đã hoàn tục vì suy sụp tinh thần.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

“Làm người tất hướng chỗ cao mà đi,” trong tâm mỗi người đều đang âm thầm trân quý danh vọng bản thân mình, hy vọng gia nhập đội ngũ những người thành công. Trung Cộng miêu tả những giáo đồ của Phật, Đạo như kẻ thất bại, thậm chí là “giai cấp bóc lột”, miêu tả những người tín phụng Thần Phật thành những kẻ mê tín và tư tưởng lạc hậu. Điều này cũng sẽ khiến dân chúng giữ khoảng cách với các tín đồ.

(2) Hủy hoại hoàn cảnh vật chất của tu hành

Nếu người xuất gia không để ý tới cách nhìn của thế tục mà tiếp tục tinh tấn tu hành, vậy thì tiếp theo Trung Cộng sẽ phải cắt đứt nguồn lương thực của người tu hành.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Thường thì nguồn lương thực của người tu hành đến từ hai phương diện, một là từ sự cúng dường của nhân dân, hai là thu hoạch từ hoa màu trên đất của nhà chùa. Khi Trung Cộng phá hoại môi trường tín Thần tại dân gian, thì nguồn lương thực đầu tiên đã bị cắt đứt. Còn đối sách của Trung Cộng với nguồn cung cấp thứ hai là cải cách ruộng đất. Theo “Chỉ thị về vấn đề giải phóng nông nghiệp, ruộng đất tại khu vực ngoại ô” do Trung Cộng ban hành tháng 01 năm 1950 quy định, ruộng đất của đình chùa miếu mạo, nhà thờ đều thuộc về tài sản quốc gia. Tại đền chùa các nơi tất cả những tăng ni còn sức lao động bị chuyển tới làm việc tại ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủ công nghiệp, ngành dịch vụ hay những nơi như xưởng dệt, xưởng in, tổ may ni cô.

Theo truyền thống Phật giáo, những giáo đồ của Phật giáo tiểu thừa đều sống nhờ vào khất thực, hoàn toàn không sản xuất. Sau khi truyền giáo vào Trung Quốc, Tứ tổ Thiền Tông là Đạo Tín định cư tại núi Song Phong, tụ tập 500 người, vì nơi ở cách xa thành quách, khất thực khó khăn, nên phải tự cày ruộng, tự cấp dưỡng, dùng nông nghiệp để tu tập. Đạo Tín răn dạy những người trong môn đạo rằng “Chăm chỉ chịu khó là căn bản.” “Có thể làm 3-5 năm, chỉ cần ăn một miếng lót dạ liền đóng cửa ngồi thiền”. Từ đó có thể thấy, sản xuất nông nghiệp hoàn toàn không hề có mục đích, chỉ là vì có thể đả tọa ngồi thiền từ đó mà lao động nuôi thân. Hơn nữa chỉ cần có miếng cơm ăn liền muốn ngồi không đả tọa.

Vì sự lũng đoạn toàn diện của Trung Cộng về tư liệu sản xuất và hoạt động thương mại, tính chất sản xuất trong đền chùa đạo quán đã không còn giống chủ trương lấy nông dưỡng thiền như Đạo gia đề xướng, mà hoàn toàn trở thành đơn vị công tác bị thế tục hóa và chịu sự kiểm soát của Đảng Cộng sản về kinh tế, sinh tồn nhờ vào hơi thở của Đảng Cộng sản. Sự lệ thuộc vào chính quyền về kinh tế đã kết thúc tính độc lập của tôn giáo, đồng thời trở thành chư hầu cho Đảng Cộng sản. Đây là phá hoại lớn nhất đối với tôn giáo truyền thống.

(3) Hủy diệt thân thể

Ngày 01 tháng 07 năm 1955, Trung Cộng ban hành “Chỉ thị về việc triển khai đấu tranh loại bỏ những phần tử phản cách mạng từ trứng nước”, mà lịch sử gọi là “Cuộc vận động túc phản” đã gương cao cờ hiệu “Làm trong sạch đội ngũ Phật giáo, Đạo giáo”, giết một người đe trăm người, coi những tăng ni, đạo sỹ không hợp tác với Trung Cộng là phần tử phản cách mạng mà bắt giữ, bắn chết. Sự cướp đoạt về kinh tế, sự áp bức về chính trị và sự đe dọa do “thêu dệt tội danh, vạn người công thẩm, tuyên án, bắn chết” đã khiến rất nhiều tăng ni đứng về phía Đảng Cộng sản.

(4) Làm lệch lạc kinh điển tôn giáo, dung tục hóa tôn giáo

Phật giáo coi “Phật, Pháp, Tăng” là Tam bảo. Trong đó “Pháp” chính là Kinh Phật. Trung Cộng ngoài việc phủ định sự tồn tại của Phật, trấn áp bức hại cao tăng đại đức ra, thì việc phá hoại kinh điển Phật giáo còn kín kẽ và âm hiểm hơn nhiều.

Trong “Đại Ban Niết Bàn Kinh”, Thích Ca Mâu Ni đã dự đoán được tình huống trong tương lai, tức là có ma vương chuyển sinh thành tăng ni và nam nữ cư sĩ nhằm phá hoại Phật Pháp từ trong nội bộ.

Những năm 20, 30 của thế kỷ trước, hòa thượng Thái Hư đưa ra cách nói “Phật giáo nhân gian”, cho rằng tam thừa cộng Pháp (Thiên thừa, Thanh Vấn, Viên Giác) nếu không thuộc về “Thần quyền mê tín” thì cũng thuộc về “tiêu cực lánh đời”. “Phật giáo nhân gian” lại tiến thêm một bước nữa khi chủ trương “cuộc sống hóa tu hành hiện đại” và “trường học hóa tu hành hiện đại”, “sự nghiệp Phật giáo hiện đại hóa nên bao gồm nhà xưởng, nông trường, bảo hiểm, ngân hàng, công ty, cái gọi là nông công thương .v.v..” Cách làm thế tục hóa, dung tục hóa Phật giáo bằng mượn cái mũ “Phật giáo nhân gian” trực tiếp đi ngược lại nguyên nghĩa của Phật Đà, hoàn toàn không phù hợp với cách tu hành của Phật giáo mấy nghìn năm nay luôn phát nguyện xa rời thế tục, theo đuổi sự thăng hoa về tâm hồn và siêu thoát. Tổ tiên của Bạch giáo Phật Milarepa của Phật giáo truyền từ Tây Tạng cũng nói với đệ tử của mình rằng: Trước khi Ông tu thành chính quả thì không nói tới sự nghiệp độ chúng sinh..


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Như loại hình thứ ba trong Văn hóa đảng mà phần giới thiệu đã chỉ ra, Trung Cộng “phát triển và quảng bá” cho trào lưu tư tưởng đã tồn tại, lại vận dụng nguồn tư nguyên quốc gia mà nó nắm được để tiến hành mở rộng trên cả bề rộng lẫn chiều sâu.

Trung Cộng cho rằng rất nhiều cách nói hư hư thực thực “Phật giáo nhân gian” chính là thứ có thể tăng cường lợi dụng, chỉ cần tín đồ chuyển ánh mắt chăm chú vào “Thiên quốc” sang quan tâm tới “nhân gian”, thì Trung Cộng có thể dễ dàng thêu dệt rất nhiều lời hoang đường, thao túng tư tưởng của giáo đồ. Cho nên truyền nhân của “Phật giáo nhân gian”, Triệu Phác Sơ [Hội trưởng Hội Phật giáo Trung Quốc], đệ tử của “Thái Hư” [trụ trì chùa Nam Phổ Đà, kiêm Viện trưởng Phật học viện Mân Nam] đã trở thành người đại diện lý tưởng nhất của Trung Cộng.

Dưới sự dẫn dắt của Triệu Phác Sơ, Hội Phật giáo Trung Quốc luôn miệng nhắc tới “trang nghiêm quốc thổ, lợi lạc hữu tình”. Thực tế Phật giáo nhắc tới “quốc thổ trang nghiêm” là chỉ mảnh đất tịnh độ nơi Phật quốc trang nghiêm (Như câu thơ “Nguyện dĩ thử công đức, trang nghiêm Phật tịnh thổ, tạm dịch: Nguyện mang công đức này làm trang nghiêm tịnh thổ nơi đất Phật” trong “Diệu Pháp Liên Hoa Kinh”), “Lợi lạc hữu tình” là chỉ “Chúng sinh hữu tình” được hóa độ tới bờ bên kia của cõi niết bàn, chứ tuyệt đối không giống với cách nói của Hội Phật giáo: “Tích cực tham gia kiến thiết tổ quốc, nỗ lực vì dân phục vụ.”

(5) Thành lập Hiệp hội tôn giáo Trung Cộng, khiến người được ủy quyền phê phán tôn giáo từ trong nội bộ

Vào những năm 50, Trung Cộng thành lập một Hiệp hội Phật giáo chịu sự thao túng của nó, để cho người ủy quyền của nó chiếm vị trí quan trọng, trở thành tổ chức chính trị giống với cái mà hiện nay được gọi là tám “Đảng phái dân chủ” phụ thuộc vào Trung Cộng. Trong thể hệ tổ chức của Đảng, những hiệp hội này được quy về dưới quyền kiểm soát của Ban Chiến Tuyến Trung ương, mục đích của nó không phải là nhằm phồn vinh tôn giáo, mà là khống chế tôn giáo.

Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc ngay trong thiên mở đầu của nó đã nhiệt liệt ca tụng Trung Cộng đàn áp phản cách mạng và “Cảm ơn tất cả những nhà lãnh đạo này – Chủ tịch Mao, lãnh tụ vĩ đại của chúng ta và Chính phủ nhân dân trung ương”, ngôn ngữ nịnh bợ, không hề thua kém bất kỳ một tổ chức thế tục nào.

Phật Thích Ca Mâu Ni là Thái tử Tất Đạt Đa của vua Tịnh Phạn nước Ca Tỳ La Vệ tại Ấn Độ. Sau khi xuất gia lại có vua Bình Sa muốn nhường lại vương vị, Thái tử Tất Đạt Đa đều không tiếp nhận mà vào trong rừng núi khổ tu. Có thể thấy ý nghĩa chân chính của Phật giáo không nằm ở sự phồn hoa của thế gian và chính trị của thế tục. Còn trong tôn chỉ được xác lập trong điều lệ thành lập của Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc dưới sự thao túng của Trung Cộng lại yêu cầu đệ tử Phật giáo tham gia cái gọi là “Kiến thiết văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa.”

Tình hình Đạo giáo cũng gần giống với Phật giáo. Trong điều lệ Hiệp hội Đạo giáo Trung Quốc được thông qua năm 2005 quy định rõ ràng rằng phải “Tăng cường…… học tập chính sách thời sự, nâng cao giác ngộ chủ nghĩa yêu nước của môn đồ Đạo giáo và tính giác ngộ tương thích với xã hội Chủ nghĩa xã hội ….. xúc tiến sự tương thích giữa Đạo giáo và xã hội Chủ nghĩa xã hội, nhằm cống hiến sức lực cho việc kiến thiết một xã hội hài hòa.” Nói một cách đơn giản, Hiệp hội Đạo giáo chính là muốn “Đạo Đức Kinh” thích ứng với chính sách của Trung Cộng, muốn cải biến nội hàm của tín ngưỡng một cách trắng trợn.

Hiệp hội Phật giáo, Hiệp hội Đạo giáo phụ thuộc Trung Cộng về mặt chính trị, ắt sẽ giải thích giáo lý theo cách nhìn của Trung Cộng. Tôn giáo cho rằng thế giới là khổ nạn. Khổ nạn này tự nhiên là so với sự mỹ hảo của thế giới thiên quốc , nếu không thì không cách nào giải thích được vì sao Thích Ca Mâu Ni vứt bỏ ngôi vua đi tu hành. Nhưng người đại diện tôn giáo [chỉ các hiệp hội kia] của Trung Cộng lại nói dối rằng dưới sự thống trị của Trung Cộng “không thể lại……. nói là đen tối, đau khổ nữa.” Mà tiến xa hơn một bước nữa là nhằm để các tín đồ hòa nhập vào thế tục thêm bước nữa, các hiệp hội đều phê phán cái gọi là “quan niệm tôn giáo tiêu cực chán ghét cuộc đời, chạy trốn hiện thực”, khiến giáo đồ tin vào việc xây dựng thiên đường giữa nhân gian. Cách nói này hoàn toàn khác với diệu pháp tứ đế “Khổ, Tập, Diệt, Đạo” mà Phật Đà nói.

Những người đại diện trong các hiệp hội tôn giáo này dùng những tài nguyên được tích cóp trong tôn giáo của mình để tiến hành phê phán từ trong nội bộ, ví dụ như chủ trương phá bỏ giới luật trong Phật giáo và nói rằng những điều lệ kinh điển này đã hại chết rất nhiều nam thanh nữ tú. Cách phê phán từ trong nội bộ này còn có sức phá hoại hơn nhiều so với sự phá hoại của Trung Cộng từ bên ngoài.

(6) Ngụy tạo giả tướng về tự do tôn giáo

Cái mà Trung Cộng gọi là “Tự do tôn giáo” là một loại ngụy tự do, nó có một tiền đề là phải nghe theo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Nói một cách đơn giản, một người thắp hương, dập đầu, sám hối, cầu nguyện, làm gì cũng được, nhưng khi tín ngưỡng của họ xung đột với Đảng Cộng sản thì nó phải phục tùng Đảng Cộng sản.

Biểu hiện của ngụy tự do tôn giáo là thế tục hóa tôn giáo, cơ quan hóa đoàn thể tôn giáo, thương nghiệp hóa các trường sở tôn giáo, chính trị hóa hoặc cán bộ hóa những người đứng đầu trong các tôn giáo.

Tại Trung Quốc, Cục Tôn giáo là một ban ngành mà chính phủ dùng để khống chế tôn giáo. Rất nhiều phương trượng trong đền chùa, những trụ trì trong Đạo quán đồng thời cũng là cán bộ của Trung Cộng, họ có cấp bậc hành chính, lĩnh lương, tham gia hội nghị chính trị và hợp tác hiệp thương, thậm chí còn được cấp xe cộ, máy tính, mỗi tuần đều tham gia học chính trị. Điều duy nhất khác với cán bộ Trung Cộng chính là những người này mặc áo cà sa hoặc áo đạo sỹ mà thôi. Tâm của họ không đặt vào cõi bồng lai, “tứ đại cũng chẳng giai không nữa”. Đền chùa cũng chỉ là đơn vị công tác của họ mà thôi.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Một biểu tượng khác của ngụy tự do tôn giáo chính là xây dựng một lượng lớn chùa chiền, tổ chức những cuộc đại hội tôn giáo, sửa tượng Phật giáo, in kinh sách, gây cho con người giả tượng về việc Trung Cộng tích cực hỗ trợ tôn giáo.

Trong Bài bình luận số 6 của Cửu Bình viết: “Một lần nữa, hãy lấy các ngôi chùa làm ví dụ. Các ngôi chùa là nơi để con người tu luyện, để nghe tiếng chuông chùa vào buổi sáng và tiếng gõ mõ lúc hoàng hôn, thờ Phật dưới ánh đèn dầu. Mọi người trong xã hội người thường cũng có thể xưng tội và thờ cúng ở đó. Tu luyện đòi hỏi một trái tim trong sạch không truy cầu bất cứ điều gì. Xưng tội và thờ cúng cũng cần có một môi trường nghiêm túc và trang trọng. Tuy nhiên, các ngôi chùa đã bị biến thành các địa điểm du lịch vì lợi ích kinh tế. Trong số những người thực sự thăm viếng các ngôi chùa ở Trung Quốc ngày nay, liệu có bao nhiêu người đến để suy nghĩ về những lỗi lầm của mình với một trái tim thành kính trước Phật ngay sau khi tắm gội sạch bụi trần và mặc lên mình bộ quần áo mới?”


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Như Thiếu Lâm Tự, gốc gác của Thiền tông Trung Quốc, ngày nay đã trở thành điểm đến du lịch và nơi quay phim chụp ảnh, phương trượng của Thiếu Lâm Tự bán đứng văn hóa Thiếu Lâm, gần đây y đã quyết định chi 350 triệu nhân dân tệ nhằm biến nơi đất Phật thanh tịnh thành nơi nghỉ dưỡng nên bị gọi một cách chế giễu là “CEO” (Giám đốc điều hành) Thiếu Lâm Tự. Y tôn sùng quan niệm “Thiếu Lâm Tự cũng nên có xí nghiệp”, thế là lái xe việt dã hào nhoáng, đi máy bay chu du thế giới, lên kế hoạch cho những buổi biểu diễn lớn, hàng ngày đều giao thiệp với đủ loại nhân sỹ trong xã hội như những ông chủ lớn của các doanh nghiệp, quan chức chính phủ, bạn bè quốc tế. Đa phần thời gian trong cuộc sống của ông này là dùng để tiếp đãi khách khứa và xử lý công việc. Phương pháp tu luyện “mặt nhìn vào vách núi” do Lão tổ Đạt Ma truyền lại cần có một hoàn cảnh thanh tịnh, đến nay đã không còn lại chút gì.

Tháng 08 năm 2006, giám tự của chùa Hóa Thành-tỉnh Giang Tây cử hành lễ siêu độ Phật giáo cho những nạn nhân bị chết trong vụ thảm sát Thiên An Môn “Ngày 4 tháng 6”, vậy mà bị chính quyền địa phương uy hiếp, bức bách ông phải rời khỏi chùa. Cục trưởng Hà của Cục tôn giáo huyện Quế Dương nói với vị giám tự này rằng: “Ông ăn, uống, chơi gái, đánh bạc đều được, chỉ là không được phản đối Đảng Cộng sản.”

Ngụy tự do tôn giáo đã khiến rất nhiều người không minh bạch chân tướng gia nhập vào những nơi tôn giáo do Trung Cộng tổ chức, những kinh điển mà họ học tập nghiên cứu bị Trung Cộng làm lệch lạc, chính tín của họ bị Trung Cộng dùng lợi ích thế tục để ăn mòn. Đây đều là cái thòng lọng mà Trung Cộng dùng để phá hoại Phật giáo, Đạo giáo một cách có hệ thống.

Đồng thời ngụy tự do tôn giáo cũng khiến hàng loạt những người có nhân phẩm hành vi độc ác xấu xa vốn nghe theo lệnh của Trung Cộng, trở thành người trụ trì tại những ngôi chùa và đạo quán và những người phụ trách hiệp hội tôn giáo các cấp. Một mặt họ tích cực hợp tác với yêu cầu của Trung Cộng, tô son trát phấn cho ngụy tự do của Trung Cộng ngoài quốc tế, mặt khác liều mình vơ vét của cải, thậm chí là ăn chơi, gái gú, cờ bạc. Như hòa thượng trong hai ngôi chùa tại Quảng Đông tới Tam Nguyên chơi gái tập thể; hòa thượng trong ba ngôi chùa cổ tại chùa Quang Hiếu, chùa Pháp Tràng, chùa Nam Sơn chơi gái tập thể; hội trưởng hiệp hội Phật giáo Quảng Đông, hòa thượng Minh Sinh là phương trượng của chùa Quang Hiếu mở một quán ăn chay tên là “Phường Cam Lộ” trong chùa, y dẫn mấy người trông như kỹ nữ đứng trước cửa chùa tiếp đãi thực khách…

Từ cổ chí kim Trung Quốc đã có truyền thống thờ Thần bái Phật, nhưng điều phải chỉ ra là những người tới thắp hương cầu nguyện đều tin là những điều không như ý hiện giờ gặp phải chính là do nhân quả báo ứng gây nên, với sự cung kính sám hối, cầu nguyện tương lai sẽ phải làm bao nhiêu việc tốt để bù đắp lại, hy vọng Thần Phật thương tình ban cho chút thuận lợi nhất thời, giải thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn trước mắt. Những ngụy nhân sỹ tôn giáo lại làm sai lệch ý nghĩa của việc khấn Thần bái Phật thành việc bố thí tiền tài có thể được bảo hộ, mà hoàn toàn không quan tâm xem những đồng tiền đó có phải là trộm cướp hay tham ô mà có được hay không. Lúc này cầu Thần bái Phật từ “sám hối” trở thành dùng tiền mua chuộc Phật, làm giao dịch với Phật.

Kiểu ngụy tự do tôn giáo “Tham quan bái Phật, hòa thượng gái gú” này có sức phá hoại lớn nhất với chính giáo, rất nhiều người vì vậy mà phê phán tôn giáo là nơi giả tạo, kiếm chác và dâm loạn, kiểu phê phán tự phát này có ảnh hưởng sâu rộng hơn cả việc Trung Cộng trực tiếp bôi nhọ Phật giáo.

Điều cần phải nhấn mạnh là sự phê phán của Trung Cộng nhằm vào Nho giáo, Đạo giáo, Thích giáo là trên nhiều tầng diện, bao gồm cả phê phán từ tầng diện lý luận, tôn giáo hóa khoa học, dùng cái gậy lớn gọi là “khoa học” để tiến hành phê phán Nho giáo-Phật giáo-Đạo giáo (dưới đây gọi tắt là Nho-Thích-Đạo); tổ chức biên chế giới tôn giáo, tiến hành phê phán Nho-Thích-Đạo từ trong nội bộ tôn giáo, tiến hành thanh lý tư tưởng từ trong Đảng, tiến hành yêu ma hóa Nho-Thích-Đạo. Kiểu phê phán này là phê phán kéo dài liên tục trong một thời gian dài, xuyên suốt trong giáo dục, trong cuộc sống, giúp cho việc cường điệu những cuộc vận động chính trị theo định kỳ, người người viết văn, hoặc sao chép văn, cưỡng chế tẩy não v.v… Đồng thời, kiểu phê phán này tiến hành theo kiểu phủ định toàn diện, không còn mảnh đất trống nào để con người có thể lưu giữ tư tưởng truyền thống. Trong sự tuyên truyền hình thái ý thức Vô Thần luận, Thuyết duy vật một cách cuồng nhiệt, trong sự yêu quái hóa ác độc đối với Nho-Thích-Đạo, trong sự uy hiếp bạo lực chính trị, trong sự điên đảo do Trung Cộng sắp xếp cài người vào làm loạn từ trong nội bộ một cách hiểm ác, Trung Cộng đã hoàn thành việc phê phán và thay thế một cách có hệ thống đối với Nho–Thích–Đạo giáo. Ngày nay, đa phần người Trung Quốc đã không biết Nho giáo – Thích giáo – Đạo giáo là gì, chỉ cần một câu “phong kiến mê tín” là đủ để tránh thật xa theo phản xạ có điều kiện, chỉ cần phê phán bằng khẩu hiệu, không cần chứng minh.

