Chương 7: Văn hóa đảng trong cuộc sống

Mục lục:

1. Gọi Hoàng Lịch của Trung Quốc thành lịch nông nghiệp hoặc âm lịch, gọi năm mới Trung Quốc thành tết xuân

1) Gọi Hoàng Lịch Trung Quốc thành lịch nông nghiệp hoặc âm lịch

2) Gọi tân niên thành tiết xuân

2. Phá bỏ tiết mục truyền thống, ăn tết đảng do đảng sắp đặt

3. Người trẻ kết hôn, việc mới làm theo cách mới, không bái trời đất, không bái Thần, mà hát bài ca cảm ơn đảng

1) Hôn lễ trong văn hóa truyền thống

2) Trung Cộng làm lệch lạc hôn nhân

4. Khống chế sinh đẻ, vợ chồng là đồng chí cách mạng. Nam nữ đều giống nhau, phụ nữ nắm giữ nửa vùng trời

1) Khống chế sinh sản

2) Vợ chồng là đồng chí cách mạng

3) Nam nữ như nhau, phụ nữ làm chủ nửa vùng trời

5. Chống hạn hán, lũ lụt, đấu với Trời đấu với Đất, Đảng chỉ đâu đánh đó, mang quan niệm đấu tranh giai cấp

1) Chống hạn hán, lũ lụt, đấu với Trời đấu với Đất

2) Đảng chỉ đâu đánh đó, có quan niệm đấu tranh giai cấp

Kết luận

========

Bất kỳ một nền văn minh vĩ đại nào đều phải trải qua một quá trình diễn biến và tích lũy dài lâu. Trong 5.000 năm văn hóa Trung Hoa, những vị hoàng đế hết triều đại này tới triều đại khác đều qua đi, hết triều đại này tới triều đại khác lại kết thúc, nhưng những giá trị cốt lõi như kính Thiên, tín Thần, yêu dân, yêu vật lại không hề mất đi.

Dưới sự chỉ đạo của những giá trị này, xã hội Trung Quốc truyền thống tồn tại những bộ phận xã hội khác nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người trong những giai tầng khác nhau — nhu cầu sinh tồn, nhu cầu tình cảm, nhu cầu an toàn, nhu cầu tinh thần, v.v.. Sự tồn tại của chính trị là nhằm phục vụ xã hội, sự tồn tại của xã hội là để phục vụ con người, chứ không phải ngược lại. Những nội dung cơ bản của xã hội như tín ngưỡng tôn giáo, lý luận đạo đức, phong tục tập quán có tác dụng ước chế và chỉ đạo đối với chính trị. Khi chính quyền đi chệch hướng với quỹ đạo của chính nghĩa, con người có thể dựa vào chuẩn mực được xã hội công nhận để đặt ra quy phạm cho chính quyền, chỉnh lý chính quyền, thậm chí lật đổ chính quyền (thay trời hành đạo), xây dựng lại chính quyền. Khổng Tử từng nói: “Lễ thất nhi cầu chư dã”, nghĩa là triều đình mất đi lễ nghĩa, thì phải tìm lại lễ nghĩa từ trong dân gian. Tầm quan trọng của một xã hội lành mạnh, giàu sức sống thậm chí còn cao hơn cả chính quyền.

Nội hàm tinh thần của văn hóa Trung Quốc truyền thống uyên thâm đã quyết định xã hội Trung Quốc truyền thống trên tổng thể là một xã hội lành mạnh và giàu sức sống. Xã hội lành mạnh có nghĩa là tâm trí của người dân lành mạnh, mà người dân với tâm trí lành mạnh sẽ không thể để mặc cho Đảng Cộng sản lừa gạt và đe dọa. Do đó, Đảng Cộng sản phải nhổ tận gốc nhân tố truyền thống trong đời sống xã hội, thay thế nó bằng Văn hóa đảng.

Dưới sự thống trị của Đảng Cộng sản, xã hội bị chính trị hóa cao độ, chính trị bị nhất nguyên hóa cao độ. Đảng Cộng sản tuyên bố rằng “bất phá bất lập”, “đại phá đại lập”, muốn “thay đổi phong tục”, “phá cựu lập tân”. Trong một thời đại giết chóc, những gì bị phá trừ là nền văn minh cổ 5.000 năm của Trung Hoa, cái kiến lập nên là cái gen tà ác Văn hóa đảng của Trung Cộng.

Có thể có người cho rằng mình không bị Văn hóa đảng truyền nhiễm, ví như rất ít xem thời sự trên báo và ti vi, hoặc căn bản là không tham gia học tập chính trị. Nhưng điều mà Trung Cộng thực hành là “Đảng lãnh đạo tất cả”, chứ không phải là “Đảng lãnh đạo tất cả trừ cuộc sống cá nhân bạn”. Văn hóa đảng thẩm thấu vào cuộc sống của người dân Trung Quốc không chừa một khe hở nào. Có thể nói rằng, chỉ cần sống tại Trung Quốc Đại lục từ sau năm 1949 thì không thể không bị Văn hóa đảng đầu độc.

Văn hóa đảng phá hoại sâu sắc và triệt để xã hội Trung Quốc. Ngày nghỉ lễ theo quy định của pháp luật, cưới xin, ma chay, ăn ở đi lại, thậm chí gia đình và sinh nở, đều bị Đảng Cộng sản Trung Quốc nhào nặn theo ý muốn của nó. Dưới đây chúng ta sẽ lấy một vài ví dụ đơn giản để bắt đầu thảo luận về Văn hóa đảng trong cuộc sống.

1. Gọi Hoàng Lịch của Trung Quốc thành lịch nông nghiệp hoặc âm lịch, gọi năm mới Trung Quốc thành tết xuân

1) Gọi Hoàng Lịch Trung Quốc thành lịch nông nghiệp hoặc âm lịch

Người Trung Quốc vô cùng coi trọng lịch sử, việc ghi chép tường tận, chuẩn xác, lâu dài của lịch sử Trung Quốc cũng có thể sánh với lịch sử lâu dài của Châu Âu và Châu Phi. Việc này dĩ nhiên không chỉ là do người Trung Quốc có tinh thần sứ mệnh ghi lại lịch sử, mà điều quan trọng hơn là vũ khí lợi hại để người Trung Quốc biên tập lịch sử chính là phương thức ghi năm.

Nói một cách đơn giản, “lịch sử” chính là việc ghi lại vào “năm nào” đã xảy ra “việc gì”. Nếu không giải quyết được vấn đề ghi năm, thì sẽ gây trở ngại rất lớn cho việc chép sử. Cũng chính vì vậy niên đại lịch sử Châu Âu trước khi thống nhất lịch pháp (thế kỷ 17- 18) thường là mơ hồ, thậm chí hỗn loạn.

Lịch pháp truyền thống của Trung Quốc dùng can chi để ghi năm. Cái gọi là “can chi” là tên gọi tắt của “Thiên can” và “Địa chi”. Trong đó “Giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quý” là mười thiên can, “Tý, sửu, dần, mão, thìn, tị, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi” là mười hai địa chi. Ghi năm theo trình tự can chi lấy ra mỗi thứ một chữ, bắt đầu bằng chữ Giáp, 60 năm tuần hoàn một lần, lặp đi lặp lại cho tới vô cùng. Phương thức ghi năm bằng can chi này giúp lịch sử Trung Quốc thoát khỏi vấn đề xác định niên đại, mấy nghìn năm sau người Trung Quốc vẫn có thể dễ dàng đối chiếu năm trong sử sách Trung Quốc với năm dương lịch.