2. Phê phán quan niệm truyền thống

“Thiên hành Kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức”, “Địa thế Khôn, quân tử hậu đức tải vật” (Trời hành Kiện, quân tử không ngừng cố gắng vươn lên; Địa thế Khôn, quân tử đức dày chở vật), Hai quẻ đầu trong “Kinh dịch” đã chỉ ra được thái độ của người Trung Quốc với trời đất, quân tử thuận Thiên đạo mà hành mới có thể không ngừng vươn lên, dùng  đạo đức nhu thuận mà sâu sắc có bề dày để chứa đựng vạn vật. Đối với người thì thành tín hòa thuận, từ mình mà hiểu lòng người, từ sự tôn kính với người già và sự yêu thương bảo vệ với trẻ nhỏ trong nhà mà mở rộng ra tới tất cả người già và trẻ nhỏ, chính là điều gọi là “Giảng tín tu mục” (dạy điều tín, ăn ở hòa thuận), “Lão ngô lão dĩ cập nhân chi lão, ấu ngô ấu dĩ cập nhân chi ấu”(Tôn kính già nhà ta, cho đến người già trong nhà người, yêu mến trẻ nhà ta, cho đến yêu mến trẻ nhà người). Khi Tam Tài – “Thiên Địa Nhân” được định ra, thì căn bản của quan niệm truyền thống được định ra như vậy.

Người Trung Quốc kính Thiên, kính Địa, kính Thần, kính tổ tiên do đó đã hình thành một đạo xử thế trong cuộc sống đời thường, truyền lại cho muôn đời sau.

Còn Đảng Cộng sản lại “phải thực hiện việc cắt đứt đối với quan niệm truyền thống một cách triệt để dứt khoát nhất.” (Tuyên ngôn Đảng Cộng sản). Việc nó phê phán quan niệm truyền thống, là một bước tất yếu nhằm triệt để thanh trừ Văn hóa truyền thống cho đến tín ngưỡng trong cuộc sống của người dân Trung Quốc.

Từ khi Trung Cộng bắt đầu xây dựng chính quyền, nó đã thông qua giáo dục“Lịch sử phát triển xã hội” để tẩy não toàn dân một cách có hệ thống, quy kết “sự lạc hậu”, “ngu dốt” của Văn hóa truyền thống là nguyên nhân khiến Trung Quốc bị cường quốc xâm lược gần 100 năm qua, miêu tả xã hội truyền thống thành “xã hội cũ” “thối nát, lạc hậu”, dán nhãn “ngu dốt và mê tín” cho tín ngưỡng trong quan niệm truyền thống, dán nhãn cho đạo đức truyền thống trong đó là “lễ giáo ăn thịt người”. Theo cách như vậy, Trung Cộng đã lợi dụng tâm lý tự tôn dân tộc và nguyện vọng tự cường của người Trung Quốc mà toàn diện phát động cái gọi là cuộc vận động phá bỏ “mê tín phong kiến” trong xã hội, lấy khẩu hiệu “di phong dịch tục” (thay đổi phong tục), tiêu diệt tất cả những hoạt động dân gian liên quan tới tín ngưỡng truyền thống. Đồng thời Trung Cộng còn gán cho quan niệm truyền thống là công cụ chính trị giúp “kẻ thống trị phong kiến” mê hoặc nhân dân, “khiến họ bằng lòng với cuộc sống bị bóc lột”, phê phán trật tự xã hội truyền thống thành “chế độ dòng tộc phong kiến” áp bức bách tính, là cộng hưởng với “chế độ phong kiến chuyên chế”, khiến những cuộc vận động nhổ tận gốc Văn hóa truyền thống dâng lên thành cao trào chính trị, như vậy có thể thông qua các cuộc vận động quần chúng quy mô lớn mà “giám sát”,  “giám sát”, “tiết lộ”, “tố giác” những ngôn từ và hành vi theo quan niệm truyền thống vẫn lưu giữ trong dân gian, đạt được mục đích triệt để diệt tận gốc .

Dưới đây là một vài ví dụ về việc những quan niệm truyền thống bị Trung Cộng phê phán.

1) Phê phán việc kính sợ Trời

Người dân Trung Quốc vẫn luôn bảo trì tâm kính sợ đối với Trời. Dù những người không có tín ngưỡng rõ ràng cũng tin vào “ông Trời”. Trong quan niệm truyền thống của người Trung Quốc, Trời dù vô hình vô tướng, nhưng không chuyện gì không biết, không nơi nào không tồn tại.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Khi vương triều mạt thế hoặc đạo đức trụy lạc phổ biến trong xã hội, Trời liền giáng xuống tai họa, trước đó cũng sẽ có sự cảnh cáo hay điều gọi là “Thiên thùy tượng, kiến cát hung, thánh nhân tắc chi”(Nhìn thiên tượng biết điềm hung cát, thánh nhân thuận theo điều đó). Sau khi Hoàng Đế đăng cơ phải làm lễ tạ ơn Trời, ngày rằm tháng Giêng hàng năm và ngày Đông chí, Vua phải đăng đàn bái Trời, điều này đều thể hiện sự tôn sùng với Trời.

Trong sinh hoạt chính trị, “Trời” biểu thị cho phép tắc trị quốc, Khổng Tử nói “Vi chính dĩ đức, thí như bắc thần, cư kỳ sở nhi chúng tinh củng chi” (Dựa vào đức mà cai trị quốc gia, giống như sao Bắc Cực vậy, ở một chỗ mà các ngôi sao khác phải xoay quanh). Trong sinh hoạt thường nhật, “mật thất tư ngữ, thiên văn như lôi” (Nói thầm trong mật thất, Trời nghe như sấm dậy), binh pháp, kiến trúc, nhạc khí cũng đều thể hiện quy tắc của Trời, ngay cả tạo phản cũng phải làm ra lá cờ lớn “thay Trời hành đạo”.

Đối với Trời, trong quan niệm truyền thống từ trước đến giờ chỉ có sự kính sợ, còn chỉ có Đảng Cộng sản mới tranh đấu với “Trời”.

Sự kính sợ Trời duy hộ đạo đức của con người, quan niệm “nhân mệnh quan thiên” (số mệnh con người liên quan tới Trời) duy hộ cho sự quý trọng đối với sinh mệnh, quan niệm “Thiên nhân hợp nhất” lại rất hữu hiệu trong việc bảo hộ tự nhiên. Đây đều là những chướng ngại ngăn Đảng Cộng sản giết người và hủy hoại môi trường, còn Trung Cộng lại cần dựa vào thủ đoạn giết người khiến con người khiếp sợ mà quy phục nó, phải dùng những lời đao to búa lớn “chiến  thiên đấu địa ” để kích động con người sùng bái nó và quyết tâm phá hoại tự nhiên.

Mao Trạch Đông nói: “Ta là hòa thượng che ô, vô Pháp vô Thiên.” “Vô Pháp vô Thiên” vốn mang nghĩa xấu lại trở thành ca ngợi sự dũng cảm, và cổ động con người tham dự vào cuộc đấu tranh chính trị “vô Pháp vô Thiên” và phá hoại môi trường.

2) Phê phán sinh mệnh và thiện ác báo ứng

Từ quan niệm kính sợ “Trời” của người Trung Quốc đã phái sinh ra “thiên mệnh” quan và “thiện ác báo ứng”.

“Nhận mệnh” là câu mà người Trung Quốc thường nói, lại bị Trung Cộng giải thích là sự tiêu cực và không biết nên làm thế nào khi gặp phải khó khăn. Thực tế, ý nghĩa chân thực của “nhận mệnh” là “làm hết sức mình và nghe theo Thiên mệnh” hoặc “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”. Khổng Tử đề xuất “Sinh tử hữu mệnh, phú quý tại Thiên”, nhưng khi 54 tuổi ông lại từ chức Đại Tư Khấu của nước Lỗ, 14 năm chu du liệt quốc ông thúc đẩy vương đạo, biết rõ rằng điều đó không thể làm nhưng vẫn cứ làm. Ở đây không hề mang hàm nghĩa tiêu cực lánh đời.

Trong cuộc sống cá nhân, tư tưởng “nhận mệnh” hoàn toàn không phủ định sự phấn đấu của cá nhân, chỉ là giải thích cho sự bất khả kháng trong kiếp nhân sinh. Nói sâu thêm một bước nữa, quan niệm truyền thống cho rằng vận mệnh của con người được quyết định bởi đời trước, thậm chí là thiện báo hay ác báo nhận được do vài đời trước đã hành thiện hay hành ác. Do đó, “vận mệnh” cũng thường có quan hệ với “thiện ác hữu báo”, “phúc báo”, “quả báo”.

Trong “Kinh Dịch” có nói: “Tích thiện chi gia, tất hữu dư khánh; tích bất thiện chi gia, tất hữu dư ương” (Nhà mà tích thiện, phú quý ắt có thừa, nhà mà tích điều không thiện, tai ương ắt có thừa). Quan niệm này khiến con người nỗ lực hành thiện, tích góp công đức cho cuộc sống sau này của mình, thậm chí là con cháu đời sau. “Thiện ác hữu báo” cũng dựa trên cơ sở những quan niệm như “Trên đầu ba thước có Thần linh”, “Nhân gian thì thầm, Trời nghe như sấm; phòng tối tâm đen, Thần nhãn như điện” v.v..

Tin vào vận mệnh và báo ứng khiến con người nỗ lực hành thiện, xem nhẹ dục vọng, thuận Thiên mà hành, không vì cái khoái lạc trước mắt mà không lường tới hậu quả. Tư tưởng này càng khiến con người tin rằng trong cõi u mê có Thiên ý, “Nhân tâm sinh nhất niệm, Thiên địa tất tương tri, Thiện ác nhược vô báo, Càn khôn tất hữu tư” (Nhân tâm sinh nhất niệm, thiên địa đều biết rõ. Thiện ác nếu không báo, Càn khôn ắt hữu tư).

Với sự thay triều đổi đại, kể từ khi Trung Quốc có chữ viết tới nay đã không ngừng lưu lại dự ngôn về những sự kiện lịch sử lớn của đời sau, mức độ chuẩn xác của nó đã khiến con người vô cùng kinh ngạc và tán thán. Thiên mệnh quan “Phụng thiên thừa vận” này cũng là ngọn nguồn cho tính hợp pháp cầm quyền của vua chúa.

Trung Cộng lại phê phán “vận mệnh” và “báo ứng” là “mê tín phong kiến” và cấm diễn xuất tuyên truyền những vở kịch có chủ đề này. Căn cứ của nó là giả thuyết về “Thuyết vô Thần” và “Chủ nghĩa duy vật lịch sử” vốn không thể nào chứng thực được. Trung Cộng hiểu rất rõ một điều là nếu một người sợ bị báo ứng, người đó quyết không dám theo Trung Cộng hành ác mãi được.

3) Phê phán sự nhu thuận và nhẫn nhịn

“Nhu thuận lợi trinh, quân tử du hành” (Kinh Dịch) dùng quẻ “Khôn” để miêu tả đại địa. Đại địa có đức “nhu thuận”. Tính nhu thuận này không phải là cúi đầu nhẫn nhục một cách vô nguyên tắc, mà là thuận theo Thiên đạo mà hành.

Trong “nhu thuận” có đức “nhẫn nhượng”, “nhẫn một lúc sóng yên gió lặng, lùi một bước biển rộng trời trong.” Điển cố Hàn Tín chịu nhục chui háng đã lưu truyền hơn 2.000 năm, điều này đều phản ánh sự tôn sùng của người Trung Quốc với chữ “nhẫn”.

Trung Cộng lại cổ động đấu tranh, “Triết học của Đảng Cộng sản là triết học đấu tranh”, “Người nếu phạm ta, ta ắt phạm người”. Phương pháp giải quyết vấn đề không phải là thỏa thuận và đối thoại, mà là dựa vào bạo lực và trấn áp, và còn dám miêu tả sự báo thù thành lòng dũng cảm.

Tô Đông Pha từng nói, hễ chịu nhục lập tức rút gươm mà đấu với người khác, đây là kẻ thất phu, về cơ bản không xứng được gọi là người dũng cảm hay dũng cảm chân chính, vốn phải luôn giữ được bình tĩnh không kinh động cho dù đột nhiên đối mặt với sự xâm phạm. Hơn nữa dù cho gặp phải sự nhục mạ vô cớ cũng có thể khống chế sự phẫn nộ của bản thân, là vì tấm lòng bao la, tu dưỡng sâu dày, ý chí cao xa.

“Nhẫn” trong Văn hóa truyền thống là tự kiềm chế, khoan dung, không ghi nhớ sai lầm của người khác, chứ tuyệt đối không phải là nhu nhược, nhượng bộ một cách vô nguyên tắc.

Trung Cộng chủ trương “người nếu phạm ta, ta ắt phạm người” kỳ thực là bụng dạ hẹp hòi, thù vặt cũng quyết báo. Điều này rất phù hợp với cái tinh thần “đấu tranh” ấy. Kiểu suy nghĩ này khiến con người trong xã hội ân oán không dứt, ai cũng giống như kẻ địch, đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến mối quan hệ giữa con người ngày nay trở nên căng thẳng.

Người Trung Quốc nhìn thấy Càn là cương, Khôn là nhu, cương nhu bổ trợ, vạn vật đều thông suốt, là lĩnh ngộ được đạo hài hòa. Trong quan niệm truyền thống rất coi trọng chữ “hòa”. Ba đại điện trong hoàng cung, lần lượt được gọi là “Điện Thái Hòa”, “Điện Trung Hòa”, “Điện Bảo Hòa” đã phản ánh sự tôn sùng với sự hài hòa và hòa thuận.

Hiện nay những từ như “đối thoại”, “thương thảo”, “hợp tác” thường xuất hiện ngoài miệng người phát ngôn của Trung Cộng, những lời lẽ dối trá này là mặt khác của sự trấn áp. Những kiện gần đây như sự kiện Sán Vỹ, sự kiện Hán Nguyên, sự kiện mỏ dầu Thiểm Bắc và những cuộc trấn áp tàn khốc các nhân sỹ đi thỉnh nguyện, nông dân mất đất, những hộ phải di dời, công nhân mất việc, thực chất cũng chính là sự tiếp diễn của tinh thần đấu tranh, lợi dụng thảm sát để xây dựng “xã hội hài hòa giả tạo”. Mặt khác, do đấu tranh đã trở thành cột trụ chủ yếu để Trung Cộng dựa vào mà tồn tại, chỉ cần tìm được cách đối thoại và hòa giải, tự thân Trung Cộng cũng sẽ giải thể.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

4) Phê phán trật tự xã hội truyền thống

Trạng thái tự nhiên “Thiên tôn địa ti” trời cao đất thấp của người Trung Quốc và đối ứng về “Càn khôn” và “Âm dương” trong Kinh Dịch đã mở rộng ra một bộ lý luận về gia đình và xã hội, từ bộ luân lý này lại phát sinh ra trật tự xã hội.

“Tôn ti” (Cao thấp) là một phần quan trọng trong quan niệm truyền thống của người Trung Quốc. Theo Văn hóa truyền thống, “ti” không hẳn là chuyện xấu. Đạo gia vẫn luôn tôn sùng mỹ đức của nước, vì nước thường ở “chỗ thấp”. Phía “chỗ thấp” là phía được yêu mến và bảo hộ, phía “chỗ cao” là phía cần phó xuất. Nam mạnh, nữ yếu, nam cương, nữ nhu. Nhưng cương không nhất định có nghĩa là chuyện tốt. Đạo gia có cách nói “Binh cường tắc diệt”, “gỗ cứng tắc gãy”, “nhu nhược thắng cương cường”.

Trung Cộng vẫn luôn đảo lộn trật tự, khoác lác rằng muốn xây dựng một xã hội trong đó mọi người đều bình đẳng. Nhưng xã hội không tồn tại sự bình đẳng theo hàm nghĩa của Trung Cộng.

Trong cuộc sống xã hội, một quốc gia, xí nghiệp, đoàn thể hay gia đình, thường sẽ phải có người đi điều tiết một vài chuyện, có người đưa ra kế hoạch, có người chấp hành một cách cụ thể, đây là một trạng thái xã hội bình thường, cũng là do nhân tố tổng hợp về trí lực, thể lực của mỗi người quyết định. Còn Trung Cộng lại cực đoan hóa điều đó, miêu tả nó thành sự áp bức giai cấp và đấu tranh giai cấp. Cho nên Trung Cộng phải đảo lộn mọi tôn ti và trật tự, điều này thực tế là không thể làm được. Thứ gọi là “giải phóng” kỳ thực là tạo ra “sự hỗn loạn”.

Ví dụ như người đề xướng nam nữ bình đẳng cũng không thể phủ nhận rằng khi gặp phải tai họa, dịch bệnh, nạn đói, chiến tranh thì phụ nữ và trẻ em đều là những đối tượng được bảo vệ đầu tiên. Nếu đề xướng nam nữ bình đẳng, thì dường như phụ nữ nên nhận được sự đối đãi giống như đàn ông, điều này hiển nhiên là không đúng. Năm đó khi con tàu Titanic chìm xuống đáy biển thì phụ nữ và trẻ nhỏ là những người được ưu tiên lên tàu cứu hộ trước, dù là chồng của họ cũng phải cùng chìm xuống với con tàu như một nam tử hán. Không ai có dị nghị gì với quyết định này, điều này phản ánh rằng trong nơi sâu nội tâm của chúng ta không hề có sự bình đẳng tuyệt đối giữa nam và nữ.

Mở rộng ra trong cuộc sống xã hội, một xí nghiệp hay một quốc gia phải có người ra sách lược, quyết định của người ra sách lược phải được người thực thi chấp hành. Quân đội phải có tư lệnh, quan quân các cấp và binh sỹ bên dưới chịu trách nhiệm chấp hành mệnh lệnh. Nếu xét từ góc độ công tác xã hội, kỳ thực cũng tồn tại vấn đề “tôn ti”, nhưng “tôn ti” hoàn toàn không phải có nghĩa hiển nhiên là bóc lột và đàn áp, nó cũng cần có mối quan hệ đạo đức tốt đẹp là “nhân đạo” và “trung thành” ở giữa.

Mở rộng tới phạm vi gia đình, phụ “từ”, tử  “hiếu”, huynh “hữu –hữu hảo” đệ “cung – cung kính”, những luân lý truyền thống truyền tải sự hài hòa có trật tự của gia đình và xã hội một cách tự nhiên.

Còn nói về “công bằng” một cách căn bản chính là “chúng sinh bình đẳng” trong Phật Pháp, là “Thiên đạo vô thân” (Đạo trời không kể người thân) của Đạo gia, là “hữu giáo vô loại”(dạy dỗ không phân biệt loại người), là “trước mặt Thượng Đế mọi người đều bình đẳng” của phương Tây là bình đẳng về cơ hội, chứ tuyệt đối không phải sự bình đẳng về kết quả.

Những tuyên truyền lệch lạc của Trung Cộng về “bình đẳng” đã khiến xã hội vô cùng hỗn loạn, không còn tôn ti trật tự. Sự giải thích lệch lạc về “bình đẳng nam nữ” kỳ thực chính là sự bức hại đối với phụ nữ, ép buộc họ lao lực đảm đương những công việc không phù hợp với sức mình hoặc không phù hợp với phụ nữ. Ví dụ như trong cuốn sách “Quyết liệt triệt để với quan niệm truyền thống cũ” được Trung Cộng xuất bản vào tháng 04 năm 1976 đã liệt kê ra bài viết của 15 nữ thanh niên, trong đó nghề nghiệp mà các cô theo đuổi vốn dĩ nên do đàn ông gánh vác như công nhân đưa than, giết mổ, công nhân bốc xếp v.v.., “nắm chặt con dao mổ, có thể chịu đựng được cả nửa ngày” đã trở thành đối tượng được ca tụng.

Xã hội dưới sự thống trị của Trung Cộng đồng thời cũng là xã hội rất bất công bằng. Do Trung Cộng lũng đoạn mọi tài nguyên, nó tự xưng là công bộc của nhân dân, nhưng thực tế nhân dân đều bị coi như nô lệ, dù là quyền lợi chính trị hay quyền lợi kinh tế, giữa quan và dân hoàn toàn không hề có một chút bình đẳng nào để nói.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

5) Lấy tài sản làm căn cứ quan trọng để đo lường đạo đức

Mở chương đầu trong lịch sử Trung Quốc, “Ngũ Đế bổn ký” có ghi lại đức hạnh của Ngũ Đế, sự thừa nhận và tôn kính của người dân trăm họ với những đức hạnh này. Những đức hạnh này đã đi sâu vào lòng người, lưu truyền mấy nghìn năm, đồng thời từ vùng đất người Hán đã lan rộng khắp cả khu vực dân tộc thiểu số và những nước khác.

Trong quan niệm của người Trung Quốc, đạo đức và học thức là nguồn gốc của việc có được danh vọng và địa vị. Khổng Tử nói: “Đại đạo chi hành dã, thiên hạ vi công, tuyển hiền dữ năng, giảng tín tu mục” (Hành đại đạo, thiên hạ là của chung, tuyển người hiền tài, dạy điều tín, ăn ở hòa thuận), nhân phẩm của một con người trở thành tiêu chí quan trọng để tuyển chọn quan lại. Thời Hán thịnh hành chế độ Sát cử (quan sát, khoa cử), tiêu chuẩn để được tiến cử là phải có những phẩm chất như “đức hạnh cao, chí tiết thanh bạch; học thông và biết làm theo; am hiểu các kinh sách, hiểu rõ pháp lệnh, giải được nguy nan….“ ngoài ra còn phải có những mỹ đức như “chất phác, đôn hậu, khiêm nhường, tiết kiệm”. Đến thời Ngụy Tấn, quan phủ thực thi chế độ Cửu phẩm trung chính, đạo đức cũng trở thành một nhân tố quan trọng để tuyển chọn quan lại. Đến thời Tùy Đường mở khoa thi tìm sỹ tử thì cũng giống như vậy, trình độ lý giải đối với đạo đức của Nho gia là điều kiện tiên quyết để những người ứng thi có thể viết ra những bài văn hay từ đó mà bước lên con đường của kẻ sĩ.

Đến khi Trung Cộng xây dựng chính quyền, những vị thân sĩ nông thông, trưởng các phường hội và phần tử tri thức đức cao vọng trọng ngược lại lại trở thành đối tượng bị đàn áp và đả kích, còn một người xuất thân có phải là “bần hàn khốn khó – thành phần ‘trong sạch’ ” hay không mới là nhân tố quan trọng nhất xét xem liệu có được nắm giữ nguồn tài nguyên của xã hội hay không. Đạo đức của mỗi người vốn quyết định bởi tư tưởng và hành vi của người đó. Còn tới lượt Trung Cộng, đạo đức trở thành một tiêu chí mang tính quần thể của giai cấp. “Ai nghèo người đó vinh quang, ai giàu người đó chỉ bằng loài vật”. Nghèo khó đã trở thành đại diện cho tính chính xác và chính nghĩa của tạo hóa, đại diện cho những người bị bức hại, đại diện cho việc “làm phản có lý”, đại diện cho cách mạng kiên quyết nhất, triệt để nhất”.

 
Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Sự bần hàn và phú quý của một người vốn bất định, cũng có thể vì chăm chỉ chịu khó và nắm bắt được cơ hội mà thành giàu có, cũng có thể vì hoang phí mà khuynh gia bại sản, cũng có thể ai đó ruộng vườn rộng lớn, nhưng vài năm sau đó lại phải đi xin ăn. Nhưng Trung Cộng thực thi “một nhát dao” mà phân chia giai cấp kể từ ngay thời khắc nó cướp đoạt chính quyền đó.

Thù hận sự giàu có đã khiến người Trung Quốc mấy chục năm nay đều lấy nghèo khó làm vốn mà coi thường người khác. Mặt khác khi Trung Quốc đánh đổ một người nào đó, chỉ cần gọi những người này là địa chủ hay nhà tư bản, còn lại không cần phải tốn lời, giàu có đại diện cho “bóc lột”, đại diện cho “trấn áp”, đại diện cho “tội ác”.

Mấy chục năm sau, Đảng Cộng sản bản thân nó lại điên đảo càn khôn mà hiệu triệu mọi người thi nhau làm giàu. Con người ngày nay không còn coi giàu có là tội ác, ngược lại cho rằng nghèo khó mới đáng xấu hổ. Lúc này nhận định một người tốt hay xấu, thành công hay không cũng không liên quan gì tới đạo đức, mà là đo lường bằng mức độ giàu có của con người, ai có tiền người đó có bản lĩnh, dù cho đồng tiền này là ăn trộm, ăn cướp, lừa lọc, tham ô nhận hối lộ mà có hay bán thân xác hoặc bán đứng linh hồn mà có được. Kết quả của việc “Cười người nghèo, không cười kỹ nữ” đã khiến mọi người càng không từ thủ đoạn tìm kiếm tiền tài, sau đó là chìm đắm trong sắc và thanh (tiếng nói và ngoại hình của con người), lấy thân phận là người được hưởng những đặc quyền đặc lợi mà thừa nhận sự thống trị của Trung Cộng.

6) Những quan niệm bị phê phán khác

Những phê phán của Trung Cộng thường là những phê phán không có lý trí, mà biến việc phê phán tư tưởng thành công kích người khác. Sau đó dùng những tà thuyết lệch lạc như “Những điều kẻ địch phản đối thì chúng ta ủng hộ, những điều mà kẻ địch ủng hộ thì chúng ta phản đối” nhằm nhất loạt mắng chửi tư tưởng của người bị phê bình. Còn kiểu công kích người có tư tưởng kia lại chỉ là chụp lên những cái mũ như “giai cấp chủ nô”, “giai cấp địa chủ”, “giai cấp tư sản”, “tu chỉnh chủ nghĩa” một cách vô cùng đơn giản mà thôi.

Thông qua việc vu khống Khổng Tử, Trung Cộng còn theo đó mà phủ định luôn tư tưởng “Trung dung”, “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín”, “Khắc kỷ phục lễ”, “Ôn lương cung kiệm nhường” (Ôn hòa, lương thiện, cung kính, tiết kiệm, khiêm nhường) của Nho gia. Rất nhiều người khi nhìn thấy những chữ này, họ không nghĩ tới nội hàm của bản thân nó, mà là nghĩ tới tuyên truyền ầm ỹ, chụp mũ rợp trời rợp đất, báo chữ to, cho đến kết cục bi thảm của người bị người bị phê phán, từ đó vì sợ hãi mà phải tự giác “vạch rõ đường ngăn” với những tư tưởng này.

Nho gia giảng “nhân” chính là quan tâm tới người khác, “Kỷ sở bất dục, vật thi vu nhân” (Những điều mình không thích thì đừng nên làm cho người khác). Việc phê phán chữ “nhân” dẫn đến “Kỷ sở bất dục, yếu thi vu nhân” (Những điều mình không thích thì phải làm cho người khác).

Người Trung Quốc tôn sùng “Trung dung”. “Trung dung” tuyệt đối không phải là “ba phải”, dối trá, được lợi từ cả hai bên, hai mặt, mà nghĩa gốc của nó là “Thường thủ trung đạo” (Thường giữ mình ở trong đạo), tức là thuận theo Thiên mệnh, “không được xa rời dù chỉ một lát”. Trong đó còn bao hàm cả phương thức học tập “Bác học chi, thẩm vấn chi, thận tư chi, minh biện chi, đốc hành chi” (Học cho nhiều, hỏi cho sâu, suy nghĩ cẩn trọng, phân biệt cho rõ và dốc lòng thực hiện), xử lý tốt mối quan hệ “Quân thần, phụ tử, vợ chồng , côn đệ (anh em), bằng hữu”, đạt đến “chí đức”, hoàn toàn là đạo tu thân trị quốc. Còn Trung Cộng lại hoàn toàn bẻ cong nghĩa vốn có của “Trung dung” thành những kẻ khuyển nho vì bảo hộ bản thân mình mà vứt bỏ nguyên tắc

Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

3. Nhồi nhét tà thuyết tư tưởng đấu tranh, cá lớn nuốt cá bé, kẻ mạnh sinh tồn

Năm 2005, Chu Thành Hổ, thiếu tướng của Trung Cộng, khi đối mặt với phóng viên tại Hồng Kông đã từng nói: Một khi Trung – Mỹ khai chiến, Trung Quốc “chuẩn bị tinh thần là tất cả những thành phố tại phía Đông Tây An đều bị tiêu hủy. Đương nhiên, người Mỹ ắt phải sẽ chuẩn bị sẵn sàng cho việc sẽ có cả trăm, hoặc hai trăm, thậm chí là nhiều thành phố hơn bị người Trung Quốc san phẳng”. Đây chính là một phản ánh điển hình của tư tưởng đấu tranh trong Văn hóa đảng. Trên thực tế việc đấu tranh và đổ máu trong Văn hóa đảng đã trở thành thường lệ; còn hòa hợp, bao dung lại là bất bình thường, vì theo Chủ nghĩa Marx, những thứ này bị cho là thiếu “tính cách mạng”.

Logic sinh tồn dưới sự chỉ đạo của tư tưởng đấu tranh chính là vì phát triển, vì sinh tồn, tất yếu sẽ phải hy sinh. Đương nhiên người bị hy sinh đầu tiên là những kẻ yếu thế không có năng lực, cũng không có quyền được lựa chọn một cách tự do. Thiếu tướng Chu dù không nói rõ khi Trung – Mỹ khai chiến y sẽ ở nơi nào, nhưng có thể khẳng định rằng, “rường cột quốc gia” như Chu tự nhiên sẽ có nhiều lựa chọn tự do hơn những dân thường áo vải. Hà Tộ Hưu, kẻ mà những năm đầu nhờ cổ động “tính giai cấp của khoa học tự nhiên” được Giám đốc Sở Khoa học thuộc Bộ Tuyên truyền Trung Quốc khen thưởng, sau đó lại nhờ vào sức truyền bá của tạp chí “Cờ đỏ” mà trở thành Viện sĩ Viện Khoa học Trung Quốc, trong một cuộc phỏng vấn vào cuối năm 2005 khi nhắc đến việc liên tiếp xảy ra các vụ tai nạn mỏ khai khoáng ở Trung Quốc đã buột miệng nói rằng: “Ai bảo anh bất hạnh mà sinh ra ở Trung Quốc?” “Trung Quốc cần phát triển, một vài sự trả giá là không thể tránh khỏi.” Kỳ thực một bộ phận những người trẻ Trung Quốc cũng đối đãi như vậy với những bất hạnh và khổ nạn của nhân dân tầng thấp tại Trung Quốc. Đại khái là bản thân họ cũng giống “Viện sỹ Hà”, “Thiếu tướng Chu” tự coi mình là tinh anh và hoàn toàn không định coi mình là cái giá phải trả của sự phát triển.

Tư tưởng đấu tranh trong Văn hóa đảng trải qua mấy chục năm nhồi nhét của Trung Cộng, từ lâu đã không chỉ hạn chế trong lĩnh vực chính trị mà còn xuyên suốt mọi lĩnh vực trong đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội của Trung Quốc. Tư tưởng đấu tranh này, nói trắng ra chính là ứng dụng Thuyết tiến hóa của Đác-uyn vào xã hội nhân loại, chủ trương “cá lớn nuốt cá bé, kẻ mạnh sinh tồn”. Nó tôn sùng luật rừng xanh của động vật. Theo nguyên tắc này, đúng và sai, thiện và ác đều không quan trọng, điều quan trọng là không từ thủ đoạn giành chiến thắng trong cạnh tranh, dù là quan trường, thương trường hay tình trường.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Trong một xã hội cổ động đấu tranh sinh tồn, cá lớn nuốt cá bé, tôn sùng tính lang sói, giữa người với người tất nhiên sẽ tranh đấu, cắn xé, lòng đầy nghi kỵ một cách căng thẳng. Điều này cũng không khó để lý giải khi thuốc giả, rượu giả, xì dầu giả, gạo cao lương có độc, phở có độc, dưa có độc ngập tràn toàn xã hội, còn có thịt tiêm nước, dầu làm từ nước cống, sữa bột thiếu dinh dưỡng v.v.. Không chỉ văn bằng làm giả dễ dàng, cầu, đập nước cũng có thể làm giả, thậm chí kết hôn rồi còn không dám tin vào hôn nhân, phụ nữ thì sợ bị chồng phản bội, đàn ông thì hoài nghi đứa bé không có quan hệ huyết thống với mình… còn thấy chết mà không cứu, dậu đổ bìm leo đều đã thành những điều quen thuộc. Thật khó tưởng tượng một xã hội “phát triển” khi phải trả một cái giá đắt như vậy có thể đưa dân tộc đi đến cường đại được.

1) Mục đích Trung Cộng nhồi nhét tư tưởng đấu tranh

Trong tác phẩm “Trại súc vật” nổi tiếng của George Orwell, một bầy súc vật không chịu nổi sự “bóc lột” của con người mà vùng lên làm cách mạng tạo phản, cuối cùng đã đuổi được con người và thành lập một “Trại súc vật” do mình làm chủ. Chú heo, lãnh tụ dẫn đầu bầy động vật tiến hành “cách mạng” không lâu sau đó được hưởng đặc quyền một mình hưởng thụ sữa bò và táo. Khi đối diện với sự nghi ngờ của những loài động vật khác vì ôm giữ ý niệm “tất cả các loài động vật đều bình đẳng như nhau” mà tham gia cách mạng, Squealer (chú heo phụ trách tuyên truyền) giải thích rằng: “Chúng tôi ăn những thứ này mục đích duy nhất là phải giữ gìn sức khỏe cho chúng tôi. Toàn bộ việc quản lý và tổ chức công việc trong khu vườn đều dựa vào chúng tôi. Chúng tôi vì hạnh phúc của mọi người mà ngày đêm tận tâm tận lực. Do đó, điều này là vì các bạn, chúng tôi mới uống sữa bò và mới ăn táo. Các bạn có biết không, lỡ khi loài heo chúng ta mất chức, vậy chuyện gì sẽ xảy ra? Jones sẽ quay trở lại! Đúng vậy Jones sẽ quay trở lại xâm lược! Đúng vậy đấy, các đồng chí!” Jones vốn là ông chủ của khu vườn, tức là kẻ thống trị của ‘xã hội cũ’. Dù cho một vài loài động vật cá biệt còn mơ hồ nhớ rằng khi Jones còn ở đây tình hình cuộc sống của các loại động vật hầu như không kém hơn so với hiện giờ, nhưng theo sự tuyên truyền ngày qua ngày, vì nỗi sợ hãi Jones sẽ quay trở lại đã ăn sâu vào đầu mỗi loài động vật như một phản xạ có điều kiện, do đó mọi người không còn lời nào để nói về đặc quyền của heo。Rất nhanh, đặc quyền của heo ngày càng nhiều. Mặt khác, làm thế nào để phòng việc Jones quay trở lại “cái tâm quên mình không dứt”, đặc biệt là sự câu kết giữa kẻ đồ tể cùng Jones và những động vật “phản đồ” phá hoại sự kiến thiết của khu vườn, đã trở thành một nội dung quan trọng trong cuộc sống thường nhật của các loài động vật. Đối mặt với “đại sự hàng đầu” như vậy, những bất mãn và ý kiến bất đồng khác đã trở thành chuyện vặt vãnh không quan trọng. Hơn nữa, luôn luôn “đề cao cảnh giác”, “chuẩn bị chiến đấu” đã trở thành một nội dung quan trọng bậc nhất vượt qua mọi điều trong cuộc sống của cộng đồng.

Orwell đã dùng hình thức một câu chuyện ngụ ngôn để miêu tả một cách giàu hình tượng và sâu sắc về bản chất của triết học đấu tranh mà kẻ thống trị cổ xúy: Bằng cách tạo dựng và duy trì hình tượng kẻ thù trong tâm trí người ta mọi lúc, bằng cách nhấn mạnh sự nguy hiểm của kẻ thù trong mọi thời điểm, đã khiến cho người ta buộc phải “tạm thời nhẫn nhịn” mọi hành vi bạo ngược của kẻ thống trị, cho rằng loại hành vi bạo ngược này xuất phát từ một nguyện vọng tốt đẹp, và cuối cùng sẽ mang lại hạnh phúc cho mọi người. Còn kiểu đấu tranh này mãi “lâu dài, phức tạp, gian nan”, cho nên sự “tạm thời nhẫn nhịn” này của mọi người sẽ mãi không có điểm dừng.

Là người Trung Quốc, chúng ta đều rất quen thuộc với loại “nguy hiểm” tồn tại mọi thời mọi khắc, loại “nguy hiểm” này đến từ “một nhóm nhỏ đặc vụ”, đến từ “một nhóm nhỏ địa chủ, kẻ giàu có, phản cách mạng có ý đồ lật đổ thiên hạ”, “một nhóm nhỏ những phần tử cánh hữu điên cuồng tấn công Chủ nghĩa xã hội”, đến từ “một nhóm nhỏ phái đương quyền đi theo con đường Chủ nghĩa tư bản”, đến từ “một nhóm nhỏ những kẻ cúng bái quỷ thần” v.v.. Những kẻ địch nguy hiểm này đã từng là bạn thân, bạn tốt, trưởng bối, sư phụ, hàng xóm láng giềng của chúng ta. Theo sự chỉ dẫn của học thuyết đấu tranh “một mất một còn” của Trung Cộng, từng nhóm nhỏ, từng nhóm nhỏ của chúng ta bị “tiêu hủy”, tính ra ít nhất cũng đã có tới 40 triệu người Trung Quốc mất mạng một cách bất thường.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Cùng với sự trôi chảy của thời gian, cùng với sự sụp đổ của Chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới, ngày nay Trung Cộng đã không thể giải thích rõ ràng với nhân dân rằng “những kẻ thù của nhân dân” lúc đó rốt cuộc nguy hiểm ở chỗ nào? Nhưng một cách vô thức mọi người phát hiện “nguy hiểm” mới lại đến từ những gì ở ngay bên cạnh mình, trong ý thức của dân chúng, đấu tranh vẫn là điều tất yếu. Chỉ là tội danh “kẻ thù nguy hiểm” như ngày nay đã đã dần dần từ tên gọi “phản đảng, phản xã hội chủ nghĩa” đã lỗi thời đổi thành những cái tên mới như “đe dọa an ninh quốc gia”, “lật đổ chính phủ”, “thế lực phản Hoa”, “theo đuổi hoạt động tôn giáo” v.v..

Đây chính là kết quả của tư tưởng đấu tranh mà Trung Cộng nhồi nhét vào đầu óc nhân dân suốt mấy chục năm qua. Trên thực tế, cùng với việc Văn hóa truyền thống bị lật đổ, bị bôi nhọ, cùng với những giá trị quan truyền thống về thiện ác mà người Trung Quốc kế thừa xuyên suốt mấy nghìn năm qua, Trung Cộng đã bắt đầu nhồi nhét những giá trị quan về đúng sai của Văn hóa đảng. Một trong những hạt nhân của giá trị quan này chính là triết học đấu tranh “cá lớn nuốt cá bé, kẻ mạnh sinh tồn”.

Thế giới quan của Đảng Cộng sản được xây dựng trên lý luận đấu tranh giai cấp, tư tưởng triết học của nó là phương pháp biện chứng duy vật. Nó (ĐCSTQ) ủng hộ tính mâu thuẫn, tính đối lập, tính đấu tranh của thế giới; ủng hộ thông qua đấu tranh nội bộ, từ thay đổi lượng đến thay đổi chất của sự vật, sự vật phát triển và chuyển hóa từ cấp thấp lên tới giai đoạn cao hơn. Tư tưởng này ứng dụng vào lịch sử nhân loại là cái gọi là Chủ nghĩa duy vật lịch sử, tức là lịch sử phát triển của xã hội là một bộ lịch sử đấu tranh giai cấp; hạt nhân của đấu tranh là chính quyền quốc gia. Chính quyền quốc gia có được nhờ vào bạo lực, đồng thời cũng được vận hành và duy trì bằng bạo lực. Nói trắng ra, nhờ ứng dụng học Thuyết tiến hóa của Đác-uyn vào xã hội nhân loại, thông qua hình thức đấu tranh tàn khốc này, cuối cùng các giai cấp đều theo cái gọi là “cá lớn nuốt cá bé”, kẻ mạnh (còn gọi là “giai cấp tiên tiến”) sinh tồn.

Trung Cộng, kẻ cướp chính quyền và nắm quyền thống trị bằng bạo lực, nhằm dán nhãn “chính quyền hợp pháp” cho mình, vẫn luôn nói “lịch sử đã lựa chọn Đảng Cộng sản Trung Quốc”, còn nhân dân quyết định lịch sử, cho nên đây là sự lựa chọn của nhân dân. Trung Cộng nói “lịch sử đã lựa chọn” mình, logic mà hàm chứa trong đó là “cá lớn nuốt cá bé, kẻ mạnh sinh tồn”. Bởi vì Trung Cộng tạo phản thành công mà kẻ thắng lợi đại diện cho “trào lưu phát triển của lịch sử”. Đây chính là một trong những nguyên nhân mà Trung Cộng nhiệt liệt nhồi nhét vào đầu người dân học thuyết đấu tranh của mình. Điều đáng tiếc là không nghi ngờ gì có thể thấy tà thuyết xáo trộn thị phi, đảo lộn nhân quả như vậy cũng đồng nghĩa với việc người Hán tại Trung Nguyên hơn 300 năm trước “đã lựa chọn” cho dân tộc Mãn xâm chiếm và thành lập triều Thanh, hơn 700 năm trước người Hán “đã lựa chọn” Mông Cổ xâm lược. Lịch sử nắm quyền của Trung Cộng cũng mới chỉ có hơn 50 năm, nói lịch sử lựa chọn có phần hơi sớm.

Tư tưởng phép biện chứng hoàn toàn không phải do Marx sáng lập. Bản thân Marx cũng thừa nhận rằng phép biện chứng của mình bắt nguồn từ Hegel, còn tư tưởng của người đời sau lại được gợi mở từ tư duy biện chứng của Trung Quốc cổ đại. Kỳ thực “Kinh dịch”, Bát quái, “Hà đồ”, “Hoàng đế nội kinh”, “Binh pháp Tôn Tử” của Trung Quốc cổ đại, không gì là không mang đầy trí huệ của tư duy biện chứng. Một bộ “Kinh Dịch” chính là thông qua 64 quẻ, triển hiện một cách chi tiết tường tận về mối quan hệ chế ước lẫn nhau, chuyển hóa và dựa vào nhau cùng tồn tại của hai chủng nhân tố đối lập tại tầng thứ vũ trụ, trong sự vật mà con người có thể nhận thức đến được, từ đó có thể suy diễn được quy luật phát triển của sự vật. Ở đây không chỉ trình bày những nhân tố như biến hóa động tĩnh, âm dương tăng giảm, ngũ hành tương sinh tương khắc trong sự vận động, phát triển của sự vật, còn miêu tả quá trình phát triển hoàn chỉnh của sự vật từ “tiềm long vật dụng”, “kiến long tại điền” cho tới sau cùng là “phi long tại thiên”, “kháng long hữu hối” (Quẻ Càn, Kinh dịch), hơn nữa còn có quy luật biến đổi bác phục tuần hoàn, bĩ cực thái lai. Mối quan hệ phổ biến, sự biến đổi phát triển, lượng biến chất biến, chất và lượng thay đổi lẫn nhau, phủ định của phủ định của sự vật mà Marx miêu tả trong phép biện chứng duy vật chẳng qua chỉ là một cách đề cập khác mà thôi. Còn trong Chu dịch không chỉ miêu tả định tính, mà còn nắm chắc được định lượng. Dựa trên cơ sở của Chu dịch, Trung y vận dụng vào thực tế nghiên cứu về nhân thể, binh pháp cổ đại vận dụng vào quân sự càng thể hiện một cách cụ thể trí huệ cao siêu của phương Đông cổ đại.

Về cái gọi là “phát triển” trong phép biện chứng của Marx chẳng qua là đặc biệt cường điệu và thổi phồng tính đấu tranh, cường điệu hóa mặt xung đột, đối lập của mâu thuẫn. Marx chủ trương “sự thống nhất của những mặt đối lập” là có điều kiện, là tạm thời, nhanh chóng qua đi và mang tính tương đối, còn sự đấu tranh của những mặt đối lập bài xích lẫn nhau là tuyệt đối.” Cho nên những nhà lý luận của Đảng Cộng sản cho rằng tính đấu tranh chính là “linh hồn cách mạng” của phép biện chứng chủ nghĩa Marx. Lấy đó làm cơ sở thì, biện pháp xử lý mâu thuẫn trong xã hội là chỉ có đấu tranh, thông qua đấu tranh mà tiêu diệt mặt đối lập. Phép biện chứng duy vật của Marx sở dĩ nhiệt tình cường điệu tính đấu tranh, kỳ thực là vì tạo căn cứ lý luận cho việc Đảng Cộng sản dùng bạo lực cướp đoạt chính quyền. Còn Chủ nghĩa duy vật lịch sử cho rằng, đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội giai cấp, bạo lực cách mạng là bà đỡ của “xã hội mới”, tô vẽ cho bạo lực cướp đoạt chính quyền thành nhân tố tiến bộ của xã hội. Mao Trạch Đông nói: “Nghìn điều vạn ý trong đạo lý chủ nghĩa Marx, suy cho cùng chính là một câu: ‘Tạo phản có lý’.” Câu này thực tế đã điểm đúng chỗ. Chính vì vậy, Văn hóa đảng hiếu chiến khát máu cũng chính là căn nguyên của những biến động bất an, xung đột liên miên của những quốc gia do Đảng Cộng sản nắm cực quyền.