Mặt khác, người Trung Quốc cũng dùng can chi ghi tháng, ngày và giờ. Nói cách khác, do can chi bao hàm thiên can, địa chi mỗi loại một chữ, mỗi một thời khắc đều được đánh dấu từ can chi của năm, tháng, ngày, giờ, do đó tổng cộng có tám chữ. Ví dụ, 6 giờ sáng ngày 06 tháng 06 năm 2006, cũng thuộc về “Giờ tân mão, ngày bính dần, tháng giáp ngọ, năm bính tuất”, khi đó “Sinh thần bát tự” (ngày tháng năm sinh) của một người được gọi là “Bính Tuất, Giáp Ngọ, Bính Dần, Tân Mão”.

Lịch pháp sớm nhất của Trung Quốc là do Hoàng đế Hiên Viên ban bố. Hoàng đế Hiên Viên được tôn xưng là “Nhân văn sơ tổ” (Ông tổ nhân văn), do đó có thể thấy rằng người Trung Quốc rất coi trọng lịch pháp. “Ngũ Đế bản kỷ” trong “Sử ký” có ghi lại việc các hoàng đế Chuyên Húc, Đế Khốc, Nghiêu và Thuấn đều đã tiến hành chỉnh sửa lịch pháp, trong thời đại vua Thuấn, con người phân chia số ngày, mùa trong một năm cũng đã tương đối chính xác.

Do Hoàng đế Hiên Viên là người sáng lập ra văn hóa Đạo gia, bởi vậy người Trung Quốc từ thuở văn minh sơ khai đã rất coi trọng học thuyết âm dương của Đạo gia. Lịch pháp cũng biểu đạt về khái niệm cân bằng âm dương, lịch pháp truyền thống của Trung Quốc là lịch kết hợp giữa âm và dương, chứ không đơn thuần là âm lịch, cũng không đơn thuần là lịch dương.

Công lịch mà mọi người thường dùng ngày nay chính là một loại thái dương lịch (gọi tắt là lịch dương), nó lấy chu kỳ trái đất quay quanh mặt trời làm cơ sở, do đó cách phân chia trong tháng đó không có liên quan gì tới trăng tròn trăng khuyết, chỉ là một tên gọi mà thôi; lịch Hồi giáo là một loại lịch âm điển hình, cơ sở tính tháng của nó đều dùng chu kỳ tròn khuyết của mặt trăng, mỗi năm 12 tháng, khoảng 354 ngày, cho nên cứ 33 năm lại cách một năm so với công lịch.

Cổ nhân Trung Quốc chú trọng âm dương hòa hợp đã lập ra lịch pháp truyền thống, đồng thời cũng quan tâm tới chu kỳ mặt trăng tròn khuyết và chu kỳ trái đất xoay quanh mặt trời.

Độ dài bình quân của lịch tháng gần giống với tháng Sóc vọng (tháng mặt trời), đặt là “ngày sóc” (mùng 1) (tức là mặt trăng nằm giữa mặt trời và trái đất, nửa bán cầu được mặt trời chiếu sáng sẽ quay lưng về phía trái đất, ngày hôm đó đứng trên trái đất không nhìn thấy mặt trăng), tức là ngày mùng 1 của mỗi tháng, cho nên giữa tháng là “ngày vọng” (ngày rằm – ngày trăng tròn); thông qua việc đặt ra tháng nhuận, khiến độ dài bình quân của lịch năm tiếp cận với năm hồi quy là một loại lịch kết hợp âm dương “tháng âm năm dương”. Nó vừa có thể khiến mỗi một năm về cơ bản đều phù hợp với thay đổi của từng mùa, lại có thể khiến ngày của mỗi tháng đối ứng với mặt trăng. Hơn nữa ngay từ thời Vua Thuấn đã miêu tả chính xác và đã phân chia rõ ràng 24 tiết khí biến đổi theo mùa, tiết khí trong lịch pháp truyền thống quyết định bởi chu kỳ thay đổi của vị trí trái đất xoay quanh mặt trời, thuộc về phạm trù thái dương lịch.

Văn hóa truyền thống Trung Quốc coi trọng “Thiên nhân hợp nhất”, Đạo gia cho rằng con người chính là một tiểu vũ trụ, bởi vậy rất coi trọng việc quan sát thiên tượng. Thời đầu nhà Hán khi Tư Mã Thiên viết “Sử Ký”, ông đã viết riêng một chương “Thiên quan thư”, trình bày hết sức tỉ mỉ vị trí, quy luật vận hành của tinh cầu và sự ảnh hưởng của nó đến sự việc tại nhân gian.

Do Thiên can địa chi đối ứng với ngũ hành, hơn nữa còn đối ứng với vị trí, màu sắc, các mùa, ngũ tạng, kết cấu xã hội, v.v.. do đó nó đã trở thành căn cứ chủ yếu của dự đoán học Chu Dịch. Khi lấy can chi để ghi tháng (nguyệt), “tháng” ở đây cũng là tháng trong lịch pháp truyền thống dựa trên cơ sở hình dạng trăng tròn khuyết, tức là Chu Dịch dự đoán cũng phải căn cứ vào lịch pháp truyền thống.

Sau khi lịch sử Hoàng triều được kiến lập, Hoàng Đế lên ngôi, hoặc phát sinh đại sự, thiên tai… đều sửa niên hiệu, do đó trong lịch pháp lại thêm vào niên hiệu. Ví như chúng ta đã quen thuộc với “Trinh Quán”, “Vĩnh Lạc”, “Khang Hy”, v.v.. đều là niên hiệu. Bởi vì Lịch Thư truyền thống của hoàng triều đều do Hoàng Đế ban bố, có liên hệ trực tiếp đến niên hiệu Hoàng Đế, đồng thời do chính quyền khắc ấn, do đó lịch pháp truyền thống được gọi là “Hoàng Lịch”. Cũng bởi vì lịch pháp sớm nhất khởi nguồn từ Hoàng Đế, do đó cũng gọi là “Hoàng lịch”.

Hoàng lịch lấy can chi để ghi năm, bao gồm bảng biểu ngày tháng của 4 mùa, cát, hung, hợp, kỵ của mỗi ngày, đề cập tới những phương diện như hôn nhân gia đình, nghi lễ, xây dựng, di chuyển, cuộc sống thường ngày, tế tự an táng, v.v..

Lịch pháp Trung Quốc thể hiện đầy đủ tư tưởng Âm Dương Ngũ Hành, ẩn chứa quy luật diễn hóa tuần hoàn của tự nhiên, tức là kết quả tác dụng của tương tác giữa thời (thời gian) và không (phương hướng), và giữa “âm” và “dương”, đồng thời phản ánh cổ nhân Trung Quốc lý giải về quy luật đối với vũ trụ về tương sinh tương khắc, họa phúc hoán chuyển, thay triều đổi đại, tuần hoàn lặp lại, điều phản ánh phía sau là văn hóa Đạo gia và xã hội truyền thống Trung Quốc kính sợ Thiên Địa Thần linh, cân nhắc tới giá trị quan thiên thời, địa lợi, nhân hòa.

Lịch pháp Trung Quốc hợp nhất từ nội hàm cân bằng âm dương, thiên nhân hợp nhất, dự đoán học đã trở thành đối tượng tiêu diệt của Trung Cộng.

Sau khi thành lập chính quyền, Trung Cộng bắt đầu cho rằng “Hoàng lịch” đại diện cho trật tự thống trị của xã hội truyền thống, đồng thời trong đó có rất nhiều nội dung liên quan đến dự đoán học, phong thủy, cho nên đã hủy bỏ “Hoàng lịch” (lịch do Hoàng đế ban hành) thành “Hoàng lịch” (lịch mầu vàng) hoặc “Hạ lịch” (âm lịch) khiến mọi người khi hồi tưởng lại lịch sử, liền gọi lịch pháp truyền thống là “âm lịch”. Có thể nói cách gọi “âm lịch” là sai lầm, lịch pháp Trung Quốc là “âm dương hợp lịch”, khi gọi “âm lịch” đã phá vỡ đi quan niệm âm dương cân bằng trong văn hóa truyền thống. Thế nhưng, Trung Cộng cho rằng “âm” vẫn là cách nói của Đạo gia, vẫn là mang theo nội hàm tu luyện, vì thế vào năm 1968, Trung Cộng mượn cớ phá bỏ “Tứ Cựu” đã gọi lịch pháp truyền thống thành “Nông lịch”.

Trung Cộng gọi Hoàng lịch truyền thống thành Nông lịch, khiến mọi người sinh ra một loại ảo giác, dường như tác dụng của lịch pháp truyền thống chỉ giới hạn trong nông nghiệp, cần thiết cho việc tính toán thời vụ. Điều này cũng đồng nhất với Chủ nghĩa duy vật của Trung Cộng: Cơ sở kinh tế quyết định kiến trúc thượng tầng, tác dụng của lịch pháp sinh ra trong xã hội nông nghiệp chỉ giới hạn trong việc nhà nông, chỉ hữu dụng với nông dân, không có quan hệ gì nhiều đối với xã hội hiện đại và những người khác. Lịch pháp truyền thống do đó mà bị gạt sang một bên. Trên thực tế như đã nói ở trên, tác dụng của Hoàng lịch truyền thống tuyệt nhiên không chỉ giới hạn trong nông nghiệp, nó có mối quan hệ trực tiếp với cuộc sống của nhân dân, là trực tiếp phản ánh mối quan hệ giữa “Thiên Địa Nhân”, lấy thiên can địa chi làm cơ sở, căn cứ theo ngũ hành sinh khắc mà xác định cát, hung, hợp, kỵ trong mỗi ngày, và lấy việc kính Thiên tín Thần làm trọng tâm cho các hoạt động tế tự, ngày tết. Những điều này có mối liên quan mật thiết với nội dung văn hóa trong cuộc sống thường nhật, khiến cho người Trung Quốc luôn luôn nhớ về văn hóa truyền thống của mình. Trung Cộng gọi nó với cái tên đơn giản là Nông lịch, trên thực tế nó đã hạ thấp giá trị và lấy đi những thứ ẩn chứa trong nội hàm văn hóa rộng lớn của Hoàng lịch truyền thống, cắt đứt sự truyền thừa của văn hóa truyền thống. Thanh niên trẻ ngày nay nói đến Nông lịch, chỉ biết nó có liên quan đến vài ngày lễ truyền thống thưa thớt còn sót lại và liên quan tới việc nhà nông, chứ không biết trong đó ẩn chứa nội hàm văn hóa truyền thống sâu sắc. Ngoài ra trong Văn hóa đảng Trung Cộng, thông thường nông dân “giác ngộ chính trị” không cao, và thường được liên hệ với “phong kiến, ngu muội, lạc hậu”,  Trung Cộng gọi Hoàng lịch thành Nông lịch là sự xúc phạm đối với lịch pháp truyền thống.

2) Gọi tân niên thành tiết xuân

Bước sang năm mới là ngày lễ truyền thống lớn nhất trong xã hội người Hoa. Trong “Thuyết văn giải tự” ý nghĩa của từ “năm” là “ngũ cốc đại thục” (ngũ cốc chín). Cổ nhân sau khi được mùa phải cảm tạ Thần linh bảo hộ, do đó sẽ tiến hành nghi lễ quan trọng là thờ phụng và cảm tạ Thần linh, đồng thời cầu xin năm sau mưa thuận gió hòa.

Năm mới truyền thống là bắt đầu từ mùng tám tháng Chạp, kết thúc vào ngày 15 tháng Giêng. “Ngày mùng tám tháng Chạp” là ngày Thích Ca Mâu Ni khai ngộ thành Phật, dân gian và chùa chiền vào ngày mùng tám tháng Chạp đều ăn cháo, cầu nguyện cho năm mới ngũ cốc dồi dào, lục súc hưng vượng.

Tiếp theo là 23 tháng Chạp “hết năm cũ”, ngày này là ngày Táo Quân lên trời. Nhân gian cho rằng Táo Quân giám sát nhất cử nhất động một gia đình trong một năm, đến ngày 23 tháng Chạp phải lên thiên đình để báo cáo. Đến Giao thừa mới dán lên ảnh Táo Quân mới. Hoạt động này là một kiểu biểu đạt “trên đầu ba tấc có Thần linh” của người Trung Quốc. Do tin tưởng vào tác dụng giám sát của Táo Quân, mọi người tự nhiên sẽ kiềm chế hành vi của bản thân mình.

Ngày 30 tháng Chạp cũng gọi là “đêm giao thừa”, là cao trào chúc mừng tân niên, đây là ngày “Tế Thần tế tổ”. Trong đó bày bàn lễ Thiên Địa, dán tranh Thần lên cánh cửa, đón Thần Phúc, Thần Tài, Thần Hỷ, Thần Thái Tuế, thỉnh tượng Táo Quân, câu đối tết, đốt pháo dây, v.v.. đều liên quan đến truyền thống kính Thần của người Trung Quốc. Bàn lễ Thiên Địa là bàn thờ tạm thời để cung phụng và nghênh đón Thần Phật. Câu đối xuân vốn là tấm bùa bằng gỗ đào, vì trong truyền thuyết quỷ sợ gỗ cây đào, đến thời Ngũ Đại, Mạnh Húc đã viết lên bùa đào câu “Tân niên nạp dư khánh, Gia tiết hiệu trường xuân” (Năm mới hưởng ân trạch đời trước, Tiết lành dự báo ý trường xuân) đã chính thức trở thành sự khởi nguồn của câu đối xuân.

Cúng tế tổ tiên cũng là một phần quan trọng trong năm mới, đa số là bài vị tổ tiên trong nhà được đặt theo thứ tự tại sảnh chính, đồ lễ cúng được bày ra, sau đó người tế bái theo thứ tự từ già đến trẻ dâng hương quỳ lạy. Trong “Luận Ngữ” viết “Thận chung truy viễn, dân đức quy hậu hĩ.” (Lo hậu sự cho phụ mẫu một cách chu đáo, thành kính tưởng niệm tổ tiên sẽ khiến đạo đức, phong tục của nhân dân quy về đạo dày thuần phác), bởi vì cúng tế tổ tiên không chỉ là thể hiện đạo hiếu, mà còn là sự kế thừa truyền thống đạo đức của người xưa.