2) Nhồi nhét trong đấu tranh chính trị

Trung Cộng nên cơ nghiệp nhờ vào triết học đấu tranh, cũng duy trì thống trị nhờ vào triết học đấu tranh. Trên thực tế, chính là trong những cuộc đấu tranh chính trị liên miên không dứt hết lần này đến lần khác do Trung Cộng phát động, tư tưởng đấu tranh trong đầu óc dân chúng không ngừng mạnh lên. Điều này cuối cùng đã khiến dân tộc Trung Hoa vốn coi trọng đạo Trung dung, tuân theo lẽ dĩ hòa vi quý, trở thành mọi người đều đành phải coi đấu tranh như trạng thái bình thường của xã hội, coi sự cảnh giác tràn ngập giữa người với người như một trạng thái bình thường, coi việc kẻ tranh người đoạt, kẻ lừa người dối là đạo sinh tồn trong cạnh tranh xã hội.

 


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Năm 1951, khi Trung Cộng vừa thành lập, mới đứng vững đã bắt đầu cái gọi là cuộc vận động “cải tạo tư tưởng” dành cho tri thức phần tử. Việc phê phán bộ phim “Vũ Huấn truyện” [1] chính là mở màn của cuộc vận động “cải tạo tư tưởng” sau khi Trung Cộng cướp chính quyền thành công. Cuộc vận động này quả thực đã đạt được tác dụng cải tạo tư tưởng của phần tử trí thức theo kỳ vọng của Mao. Từ đó tư tưởng của người Trung Quốc đã phát sinh biến dị to lớn, từ đây mọi người cho rằng tiêu chuẩn đo lường thiện ác chỉ có một, đó chính là “đấu tranh giai cấp”. Vũ Huấn thời cuối nhà Thanh phải ăn mày mở lớp học, dù cho cả một đời chịu đựng hết thảy khuất nhục, tiết kiệm ăn mặc chỉ vì muốn mở trường nghĩa học để những đứa trẻ con nhà bần hàn có thể đi học, nhưng chính vì ông “căn bản không hề động tới cơ sở của nền kinh tế phong kiến và một sợi lông của kiến trúc thượng tầng của nó, nhưng lại điên cuồng tuyên truyền văn hóa Phong kiến” (trích lời Mao Trạch Đông), “đứng nhầm” lập trường giai cấp mà bị Trung Cộng đánh đổ, bôi nhọ; Hải Thụy [2] triều Minh không sợ quyền thế công bằng chấp pháp, một than chính khí, trong sạch liêm khiết, dù trong lịch sử được bách tính tôn kín và yêu mến, nhưng vì Hải Thụy thuộc về “giai cấp bóc lột”, “là kẻ bảo vệ trung thành cho lợi ích giai cấp địa chủ” cho nên Trung Cộng cho rằng tất cả những chuyện tốt đẹp mà ông làm cho người dân đều là vì “duy hộ giai cấp thống trị”, do đó mà ngay khi cuộc Cách mạng Văn hóa mới bắt đầu đã bị đánh đổ, bôi nhọ. “Nghĩa trang liệt sỹ không quân” tại Nam Kinh mà Chính phủ Quốc dân, an táng hơn 100 liệt sỹ không quân đã hy sinh trong chiến tranh kháng Nhật tại khắp nơi trên toàn Trung Quốc, các giảng viên của Mỹ, phi hành viên Liên Xô đã hiến thân trong cuộc chiến tranh Trung Quốc kháng Nhật. Nhưng vì sinh mệnh của họ chiến đấu cho “chính phủ phản động” nên khi cuộc Cách mạng Văn hóa mới bắt đầu, hồng vệ binh của Mao Trạch Đông đã mở nắp những ngôi mộ, đập phá mộ của các liệt sỹ. Toàn bộ hài cốt các vị liệt sỹ bị quăng quật phân tán khắp nơi.

Đối với Đảng Cộng sản mà nói, tính đấu tranh là tính cách mạng. Sự tồn tại của mâu thuẫn và xung đột là chuyện tốt chứ không phải chuyện xấu. Bởi vì chúng là “hạt giống cách mạng”, còn lịch sử chính là trong đấu tranh mà tiến lên (nhưng Trung Cộng ngày nay lại bắt đầu sợ nhân dân dùng từ cách mạng). Nhưng tính đấu tranh hoàn toàn không phải là bản tính tiên thiên của con người, cho nên Đảng Cộng sản cho rằng “sự giác ngộ cách mạng” của quần chúng cần phải được gợi mở, phải “giáo dục” không ngừng để nâng cao “giác ngộ cách mạng” của họ, và vì đó mà không từ mọi thủ đoạn cố ý gây ra mâu thuẫn và xung đột.

Ví như “Bạch Mao Nữ” vốn là một vị tiên cô khuyến thiện trừ ác trong truyền thuyết dân gian, thì nhằm “giáo dục” nhân dân mà Trung Cộng dựng thành điển hình của giai cấp bị bóc lột “khổ lớn thù sâu”. Do tính kích động của tư tưởng báo thù xuyên suốt vở kịch quá mạnh “Thù nghìn năm phải báo, Oán nghìn năm phải đòi” mà đã xảy ra chuyện binh sỹ ngay khi đang xem diễn kịch đã suýt nữa đã dùng súng đánh chết “Hoàng Thế Nhân”.

Cho nên cái gọi là “gợi mở sự giác ngộ giai cấp”, cái gọi là “bồi dưỡng cảm tình giai cấp” trên thực tế chính là nhồi nhét tư tưởng đấu tranh, tuyên truyền thù hận. Trước kia Trung Cộng đã không hề giấu giếm mà tuyên truyền rằng: “nợ máu phải trả bằng máu”, “thù hận nhập tâm phải nảy mầm”, “khắc ghi lịch sử máu và nước mắt, không quên thù giai cấp”. Cùng với sự mở cửa của đất nước, việc tuyên truyền thù hận vốn bị phỉ nhổ một cách phổ biến trong những xã hội văn minh nên Trung Cộng không còn dám tuyên truyền một cách ngang nhiên, trắng trợn như trước. Mặc dù Trung Cộng không còn làm cái thứ như “thống thuyết gia sử” (kể chuyện lịch sử đau khổ nước nhà), “Ức khổ tư điềm” (nhớ nỗi đắng cay ngọt bùi), nhưng điều này không có nghĩa là Trung Cộng vứt bỏ thủ đoạn này, mà nó thay đổi bộ mặt mới, và lợi dụng khoa học kỹ thuật nhằm ngụy trang một cách tinh tế. Ví như ngày 14 tháng 8 năm 2001, Tổ chức Phát triển Giáo dục Quốc tế đã chính thức phát biểu trong Hội nghị Liên Hợp Quốc chỉ ra cái gọi là “Vụ tự thiêu Thiên An Môn” mà Trung Cộng tuyên truyền lặp đi lặp lại chính là một trò lừa bịp được che đậy một cách tinh tế, mục đích của nó là kích động thù hận của nhân dân với Pháp Luân Công.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Trong hết cuộc vận động này đến cuộc vận động khác trong lịch sử, trong làn sóng tuyên truyền hết lớp này đến lớp khác của Trung Cộng, con người đã không tự biết mà bị lấp đầy bởi “nỗi hận thấu xương” với những kẻ thù mà Trung Cộng khoanh ra, những kẻ địch này là “địa chủ”, “nhà tư bản”, “phú nông”, “phản cách mạng”, “cánh tả”, “đi theo Chủ nghĩa tư bản”, “phần tử dân vận”, “phần tử tà giáo”…. “Giác ngộ cách mạng” chính là thể hiện nỗi hận thấu xương với “kẻ thù”, học tập tinh thần của Lôi Phong: phải vô tình tàn khốc với kẻ thù như mùa đông lạnh giá, đây gọi là “cảm tình giai cấp”, nó vượt qua mọi thứ tình cảm của nhân loại. Mao Trạch Đông nói: “Đánh ai cũng cần tiến hành phân tích giai cấp, người tốt đánh người xấu là đáng kiếp, người xấu đánh người tốt, người tốt quang vinh; người tốt đánh người tốt là hiểu lầm.” Những lời này của Mao đã được lưu truyền rộng trong “Hồng vệ binh” thời Cách mạng Văn hóa. Dù cho là bạo lực với “kẻ thù giai cấp” thì là họ “đáng kiếp”, cho nên bạo lực và máu tanh đã nhanh chóng trải khắp mảnh đất Trung Nguyên rộng lớn.

Theo cảm tình giai cấp của “người cách mạng”, Lưu Thiếu Kỳ đã dám phản đối “đại cứu tinh” của nhân dân, thì ông “chết chưa hết tội”. Dù cho Trương Chí Tân giúp Lưu Thiếu Kỳ, người “chết chưa hết tội” lật lại vụ án, bà đã bị lính cai ngục thay nhau cưỡng hiếp cũng là “đáng kiếp”, bị cắt đứt cuống họng, bị hành hình cũng là “đúng người đúng tội”. Tại đây hình tượng Lôi Phong “phải vô tình tàn khốc với kẻ thù” đã được miêu tả một cách chân thực.

Trong “Tháng Tám đỏ” [3] tại Bắc Kinh, những thầy cô giáo bị chính học sinh của mình tận tay giết chết. Có lẽ họ cũng không nghĩ được rằng đây chính những hạt giống mà bản thân họ đã vùi xuống khi họ làm theo yêu cầu của “đảng” dạy học sinh “phải vô tình tàn khốc với kẻ thù như mùa đông lạnh giá”, “tuốt roi da vụt kẻ thù”, khi dạy học sinh đối xử với kẻ thù giai cấp như thế nào cũng không coi là quá đáng.

Trong bối cảnh nhân dân đấu đá lẫn nhau, người người tranh giành nhau thể hiện tính giai cấp của mình, một người càng biểu hiện ra “sự thù hận thấu xương” càng chứng minh đó là người yêu ghét phân minh, giác ngộ giai cấp cao, còn ngược lại là người phải chịu nỗi hiềm nghi đáng sợ là “lập trường giai cấp không vững vàng”.

Sau khi người thân bị định là “kẻ thù của đảng” thì người nhà phải thể hiện rõ lập trường, không được hàm hồ. Sau khi Chương Bá Quân bị đánh hạ xuống thành cánh hữu, con trai, em gái của ông đều phát biểu bài viết trên báo lên tiếng phê phán ông. Sau khi một người khác là Trữ An Bình bị đích thân Mao Trạch Đông chỉ định là cánh hữu, con trai ông đã giáo huấn cha mình như sau: “Tôi xin nói với ngài Trữ An Bình một câu trung nghĩa: Hy vọng ngài kip thời kìm cương trước bờ vực, hãy chăm chú lắng nghe ý kiến của nhân dân, đào sâu nguồn cội tư tưởng phản Chủ nghĩa xã hội, triệt để đối đãi với vấn đề của bản thân mình, để tránh tự tuyệt với nhân dân.”

Vậy là, một mặt mọi người bị cưỡng ép nhồi nhét tư tưởng đấu tranh trong những cuộc tranh đấu hết lần này tới lần khác, mặt khác lại chính trong những lần tranh đấu “động chạm tới linh hồn” hết lần này đến lần khác, vì sinh tồn, mọi người bị ép buộc phải học được cách dùng cái vẻ lạnh lùng dày cộm để bọc lại lương tri của mình, “học” được rằng chỉ có đả kích, hãm hại người khác mới bảo toàn được chính mình, không ít người vì vậy đã nhận định rằng “cá lớn nuốt cá bé, kẻ mạnh sinh tồn” đã trở thành phép tắc của cuộc sống chân thực.

Trong bộ phim “Cánh diều màu xanh” bị Trung Cộng cấm trình chiếu có một tình tiết dựa trên một câu chuyện có thực: Phản hữu đã bắt đầu rồi. Đơn vị của Lâm Thiếu Long đến phiên phải đưa lên một chỉ tiêu cánh hữu, mọi người đành phải thảo luận quyết định cái mũ này nên chụp lên đầu ai, không hoàn thành chỉ tiêu thì đừng nghĩ tới chuyện tan họp. Nhưng Tiểu Long trong thời khắc quan trọng này lại đứng lên rời khỏi chỗ, ông muốn đi vệ sinh, đúng vào giây phút đó có lẽ ông cho rằng việc đi vệ sinh quan trọng hơn cuộc họp. Thế là đợi cho đến khi ông đẩy cửa về chỗ ngồi, ông đã được “tiến cử” là cánh hữu.

Nếu như trong các cuộc đấu tranh chính trị “một mất một còn”, mọi người đã được tôi luyện được sự nham hiểm – hoàn toàn vượt qua ranh giới đạo đức cuối cùng để dẫm đạp lên người khác nhằm bảo toàn bản thân, vậy thì ngày nay những hành vi “một mất một còn” như vậy trên thương trường, tham ô hủ bại, hàng giả, kém chất lượng, không chút do dự mà làm tổn hại người khác đã nhanh chóng tràn ngập khắp nơi cũng không có chút gì đáng kinh ngạc. Bởi vì căn cứ triết học của nó đều giống nhau, tức là “cá lớn nuốt cá bé, kẻ mạnh sinh tồn”.

Ngày nay mọi người đã quen với dùng việc có “thành công” hay không làm tiêu chuẩn duy nhất đo lường giá trị của một con người, mà không nói tới việc người đó đã dùng cách nào. Cho nên bám được “ông to”, “sếp lớn” là mục tiêu của phụ nữ, có gái đẹp vây bên mình là sự hãnh diện của đàn ông, trẻ nhỏ thi đỗ trường đại học nổi tiếng là hy vọng duy nhất của các bậc phụ huynh. Trong triết học tranh đấu này, “thành công” được xây dựng trên cơ sở “thất bại” của người khác. Tại đây không hề có lương tri và công lý, cũng chẳng có đúng và sai, thiện và ác, còn sót lại chỉ là thành và bại: thành công thì là điều tốt, thất bại thì là điều xấu. Cho nên mọi người đều muốn tranh làm “đại ca”. Những công xưởng máu và nước mắt đâu đâu cũng có nhưng đãi ngộ của dân công lại thảm hại đến mức không nỡ nhìn; hàng hóa nhiễm độc biến chất tràn ngập thị trường, “Vi phú bất nhân” (vì làm giàu mà bất nhân) đã được coi là điều đương nhiên. Những kẻ lộng quyền phạm pháp mà vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật thì được coi là có “chỗ chống lưng mạnh”, “quan hệ thép”. Dưới sự nhồi nhét tà thuyết “Cá lớn nuốt cá bé, kẻ mạnh sinh tồn” của Văn hóa đảng, người Trung Quốc đấu đá lẫn nhau, nghi kỵ lẫn nhau, cả xã hội giống như một mâm cát, một đám quần chúng không có sức đoàn kết lại càng tiện cho Trung Cộng thống trị chuyên quyền.

3) Quay trở lại với Đạo chung sống hài hòa

Năm 2005 “văn hóa sói” đã ngập tràn khắp Trung Quốc. Dõi theo cuốn sách “văn hóa sói” có tên “Linh hồn của Sói” có nói: “Không học theo sói không được sao? Không được. Vì sao vậy? Bởi vì trong thị trường cạnh tranh sinh tồn một mất một còn, kẻ thắng là vua, kẻ bại là giặc, nếu trong tâm giữ sự lương thiện, nhất mực từ tâm nương tay với đối thủ cạnh tranh, vậy thì sẽ bị đối phương nuốt sống một cách không kiêng dè gì.” Điều này có thể nói là đúc rút được tinh túy trong tư tưởng đấu tranh của Văn hóa đảng.

Tại đây, có một ví dụ có thể so sánh đối lập với tư tưởng phía trên. Thái độ hữu hảo của Lincoln, tổng thống nước Mỹ, với đối thủ chính trị đã gây ra sự bất mãn của một quan viên. Ông ấy phê bình Lincoln không nên nghĩ đến chuyện kết bạn với những người đó mà nên tiêu diệt họ. Lincoln nói rất nhẹ nhàng: “Khi biến họ trở thành bạn của chúng ta, lẽ nào tôi không phải là đang tiêu diệt kẻ thù hay sao?”

Người Trung Quốc có câu giáo huấn cổ xưa: “Hải nạp bách xuyên, hữu dung nãi đại” (Biển có thể chứa trăm sông, vì dung chứa được mà thành lớn). Vào thời nhà Đường – thời kỳ hưng thịnh nhất trong lịch sử Trung Hoa, tất cả những lĩnh vực như tư tưởng văn hóa, tiềm lực quốc gia, an ninh biên cương hầu như đều đạt đến đỉnh cao thịnh vượng, điều này không thể tách khỏi khí độ khoan dung bao hàm mọi thứ của văn hóa Đại Đường. Thời đầu nhà Đường từng nhiều năm bị Đột Quyết quấy rối phía Bắc, Đường Cao Tổ vì an ninh quốc gia đành phải xưng thần với Đột Quyết. Nhưng sau khi Đường Thái Tổ đánh bại Đột Quyết lại không hề đuổi cùng giết tận vì rửa nhục cho cha, mà ngược lại ông còn khoan hồng mà tin dùng hơn 100 tướng lĩnh đầu hàng của quân Đột Quyết, những người đã từng đối địch với Đại Đường, những người được phong làm tướng quân và trung lang tướng từ chức ngũ phẩm trở lên, chiếm gần nửa số quan võ trong triều. Đồng thời triều Đường còn cho phép người Đột Quyết đã quy hàng được chuyển tới Trung Nguyên. Cách làm này đã chiếm được sự tín nhiệm sâu sắc của các dân tộc thiểu số, thủ lĩnh của các dân tộc Tây Bắc cùng nhau xin vinh danh danh hiệu tôn kính “Thiên Khả Hãn” dành cho Đường Thái Tông. Trong lịch sử, Thổ Phiên (dân tộc Tạng ngày nay) từng là một trong những dân tộc du mục hung hăng hiếu chiến, đã từng chinh chiến với Trung Nguyên. Nhưng sau vài lần triều Đường chiến thắng Thổ Phiên, ngược lại ông còn cử công chúa Văn Thành đi kết thân. Công chúa Văn Thành truyền bá nông nghiệp và Phật giáo tới Thổ Phiên, trong suốt mấy chục năm sau đó, Thổ Phiên và Đại Đường chung sống hòa hợp, điều này không thể không nói là công giáo dục văn hóa mà thành. Một điều hiển nhiên là đuổi cùng diệt tận sẽ chỉ tăng thêm thù hận, khu vực biên cương vẫn không thể yên bình, chiến tranh vẫn sẽ xảy ra. Chính do chính sách khoan hồng của triều Đường với Đột Quyết, do áp dụng chính sách sắc phong với thủ lĩnh các dân tộc thiểu số như Hồi Hột, Túc Mạt, Mạt Hạt, Nam Chiếu và chính sách kết thân với Thổ Phiên mà ông dành được nhân tâm, cùng lúc mà có thể thu phục bốn bề, các nước chư thần về triều bái, ngay cả những nước xa xôi như Ba Tư, Chiêu Võ Cửu Tính, nước Vu Điền (Khotan) đều tự nguyện nộp đất làm một quận của triều Đường. Trong văn hóa, triều Đường tôn Đạo, lễ Phật, sùng Nho, tiến hành chính sách “Tam giáo” cùng tồn tại. Cũng chính từ sự khoan dung, từ hoàn cảnh tự do tư tưởng này, đã làm nên một nền văn hóa đồ sộ cho triều Đường.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Dân tộc Trung Hoa từ xưa tới nay đều coi trọng “Hòa vi quý”, tôn sùng đạo Trung dung. Tổ tiên chúng ta đã trao lại cho mình sứ mệnh lịch sử thần thánh là giáo hóa thiên hạ, cũng là điều gọi là “bình thiên hạ”. Về căn bản, muốn thực hiện lý tưởng “bình thiên hạ” thì điều phải nương nhờ không phải là võ công mà là văn trị (trị vì bằng văn hóa). Điều mà nó muốn thực hiện cũng không phải là bá đạo, mà là vương đạo. Cái gọi là “Cố viễn nhân bất phục, tắc tu văn đức dĩ lai chi” (Nếu người xa không phục thì tu văn đức để thu phục họ). Trong 5.000 năm lịch sử của Trung Hoa, dù là dân tộc Hoa Hạ cũng từng trải qua đủ loại tai nạn, nhưng trong quá trình đồng hóa những dân tộc xung quanh, cuối cùng kết tinh, dung hòa họ thành đại quốc văn hóa “toàn Trung Hoa”. Trong lịch sử dân tộc Mông Cổ, dân tộc Mãn đều từng xâm lăng thống trị Trung Nguyên, nhưng cuối cùng cũng bị văn hóa Trung Hoa đồng hóa, ngày nay dân tộc Mông Cổ, dân tộc Mãn đều trở thành một phần của dân tộc Trung Hoa. Hoàng Đế Khang Hy của triều Thanh đã tự nói là muốn làm một vị Hoàng Đế số 1 của Trung Hoa nghìn năm.

Văn hóa đảng không chỉ xẻ dọc chặt đứt trí huệ mà tổ tiên dân tộc Trung Hoa truyền thừa, đồng thời còn dùng thái độ thù địch mà đối đãi với văn minh ưu tú của phương Tây trên phương diện hướng ngang. Điều này khiến những người Trung Quốc chịu ảnh hưởng của nó chỉ có thể tin tưởng những luận điệu trong Văn hóa đảng như: “Quyền lực chính trị lớn lên từ nòng súng” (Mao), “Súng máy, đại pháo là những thứ có uy lực nhất” (Engels), “Lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bởi lực lượng vật chất” (Marx). Người Trung Quốc có câu cổ ngữ rằng “Có thể lập tức có được thiên hạ chứ không thể lập tức trị được thiên hạ”. Trong lịch sử những ví dụ về việc cướp chính quyền bằng báng súng không ít, nhưng dùng súng để đối phó với nhân dân, duy trì chính quyền và cuối cùng khiến dân chúng đấu đá lẫn nhau, khiến mỗi cá thể trong xã hội đều coi bạo lực là biện pháp đầu tiên để giải quyết mâu thuẫn, thì điều này sợ rằng là“sự sáng tạo độc đáo” của Trung Cộng.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Dù cho ngày nay Trung Cộng đã đề ra cái gọi là “xã hội hài hòa”, nhưng mục đích chân thực của nó, kỳ thực là hy vọng nhân dân tại giai tầng thấp trong xã hội đừng tiếp tục khiếu nại lên trên, đừng đi đấu tranh một cách hợp pháp cho quyền lợi nên có của mình, hy vọng nhân dân đừng đưa ra ý kiến phê bình đối với sự hủ bại của Trung Cộng. Mục đích căn bản vẫn là duy trì sự thống trị của Trung Cộng. Cái gọi là “hài hòa” được bao bọc bởi Văn hóa đảng chẳng qua chỉ là vì Trung Cộng cần tô vẽ cho bộ mặt của mình, hoàn toàn khác với “hòa vi quý” trong Văn hóa truyền thống.