Ngày 27 tháng 09 năm 1949, sau khi Trung Cộng cướp được chính quyền, xây dựng chính quyền, đổi ngày “mùng một tháng Giêng” thành “tiết xuân”, dường như chỉ là ngày lễ thông thường để chào mừng “mùa xuân”. Đây là cách gọi tưởng đúng nhưng mà lại là sai, cũng là sự cần thiết để Trung Cộng phê phán, thay thế Văn hóa Truyền thống, tuyên truyền Thuyết vô Thần. Sự thay đổi này khiến văn hóa nội hàm trong lễ đón năm mới truyền thống, cảm tạ Thần linh bảo hộ, tôn kính Thần linh và tiên tổ đã bị tước đoạt mất.

Lúc này, lời nói cát tường trong năm mới biến thành những lời nói chính trị “Chúc bạn năm nay có thể đến Bắc Kinh, gặp được Mao chủ tịch”, “Tinh thần cách mạng truyền muôn đời” v.v.., câu đối tết biến thành “Đổi đời không quên Cộng sản Đảng, hạnh phúc không quên Mao chủ tịch”, “Kính thần tế tổ” biến thành “Ức khổ tư điềm” (Hoài niệm nỗi đắng cay vị ngọt bùi), tổ chức xem điện ảnh chính trị, tổ chức liên hoan mang “ý nghĩa giáo dục”, tiến hành “chúc tết đoàn thể”, hát “Nhân dân công xã nhiều làn gió mới, các bà các cô đều ca hát, tết xuân không làm chuyện mê tín, mọi người lên sân khấu diễn văn nghệ”. Tranh dán tết từ kính Thần cầu phúc biến thành “Đại nhảy vọt”, “Công xã nhân dân là tốt”, “Tết xuân học lão tam thiên” (Tết xuân học ba bài văn của Mao Trạch Đông), “toàn gia học công báo”. “Nhân dân Nhật báo” đã miêu tả cảnh nhân dân đón năm mới như sau: “Có người dự tính nhân lúc gia đình đoàn viên mà mở lớp học tư tưởng Mao Trạch Đông.”

Có người chuẩn bị đêm 30 ăn “Ức khổ phạn” (Cơm hồi ức lại sự vất vả), “Bữa cơm tất niên” này là bữa cơm giáo dục giai cấp, chúng ta nhất định phải nuốt vào trong bụng, ghi nhớ vào tâm khảm, vĩnh viễn không quên nỗi khổ giai cấp, vĩnh viễn cùng Đảng làm cách mạng! Còn có người lên kế hoạch họp phê phán gia đình, hoặc chuẩn bị đi thăm họ hàng, bè bạn, cùng nhau giao lưu về những “thu hoạch tư tưởng”, bàn luận về “hình thế lớn tốt đẹp của đại Cách mạng Văn hóa”, từng tiết mục truyền thống chính tông của Trung Quốc lại trở thành những buổi học chính trị rửa não nhân dân, nhồi nhét Văn hóa đảng.

Sau khi cuộc cách mạng văn hóa kết thúc, phương thức chúc mừng truyền thống cũng được khôi phục, nhưng sau 30 năm phá hoại, thế hệ mới đã không thể nào lưu giữ được truyền thống. “Đêm hội liên hoan mừng xuân mới” gần 20 năm nay đã bị Trung Cộng cổ động thành “phong tục dân gian mới” của nhân dân Trung Quốc, nhưng toàn bộ đêm hội đều là hát “giai điệu chính”, chủ đề có liên quan tới hình thái ý thức xuyên suốt từ đầu tới cuối, hơn nữa cách điệu càng ngày càng thiên về hướng thô tục, thấp hèn. Sự theo đuổi về tinh thần và cảm nhận nhân sinh vào dịp năm mới có ảnh hưởng suốt hàng trăm hàng nghìn năm qua đã bị Trung Cộng phá hoại, vắt kiệt.

2. Phá bỏ tiết mục truyền thống, ăn tết đảng do đảng sắp đặt

Ngày lễ truyền thống, ngoài năm mới bị Trung Cộng gọi là “Tiết xuân” ra, còn có rất nhiều những ngày lễ khác bị hủy bỏ, thay thế nó chính là ngày lễ đảng dùng Văn hóa đảng thay thế ảnh hưởng của Văn hóa truyền thống đối với cuộc sống của con người.

Ngày lễ truyền thống của Trung Quốc đều có quan hệ mật thiết với tu luyện và Thần Phật. Những ngày lễ tết truyền thống khá quan trọng của Trung Quốc ngoài năm mới ra còn có Tết Nguyên Tiêu, Tết Thanh Minh, Tết Đoan Ngọ, Lễ Vu Lan Bồn, Tết Trung Thu, Tết Dương Lịch, Đông Chí, ngoài ra còn có Lễ tắm Phật, Lễ tình nhân Thất Tịch…

Tết Nguyên Tiêu là vào “ngày 15 tháng Giêng”, vốn có từ “Lễ Thượng Nguyên” trong Đạo giáo, theo truyền thuyết là ngày giáng sinh của Thiên Quan Đại Đế. Lưu Trang Hoàng đế thời Minh Hán vì sùng tín Phật Pháp nên đã hạ lệnh cho đền chùa và nhân dân thắp đèn vào ngày này, tượng trưng cho sự quang minh của Phật Pháp. Do đó, Tết Nguyên Tiêu cũng trở thành Tết thắp đèn.

Tết Thanh Minh là lúc tảo mộ cúng bái tổ tiên; Tết Đoan Ngọ vừa bắt nguồn từ việc tế tự Khuất Nguyên, vừa bắt nguồn từ việc sùng bái Long Thần. Tết Trung Thu bắt nguồn từ thời nhà Chu, vào mỗi dịp Trung thu hàng năm Chu Thiên Vương phải bái nguyệt, sau đó dần dần lưu lại tập tục ngắm trăng. Tết Trùng Dương vào ngày mùng 9 tháng 9, theo chiêm tinh học của Trung Quốc, “cửu” tượng trưng cho cao nhất (Đạo gia nói chín tầng trời), rộng nhất (cửu châu phương viên), sâu nhất (dưới 9 tầng đất), trường cửu…, lúc đó mọi người ngắm hoa cúc, mang nhành dương đào, uống rượu hoa cúc. Đông Chí lại là ngày đăng đàn tế Trời.

Lễ tắm Phật vào mùng 4 tháng 4, còn gọi là lễ Phật đản, Hội Long Hoa là ngày Phật Thích Ca Mâu Ni ra đời. Vào ngày này, các thiện nam tín nữ tới chùa dâng hương, tham gia lễ tế, tổ chức các hoạt động bố thí, phóng sinh. Lễ tình nhân Thất Tịch là ngày mùng 7 tháng 7, bắt nguồn từ truyền thuyết Ngưu Lang Chức Nữ. Hội Vu Lan Bồn vào ngày 15 tháng 7, là ngày xá tội vong nhân, bắt nguồn từ điển tích Tôn giả Mục Kiền Liên làm theo lời Phật Thích Ca Mâu Ni, thiết đãi cơm chay cho chúng tăng, để mẹ ông thoát khỏi đường ngạ quỷ.