Trên thực tế, áp dụng thủ đoạn bạo lực nhằm giải quyết mâu thuẫn xã hội của con người thì cuối cùng cái giá mà xã hội phải trả vẫn luôn lớn hơn lợi ích mang lại. Mấy chục năm đấu tranh đẫm máu đã tạo thành vết thương khó lành trong xã hội Trung Quốc. Hai bên có mâu thuẫn thì ngoài mối quan hệ đấu tranh một mất một còn, còn có thể biểu hiện quan hệ cộng sinh, quan hệ hài hòa, mà quan hệ đấu tranh là loại có tính phá hoại nhất. Những năm 60 của thế kỷ trước, Martin Luther King lãnh tụ lãnh đạo cuộc vận động dân quyền của Mỹ không hề dùng một khẩu súng một viên đạn mà lại đạt được quyền bình đẳng giữa người da đen, thậm chí cho đến tất cả người da trắng và người da màu, đã thay đổi lịch sử nước Mỹ. Mahatma Gandhi – người được tôn làm Quốc phụ của Ấn Độ đã dùng phương thức hòa bình lý tính để giành lại được sự độc lập cho dân tộc Ấn Độ, lưu lại cho nhân loại một điển hình nổi bật.

Sau cuộc công kích khủng bố ngày 11 tháng 09 tấn công Mỹ, một vài nơi đã xuất hiện những vụ án công kích và gây nhiễu loạn người di dân gốc Ả rập, nhà thời Hồi giáo tại Maryland bị người ta vẽ xấu lên. Graffiti, một cô giáo trung học bèn liên lạc với vài người bạn của mình đã đứng gác đêm cả một tuần cho những người dân Hồi giáo này bên ngoài nhà thờ Hồi giáo. Trung tâm Hồi giáo Ohio đã nhận được khoản tiền quyên góp của công dân nước Mỹ không phải người Hồi giáo, rất nhiều những người phụ nữ với màu da khác nhau, đã choàng khăn và đội khăn của người Hồi giáo bước ra đường, để thể hiện sự tôn trọng và ủng hộ những dân tộc với tín ngưỡng tôn giáo khác nhau và nền văn hóa khác nhau. Bốn ngày sau sự kiện ngày 11 tháng 9, một em học sinh người Hồi giáo chùm khăn đội đầu và hai bạn học khác là không phải người Ả rập tới nhà ăn tự động trả tiền trước khi ăn cơm, mới ngồi xuống không lâu, một cô phục vụ bước tới, em học sinh nữ 23 tuổi cho rằng: “Cô ấy muốn đuổi chúng ta đi.” Hóa ra là cô phục vụ tới trả lại 30 USD tiền ăn và nói rằng nhà ăn quyết định cung cấp miễn phí tiền ăn cho họ. Cô phục vụ còn nói mình cũng không muốn nhìn thấy chiến tranh và cảm thấy rất tự hào về những nữ học sinh Hồi giáo đã dũng cảm mặc trang phục của dân tộc. Cô phục vụ vừa rời khỏi thì em học sinh bật khóc. Một bác sỹ gốc Palestine nói ngày thứ Sáu đầu tiên sau sự kiện 11 tháng 9, cô tới cầu nguyện tại chùa Hồi giáo, mà trong lòng lo lắng không dứt, sợ bị người ta nhục mạ. Đến khi cô đến nhà thờ,  thì đã phát hiện ra có hơn 50 mục sư và giáo đồ Kitô giáo tụ tập tại cửa, họ giăng những băng rôn biểu thị sự đoàn kết và liên minh… Vị bác sỹ người Palestine này nói: “Họ khiến chúng tôi cảm thấy được an ủi và nhìn thấy hòa bình.” Sự hùng mạnh của nước Mỹ không chỉ ở sự dẫn đầu về quân sự và khoa học mà là tinh thần vĩ đại trong lòng đại đa số người dân của đất nước này.

Cách thức yêu nước này của người Mỹ có lẽ đã gợi mở cho chúng ta. Dưới sự nhào nặn của Văn hóa đảng, “lòng yêu nước” trong lòng rất nhiều người đã tương đương với “lòng thù hận”. Một nhận thức đơn giản là, dù cho là hận Nhật hay hận Mỹ đều không thể là nguồn gốc tinh thần hùng mạnh của dân tộc Trung Hoa. Mỹ là một quốc gia di dân đa dân tộc, có lẽ ưu thế chính là sự dung hòa của nó với những văn hóa khác nhau. “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (Những điều mình không thích thì cũng không nên làm cho người khác) đã trở thành đạo đức tốt đẹp trong Văn hóa truyền thống. Vứt bỏ Văn hóa đảng “đấu với Trời, đấu với Đất, đấu với người” trở về với đạo chung sống hài hòa, đây mới là cội nguồn của tinh thần hùng mạnh của dân tộc.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

4. Nhồi nhét Thuyết tiến hóa và khoa học hiện đại

1) Mục đích thực sự của việc nhồi nhét Thuyết tiến hóa – quảng bá Vô Thần luận và Triết học đấu tranh

Một ngày mùa hè năm 1968, William J. Meister, một chuyên gia hóa thạch nghiệp dư người Mỹ đã thấy một phiến đá hóa thạch có bọ ba thùy tại dòng suối Antelope nổi tiếng ở gần Utah, đột nhiên ông phát hiện một vết giày hoàn chỉnh dẫm trên một con bọ ba thùy. Bọ ba thùy là một loài sinh vật sinh trưởng cách đây từ khoảng 600 cho tới 200 triệu năm trước Công nguyên. Nói một cách khác, liệu có phải trước thời kỳ lịch sử lâu dài này cũng có tồn tại văn minh nhân loại giống với con người chúng ta?

Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Năm 1844, nhà khoa học Brewster nổi tiếng nhờ phát hiện ra phương pháp phân cực phản xạ “phương pháp Brewster” đã phát biểu một báo cáo trong Hiệp hội Phát triển Khoa học nước Anh và gây chấn động rất lớn.  Trong bài báo cáo có nhắc tới tại bãi đá Kindgoodie thuộc phía Bắc nước Anh gần Inchyra đã đào được một viên đá cát, lại có một cái giống cái đinh chôn ở phía trong. Cái đinh này đã bị hoen rỉ nhưng vẫn có thể phân biệt ra được là cái đinh. Năm 1985, sau khi đưa hòn đá cát này đi kiểm nghiệm đã phát hiện nó có ít nhất là 40 triệu năm lịch sử. Vậy ai là người đã lưu lại cái đinh trong tấm đá cổ xưa này?

Năm 2001, trong một cuộc điều tra dân ý tại Gallup về nguồn gốc và sự phát triển của nhân loại, 1.000 người Mỹ đã được yêu cầu chọn quan điểm gần với cách nhìn của mình nhất. Điều tra cho thấy, 45% người đó đã chọn “Thượng đế đã sáng tạo ra nhân loại ngày nay từ một vạn năm trước”, 37% người chọn “Con người từ hình thái khá nguyên thủy trải qua hàng trăm triệu năm diễn hóa mà thành, còn Thượng đế đã làm chủ quá trình này”, 12% người chọn “Con người từ hình thái khá nguyên thủy trải qua hàng trăm triệu năm diễn hóa mà thành và không liên quan gì tới Thượng đế”, 6% người biểu thị không có quan điểm gì hoặc không có bất kỳ khuynh hướng nào. Một cuộc điều tra khác được Trung tâm nghiên cứu Pew của nước Mỹ đã tiến hành một cuộc điều tra vào tháng 07 năm 2005 biểu thị rõ rằng 63% người Mỹ muốn tiếp nhận Thuyết tiến hóa đang được dạy trong trường, đồng thời cũng tiếp nhận Thuyết sáng thế trong tôn giáo, 38% người dứt khoát chủ trương trường học chỉ dạy Thuyết sáng thế không dạy Thuyết tiến hóa.

Rất nhiều độc giả đến từ Trung Quốc Đại lục đã vô cùng kinh ngạc trước kết quả cuộc điều tra này. Kỳ thực ở những nước phương Tây tự do tín ngưỡng, có rất nhiều người không tiếp nhận Thuyết tiến hóa, mà còn tương phản với định hướng tư duy của Văn hóa đảng, những điều này không hề khiến những quốc gia đó trở nên lạc hậu, ngu dốt. Kỳ thực sự phát triển văn minh của những quốc gia này lại vừa hay có quan hệ mật thiết với tư tưởng tự do, mở cửa, khoan dung. Thuyết tiến hóa đến từ phương Tây, nhưng trong những người tin tưởng Thuyết tiến hóa thì tỷ lệ lớn nhất là Trung Quốc, Liên Xô cũ và những quốc gia cộng sản cũ của Đông Âu. Đặc điểm chung của những nước này là: Quyền lực quốc gia bị dùng để ngăn cấm tín ngưỡng vào Thần và nhồi nhét Thuyết vô Thần. Từ sau năm 1949 Trung Cộng vẫn liên tục đàn áp và bức hại các tôn giáo, tín ngưỡng, đồng thời nhồi nhét một cách cưỡng chế “Thuyết tiến hóa”, khiến cho rất nhiều người Trung Quốc không chỉ tự mình coi “Thuyết vô Thần” là khuôn vàng thuớc ngọc, mà còn đương nhiên cho rằng mọi người ai cũng vậy.

Trung Cộng tiến hành nhồi nhét Thuyết tiến hóa vào dân chúng, một mặt là nhằm mục đích duy hộ quyền thống trị chuyên chế của mình, bởi vì như vậy có thể trẳi bằng con đường để nhồi nhét cưỡng chế Thuyết vô thần, để tiện cho việc tô vẽ cho mình thành giáo chủ nhân gian chí cao vô thượng; mặt khác là vì Thuyết tiến hóa có thể cung cấp ủng hộ cho lý luận “đấu tranh giai cấp”. Marx và Engels từng nói rõ mối quan hệ giữa Thuyết tiến hóa và tín ngưỡng rằng: “Hiện nay chúng ta dùng khái niệm tiến hóa để nhìn nhận vũ trụ thì sẽ không còn bất khì không gian nào để dung nạp nổi một Đấng Sáng Thế hay người thống trị nào được nữa.” (Marx và Engels luận bàn về tôn giáo). Marx còn nói: “Trước tác của Đác-uyn vô cùng quan trọng, nó ủng hộ sự đấu tranh giai cấp trong lịch sử nhân loại từ góc độ khoa học tự nhiên, hoàn toàn phù hợp với quan điểm của ta.” Engels cũng nói: “[Thuyết tiến hóa là] một trong ba phát hiện khoa học lớn của thế kỷ XIX… giai cấp vô sản ưu việt sẽ chiến thắng trong cuộc đấu tranh sinh tồn này.”

Sau khi nhân loại biết suy nghĩ một cách lý trí, thì vẫn luôn tìm kiếm một vấn đề cơ bản vĩnh hằng: “Tôi là ai, tôi từ đâu đến?” Sau khi tiêu diệt các tín ngưỡng tôn giáo, Thuyết tiến hóa đã trở thành học thuyết duy nhất mà Trung Cộng có thể dùng để giải thích cội nguồn của sinh mệnh. Theo cuộc thăm dò trên mạng,  thường thấy những bài phân tích của rất nhiều thầy cô giáo trung học về chương “khởi nguồn của sinh mệnh và sự tiến hóa của sinh vật” trong giáo trình sinh vật như sau: “Nó đóng một vai trò quan trọng về việc học sinh hình thành quan điểm về sinh vật tiến hóa, thiết lập quan điểm tự nhiên về Chủ nghĩa duy vật biện chứng.” Do vậy, song song với việc nhổ tận gốc Văn hóa truyền thống kính sợ Thiên mệnh của Trung Quốc, Trung Cộng còn coi Thuyết tiến hóa là “chân lý duy nhất” giải thích về khởi nguồn của sinh mệnh và nhồi nhét một cách cưỡng chế tại Trung Quốc dưới danh nghĩa “khoa học”. Ngày nay đối với rất nhiều người Trung Quốc, khi nói tới tín ngưỡng đều không hề suy nghĩ mà nói rằng: “Tôi tín ngưỡng vào Thuyết vô Thần, tôi tin vào Thuyết tiến hóa.” Dẹp bỏ sự tranh chấp giữa đúng sai của bản thân Thuyết vô Thần và Thuyết tiến hóa sang một bên, trên thực tế với tuyệt đại đa số người Trung Quốc, “tín ngưỡng” vào Thuyết vô Thần hoàn toàn không phải là tín ngưỡng mang ý nghĩa chân chính. Tín ngưỡng là sự lựa chọn tự do của tâm hồn, là nói về sự đối lập với “không tín ngưỡng”. Nhưng dưới sự khống chế cường quyền của Trung Cộng ai không tin “Thuyết vô Thần”, ai không tin Thuyết tiến hóa sẽ bị chụp những cái mũ chính trị đáng sợ như “mê tín phong kiến”, “ngu muội”, “hại dân hại nước”, “phản khoa học”, sẽ phải đối mặt với nguy cơ bị cách ly khỏi “quần chúng nhân dân rộng lớn” trở thành “một nhóm nhỏ” “đối tượng cần cải tạo”. Trong hoàn cảnh như vậy, căn bản không thể nhắc tới quyền lựa chọn một cách tự do, vậy thì còn tín ngưỡng gì có thể nói tới đây?

2) Thuyết tiến hóa là giả thuyết chưa được qua kiểm chứng

Năm 1859, Đác-uyn căn cứ trên một vài trường hợp phân tán trong “Nguồn gốc của các loài” mà đường đột đưa ra giả thuyết sự tiến hóa của sinh vật, cho rằng giới sinh vật phức tạp hôm nay là từ sinh vật nguyên thủy đơn giản từng bước từng bước tiến hóa mà thành. Hơn nữa cùng với sự phát triển sâu rộng của khoa học, một số lượng lớn những phát hiện hiện thực đã đưa ra những thách thức nghiêm khắc cho Thuyết tiến hóa.

 (1) Một cơ sở logic yếu ớt

Có lẽ nhiều người đều đã rất quen thuộc với “hiện tượng lại giống”. Cuốn “Tài liệu dạy học môn sinh vật trung học cơ sở” trên trang web của Nhà xuất bản Giáo dục Nhân dân đã viết như sau: “Trong nhân loại thỉnh thoảng sẽ nhìn thấy có đứa trẻ đuôi ngắn, có người lông dài, cô gái có nhiều đầu vú… Những hiện tượng này biểu thị rõ rằng tổ tiên của nhân loại có thể là động vật có đuôi, lông dài, nhiều đầu vú. Cho nên hiện tượng lại giống cũng là một chứng cứ cho sự tiến hóa của sinh vật.” Nếu theo logic này thì những hài nhi dị hình không có não còn nhiều hơn, vậy thì tổ tiên của con người không có não hay sao? Những người tứ chi tàn phế khiếm khuyết bẩm sinh, mọc thêm nhiều ngón tay, ngón chân cũng thường gặp, vậy thì tứ chi của con người là từ các loại dị hình dị dạng tiến hóa thành hay sao? Chỉ cần nhảy ra khỏi cái khung tư tưởng của Thuyết tiến hóa sẽ phát hiện ra cái gọi là “hiện tượng lại giống” thật dị dạng và đầy khiếm khuyết mà thôi, là phản ứng của bệnh lý đột biến gen, nếu liên hệ với tổ tiên của nhân loại thì không hề hợp lý.

Về mặt khoa học, nếu việc chứng minh của một lý luận đi ngược lại với logic thì lý luận này không thể được thành lập, nhưng logic sai lầm của con người với Thuyết tiến hóa lại không được đào sâu nghiên cứu, cũng là bởi vì nếu đào sâu nghiên cứu thì cũng chẳng có chứng cứ mà nói. Rất nhiều người khi nghe thấy những lời này thì vô cùng kinh ngạc. Kỳ thực vạch rõ vấn đề sẽ càng khiến con người ta kinh ngạc hơn.

Chứng cứ của giải phẫu học so sánh là một trong ba chứng cứ chủ yếu của Thuyết tiến hóa. Theo như giải phẫu học so sánh, trong số động vật có vú thì móng của chuột, cánh của dơi, đuôi của cá heo và tay của con người đều có kết cấu xương giống nhau. Do đó Đác-uyn suy đoán chúng di truyền từ một tổ tiên xa xưa mà thành, chỉ là trong quá trình tiến hóa do công dụng khác nhau mà phân ra ngoại hình khác nhau. Rất rõ ràng, việc dùng căn cứ giải phẫu học so sánh này làm căn cứ cho Thuyết tiến hóa đã tồn tại những lỗ hở về logic. Vì từ giả thiết cùng một tổ tiên, dự trên logic thì có thể suy đoán ra kết luận về sự tương tự của kết cấu xương tứ chi, nhưng ngược lại thì không nhất định đúng. Cũng giống như tủ lạnh làm lạnh có thể khiến nước đông thành đá, không đồng nghĩa với việc đá nhất định là được làm từ tủ lạnh.

Hóa thạch của sinh vật cổ cũng là một trong ba chứng cứ quan trọng của Thuyết tiến hóa. Tuy vậy  người ủng hộ Thuyết tiến hóa khi muốn dùng hóa thạch của sinh vật cổ để làm chứng cứ lý luận cho quá trình tiến hóa, thì lại cần phải dựa vào mô thức tiến hóa. Ví dụ như việc xác định “người Nguyên Mưu” người vượn nổi tiếng của Trung Quốc là được suy đoán từ việc [người vượng này có] ba cái răng của nhân loại; sự xác nhận của người vượn Lam Điền chỉ dựa vào một cái xương hàm dưới, về người thôn Đinh, thì dựa vào ba cái răng một mảng xương hộp sọ; người Mã Bá… dựa vào một mảng xương hộp sọ không hoàn chỉnh… muốn xác nhận chúng thành cái gì thì phải hoàn toàn dùng mô thức tiến hóa [đã có sẵn]. Ở đây lộ rõ một vấn đề về logic: Những thứ từ Thuyết tiến hóa lại dùng để chứng minh Thuyết tiến hóa hiển nhiên là sự tuần hoàn của chứng cứ. Sự phát hiện ra cái gọi là vượn cổ phương Tây (người Nebraska) đã bộc lộ một cách đầy đủ sự khiếm khuyết của loại logic biện luận này. Năm 1922, nhà sinh vật học Osborne tuyên bố đã phát hiện ra một cái răng, cái răng này đồng thời mang đặc trưng của tinh tinh, người vượn và vượn người. Ông đã đặt cho chủ nhân của chiếc răng một cái tên là “người Nebraska”. Tiếp đó, những nhân sỹ tin vào Thuyết tiến hóa đã vẽ ra bức tranh tưởng tượng về người vượn này mà chỉ dựa vào một cái răng. Nhưng năm 1927, sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng hơn đã phát hiện chủ nhân của chiếc răng này là một con lợn hoang châu Mỹ đã tuyệt chủng!

Vậy thì phải chăng Thuyết tiến hóa là phép quy nạp? Không phải, quá nhiều sự thực không thể quy nạp vào trong đó được.

Có người từng nói Thuyết tiến hóa là phép quy nạp, tư duy logic này hơi khó một chút, kỳ thực cũng dễ hiểu. Phép quy nạp chính là đưa ra một mệnh đề, nếu có thể quy nạp được tất cả những vấn đề mà nó bao hàm [Nói cách khác tất cả các chứng cứ trên thực tế đều thống nhất với mệnh đề đó, mà không có bất kể chứng cứ nào bác bỏ mệnh đề ấy] thì mệnh đề đó là chân lý. Nhưng với Thuyết tiến hóa có quá nhiều sự thực không thể quy nạp được [nghĩ là có quá nhiều chứng cứ đi ngược lại với thuyết tiến hóa]. Từ những căn cứ hiện nay về văn minh tiền sử , từ tốc độ tiến hóa, phương thức sản sinh theo kiểu bùng phát của các loài, xác suất tiến hóa… rất nhiều sự việc không những không thể quy nạp được, hơn nữa đều đang phủ định Thuyết tiến hóa, có thể thấy việc tìm chứng cứ để chứng minh cho Thuyết tiến hóa là phép quy nạp là không thể thiết lập được, kỳ thực vẫn là biện luận tuần hoàn.

Phép “Biện luận tuần hoàn” trông tưởng như đúng mà hóa sai ấy, đã quán xuyến toàn bộ Thuyết tiến hóa này, người ta dường như đều đã vì nghe nói nhiều mà quen với điều này. Tuy nhiên khi chúng tôi phân tích một cách nghiêm túc thì họ đều vô cùng kinh ngạc.

Trong giáo trình sinh vật của học sinh trung học còn có một bức vẽ về sự phát triển của một phôi, là mặt cắt thể hiện những giai đoạn khác nhau của quá trình phát triển phôi thai của những động vật như cá, thằn lằn, rùa, gà, lợn, trâu, thỏ, người… Bản gốc của nó được thu giữ tại thư viện Bodleian trường đại học London, tác giả của nó là Haeckel, một giáo sư sinh vật học tại trường đại học Jena của Đức vào thế kỷ 19. Kết luận đưa ra từ những bức vẽ này là, dù hình thái sau khi thành niên của những động vật này khác nhau, nhưng quá trình phát triển phôi đều có một giai đoạn mang hình thái tương tự nhau, bao gồm cả con người. Một giai đoạn nào đó trong quá trình phát triển phôi của các loài động vật, thì hình thái của nó sẽ tái diễn lại hình thái giống như cá, chứng tỏ tổ tiên chung của chúng là động vật thủy sinh, đặc trưng của tổ tiên của chúng đều tái diễn trong quá trình phát triển của phôi. Đây chính là “quy luật tái diễn của phôi”, một trong ba chứng cứ chủ yếu ủng hộ Thuyết tiến hóa.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Kỳ thực, trong việc dùng quy luật tái diễn chứng minh Thuyết tiến hóa, kỳ thực cũng có thể biểu đạt một cách hình thức rằng: “Giả như Thuyết tiến hóa đã được công nhận, thì phát triển phôi sẽ tái diễn lại quá trình tiến hóa. Bởi vì quan sát phát hiện ra rằng sự phát triển của phôi có thể tái diễn lại quá trình tiến hóa, cho nên Thuyết tiến hóa là đúng.” Về mặt logic, điều này vẫn là dùng “Luận chứng tuần hoàn” dùng giả thuyết để chứng minh giả thuyết.

Năm 1997, Richardson – nhà khoa học người Anh đã hợp tác với nhiều phòng thực nghiệm thu thập nhiều loại động vật từ các chủng hệ khác nhau hơn nữa, quan sát hình thái của chúng qua các thời kỳ phát triển của phôi thai. Họ phát hiện bản đồ của Haeckel không được miêu tả dựa trên cơ sở thực tế, “Nghiên cứu của chúng tôi đã làm suy yếu tính đáng tin trong những bức vẽ của Haeckel một cách nghiêm trọng, những bức vẽ của Haeckel, nếu nói là thể hiện một thời kỳ tương tự trong quá trình phát triển phôi thai của động vật có xương sống, thì chẳng bằng nói là phôi được thiết kế theo một trình tự nhất định.” Tạp chí “Khoa học” đầy uy tín đã phát biểu một bài tổng kết chuyên về chủ đề này vào năm 1997 (Science 1997, 277:5331). Vậy vì sao kết quả nghiên cứu của Haeckel và Richardson lại khác xa nhau như vậy? Hóa ra Haeckel cố tình lựa chọn phôi của những động vật khá gần nhau, ví dụ như ông dùng thằn lằn sống trong nước để đại diện cho loài động vật lưỡng cư, mà không dùng ếch, bởi vì bản thân Haeckel biết thằn lằn giống cá hơn. Hay như nhãn cầu phôi thời kỳ đầu của gà không có sắc tố, nhưng Haeckel lại tô nó thành màu đen, khiến phôi của gà càng giống phôi những loài khác hơn. Haeckel còn đặc biệt gia công thêm yếu tố nghệ thuật vào bức vẽ phôi của con người, bỏ đi nội tạng và chân của phôi người, và biến thành giống như một cái đuôi, tương tự với phôi thai của cá.

 


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Cùng với sự xuất hiện của di truyền học và sự phát triển của sinh vật học phân tử, đặc biệt là việc đào sâu nghiên cứu về gen, về lý luận thuyết tái diễn đã gặp phải nguy cơ trước nay chưa từng có. Hiện nay người ta công nhận đột biến gen là nguyên nhân của tiến hóa. Nếu vậy gen trước kia đã đột biến thành gen mới sao lại có thể tái hiện lại đặc trưng trước kia được?

(2) Xác suất đã phủ định hạt nhân của Thuyết tiến hóa – Cơ chế đột biến gen

Vào thời đại của Đác-uyn, khoa học phương Tây đang ở giai đoạn cơ sở, những nhận thức về hiện tượng của sinh mệnh còn rất nông cạn. Con người lúc đó đã nhìn thấy rất nhiều tạp chủng biến dị trong những loài động vật được nuôi trong nhà, liền cho rằng các loài động vật cũng có thể trở thành một loài khác, đây chính là tiến hóa. Sau này, cùng với sự phát hiện và đào sâu nghiên cứu về gen, các học giả mới nhận thức được rằng nếu gen không có sự biến đổi căn bản, thì cho dù đời sau có khác tổ tiên thế nào đi nữa, cũng không có ý nghĩa tiến hóa. Hơn nữa gen là cực kỳ ổn định, chỉ có “đột biến gen” bất thường mới có thể phát sinh cải biến, vậy mà “đột biến gen” lại trở thành hạt nhân của Thuyết vô Thần hiện đại. Đây chính là điều mà tất cả những nhà theo Thuyết vô Thần công nhận. Tại đây, chúng tôi sẽ tập trung phân tích lý luận trọng yếu này

Tính ổn định khó vượt qua về gen các loài

Tính ổn định của gen là sự tất yếu nhằm duy trì sự ổn định tự thân của các loài, việc trao đổi gen của những cá thể khác nhau trong cùng một loài, hoàn toàn không thể khiến loài đó biến thành loài khác. Những chuyên gia về chăn nuôi động thực vật đều biết, phạm vi biến đổi của một loài là hữu hạn. Cuối cùng, những vật phẩm được lai tạo nếu không phải là không lớn lên được thì cũng lại trở về với dòng giống vốn có của nó. Giáo sư Mel của trường đại học Harvard gọi nó là sự cân bằng trong bản thân gen. Điều hay gặp là chó dù có lai tạo thế nào thì vẫn là chó. Điều này nói rõ rằng Thuyết tiến hóa có một chướng ngại không thể vượt qua. Về lý luận, con người mang kỳ vọng về khả năng đột phá chướng ngại này gửi gắm vào đột biến gen, đây là khả năng duy nhất.

Trên lý luận và thực tế, xác suất đột biến gen sinh ra trạng thái cao cấp hầu như là con số 0

Đột biến gen là một loại sai lệch ngẫu nhiên xảy ra trong quá trình phục chế gen hoặc sửa chữa những tổn thương, cho nên còn gọi là đột biến ngẫu nhiên, bản thân đó cũng là một hiện tượng của bệnh trạng, xác suất phát sinh của nó ở khoảng từ 1/10.000 tới 1/1 tỷ. Xác xuất đột biến của sinh vật giáp cốt là khá cao, khoảng chừng 1/1000, còn trong những động vật loại cao cấp thì xác suất đột biến của rất nhiều loại gen là từ 1/10.000 tới 1/100 triệu.

Đột biến gen có thể sản sinh những đặc trưng (tính trạng) cao cấp có ưu thế sinh tồn hay không? Chúng ta biết rằng hạt nhân của một gen là do vài trăm cho tới vài nghìn nucleobase xếp thành, giống như trình tự phức tạp và chính xác của máy tính, tùy tiện thay đổi một, hai chữ có thể sản sinh trình tự cao cấp hơn không? Đương nhiên là không thể. Đột biến gen cũng như vậy, kết quả thay đổi của nucleobase thường là những loại khiếm khuyết, dị dạng, dẫn tới tử vong, có ưu thế sinh tồn trong điều kiện tự nhiên thì không phát hiện được một trường hợp nào.

Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Xác suất tính toán chỉ rõ khả năng tiến hóa của động vật nhỏ tới mức tuyệt đối không thể

Thuyết tiến hóa hiện đại dùng đột biến gen làm hạt nhân, nhưng như đã nói ở phía trên, về bản chất đột biến gen là một sự sai lệch ngẫu nhiên. Do đó nói một cách khái quát cái gọi là quá trình tiến hóa từ vượn thành người, kỳ thực là có một bộ phận vượn cổ trong mấy triệu năm, do một loạt gen phát sinh đột biến một cách “ngẫu nhiên vô tình”, “vừa hay” khiến trán của vượn cổ dần dần tăng cao, xương đuôi trở nên nhỏ đi, phần miệng thu về phía sau, dung lượng não lớn hơn, sống lưng thẳng ra… cuối cùng thành người hiện đại.

 

Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Rất hiển nhiên, quá trình chọn lọc tự nhiên chỉ có thể quyết định cuối cùng những loại động vật nào sẽ được lưu lại, nhưng sẽ không tăng thêm xác suất về toàn bộ quá trình này. Rất nhiều học giả tiến thêm một bước tính toán và chỉ rõ, với một chuỗi liên tiếp những cái “ngẫu nhiên vô tình” này, nếu muốn mỗi cái đều phát sinh, thì xác suất của nó nhỏ đến mức gần như không có. Behe, nhà hóa học sinh học nước Mỹ đã lấy ví dụ về hàng loạt cơ chế hóa học sinh vật của máu đông để giảng về hiện tương sinh mệnh phức tạp và chính xác như vậy không thể do tiến hóa mà thành. Trong đó, xác suất để sản sinh ra một loại protein (TPA) là từ (1/10)^18 (1 phần 1 tỷ tỷ). Thông qua tính toán, ít nhất cần đến 10 tỷ năm mới có thể phát sinh (hiện nay các nhà khoa học ước tính tuổi của Hệ Mặt trời là khoảng 5 tỷ năm). Nếu như đồng thời phát sinh ra loại protein có tác dụng tương hỗ với nó, thì xác suất là (1/10)^36. (1 phần 1 tỷ tỷ tỷ tỷ) Ông nói: “Rất tiếc, vũ trụ không có thời gian để chờ đợi.”

Về sự sản sinh của sinh mệnh, Thuyết tiến hóa hiện đại cho rằng đó cũng là một quá trình tự nhiên, cho rằng vật hữu cơ và vật vô cơ đơn giản va đập vào nhau trong một điều kiện nào đó mà trở thành một phân tử lớn phức tạp trong cơ thể sinh vật, những loại phân tử lớn phức tạp lại tổ hợp diễn hóa một lần nữa hình thành nên sinh mệnh nguyên thủy. Đọc đến một chuỗi quá trình “lý tưởng hóa” như vậy, e rằng người đọc sẽ nghĩ tới vấn đề xác suất ngẫu nhiên trong đó. Nhà khoa học người anh Hoyle đã từng biểu thị: “Khả năng để chuyện trên xảy ra cũng giống như dùng vòi rồng mà cuộn hết cả một xưởng phế liệu mà lắp ráp ra máy bay 747 vậy.”

(3) Sự lúng túng của Thuyết tiến hóa – tầng tầng nghi vấn về thời gian biểu tiến hóa

Căn cứ vào khái niệm Thuyết tiến hóa, con người từ động vật thủy sinh nguyên thủy nhất dần dần bò lên lục địa, từ sinh vật lưỡng cư, loài bò sát, loài có vú, cuối cùng tiến hóa thành vượn tiếp đến là xuống mặt đất tiến hóa thành con người. Quá trình ở giữa đã trải qua vài trăm triệu năm. Các nhà sinh vật học dựa theo sự đơn giản tới phức tạp, từ cấp thấp đến cấp cao của sinh mệnh mà vẽ ra biểu đồ thời gian tiến hóa.

Tuy nhiên rất nhiều phát hiện của những nhà khảo cổ học đã trực tiếp phản bác luận điểm của những người ủng hộ Thuyết tiến hóa, điều này bao gồm cả những chứng cứ trực tiếp về nhân loại trong những thời kỳ xa xưa khác nhau liên tục được phát hiện tại các nơi trên khắp thế giới. Từ dấu chân của con người từ mấy vạn năm trước tới mấy trăm triệu năm trước cho đến hóa thạch xương người, đều không cách nào quy nạp nổi vào trong biểu đồ thời gian tiến hóa (Ý là không thể ăn khớp với biểu đồ thời gian của tiến hóa). Ví như, căn cứ theo báo cáo “Báo khoáng sản địa chất Trung Quốc” ngày 06 tháng 11 năm 1997, trên mặt tấm đá nham thạch kỷ Tam điệp tại huyện Phú Nguyên tỉnh Vân Nam, Trung Quốc đã phát hiện dấu chân của bốn người. Theo khảo cứu những tấm đá nham thạch này đã có lịch sử 235 triệu năm. Trong một bài viết đăng trên báo “Người Mỹ khoa học” vào tháng 06 năm 1851 đã nhắc tới một vụ nổ tại Dorchester bang Massachusetts, trong đó một bình hoa bằng kim loại do bị nổ thành hai nửa mà bay ra khỏi tấm đá. Sau khi mang hai mảng bị tách ra do vụ nổ ghép lại thì thành một bình hoa hình chuông. Bình hoa được làm từ hợp kim kẽm và bạc, nó từ chỗ sâu 4,5 m (15 thước Anh) dưới lòng đất phá đá mà ra, ước chừng là có 100 nghìn năm lịch sử.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Chỉ riêng những phát hiện khảo cổ học đã đưa ra một vấn đề đau đầu khác cho những người theo Thuyết tiến hóa, chính là hóa thạch trung gian trong quá trình tiến hóa, nói một cách nghiêm túc là không hề được phát hiện thấy. Ví dụ vấn đề từ vượn đến con người, các nhà khoa học đã phát hiện ra một vài hóa thạch, phân loại là “vượn cổ”, “vượn người”, “người vượn”, “người thông minh”, duy nhất không có hóa thạch “vượn người”. Việc tìm kiếm loài sinh vật quá độ “người vượn” được coi là “mười câu đố lớn không lời giải”. Vài lần tuyên bố tổ tiên của con người trước đó đều rất nhanh chóng bị phủ định. Ví dụ như hóa thạch “người Gia Bách” trong quá trình quá độ giữa người và vượn được phát hiện năm 1892 là do gom góp chắp vá một một mảnh xương đầu và một cái xương đùi người cách đó chừng 12m mà thành, giới học thuật đã phủ định “người Gia Bách”, nhưng về phương diện giáo dục khoa học vẫn còn tuyên truyền. Cho tới năm 1984 “người Gia Bách” mới bị phát hiện mới về hóa thạch người vượn “Lucy” thay thế, nhưng trong quá trình giám định sau này người vượn Lucy cũng bị đại đa số các học giả phủ định. Các nhà khoa học đã xác định “Lucy” là một loài vượn tuyệt chủng, loài vượn cổ tại phía Nam, không hề liên quan tới con người.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Giả sử Thuyết tiến hóa là có thực thì hóa thạch trung gian lẽ ra rất dễ tìm thấy, vì sao lại không có? Mọi người hãy thử dùng giải thích của Đác-uyn: “Ghi chép về hóa thạch không hoàn thiện”. Thử đào sâu suy nghĩ một chút: nhìn từ góc độ vĩ quan, sự hình thành hóa thạch là điều phổ biến và ngẫu nhiên, sao có thể sót riêng một mình loại quá độ này?

Ba bước “quan sát, giả thiết, kiểm chứng” đến nay vẫn là thước đo rất được tuân thủ để các nhà khoa học của khoa học thực chứng phát hiện ra những quy luật tự nhiên và những định lý khoa học trừu tượng. Trong “Nguồn gốc của các loài” của Đác-uyn chỉ hoàn thành được hai bước đầu tiên. Hơn nữa trải qua sự nỗ lực mấy đời người kéo dài hơn một thế kỷ, bước cuối cùng quan trọng nhất là “kiểm chứng”, đến nay vẫn chưa có được kết quả khiến con người tin phục. Hơn nữa cùng với xu thế phát triển của các lĩnh vực khoa học hiện nay và sự giới hạn tự thân của Thuyết tiến hóa, thì bước cuối cùng để Thuyết tiến hóa có thể đi hết ba bước này đã trở nên ngày càng mờ mịt.

 3) Hậu quả của việc nhồi nhét Thuyết tiến hóa

Mục tiêu của việc Trung Cộng nhồi nhét Thuyết tiến hóa và quảng bá Thuyết vô Thần của nó là đồng nhất. Theo quan điểm của Thuyết tiến hóa, con người sinh ra từ sự ngẫu nhiên của giới tự nhiên. Con người sinh ra không có mục đích, tồn tại cũng không có mục đích, mọi tín ngưỡng vào Thần đã trở thành “hư vô mờ mịt”. Hơn nữa con người chẳng qua chỉ là vượn tiến hóa mà bản chất hoàn toàn không có gì khác với những loài động vật khác. Động vật và thực vật, sinh vật và phi sinh vật cũng không có giới hạn không thể vượt qua. Cho nên theo cách nhìn của Engels, sinh mệnh chẳng qua chỉ là “một hình thức tồn tại của protein” mà thôi. Theo quan điểm này, sự tôn trọng đối với sinh mệnh trong Văn hóa truyền thống Trung Quốc đã trở thành “mê tín” không cần thiết. Quả thực, từ quan điểm của Thuyết tiến hóa thì chặt một cái cây và đánh chết một con chó, giết một con khỉ và giết chết một con người chỉ khác nhau về mức độ, hoàn toàn không hề khác nhau về bản chất, chẳng qua đều chỉ là thay đổi hình thức tồn tại của protein mà thôi.

Tháng 03 năm 2003, dịch SARS lan tới Hồng Kông. Các hãng truyền thông của Hồng Kông liên tục báo cáo về tình hình dịch bệnh. Ông Long Vĩnh Đồ, Tổng thư ký của diễn đàn Boao, cựu Phó Bộ trưởng Bộ Thương mại của Trung Cộng, đã khiển trách nói: “Giới báo chí tại Hồng Kông liên tục báo cáo về sự kiện bệnh viêm phổi trên các đầu báo trong suốt 10 ngày, 20, ngày, 30 ngày như vậy còn ai dám tới đó nữa?” “Nếu trong 6 triệu người có 50 nghìn người mắc bệnh này, thì tôi cho rằng là đáng sợ, nhưng hiện giờ mới chỉ có hơn 300 người mà đã làm như vậy rồi, tôi nghĩ là có vấn đề.” Thái độ thờ ơ vô cùng xem nhẹ sinh mệnh này không chỉ tồn tại một cách phổ biến trong những quan chức cấp cao Trung Cộng mà ngay cả người dân cũng thường bị nó hại rất nặng nề mà không hề hay biết. Từ khi Trung Cộng xây dựng chính quyền tới nay đã gây ra cái chết của hơn 80 triệu người. Hơn nữa nhiều người Trung Quốc dù đã minh bạch sự thực lịch sử này nhưng vẫn cảm thấy từng sinh mệnh qua đời ấy chẳng qua chỉ là một con số mà thôi. Thái độ coi nhẹ sinh mệnh này ắt là có quan hệ với Thuyết tiến hóa mà Trung Cộng đã nhồi nhét.

Một hậu quả khác của việc Trung Cộng không ngừng nhồi nhét Thuyết tiến hóa là khiến con người cảm thấy “khôn sống mống chết, kẻ yếu làm mồi cho kẻ mạnh ” là nguyên tắc đương nhiên. Như vậy, dưới khẩu hiệu “dân tộc”, “quốc gia” mỹ lệ đó, sự cướp bóc đối với những người yếu thế lại càng có lý do một cách đường đường chính chính như: Vì cái gọi là “phát triển”, vì cái gọi là “ổn định” thì sẽ không thể tránh khỏi hy sinh. Do đó mới có những lời tuyên bố như của viện sỹ Hà: “Ai bảo anh bất hạnh sinh ra tại Trung Quốc?” mới có những lời lẽ hùng hồn như Đặng Tiểu Bình vào ngày 4 tháng 6: “Giết 200 nghìn người, giữ gìn ổn định cho 20 năm.” Khi quy tắc này được xã hội tiếp nhận một cách phổ biến, thì lòng người trong xã hội đã mất đi hy vọng đối với công bằng chính nghĩa, thuận theo đó là hệ thống tiêu chuẩn đạo đức trượt dốc.

 

Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

4) Mục đích chân thực của việc nhồi nhét khoa học hiện đại: Đàn áp tín ngưỡng

Ngay khi mới bắt đầu xây dựng chính quyền, Trung Cộng đã không ngừng triển khai cái gọi là cuộc vận động “đánh đổ mê tín phong kiến” trên phạm vi cả nước. Mấy năm nay lại thêm vào khẩu hiệu “sùng bái khoa học”. Mười mấy năm qua sách giáo khoa tại các trường học đều phải viết theo chế đại cương dạy học mà Trung Cộng đặt ra, nhằm đảm bảo rằng tri thức trong sách chỉ có thể trở thành bằng chứng ủng hộ cho “Lịch sử phát triển xã hội” và “Chủ nghĩa duy vật biện chứng” của Trung Cộng mà không xảy ra xung đột. Trung Cộng còn thiết lập “Phương pháp phổ cập khoa học kỹ thuật” chuyên biệt, hầu như tại tất cả các thành phố đều thiết lập “Viện khoa học”, “Trạm phổ cập khoa học” do chính phủ cấp vốn. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của nó là phối hợp với “Trung Ương” tiến hành hoạt động “phổ cập khoa học” với quy mô lớn ở tầng cơ sở, tiến hành triển lãm “phá bỏ mê tín”, “phản đối tà giáo”. Mấy chục năm bị nhồi nhét đã khiến đại đa số đầu óc con người không chỉ thiết lập một cách kiên cố quan niệm khoa học là tối cao, mà còn đưa nó lên cao tới mức độ chính trị. Cho nên “phản khoa học”, “làm mê tín phong kiến” không chỉ là vấn đề lựa chọn tín ngưỡng cá nhân, mà là “tội ác” hại dân hại nước, thậm chí nên phải bị toàn dân cùng tru diệt.

Trên thực tế tại những quốc gia phương Tây nơi mà khoa học hiện đại còn phát triển hơn, chính phủ không hề dùng cái gậy khoa học để phê phán bất kỳ tín ngưỡng nào. Trong các trường đại học, học sinh có đầy đủ sự tự do để tổ chức những đoàn thể tín ngưỡng, chính phủ và nhà trường không những không can thiệp, ngược lại còn khích lệ sự phồn thịnh đa văn hóa. Những nước phương Tây mặc dù cũng có hoạt động phổ cập khoa học được chính phủ hỗ trợ, nhưng không hề liên can tới việc quét sạch “mê tín”, phản đối “ngụy khoa học”… Những hoạt động này thông thường chỉ là phổ cập thường thức về việc thoát thân khi gặp nạn, như ngay từ lớp mầm non, cho tới tiểu học đều có những buổi học dạy về việc thoát thân khi gặp nạn, thường diễn tập, luyện tập những kỹ năng phản ứng khi bản thân gặp phải tai nạn như hỏa hoạn, giông bão, động đất, sóng thần. Nhưng trong nội dung đại cương dạy học của Trung Cộng không những không có những nội dung này, thậm chí tại những khu vực thường xuyên xảy ra thiên tai hoạn nạn những nội dung này cũng không phải là trọng điểm của viện khoa học kỹ thuật, trạm phổ biến khoa học. Sở dĩ như vậy là do mục đích mà Trung Cộng nhồi nhét khoa học hiện đại hoàn toàn không phải vì dân giàu nước mạnh, mà là vì áp chế tín ngưỡng. Tín ngưỡng của một người vốn là hành vi cá nhân, ngay cả trong Hiến pháp mà Trung Cộng đưa ra cũng không thể không thừa nhận tự do tín ngưỡng của công dân. Nhưng Trung Cộng giương cao lá cờ lớn “khoa học” là vì có thể “danh chính ngôn thuận” chụp những cái mũ chính trị như “mê tín”, “phản khoa học”, chụp những cái mũ như khiến nhân dân “ngu muội”, “lạc hậu”… Như vậy việc nhổ tận gốc tín ngưỡng đã được khoác lên chiếc áo choàng “vệ sỹ” khoa học, thậm chí còn có thể liên hệ với chủ nghĩa yêu nước, bởi vì “mê tín” sẽ khiến đất nước “lạc hậu”.

Ngay những ngày đầu xây dựng chính quyền, năm 1950, Trung Cộng đã bắt đầu giải tán những tổ chức “mê tín” với quy mô lớn trên cả nước như tổ chức Cơ Đốc giáo, Thiên Chúa giáo, Đạo giáo, Phật giáo. Trung Cộng yêu cầu thành viên của những giáo hội, giáo đường, bang phái tới đăng ký với chính phủ và sửa chữa hối cải. Nếu không đang ký đúng hạn, một khi bị tra rõ sẽ phạt rất nghiêm. Năm 1951, Chính phủ ban hành công văn rõ ràng tuyên bố những người tiếp tục những hoạt động hội môn đạo môn sẽ bị xử tử hình hoặc bắt đi tù. Theo thống kê không hoàn chỉnh, đã có không dưới ba triệu giáo đồ, thành viên nhóm hội bị bắt, bị giết.