Tính qua những ngày lễ tết của Trung Quốc, có thể thấy không ngày lễ tết nào không liên quan tới tế tự, Thần thoại hay Phật giáo, Đạo giáo. Nếu những ngày tết này có thể lưu giữ và chúc mừng theo truyền thống thì phần có liên quan tới Thần trong Văn hóa truyền thống Trung Quốc sẽ được lưu truyền đời đời, đây là điều mà Đảng Cộng sản không thể dung thứ. Nhằm cắt đứt sự truyền thừa và liên hệ giữa người Trung Quốc và đạo đức Văn hóa truyền thống cùng giá trị Văn hóa truyền thống Trung Hoa, khiến người Trung Quốc không còn có được sự bảo hộ của Văn hóa truyền thống, hoàn toàn tiếp xúc và thấm nhuần Văn hóa đảng, tẩy não nhân dân bằng phong tục thường ngày, Trung Cộng ngoài việc lưu giữ ngày lễ mùng 1 tháng Giêng bị đổi thành ngày “Tết” ra, những ngày lễ tết truyền thống khác không có ngày nào được pháp luật của Trung Cộng quy định là ngày lễ. Phong tục dân gian vào ngày lễ truyền thống bị Trung Cộng đè nén tới mức mất đi không gian tồn tại, đành phải tiếc nuối thoái xuất khỏi vũ đài lịch sử.

Đồng thời, Trung Cộng còn chế định ra “ngày lễ” khác, phục vụ cho việc thống trị của nó. “Những ngày lễ đảng” này bao gồm “Ngày phụ nữ mùng 8 tháng 3”, “Ngày lao động mùng 1 tháng 5”, “Ngày thanh niên mùng 4 tháng 5”, “Ngày thiếu nhi mùng 1 tháng 6”, “sinh nhật Đảng”, “Ngày lễ thành lập quân đội mồng 1 tháng 8”, “Ngày Quốc khánh mùng 1 tháng 10”, v,v..

Vào mỗi ngày lễ, thông thường chủ đề nóng trong ngày được gợi lại sẽ liên quan đến cội nguồn của ngày đó, tuy nhiên với những ngày lễ mà Trung Cộng chỉ định, không ngày nào không liên quan tới “đấu tranh giai cấp” hoặc “cách mạng”, hoặc là tưởng niệm lại lộ trình của bản thân nó, cách làm chính trị hóa ngày lễ này, mục đích chính là khiến con người thuần phục hình thái ý thức của nó và chúc mừng sự thành lập cũng như phát triển của Trung Cộng. Không chỉ có vậy, trong ngày lễ của đảng không chỉ nghỉ phép nghỉ ngơi, mỗi khi tới ngày lễ tết, nó liền tổ chức “thi đấu ca hát bơi lội”, “hội diễn văn nghệ”, ca ngợi công đức của ác đảng. Điều cần phải nhấn mạnh là: Trung Cộng lại thường đội thêm cho ngày lễ của nó hai chữ “quốc tế”, dường như đúng là ngày lễ long trọng của toàn thế giới. Khi ra tới nước ngoài mọi người mới phát hiện ra rằng ngoài vài người anh em nhỏ theo Chủ nghĩa Cộng sản của mình ra, người nước ngoài người ta đều là ngày tết truyền thống dân tộc, căn bản không có ngày lễ “8 tháng 3”, “1 tháng 5”, “1 tháng 6”. Đảng Cộng sản cố ý tuyên truyền rằng “công nhân, phụ nữ và thiếu nhi” mới là giai cấp và quần thể bị kỳ thị, cổ vũ họ đứng lên đấu tranh. Kỳ thực, điều chính xác là “công nhân, phụ nữ và thiếu nhi” của những nước có Đảng Cộng sản mới là người thực sự bị bức hại. Đảng Cộng sản lợi dụng mấy ngày lễ tết này chỉ là để phù hợp với yêu cầu đấu tranh giai cấp của nó.

Hoạt động thường thấy trong “ngày lễ phụ nữ mùng 8 tháng 3” là tuyển chọn gương điển hình hoặc là “tay cờ đỏ 8 tháng 3”, tổ chức hội thể thao, diễn xuất văn nghệ nữ giới làm chủ. Những năm gần đây việc chúc mừng ngày lễ 8 tháng 3 được yêu cầu phải sáng tạo, nhưng dù vượt khỏi quy phạm thế nào đi chăng nữa, chủ đề có thể khái quát thành thêm một bước nữa mượn ngày lễ tết để làm sâu sắc thêm Văn hóa đảng “nửa vùng trời nữ giới”, “nam nữ bình đẳng”, thể hiện “sự quan tâm” của đảng với nữ giới, làm nổi bật việc đảng để phụ nữ “vùng lên” đạt được vị trí “bình đẳng”, đồng thời để những tấm gương nữ thể hiện lòng trung thành với đảng, rửa não những người khác.

“Tết lao động 1 tháng 5” bắt nguồn vào ngày 1 tháng 5 năm 1886, từ việc tổ chức cuộc bãi công và diễu hành thị uy quy mô lớn với khoảng 350.000 người tham gia tại trung tâm Chicago của Mỹ, những người thị uy yêu cầu cải thiện điều kiện lao động, thực thi chế độ làm việc 8 tiếng. Ngày 1 tháng 5 trở ngày lễ của đảng, hoạt động chúc mừng nhồi nhét “tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội”, ngoài ra còn một đặc sắc nữa chính là bình xét “tấm gương lao động”, từ dưới lên trên, vinh danh cho những người làm việc xuất sắc, có thành tựu, hoặc những đại biểu nổi bật của các ngành các nghề, thậm chí trực tiếp thu hút gia nhập đảng, khiến mọi người cảm thấy mình được thừa nhận, được khẳng định, ngoài niềm vui còn không quên rằng tất cả đều là đảng ban cho. Thông qua việc thống trị những người ưu tú này mà tiến hành khống chế thêm một bước nữa với các ngành các nghề, đồng thời làm hùng mạnh bộ mặt của mình.

“Ngày tết thanh niên 4 tháng 5” bắt nguồn từ hoạt động “ngũ tứ 4 tháng 5” năm 1919, vốn là một cuộc vận động yêu nước duy hộ chủ quyền, qua tuyên truyền của Đảng Cộng sản lại thành tiêu chí “Giai cấp vô sản Trung Quốc đã giác ngộ, lần đầu tiên trở thành lực lượng chính trị độc lập, bước lên vũ đài chính trị”.