Năm 1999, Trung Cộng bắt đầu đàn áp việc nhân dân tín ngưỡng vào Pháp Luân Công, cũng dùng khẩu hiệu “Tôn sùng khoa học, phá bỏ mê tín”, lấy danh nghĩa “phản tà giáo” để tiến hành đàn áp Pháp Luân Công, sau đó lại tiến hành trấn áp một bước nữa những môn phái khí công khác và những giáo hội ngầm. Lý do mà cảnh sát bắt giữ tín đồ giáo hội ngầm của Cơ Đốc giáo thường trực tiếp là “Tin Thần chính là phản đảng”. Tra đến nguyên nhân căn bản thì là chính quyền độc tài Trung Cộng với cơ sở là Thuyết vô Thần quả thực chịu  không được việc nhân dân tín ngưỡng vào Thần, không thể cho phép phía trên “Trung ương Đảng” còn có Thần chí cao vô thượng

 


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Dù Trung Cộng thông qua việc nhồi nhét Thuyết tiến hóa và khoa học hiện đại để xác lập lý luận căn bản của nó – Thuyết vô Thần, nó thậm chí còn tạo ra một từ để lừa gạt con người gọi là “Thuyết vô Thần khoa học”. Tuy nhiên nếu chỉ nói về bản thân sự phát triển khoa học, nó hoàn toàn không chứng minh Thuyết vô Thần. Theo quan điểm tôn giáo chính thống, con người là do Thần tạo ra, con người phủ định sự tồn tại của Thần cũng giống như vi khuẩn được nuôi trong đĩa thủy tinh ở phòng thí nghiệm mưu đồ phủ nhận sự tồn tại của con người vậy, là vô ích. Bởi vì từ phương pháp thực chứng của khoa học hiện đại, đối với việc chứng thực Thuyết vô Thần, cần phải yêu cầu phủ định sự tồn tại của Thần tại tất cả phạm vi thời gian và không gian trong toàn vũ trụ, điều này đương nhiên cũng bao gồm cả phạm vi không gian và thời gian mà con người vĩnh viễn không nhận thức được. Vũ trụ cự đại, đa dạng, phức tạp như vậy, ai có thể bảo đảm được từ vĩ quan bao la tới vi quan vô hạn chỉ có con người là sinh mệnh cao cấp? Thậm chí ai có thể đảm bảo rằng hình thức tồn tại của sinh mệnh chỉ có thể dựa vào hình thức protein, axit amin mà chúng ta biết? Nói sâu thêm một bước nữa, vũ trụ học hiện đại cho rằng những vật chất tối chiếm 2/3 vũ trụ mà con người không thể quan sát, đo lường, tức là dù cho dùng hết kỹ thuật đo lường của nhân loại thì vẫn còn 2/3 vũ trụ chúng ta không hề biết. Vật lý lý luận hiện đại đưa ra lý luận về các tầng diện của thế giới, cho rằng vũ trụ của chúng ta không chỉ là không gian ba chiều như những gì chúng ta có thể cảm nhận được. Vậy thì ai có thể đảm bảo rằng không gian khác không có sinh mệnh cao cấp? Nếu không gian khác tồn tại sinh mệnh cao cấp, nếu họ có sự từ bi vượt rất xa so với con người, có đại trí huệ, ngộ được những chân lý của vũ trụ và có năng lực siêu phàm, vậy thì với con người mà nói, họ chẳng phải là Phật, Đạo, Thần sao? Do đó dù về logic hay về kỹ thuật mà nói, thì từ góc độ khoa học chứng minh Thuyết vô Thần là không thể làm được.

Điều cần chỉ ra là ở đây không phản đối bất kỳ một người nào tin thờ “Thuyết vô Thần”. Là một con người mà nói, tin Thần và không tin Thần lẽ ra nên là sự lựa chọn tự do không cần bàn cãi. Trong xã hội thông thường tín ngưỡng hữu Thần và vô Thần hoàn toàn có thể cùng chung sống hòa bình. Nhưng khi chính phủ dùng thủ đoạn cưỡng chế nhồi nhét Vô Thần luận trong toàn xã hội, đàn áp tín ngưỡng vào Thần khiến mất đi tín ngưỡng của cả một xã hội, tất nhiên sẽ khiến thể hệ giá trị xã hội truyền thống vốn có mất đi chỗ dựa, từ đó dẫn tới toàn xã hội trượt xuống vũng bùn của chủ nghĩa vật chất, chủ nghĩa túng dục.

5) Trung Cộng không coi trọng “khoa học”, chủ nghĩa Marx phản tự nhiên

Dù Trung Cộng tô trát cho mình thành vệ sỹ bảo vệ khoa học, mà còn đặc biệt mua chuộc một lô những chuyên gia “phản ngụy khoa học”, các cuộc “phản đối mê tín, phản đối ngụy khoa học” do chính phủ cấp vốn cực lực tuyên truyền, giọng điệu của nó còn cao hơn bất kỳ một quốc gia phương Tây có khoa học phát triển nào, nhưng cũng không thể che đậy được bản chất phản quy luật tự nhiên của Trung Cộng về cả lý luận và thực tiễn.

Năm 2006, tròn 30 năm động đất tại Đường Sơn, một bản báo cáo dài có tên “Đường Sơn cảnh thế lục” (Ghi chép về cảnh báo tại Đường Sơn) mới được công bố vào tháng 01 đầu năm đã bị bộ tuyên truyền của Trung Cộng ngấm ngầm hạ lệnh tiêu hủy. Bởi vì trong sách đã tiết lộ rằng trước trận động đất lớn, nhân viên công tác khoa học kỹ thuật của Trung Quốc đã nhiều lần dự báo chính xác tai họa sắp tới.

 

Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Nhưng lúc đó chính quyền Trung Cộng đang hỗn loạn, sự ổn định chính trị cao hơn tất cả, không ai dám báo lên hoặc công bố dự báo về trận động đất. Chỉ có một ngoại lệ duy nhất là có một người thuộc ban khoa học huyện Thanh Long, tỉnh Hà Bắc trong một trường hợp không chính thức đã nhận được báo cáo dự báo về vụ động đất của một nhân viên kỹ thuật cục dự báo động đất quốc gia, anh ta đã thông báo vụ động đất này cho từng người trong huyện. Do đó, huyện Thanh Long tỉnh Hà Bắc, cách Đường Sơn chỉ 115 km, nhưng trong trận động đất lớn vào năm 1976 không hề một ai bị thiệt mạng. Kỳ tích này được coi là trường hợp được Ban quản lý công chúng Liên Hợp Quốc và Ban kế hoạch tổng hợp toàn cầu về khoa học thiên tai ghi chép lại.

Cho dù đã tới ngày nay, dưới sự thống trị của chính trị Trung Cộng, những việc vi phạm quy luật tự nhiên, phạm tội gây nguy hại cho tính mệnh, tài sản của nhân dân vẫn tiếp diễn không ngừng. Năm 2003, dịch SARS hoành hành toàn cầu, lần đầu tiên là vào tháng 11 năm 2002 bùng phát tại tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, nhưng lúc đó nội bộ Trung Cộng đang phải đối mặt với tranh chấp khi gặp vấn đề lãnh đạo đảng Giang Trạch Dân thoái vị ở đại hội ĐCSTQ lần thứ 16, vì ổn định chính quyền mà che giấu dịch bệnh, cuối cùng thì tuột mất cơ hội khống chế dịch bệnh phát tán trước dịp Tết khi mà lưu lượng phương tiện di chuyển đông đúc , khiến dịch SARS bùng phát trên toàn cầu. Ở đây đâu có chút hình bóng nào của thái độ khoa học?

Trong vòng mấy chục năm Trung Cộng đều chạy theo thành tích, vì mục tiêu chính trị điên cuồng mà làm ra vô số chuyện xuẩn ngốc phản lại quy luật tự nhiên, cuối cùng người gặp tai ương lại là người dân Trung Quốc. Ví như việc “triển khai” công trình Tam Hiệp chính là buổi biểu diễn “quyết sách khoa học” thể hiện chính trị cao hơn tất cả do Trung Cộng đạo diễn. Năm 1986, Trung Cộng quyết định tiến hành “biện luận” về công trình Tam Hiệp và hy vọng thông qua công trình vĩ đại xuyên thế kỷ này “thể hiện một cách toàn diện thành tựu của cuộc cải cách mở cửa”, triển hiện năng lực điều khiển tự nhiên của Trung Cộng, nhằm giải thích cho tính hợp pháp cầm quyền của mình. Cho nên giáo sư Hoàng Vạn Lý, chuyên gia thủy lợi nổi tiếng, người phản đối triển khai công trình, đã cố tình không được mời tham gia buổi “biện luận” cho công trình. Hoàng Vạn Lý đã vài lần viết thư cho lãnh đạo, thống thiết nói về công trình Tam Hiệp sẽ vô cùng nguy hại. Ông còn chỉ ra, báo cáo biện luận được công bố có vô vàn lỗ hổng, nên kịp thời dừng cương trước vực thẳm, mà thẩm tra lại từ đầu. Trung Cộng không hề có bất kỳ hồi đáp gì. Khi việc “biện luận” cho tính khả thi của công trình Tam Hiệp sắp kết thúc, vừa hay đụng phải sự kiện ngày 4 tháng 6 năm 1989, có những nhân sỹ phản đối công trình Tam Hiệp đã bị bắt vào tù, những phe phái phản đối khác cũng vì thế mà bị đàn áp. Kết luận của báo cáo của tổ biện luận môi trường sinh thái lúc đó là: Ảnh hưởng của công trình Tam Hiệp tới môi trường sinh thái là “Hại nhiều hơn lợi”. Ngoài ra ủy ban Khoa học Môi trường viện khoa học Trung Quốc, văn phòng nhóm lãnh đạo Tam Hiệp thuộc viện khoa học cũng có một nhóm chuyên gia phản đối triển khai công trình Tam Hiệp. Điều này đương nhiên không phải là chuyện khiến Trung Cộng vui mừng, cho nên vào ngày 06 tháng 07 năm 1990, trong cuộc họp báo cáo luận chứng về công trình Tam Hiệp do Chính phủ triệu tập, Phan Gia Tranh, người phụ trách kỹ thuật nhóm lãnh đạo luận chứng về tính khả thi của công trình, thay đổi kết luận “hại nhiều hơn lợi” của nhóm môi trường sinh thái biện luận về công trình Tam Hiệp trở nên lập lờ nước đôi như sau: “Ảnh hưởng tới môi trường sinh thái của công trình Tam Hiệp sâu rộng và lâu dài”. Sau đó ủy ban thủy lợi Trường Giang đã viện cớ về thiếu sót trong trình tự thủ tục, cụ thể là đại cương báo cáo của nhóm biện luận môi trường nguyên sinh thái chưa báo cáo lại cho Cục Bảo vệ Môi trường Quốc gia phê chuẩn, nên đã phủ định báo cáo này. Chỉ một thời gian ngắn ngủi, sáu tháng sau, trong báo cáo viết lại, kết luận lại thành “lợi nhiều hơn hại”. Tháng 03 năm 1991, lãnh đạo Trung Cộng là Giang Trạch Dân ban hành chỉ thị: “Xem ra tuyên truyền về Tam Hiệp có thể dùng cách mưa dầm thấm lâu, tiến hành chút tuyên truyền chính diện rồi, cũng nên bắt đầu chuẩn bị một chút”. Cuối năm 1991 và đầu năm 1992, truyền thông Trung Quốc ồ ạt báo cáo một cách tích cực về công trình Tam Hiệp, những lời phản đối lại hoàn toàn bị trấn áp.

Ngày 17 tháng 05 năm 2000, giáo sư Trương Quang Đấu, người hết sức ủng hộ chủ trương triển khai công trình sau khi phát hiện ra sai sót rằng hồ chống lũ của công trình Tam Hiệp trên thực tế không thể đạt được tiêu chuẩn thiết kế, đã dặn đi dặn lại chủ nhiệm văn phòng Ban xây dựng công trình Tam Hiệp: “Chuyện này nhất quyết không thể công khai ra ngoài xã hội.” (Cuốn tạp chí“Thăm dò về Tam Hiệp” Kỳ thứ 27)

Ngoài ra, các chuyên gia trong nước và hải ngoại đã chỉ ra, mức độ phá hoại môi trường sinh thái công trình Tam Hiệp vượt quá xa so với lợi ích kinh tế của nó, chỉ riêng tổn thất tạo thành do nước trong hồ nước Tam Hiệp khiến cho dòng nước chậm lại, khả năng tự làm sạch của nước yếu đi, chất lượng nước kém đi, vượt quá so với thu nhập kinh tế mang lại từ phát điện của công trình Tam Hiệp. Trương Quang Đấu, chủ nhân, người phê duyệt chính về môi trường trong công trình Tam Hiệp sau khi triển khai công trình vào năm 2000 lại phát hiện khu hồ Tam Hiệp bị ô nhiễm gây ra vấn đề rất nghiêm trọng, ông đã từng kiến nghị bên trên cấp tiền để xử lý vấn đề trên. Ông ước tính phải cần tới 300 tỷ Nhân dân tệ (Tạp chí “Thăm dò về Tam Hiệp” kỳ thứ 27). Điều cần chú ý là tổng đầu tư của công trình Tam Hiệp là 180 tỷ Nhân dân tệ. Do công trình nảy sinh quá nhiều vấn đề, dẫn tới sau này Trung Cộng không còn ai muốn gánh trách nhiệm này. Tháng 05 năm 2006, công trình xuyên thế kỷ này hoàn công, nhưng không một vị lãnh đạo nào của Trung Cộng tham dự buổi lễ.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Với Trung Cộng, “khoa học” và “nhà khoa học” đều chỉ là nô tài phải nghe theo yêu cầu của chính trị, khi không cần đến thì có thể đánh ngã ngay trên mặt đất, tùy ý chà đạp, đến khi cần đến lại trở thành cây gậy để tấn công những ý kiến bất đồng. Một mặt, những nhà khoa học dám nói lời thật, có nhân cách độc lập như Hoàng Vạn Lý, dưới sự thống trị của Trung Cộng thì chỉ có thể ôm hận suốt đời. Mặt khác, lại có một nhóm “nhà khoa học” giỏi thích ứng với khẩu vị của Trung Cộng, như Phan Gia Tranh, Trương Quang Đấu đã nhắc ở phía trên, đều vì “biết nghe lời” mà được trọng dụng. Khi Trung Cộng cần “giới khoa học” ủng hộ nhằm trấn áp các tín ngưỡng dân gian như Pháp Luân Công, hai người đó lại lắc mình biến thành cái gọi là người khởi phát của “Hiệp hội phản tà giáo Trung Quốc”.

Bộ tuyên truyền có phòng khoa học, quản những vấn đề hình thái ý thức trong lĩnh vực khoa học, hiện nay Hà Tộ Hưu kẻ tiên phong trong “phản ngụy khoa học” của Trung Cộng, trong những năm 50 của thế kỷ trước đã từng là “đại tướng” của phòng đó. Thế kỷ trước, phòng khoa học thuộc Bộ Tuyên truyền đã dấy lên cái gọi là phê phán “ngụy khoa học”, làm ra hết cuộc vận động này đến cuộc vận động khác, hầu như lan tới tất cả mọi môn học về khoa học tự nhiên. Ví dụ như phê phán Học thuyết gen của Morgan, phê phán di truyền học của Mendel, phê phán kiến trúc học của Lương Tư Thành, phê phán nhân khẩu học của Mã Dần Sơ, phê phán một vài lý luận của cơ học lượng tử, phê phán Thuyết tương đối, phê phán Thuyết khống chế… Điển hình như Thuyết khống chế bị phê phán thành mưu đồ dùng “quan điểm thuần kỹ thuật để giải thích hiện tượng xã hội, từ đó mà che đậy đi nguyên nhân căn bản của sự hủ bại và sự suy tàn của xã hội giai cấp tư sản”, Enstein bị nói thành “kẻ phản động lớn nhất trong giới học thuật của giai cấp tư sản trong giới khoa học tự nhiên”, còn Thuyết tương đối thì bị nói thành “từ đầu chí cuối đều là siêu hình học chủ nghĩa duy tâm”; Thuyết Big Bang vụ nổ lớn trong vũ trụ và vũ trụ học hiện đại là “điển hình của chủ nghĩa duy tâm trong lĩnh vực học thuật”, là “cung cấp luận chứng mới cho tôn giáo và khoa học”…

Mấy chục năm nay Trung Cộng giết người, làm ra các cuộc vận động đều có lý do đường hoàng, chính là vì xây dựng cái gọi là “thiên đường nhân gian” của Chủ nghĩa cộng sản. Nhưng “Lý luận Chủ nghĩa cộng sản” — kinh điển “khoa học” mà Trung Cộng tung hô, trên thực tế lại đúng là thứ tà thuyết méo mó đi ngược lại với quy luật tự nhiên. Theo lý luận của Chủ nghĩa cộng sản, cái gọi là Chủ nghĩa cộng sản là “hình thái cao nhất” của xã hội nhân loại, cơ sở lý luận của nó là thông qua sự phát triển cao độ của sức sản xuất, của cải vật chất cực kỳ phong phú, đạt tới mức thiên hạ đại đồng “phân phối theo nhu cầu”. Nhưng điều bất hạnh là dục vọng của con người thì không có giới hạn nhưng tài nguyên thiên nhiên lại hữu hạn.

Năm 1972, câu lạc bộ Rome do những chuyên gia uyên bác trên toàn cầu tổ chức đã phát biểu bài nghiên cứu nổi tiếng “Giới hạn cực điểm của tăng trưởng” đã chỉ ra sức sản xuất của con người không thể tiếp tục tăng trưởng một cách không hạn chế, lần đầu tiên kêu gọi được sự quan tâm rất lớn của nhân loại về vấn đề môi trường và phát triển. Ngay những năm 80 của thế kỷ trước, trong bản báo cáo có sức ảnh hưởng trên toàn cầu với chủ đề “Tương lai chung của chúng ta” do “Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới” của Liên Hợp Quốc phát biểu đã chỉ ra rằng: Khủng hoảng môi trường, khủng hoảng nguồn năng lượng và khủng hoảng phát triển không thể tách rời nhau; tài nguyên và nguồn năng lượng của trái đất còn xa mới có thể thỏa mãn yêu cầu phát triển của nhân loại. Căn cứ theo đó, báo cáo đã chỉ ra khái niệm “có thể tiếp tục phát triển”. Nói cách khác, nói là do mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển của con người và tài nguyên hữu hạn của trái đất, đạt được cái gọi là sự phong phú cực đại về vật chất của cải “phân phối theo nhu cầu” là điều không thể. Khi Marx nêu ra lý luận Chủ nghĩa cộng sản, nhân loại đang ở thời kỳ đầu công nghiệp hóa, nhận thức về mối quan hệ giữa con người và môi trường vô cùng kém. Đảng Cộng sản lại dùng lý luận “Chủ nghĩa cộng sản” do Marx đề ra vào hơn 100 năm trước là chân lý chuẩn cho cả bốn bể, điều này bản thân nó là thái độ ngu xuẩn và phục tùng mù quáng.

6) Việc nhà khoa học tin vào Thần không hề là trở ngại ngăn cản thành tựu khoa học của họ

Khi Giang Trạch Dân viếng thăm nước Mỹ đã hỏi tổng thống Clinton của Mỹ: Vì sao khoa học nước Mỹ lại phát triển như vậy mà vẫn có nhiều người tín ngưỡng tôn giáo? Đây chính là một trong những ví dụ điển hình cho sự ngu dốt vô tri của nhà lãnh đạo Trung Cộng. Kỳ thực, mỗi một người Trung Quốc cũng nên hỏi Trung Cộng xem nó dốc toàn lực để nhồi nhét khoa học hiện đại, tuyên truyền cái gọi là “Thuyết vô Thần khoa học” mấy chục năm nay, vì sao đường đường một nước lớn với 1,3 tỷ dân lại không có lấy một người đạt giải Nobel? Còn những người hoa tại hải ngoại đạt giải Nobel ngược lại lại vừa khớp là đều chưa từng bị Trung Cộng nhồi nhét? Kỳ thực chính là do Trung Cộng nhồi nhét khoa học hiện đại, hoàn toàn không phải là vì phát triển khoa học kỹ thuật của Trung Quốc, thực chất là vì đàn áp tín ngưỡng, kìm kẹp tự do tư tưởng. Nhưng điều cần cho sáng tạo khoa học chính là một môi trường tư tưởng tự do. Phương thức nhồi nhét của Trung Cộng lại cực lực đối lập với khoa học và tín ngưỡng, hình thành một lối tư duy cứng nhắc trong đầu óc nhân dân, cho rằng tín ngưỡng vào Thần nhất định sẽ dẫn đến sự ngu dốt, dẫn đến “phản khoa học”, miêu tả những tín đồ tôn giáo là một nhóm người bị lừa gạt văn hóa chẳng có là mấy và tìm kiếm sự an ủi tâm linh.

Trên thực tế, lần giở lịch sử chúng ta sẽ thấy được rằng, những nhà khoa học vĩ đại trong thời kỳ khoa học phát triển đỉnh cao, gồm Copernicus, Descartes, Galileo và Newton đều tự xưng mình tuyệt đối tin vào Sáng Thế Chủ, cho rằng thế giới này, kiệt tác của Thần là có quy tắc khuôn phép mà cần phải tuân theo, đang đợi các nhà khoa học đi phát hiện chứng thực. Nghiên cứu khoa học và tín ngưỡng vào Thần của cá nhân không phải là mối quan hệ như nước với lửa mà Đảng Cộng sản tuyên truyền. Có một sự thực không thể phủ nhận được là, có một lượng lớn những nhà khoa học lớn lưu danh sử sách là người “hữu Thần luận” có tín ngưỡng tôn giáo, như Kepler – người đặt nền móng cho thiên văn học hiện đại, Boyle- nhà tiên phong của hóa học hiện đại, Faraday – người phát hiện ra nguyên lý điện phân, Morse  – nhà phát minh ra điện báo, Maxwell – người tổng hợp lý luận điện từ, Jun – người phát hiện ra sự tương đương giữa cơ và nhiệt, Dalton – người được vinh danh là cha đẻ của lý luận nguyên tử, Mendel – người đặt nền móng cho di truyền học hiện đại, Fleming – người phát minh ra thuốc kháng sinh Penicillin, Pasteur – người sáng lập ra ngành vi sinh vật học, họ đều là những tín đồ tôn giáo rất thành kính.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Một điều đáng nhắc tới là Newton – bậc thầy của vật lý cổ điển, là một tín đồ Cơ Đốc thành kính, Trung Cộng không thể che đậy một sự thật được cả thế giới công nhận, cho nên trong sách giáo khoa cố ý nói thành những năm cuối đời Newton đã dấn thân vào tôn giáo và do vậy không có thêm sáng tạo gì, khiến con người hiểu lầm rằng rất nhiều phát hiện khoa học những năm đầu được dẫn dắt bởi thế giới quan của “Thuyết vô Thần”, còn những năm cuối đời họ tín ngưỡng tôn giáo đã gây trở ngại cho việc sáng tạo khoa học. Nhưng sự thực là Newton đã sớm là một tín đồ Cơ Đốc trước khi làm việc nghiên cứu khoa học rất lâu, mà cả đời ông tín ngưỡng vào Thần không hề thay đổi. Khi Newton còn học tại trường Cambridge, ông đã sớm là một tín đồ Cơ Đốc thành kính. Ông thường hay viết những lời cầu nguyện của mình vào những chỗ trống trong sổ tay hay sách vở, thậm chí đến nay vẫn còn lưu giữ rất nhiều trong viện bảo tàng Anh. Ông cũng thường cùng với người bạn cùng phòng tên là Andrew Wiggins ra ngoài phân phát Thánh kinh cho người nghèo, gửi phúc âm tới cho họ. Cho nên kinh sách mua để phân phát đã trở thành chi phí lớn nhất ngoài tiền thuê phòng và tiền ăn trong cuộc sống thời học sinh của ông. Thậm chí những suy ngẫm về khoa học của Newton cũng có mối quan hệ không thể tách rời với những lời cầu nguyện trong cuộc sống của ông. Ông thường nghĩ tới khoa học trong dòng suy nghĩ về tín ngưỡng, trong dòng suy nghĩ về khoa học ông cũng nhớ tới tín ngưỡng. Đến nỗi sau này giáo sư Manuel khoa lịch sử trường đại học New York trong cuốn “Newton truyện” của mình đều nói: “Khoa học cận đại khởi nguồn từ những mặc niệm của Newton về Thượng đế.”


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Theo tiến sỹ Harriet Chad Zuckerman của trường Đại học Columbia nước Mỹ, năm 1977 trong tài liệu thống kê nổi tiếng của mình “Anh tài khoa học – những người đoạt giải Nobel nước Mỹ”, từ khi thiết lập giải Nobel năm 1901 đến nay, trong 286 nhà khoa học đã đạt giải khoa học của nước Mỹ, 73% người đạt giải là tín đồ Cơ Đốc, 19% là tín đồ Do Thái. Richard Feynman – nhà vật lý học nổi tiếng từng đoạt giải Nobel đã nói: “Rất nhiều nhà khoa học quả thực vừa tin tưởng khoa học vừa tin vào Thượng đế, mà hai điều này lại có thể thống nhất một cách hoàn mỹ.” Von Braun – nhà khoa học hàng không hiện đại đã từng viết một đoạn như sau, có lẽ có thể coi là lời giải thích cho Feynman: “Sự thần kỳ vô biên của vũ trụ chỉ có thể chứng thực đức tin của chúng ra rằng, chắn chắn có Đấng sáng thế. Tôi phát hiện ra rằng, việc lý giải một nhà khoa học không thừa nhận tính siêu thường của vũ trụ và một nhà thần học phủ nhận sự tiến bộ của khoa học đều khó như nhau”

7) Chứng thực khoa học không phải là phương thức duy nhất khám phá về quy luật của vũ trụ

Ngày 01 tháng 03 năm 1994 đã chính thức bắt đầu khai quật tượng binh mã hầm số 2 của Tần Thủy Hoàng. Nhà khoa học khảo cổ đã phát hiện một lô kiếm đồng xanh trong hầm thứ 2, trên thanh kiếm có 8 hình lăng diện. Nhà khảo cổ học dùng thước kẹp đo đạc phát hiện 8 hình lăng diện chỉ sai lệch không đến một sợi tóc. 19 thanh kiếm đồng xanh đã được khai quật, thanh nào cũng như vậy. Điều càng khiến con người thấy kỳ lạ là chúng vùi sâu trong đất sét đã hơn 2.000 năm vậy mà khi được khai quật vẫn sáng bóng như mới, sắc bén vô cùng. Sau khi nhân viên nghiên cứu khoa học phát hiện trên bề mặt thanh kiếm có một tầng hợp chất crom dày 10 micro-met. Phát hiện này lập tức chấn động thế giới, bởi vì cách xử lý oxy hóa crom này là công nghệ tiên tiến đến thời cận đại mới xuất hiện, lần lượt phát minh tại Đức năm 1937, tại Mỹ năm 1950 và đã được cấp quyền sở hữu sáng chế.

Có một sự trùng hợp kỳ lạ là khi nhân viên khảo cổ dọn dẹp hầm số 1 của Tần Thủy Hoàng lần thứ nhất đã phát hiện một thanh đồng xanh bị một bức tượng gốm nặng tới 150 kg đè cong, độ cong của nó vượt quá 45 độ, sau khi mọi người di chuyển bức tượng gốm đi thì một kỳ tích khiến người ta phải kinh ngạc đã xuất hiện: một thanh kiếm bằng đồng xanh vừa hẹp vừa mỏng trong nháy mắt đã đàn hồi thẳng trở lại , khôi phục lại một cách tự nhiên. “Hợp kim nhớ được hình trạng” trong mơ của các nhà luyện kim học đương đại lại xuất hiện trong hầm mộ cổ đại hơn 2.000 năm trước. “Hợp kim nhớ được hình trạng” ngày nay có rất nhiều tác dụng, ngay cả áo ngực của phụ nữ cũng dùng tới, cũng chính là “gọng ôm giữ hình trạng”, nhưng nào ai nghĩ tới, văn minh khoa học những năm 80 thế kỷ trước vì sao lại xuất hiện vào hơn 200 năm trước Công nguyên.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Chúng ta hãy thử đặt một giả thiết, giả như kỹ thuật đúc kim thần kỳ kể trên hoàn toàn không hề lưu trên vật thể thực mà chỉ là ghi chép trong sách cổ của Trung Quốc. Hơn nữa trong khi nhân loại hiện đại chúng ta ở đầu thế kỷ trước cũng chưa phát minh ra kỹ thuật tương tự thì lại phát hiện ra những ghi chép trong sách cổ này. Theo cái mà Trung Cộng gọi là quan điểm “kế thừa một cách phê phán” văn minh cổ đại Trung Quốc rằng: ngay cả kỹ thuật mà người hiện đại cũng không thể thực hiện được lại xuất hiện trong sách cổ, thì đó nhất định là “mê tín” hoặc “tưởng tượng nghệ thuật”. Đồng thời những kẻ tay sai “phản ngụy [khoa học]”, “chống giả” cũng nhất định sẽ trích dẫn căn cứ, luận chứng cho lời lẽ dối trá của nó.

Trên thực tế, đây chính là do Trung Cộng nhồi nhét khoa học hiện đại một thời gian dài khiến cho mọi người có biểu hiện tư duy cứng nhắc sùng bái khoa học hiện đại thực chứng là chân lý duy nhất. Những người chịu ảnh hưởng của tư tưởng này sẽ nhất loạt bài xích những lĩnh vực khoa học chưa được khám phá, những hiện tượng không thể giải thích được, thậm chí còn chụp lên cái mũ “ngụy khoa học” và “mê tín”.

Khoa học kỹ thuật cổ đại Trung Quốc hoàn toàn không đi theo con đường khoa học thực chứng của phương Tây, nhưng có thể căn cứ vào đó mà coi đó là hoang đường? Từ trong giả thiết nêu trên, chúng ta không khó nghĩ được rằng trong di sản văn hóa tổ tiên Hoa Hạ mấy nghìn năm lưu lại biết bao nhiêu bao nhiêu những cái gọi là “mê tín” ấy, nhất định cũng có những tinh túy văn minh cổ đại mà khoa học hiện đại không thể nhận thức được. Trung y cổ đại đã phát hiện ra kinh lạc, phát minh ra châm cứu, ngày nay khoa học hiện đại đã áp dụng các phương pháp như đo lường điện trở da để chứng thực sự tồn tại khách quan của kinh lạc và huyệt vị, tác dụng của Trung y cũng được Tổ chức Y tế Thế giới thừa nhận và đánh giá cao. Kinh mạch, huyệt vị của cơ thể người thực tế là một đặc trưng của sinh mệnh, chỉ thể hiện trên thân người sống, sự vận hành của kinh lạc cũng chịu ảnh hưởng của tinh thần con người, hơn nữa hầu như không có đặc trưng kết cấu giải phẫu. Theo con đường khoa học chứng thực, dùng phương pháp giải phẫu của Tây y là căn bản không thể nào phát hiện được. Đặc biệt là người xưa còn dùng ngũ hành sinh khắc trong thiên can địa chi đã phát hiện ra quy luật huyệt vị đóng mở và năng lượng thay đổi theo thời gian, từ đó mà ứng dụng vào trị liệu lâm sàng và thu được hiệu quả trị liệu rõ rệt. Đây càng là điều mà Tây y lấy giải phẫu làm cơ sở khó có thể có hi vọng theo kịp. Thực tế cổ nhân Trung Quốc đã thông qua đả tọa tu luyện mà quan sát được sự vận hành của kinh mạch. Lý Thời Trân thời Minh trong “Kỳ kinh bát mạch khảo” đã nói: “Nội cảnh toại đạo, duy phản quan giả năng chiếu sát chi” (Đường ngầm nội cảnh duy chỉ có quan sát ngược lại mới có thể quan sát được nó). Khoa học cổ đại Trung Quốc chú trọng “Thiên nhân hợp nhất”, coi thân thể vật chất của con người, tinh thần của con người và toàn vũ trụ là một thể hữu cơ mà trực tiếp tiến hành nghiên cứu tổng thể.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Điều hiển nhiên là một khi cần đưa hoạt động tinh thần của bản thân nhân loại vào hoàn cảnh chỉnh thể của đối tượng mà nghiên cứu, thì những biện pháp như quá trình thí nghiệm lặp lại, phân tích hoàn nguyên mà khoa học chứng thực cần đều không còn thích hợp. Từ điểm này mà xét, những người vung cây gậy khoa học chứng thực đánh vào văn hóa tu luyện truyền thống của Trung Quốc, tự coi là mình nắm vững chân lý, trên thực tế lại chính là bị Văn hóa đảng che mắt hoàn toàn, họ đã làm tôn giáo hóa, uy quyền hóa, thậm chí là chính trị hóa khoa học hiện đại.

8) Chứng thực tính hạn chế của khoa học

Do khoa học hiện đại đã thẩm thấu vào hầu như mọi lĩnh vực có liên quan tới cuộc sống của con người, điều này khiến Trung Cộng rất dễ dàng dùng phương thức tư duy cứng nhắc để nhồi nhét khoa học hiện đại, đến nỗi rất nhiều người đã coi khoa học hiện đại cũng giống như chân lý một cách không tự biết, còn “không khoa học” lại trở thành một danh từ đồng nghĩa với sai lầm. Trên thực tế từ khoa học (Science) bắt nguồn từ trong chữ La tinh“Scientia”, nghĩa nguyên gốc là “học vấn”, căn bản là chuyện khác với chân lý. Nói rộng ra, khoa học chính là phương pháp thăm dò và không ngừng tiếp cận với quy luật của vũ trụ mà từ đó hình thành thể hệ tri thức. Khoa học hiện đại là một bộ phương pháp và thể hệ tri thức của nó. Khoa học hiện đại là lấy logic hình thức và phương pháp chứng thực làm cơ sở để nhận thức và tìm kiếm quy luật của thế giới vật chất, ở đây chúng tôi gọi nó là khoa học thực chứng. Từ nghĩa này mà giảng, khoa học thực chứng hoàn toàn không đồng nghĩa với chân lý cuối cùng, nó lẽ ra nên luôn sẵn sàng chuẩn bị tiếp thụ kiểm nghiệm của sự thực mới, thuận theo sự phát triển nhận thức của con người và phát triển của bản thân sự vật. Đồng thời chúng ta cũng không thể đảm bảo rằng phương pháp tìm kiếm của khoa học chứng thực hiện đại là phương pháp duy nhất để tìm kiếm chân lý của vũ trụ.

Đồng thời với sự phát triển nhanh chóng, khoa học hiện đại cũng đã dần dần mang tới cho nhân loại nhiều vấn đề đau đầu. Một lớp những nhà khoa học có tầm nhìn xa đã bắt đầu nhận thức được giới hạn của khoa học hiện đại. Cơ sở triết học của khoa học thực chứng đến từ phương Tây, là phân chia một thế giới hoàn chỉnh thành hai phạm trù độc lập: vật chất và tinh thần, do đó mà quan niệm về tự nhiên được thiết lập đã phân tách con người và tự nhiên, con người và thế giới, tâm và vật. Hậu quả của nó chính là không thể chứng minh được bản chất của hoạt động tinh thần, mối quan hệ giữa tinh thần và vật chất, tác dụng của tinh thần với vật chất, mà sinh mệnh của con người là một thể hợp nhất giữa tinh thần và vật chất.

Như vậy, hoạt động tinh thần nằm ngoài tầm mắt của khoa học chứng thực hiện đại, đạo đức lại chỉ là thuyết giáo thuần túy không có cơ sở vật chất, con người và tự nhiên cũng không còn là một thể hoàn chỉnh. Một trong những hậu quả của nó chính là sự đối lập giữa con người và tự nhiên. Sự phát triển của khoa học do con người đóng vai trò chủ đạo lại có tính mù quáng rất lớn. James Watt phát minh ra động cơ hơi nước, từ đó đã khởi phát Cách mạng Công nghiệp mang lại một thời đại mới sử dụng nguồn năng lượng nhiên liệu hóa thạch với quy mô lớn. Ai cũng không thể nghĩ được rằng nhân loại 200 năm sau sẽ vì vậy mà rơi vào khó khăn do hiệu ứng nhà kính. Thuốc sát trùng nhân tạo DDT từng được cho là phúc của nhân loại, bởi vì có thể khiến cho mùa màng tránh được sâu hại, nhưng điều mà người ta không nghĩ tới là, một số năm về sau côn trùng sản sinh ra tính kháng thuốc, mà trong đồ ăn của con người lại phát hiện thấy ĐT, điều làm người ta sợ hãi hơn là trong cơ thể thanh thiếu niên, thậm chí trong sữa mẹ cũng phát hiện được DDT. Còn cô-ca-in lại là loại thuốc công hiệu dùng gây mê cục bộ trong lâm sàng, vì phát hiện ra nó mới có nhiều hơn những sinh mệnh được cứu ở phòng mổ. Nhưng ngày nay  số người hút cô-ca-in đã lên đến hàng chục triệu, chúng ta thậm chí có thể nói một cách không hề quá: Cô-ca-in hủy diệt sinh mệnh còn nhiều hơn cả số người nó cứu được. Khi Enstein phát hiện ra phương trình chuyển hóa giữa năng lượng và khối lượng(E=MC^2), ông tuyệt đối không nghĩ tới vài chục năm sau “uy hiếp hạt nhân” lại trở thành thanh gươm Damocles treo lơ lửng trên đầu nhân loại.

Enstein từng nói: “Khoa học là một công cụ có sức mạnh. Dùng nó như thế nào, rốt cuộc là nó mang lại hạnh phúc hay mang lại tai nạn cho con người, hoàn toàn quyết định ở bản thân mình, chứ không quyết định bởi công cụ.” Theo Enstein, khoa học đối với nhân loại là phúc hay là họa, không thể giải quyết từ bản thân khoa học, chỉ con người tự mình mới có thể giải quyết. Về điểm này thì ông nghĩ, ngoài tôn giáo truyền thống ra còn có điều gì có thể tốt đẹp phù hợp hơn? Ông nói: “Nếu chúng ta cắt bỏ hết thảy tất cả những thứ sau này phụ thêm vào, đặc biệt là những thứ mà các giáo sỹ truyền giáo đó thêm thắt vào trong Do Thái giáo vốn được những nhà tiên tri kiến lập và Cơ Đốc giáo do Jesu truyền, vậy thì sẽ lưu lại những giáo nghĩa có thể chữa trị mọi bệnh tật của xã hội nhân loại.” Tại đây Enstein đã nhận thức được sự giới hạn bởi việc khoa học hiện đại tách rời tinh thần và vật chất mang tới.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Đối với người dân bình thường, đặc biệt là rất nhiều người dân do bị Trung Cộng nhồi nhét Văn hóa đảng mà tin rằng khoa học hiện đại không gì là không thể làm được, thì đều chưa nhận thức được đủ các loại khủng hoảng mà sự phát triển của khoa học hiện đại mang lại cho nhân loại. Rất nhiều những nhà khoa học tỉnh táo đã nhận thức được vấn đề này. Năm 1992, Liên Hợp Quốc đã tổ chức Hội nghị Môi trường và Phát triển thế giới tại Rio de Janeiro thuộc Brazil, với sự tham dự của các nguyên thủ quốc gia. Một bức thư có chữ ký của hơn 120 người đoạt giải Nobel đã được đưa tới hội nghị, khiến mọi người bừng tỉnh. Trong bức thư viết: “Nhân loại và tự nhiên đã ở vào thế xung đột mãnh liệt. Những hoạt động của nhân loại đã phá hoại nghiêm trọng môi trường và những tài nguyên trọng yếu, mà kiểu phá hoại này thường thường là không thể khôi phục lại. Nếu không kiểm điểm lại thì rất nhiều hoạt động của chúng ta sẽ đặt tương lai của xã hội nhân loại và vương quốc của các loài động thực vật mà chúng ta hy vọng vào tình thế cực kỳ nguy hiểm. Hơn nữa có thể còn khiến cả thế giới sinh mệnh này trở thành một thế giới không thể duy trì bất kỳ phương thức sinh mệnh nào mà chúng ta biết. Nhằm tránh những xung đột sắp tới, việc cải biến về bản chất (những hoạt động của con người) đã vô cùng cấp bách.”

Điều cần nói rõ là chúng tôi không có ý chỉ trích khoa học hiện đại. Việc chỉ ra sự hạn chế của khoa học hiện đại là nhằm làm rõ những hiểu lầm do Văn hóa đảng tạo thành, phơi bày mục đích thực sự của việc Trung Cộng nhồi nhét khoa học hiện đại chính là đàn áp tín ngưỡng, nhồi nhét Thuyết vô Thần, cuối cùng đạt được mục đích cải tạo tư tưởng.

========

Văn hóa Trung Hoa 5.000 năm dựa vào mối quan hệ giữa Trời đất, Thần linh và con người mà xác lập một hệ thống những giá trị từ trên xuống dưới, kính sợ Thần minh, tin vào Thiên mệnh và thiện ác báo ứng, coi trọng việc thuận theo Thiên đạo, phản bổn quy chân là giá trị hạt nhân của Văn hóa truyền thống. Trung Cộng giương cao lá cờ lớn “tôn sùng khoa học”, “phá bỏ mê tín phong kiến”, hạ thấp những giá trị cốt lõi này cho là “cám bã phong kiến”, đồng thời thông qua thủ đoạn nhồi nhét Thuyết tiến hóa chưa qua chứng thực và nhồi nhét khoa học thực chứng đã bị phiến diện hóa, tôn giáo hóa, dựa vào bạo lực đấu tranh chính trị tàn khốc mà đạt được mục đích quảng bá Thuyết vô Thần và triết học đấu tranh. Mặc dù Trung Cộng ngày nay nhằm tô vẽ cho bộ mặt của nó cũng đành phải ra vẻ tôn sùng Văn hóa truyền thống, nhưng do cơ sở của Thuyết vô Thần đã được xác lập tại Trung Quốc, nên tín ngưỡng vào Thần hầu như đã trở thành sự “mê tín ngu muội” mà ai cũng chê cười. Dù nó tu sửa bao nhiêu đền chùa, thành lập bao nhiêu “Học viện Khổng Tử”, đưa ra bao nhiêu khẩu hiệu dễ nghe như “bát vinh bát nhục”, “xây dựng xã hội hài hòa” thì thần vận của văn hóa Trung Hóa sớm đã bị Trung Cộng xóa bỏ. Hình thức văn hóa mất đi giá trị nội hàm chỉ có thể giống như nước không có nguồn, cây không có cội.

Trung Cộng mượn oai bạo lực để cưỡng chế cải tạo tư tưởng của mọi người bằng “Thuyết vô Thần”. Văn hóa truyền thống kính Thiên kính Thần, đạo pháp tự nhiên hầu như đã bị Trung Cộng nhổ bật tận gốc, đến nỗi trật tự xã hội ngày nay cũng được duy trì chỉ nhờ vào chút quan niệm đạo đức truyền thống mà người già để lại, còn văn hóa và đạo đức thiếu hụt tín ngưỡng đã trở nên nhợt nhạt và yếu đuối, bất kỳ lúc nào cũng có thể bị Chủ nghĩa vật chất, chủ nghĩa công danh lợi lộc và chủ nghĩa túng dục hoành hành tràn lan nhấn chìm một cách triệt để… Khi những đạo đức tốt đẹp của Hoa Hạ bị rửa sạch bong, khi tín ngưỡng thiện ác hữu báo bị hạ thấp tới mức không đáng giá một xu, con người không còn tìm kiếm giá trị của sinh mệnh, cũng không cần theo đuổi sự hoàn thiện về nhân cách, trong tâm người ta không còn một chút kiêng dè kiêng kỵ gì, chỉ còn lại “sự phóng túng”, “sống vì trước mắt”, sự thỏa mãn của cảm quan và sự theo đuổi vô độ với dục vọng. Kết quả việc cải tạo tư tưởng của Trung Cộng đã khiến tâm linh người Trung Quốc không còn chốn về, khiến dân tộc Trung Hoa mất đi cái gốc của sinh mệnh.

 

Ảnh: Đại Kỷ Nguyên


Bản tiếng Hán:

http://www.epochtimes.com/gb/6/9/25/n1465288.htm

http://www.epochtimes.com/gb/6/9/28/n1469209.htm

http://www.epochtimes.com/gb/6/9/30/n1471592.htm

Chú thích:

[1] Vũ Huấn – một người ăn mày và nhà hoạt động giáo dục danh tiếng thời nhà Thanh. Với việc đi ăn xin trong hơn 30 năm để góp tiền thành lập trường học dành cho những người nghèo túng, ông được coi như một đại anh hùng, các sử sách thời cận đại xưng tụng ông là “Khoáng thế kỳ nhân”.Trong cách mạng văn hoá, có lúc Vũ Huấn bị lôi ra chỉ trích (1951) vì đã “mở trường dạy học bằng tiền ăn xin”. Năm 1950, bộ phim “Vũ Huấn truyện” dài 204 phút ra đời, nội dung gây được nhiều cảm động, nhưng lại bị các nhà lãnh đạo phê phán.

[2] Hải Thụy là một vị quan nổi tiếng Trung Quốc trong thời nhà Minh. Tên ông đã đi vào lịch sử như là một mẫu người trung thực và liêm chính và hình ảnh của ông đã nổi lên như là một nhân vật lịch sử quan trọng trong thời kỳ Cách mạng văn hóa.

[3] Hồng bát nguyệt” (Tháng tám đỏ) năm 1966 – thời điểm bạo lực giết chóc của ĐCSTQ lên đến đỉnh điểm, lúc hồng vệ binh tàn bạo nhất mỗi ngày số người bị đánh chết cao tới ba con số; chỉ trong tháng tám tại Bắc Kinh đã có tới 1772 người bị đánh chết.

Ngày đăng: 24-11-2014