Đa số những quốc gia chúc mừng “ngày tết thiếu nhi 1 tháng 6” đều là nước “chủ nghĩa xã hội” hay “tiền chủ nghĩa xã hội”. Nguồn gốc của “Tết thiếu nhi” cũng không rõ ràng, Trung Cộng cũng quy kết cho ngày lễ này là “chống đế quốc”, hoạt động chúc mừng “Tết thiếu nhi” là do Hiệp hội Phụ nữ toàn quốc Trung Cộng quản, đi công viên cũng được, diễn văn nghệ cũng được, trẻ nhỏ ăn tết nhưng không được làm những việc mà chúng muốn làm, trẻ nhỏ phải nói “lời trẻ nhỏ” mà người lớn muốn nghe, mọi hoạt động đều do thầy cô giáo một tay tổ chức, ý nghĩa của nó không chỉ đơn thuần là chúc mừng và giải trí, chủ đề của những hoạt động như “ngũ giảng tứ mỹ” (5 điều được coi trọng, bốn đức tính), “làm người kế tục”, “mừng 1 tháng 6 biết vinh nhục” đều phải phù hợp với chính sách và yêu cầu của một giai đoạn nào đó. Trong Văn hóa đảng mà trẻ em bị tiêm nhiễm đã dùng danh nghĩa văn nghệ mà đạt được một lô những mục đích chính trị, còn có “ngày chủ đề về đội”, “thi ca hát”, những đứa trẻ ngây thơ từ nhỏ đã bị cưỡng ép phải thích ứng với cách làm việc giả dối này.

Không chỉ có vậy trước và sau ngày 1 tháng 6 là ngày gia nhập Đội Thiếu niên Tiền phong, tuyên thề dưới lá cờ đội: Quyết tâm tiếp nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, “phấn đấu trọn đời vì sự nghiệp của Đảng Cộng sản”, từ nhỏ đã lôi kéo trẻ nhỏ vào chính trị tà ác của Trung Cộng.

“1 tháng 7” lại là “ngày lễ” không rõ ràng, bởi vì Trung Cộng không phải thành lập vào ngày 1 tháng 7, nhưng lại được Trung Cộng quy định là ngày “sinh nhật đảng”. Trên thực tế, Trung Cộng là do Cộng sản Xô Viết tháng 8 năm 1920 cử Voitinsky đại diện tới Trung Quốc thành lập, tên của đảng cũng là do Cộng sản Xô Viết đặt tên, lúc đó lấy tên là “Chi bộ Trung Quốc thứ 3 của Quốc tế Cộng sản – còn gọi là Đảng Cộng sản Trung Quốc”, sứ mệnh của nó là ủy quyền cho cách mạng giai cấp cộng sản cho Xô Viết “lật đổ dân quốc Trung Hoa và tiêu diệt quốc dân đảng Trung Quốc”. Cuộc họp được tổ chức vào tháng 7 năm 1921 chỉ là đại hội đại biểu của Trung Cộng. Suy ra là Đảng Cộng sản có trước, sau đó mới có đại hội đại biểu.

Đại hội Trung Cộng lần thứ nhất là do người Liên Xô bỏ tiền ra tổ chức. Sau này Trần Công Bác dựa vào Uông Tinh Vệ [1] mà trở thành đại hán gian thứ hai, là một trong những sáng lập viên của Trung Cộng, tham gia đại hội lần thứ nhất của đảng. Y dẫn vợ mới cưới nhân dịp dự họp tới Thượng Hải “du lịch tiền chùa”, ở tại công ty du lịch Đại Đông. Ngày 31 tháng 7, bên cạnh chỗ ở của Trần Công Bác đã xảy ra một vụ án giết người vì tình. Sau đó, cảnh sát được ủy quyền theo pháp luật tới làm án, Trung Cộng lại tuyên truyền việc cảnh sát đến thành sự hiểm ác “đấu tranh đối đầu”. Năm 1981, Phòng Nghiên cứu Lịch sử đảng Trung Cộng căn cứ theo “Báo cáo” vào đầu tháng 8 năm 1921 về vụ án giết người vì tình, suy ra thời gian thành lập Trung Cộng là ngày 23 tháng 7, đồng thời viết vào “Niên biểu đại sự lịch sử đảng Trung Cộng”.

“1 tháng 7” tuy là “ngày lễ” nhưng không phải “ngày nghỉ”, nhưng Đảng ủy các cấp và bộ tuyên truyền Trung Cộng lại cực lực tuyên truyền ra ngoài xã hội là thời cơ quan trọng. Đối ngoại là như vậy, đối nội cũng như vậy. Đảng viên phải tham gia các hoạt động, lãnh đạo các cấp của đảng muốn phát biểu, cũng mỗi năm lại có một cơ hội nạp lại điện cho đảng viên, tăng cường đảng tính. Ngoài ra, đảng viên mới gia nhập đảng cũng được chọn nhiều vào đêm trước ngày 1 tháng 7. Toàn xã hội thừa nhận sự tồn tại ngày 1 tháng 7 là ngày lễ, cũng chính là thừa nhận sự chiếm cứ của Trung Cộng với Trung Quốc. Cả ngày lễ mỗi năm một lần lại khởi tác dụng tiếp máu cho Trung Cộng, tăng cường sức sống cho Trung Cộng.

“Ngày lễ thành lập quân đội 1 tháng 8” là chúc mừng cho cuộc bạo động mà Trung Cộng gọi là “cuộc khởi nghĩa Nam Xương”. Bối cảnh lúc đó là quân cách mạng Dân quốc dưới sự lãnh đạo của Tưởng Giới Thạch phát động cuộc chiến tranh Bắc Phạt vào năm 1926, chinh phạt chính phủ Bắc Dương. Nhờ sự ủng hộ của nhân dân, quân Bắc Phạt tiến triển khá thuận lợi, quốc gia sắp được thống nhất thì do Stalin hạ lệnh, Trung Cộng lại đơn phương phá hoại không ngừng, phát động cuộc Bắc Phạt, thậm chí còn dùng biện pháp bạo động vũ trang đánh đuổi Quốc dân Đảng về Quảng Đông, nhằm ngăn Quốc dân Đảng đánh đổ quân phiệt Bắc Dương. Tưởng Giới Thạch buộc phải thanh trừ Đảng Cộng sản vào ngày 12 tháng 4 năm 1927, còn Trung Cộng phát động cuộc bạo động Nam Xương vào ngày 1 tháng 8 cùng năm, làm ra cuộc phân khu vực vũ trang. Do bạo động Nam Xương là Trung Cộng bắt đầu nắm quân đội của mình, cho nên được gọi là “Lễ thành lập quân đội”.

“1 tháng 10” là ngày Trung Cộng thành lập chính quyền “Nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa” vào ngày 01 tháng 10 năm 1949, nhưng lại yêu cầu nhân dân toàn quốc cùng nhau chúc mừng cái gọi là “ngày Quốc khánh”. Hoạt động trong “ngày Quốc khánh”. Được giao phó ý nghĩa chính trị trọng đại, là chủ thể trong lễ chúc mừng, tổ chức thiết tiệc quốc gia, duyệt binh, rước đuốc, diễu hành. Một mặt khoe khoang vũ trang, làm nhân dân khiếp sợ, mặt khác dùng ngọn lửa, tiệc quốc gia, nghệ thuật cây cảnh để tô vẽ thái bình, dùng ảnh chân dung lớn của Tôn Trung Sơn đặt tại quảng trường Thiên An Môn nhằm “thống nhất” Đài Loan, dùng diễu hành nhằm ngụy tạo giả tướng “vạn dân ủng hộ”. Lúc này, ti vi thường phải phát hình ảnh “đại lễ khai quốc”, hoài niệm công lao “giải phóng” vất vả của Trung Cộng, dùng hành vi của con người để định nghĩa Trung Quốc là nước do Trung Cộng thành lập, càng làm nhầm lẫn thêm khái niệm đảng và quốc gia “không có đảng cộng sản thì không có Trung Quốc mới”, tạo ảo giác dường như Trung Quốc là do Trung Cộng lập nên.

Trên thực tế, hiện nay có rất nhiều người Hoa coi ngày 1 tháng 10 là “ngày tưởng niệm đất nước”. Từ khi Trung Cộng thành lập đảng tới nay, nó đã mang lại cho người Trung Quốc những khổ nạn bất tận, đặc biệt là sau khi cướp được chính quyền trên cả nước, Trung Cộng đã khiến khoảng 80 triệu người Trung Quốc mất mạng một cách bất thường, bán đứng mấy triệu km2 lãnh thổ, tận diệt tinh hoa văn hóa Trung Hoa, phá hoại phương diện đạo đức và sinh thái một cách không thể cứu vãn. Trung Cộng ép buộc nhân dân chúc mừng sự thành lập và phát triển lớn mạnh của nó, cũng đồng nghĩa với việc chúc mừng khổ nạn ngày càng sâu hơn của mình.

Trung Cộng biến ngày “1 tháng 5” và “1 tháng 10” thành kỳ nghỉ 7 ngày, tuy số ngày nhiều nhưng không có chỗ để tự ý điều chỉnh. Người Trung Quốc thường lên kế hoạch đi du lịch vào những ngày này, kết hôn hoặc những hoạt động khác, những hoạt động này thường lưu lại hồi ức tốt đẹp cho con người, thậm chí nhiều năm sau có lẽ sẽ vẫn chỉ vào tấm hình kết hôn của mình hoặc bức ảnh kỷ niệm du lịch mà nói: “Đây là bức ảnh chụp vào ngày lễ “Quốc khánh” năm nào đó của tôi”. Từ đó ngầm liên hệ ngày lễ của Trung Cộng với sự kiện quan trọng trong cuộc sống bình thường của con người một cách không tự biết.

3. Người trẻ kết hôn, việc mới làm theo cách mới, không bái trời đất, không bái Thần, mà hát bài ca cảm ơn đảng

1) Hôn lễ trong văn hóa truyền thống

Văn hóa truyền thống coi trọng 4 lễ tiết lớn: quán lễ, hôn lễ, táng lễ và tế lễ.

“Quán lễ” (lễ trao mũ) là chỉ lễ thành người, theo lễ tiết Nho gia, con trai 20 tuổi thường làm lễ trao mũ để biểu thị đã thành niên, có nghĩa là đã thực sự bắt đầu gánh vác trách nhiệm với xã hội. “Táng lễ” là nghi lễ an táng sau khi con người qua đời, thường thỉnh tăng ni đạo sỹ niệm kinh siêu độ vong hồn. “Tế lễ” tức là lễ tiết cúng tổ tiên, tế Thần. Sau khi Trung Cộng cướp chính quyền, ba nghi lễ trên đều bị vứt bỏ, điều này có liên quan tới nhân tố kính Trời kính Thần, “thận trung truy viễn” (thận trọng với việc hậu sự và tưởng niệm tổ tiên).

Còn “Hôn lễ” lại là một trong bốn đại sự của đời người, “tử sinh khế khoát, dữ tử thành thuyết. Chấp tử chi thủ, dữ tử giai lão.” (Dù sinh tử hay ly hợp, cũng nguyện kết duyên cùng người, nắm tay người, cùng người đi tới cuối đời). Dù là cổ nhân Trung Quốc hay người phương Tây, thì hôn nhân là lời hẹn ước trọn đời, phải bái lạy trời đất Thần linh, làm việc này thêm phần long trọng.

Trong “Lễ ký” dành riêng một chương nói về “ý nghĩa hôn nhân” (“Hôn 昏” là chữ đồng âm, giống với “hôn 婚””, bởi vì hôn lễ của cổ nhân thường tổ chức vào lúc hoàng hôn), quy định 6 lễ là “Nạp Thái, Vấn danh, Nạp Cát, Nạp chinh, Thỉnh kỳ, Thân nghênh”. Trong đó “Nạp Thái” chỉ ngỏ lời kết thân, “Vấn danh” là chỉ hỏi họ tên của nhà gái để tiện bốc quẻ hung cát, “Nạp Cát” chỉ việc báo cho nhà gái biết tin lành, “Nạp Chinh” chỉ nhà trai tặng sính lễ cho nhà gái; “Thỉnh kỳ” lại chỉ sau khi nhà trai bốc quẻ chọn ngày hôn lễ, thỉnh cầu nhà gái đồng ý, “Thân nghênh” lại chỉ nhà trai tới đón nhà gái.

Nho gia cho rằng, hôn lễ là sự hòa hợp giữa hai họ, trên thì có chức trách tiến hành tế tự nơi đình chùa, dưới thì dưỡng dục đời sau, do đó hôn nhân là lễ tiết thông thường thể hiện sự cung kính, cẩn thận, tôn trọng hôn nhân. Ngày đón dâu, nam nữ phải bái thiên địa trước, xin Trời đất làm chứng cho hôn nhân của mình, bái cao đường, cảm tạ công ơn dưỡng dục của cha mẹ, và xin cha mẹ chứng kiến hôn lễ, những người không tin vào tín ngưỡng cũng phải đọc lời thề “Từ nay trở đi, dù thuận lợi hay khó khăn, dù giàu hay nghèo, dù khỏe mạnh hay bệnh tật, anh (em) đều bảo vệ em (anh), trân quý em (anh) cho đến thiên trường địa cửu. Anh (em) hứa trọn đời chung thủy với em (anh).”

2) Trung Cộng làm lệch lạc hôn nhân

Hôn nhân trong văn hóa chính thống một mặt biểu đạt sự tôn kính với Trời đất, Thần linh, mặt khác lại thông qua niềm vui biểu lộ bên ngoài mà không mất đi lễ tiết trang trọng mà biểu đạt luân thường đạo lý, sự kính trọng với tổ tiên, hiếu thuận với cha mẹ, ơn và nghĩa giữa vợ chồng với nhau.

Chi tiết của hôn nhân thường trở thành hồi ức hạnh phúc nhất trong cuộc đời mỗi người, do đó Đảng Cộng sản cũng nhất định muốn dùng hôn nhân là phương thức quan trọng để củng cố và duy trì sự thống trị của nó. Dưới sự xen vào của Trung Cộng, hôn sự được khoác lên một màu sắc chính trị của đảng vô cùng mạnh mẽ. Ví như kết hôn thì phải được “tổ chức của đảng” phê chuẩn, việc yêu nhau, thành hôn giữa những người không cùng địa vị “giai cấp” sẽ bị cảnh cáo hoặc không được phê chuẩn. Còn cán bộ của đảng thường do “tổ chức” giới thiệu cho một người, cho nên những gia đình như vậy thường vô cùng cảm kích đảng, trở thành “pháo đài chiến đấu nhỏ” của đảng, nghi lễ hôn nhân được cổ động là “việc mới làm cách mới”, không còn bái Thiên địa Thần linh, mà đổi thành hát những ca khúc ca ngợi đảng, dùng đảng thay thế vị trí truyền thống của Thần.

Trong cuốn “Bách niên phong tục biến thiên” đã nhắc đến hình thức hôn lễ sau khi Trung Cộng xây dựng chính quyền, ngoài việc cắt bỏ trang phục áo dài truyền thống của nam và mũ phượng khăn che mặt của nữ, đổi thành mặc trang phục của Lenin, người chứng hôn cũng đổi từ thiên, địa, phụ mẫu thành “bí thư chi bộ đảng”. Thời gian kết hôn cũng chọn vào những ngày lễ mà đảng quy định như “1 tháng 5”, “1 tháng 6”, “bái thiên địa” phụ mẫu trở thành “cúi đầu trước tượng chủ tịch Mao”.

Đến thời cách mạng, trước khi kết hôn phải đọc một đoạn ghi chép của Mao: “Chúng ta đều tới từ năm châu bốn bể, bước cùng với nhau vì chung một mục tiêu cách mạng. Tất cả những người trong hàng ngũ cách mạng đều phải quan tâm lẫn nhau, yêu thương nhau, giúp đỡ nhau.” Nâng việc hôn nhân lên thành “cách mạng” cao độ. Hãy chú ý một chi tiết, chính là “tất cả những người trong hàng ngũ cách mạng” mới phải “quan tâm lẫn nhau, yêu thương nhau, giúp đỡ nhau” tính cách mạng cao hơn cả nhân tính. Đồng thời còn hát “Trời bao la đất bao la không bao la bằng ân tình của đảng”, “Cha đẻ mẹ đẻ đều không sâu đậm bằng ân tình của chủ tịch Mao”, “Tư tưởng Mao Trạch Đông là báu vật gia truyền, nếu ai phản đối nó, người đó chính là kẻ thù của chúng ta”. Trong buổi lễ hôn nhân còn phải buộc chặt sợi dây “đấu tranh giai cấp”, thể hiện sự trung thành với Mao.

Bài hát “Trời bao la đất bao la” này bắt đầu được truyền ra từ sau khi trận động đất năm 1966 bắt đầu. Trong hôn lễ hát những ca khúc như “thơ ca ngợi”, chính là thủ đoạn của Đảng Cộng sản nhằm thần thánh hóa bản thân mình, và khiến con người khi nhớ lại hồi ức ngọt ngào về ngày cưới lại tự động nhớ lại những lời hát ca ngợi Trung Cộng.

Dù rất lâu sau Cách mạng Văn hóa, có rất nhiều người trong đơn vị công tác, đặc biệt là hôn sự của những người có chút chức vị vẫn không thể tránh khỏi sự can thiệp của tổ chức đảng, lãnh đạo đảng, tân nương tân lang vẫn phải thể hiện lòng biết ơn với đảng. Dù cho Trung Cộng hiện nay không còn nhúng tay trực tiếp vào hình thức hôn nhân cụ thể nữa, nhưng sau mấy chục năm ngăn cách, lễ nghi hôn nhân truyền thống đã bị vứt bỏ, mà điều bị vứt bỏ cùng với nó là cảm giác thần thánh và tinh thần trách nhiệm với hôn nhân. Rất nhiều hôn lễ ngày nay, ngoài việc làm nhốn nháo ra đã không còn tìm thấy sự thần thánh và quy phạm lễ nghi truyền thống trong đó. Rất nhiều mâu thuẫn trong gia đình, tình cảm vợ chồng rạn nứt, tình một đêm thịnh hành đều có liên quan tới việc Trung Cộng phá hoại quan niệm hôn nhân và hình thức hôn lễ truyền thống.

4. Khống chế sinh đẻ, vợ chồng là đồng chí cách mạng. Nam nữ đều giống nhau, phụ nữ nắm giữ nửa vùng trời

Một biểu hiện cụ thể về việc đảng hiện diện ở khắp mọi nơi, chính là bên cạnh việc hoàn toàn chiếm cứ những lĩnh vực công cộng như chính trị, kinh tế còn can thiệp vào cuộc sống gia đình, trước nay đều được cho là của lĩnh vực cá nhân hay phạm trù riêng tư. Kết hôn hay không, kết hôn với ai, sinh mấy con, khi nào mới được sinh, đảng quản hết thảy, hơn nữa còn huy động cả bộ máy bạo lực gia đình tới quản.

Vợ chồng vốn là duyên phận, yêu nhau và hôn nhân là chủ đề vĩnh viễn mang màu sắc lãng mạn của nhân loại, gia đình là cuộc hành trình nhân sinh và bến đỗ bình yên. Sự hòa thuận trong gia đình, tình cảm vợ chồng ân ái, đó là hạnh phúc mà mọi người đều mong ước. Nhưng Trung Cộng lại trực tiếp lái chiến trường đấu tranh giai cấp tới từng gia đình. Vợ chồng trở thành “đồng chí cách mạng” có lập trường rõ ràng, đấu tranh chính trị đi theo từ nơi công tác tới nhà bếp và phòng ngủ sau khi hết giờ làm, tạo thành mối quan hệ gia đình biến dị.

Thiên thượng tạo nên con người, chia thành nam nữ, là để âm dương của họ bổ sung cho nhau, nhu cương ước chế lẫn nhau, do đó nam nữ hai bên mỗi người có sở trường về đặc tính và sức khỏe, năng lực. Nhưng Đảng Cộng sản lại biến phụ nữ thành đàn ông, cổ động nam nữ như nhau, phụ nữ có thể nắm giữ nửa vùng trời. Điều này không chỉ khiến địa vị của phụ nữ trong việc học hành tìm việc và trên quan trường chính trị được nâng lên, ngược lại cũng xóa bỏ và vắt kiệt sự hiền thục dịu dàng của phụ nữ, tạo thành hậu quả ác nghiệt âm thịnh dương suy đặc trưng trong xã hội Đại lục.

1) Khống chế sinh sản

Trung Cộng có một “quốc sách” cơ bản (kỳ thực chính là đảng sách – “chính sách của đảng”) gọi là kế hoạch sinh sản, xã hội quốc tế gọi nó là “chính sách một con” do nó liên quan tới lợi ích của phụ nữ và trẻ em nên có rất nhiều tranh cãi trên thế giới. Chúng ta tạm thời gác lại không nói tới những chuyện thị phi này, chỉ riêng bản thân chính sách này được công bố cũng đã mang nhân tố Văn hóa đảng sâu đậm không sợ Thần linh, Trời không sợ Đất không sợ, điều gì cũng dám làm, muốn làm gì thì làm của Đảng Cộng sản.

Dù là xã hội hoàng triều truyền thống của Trung Quốc hay là những quốc gia theo chủ nghĩa chuyên chế như phát xít, chính phủ của nó cũng không can thiệp tới đời sống riêng tư của nhân dân chủ lưu, đặc biệt là vấn đề liên quan tới sinh đẻ. Đảng Cộng sản thì không như vậy.

Năm 1956, báo cáo chính trị trong Đại hội lần thứ 8 của Trung Cộng đã nêu ra chủ trương hạn chế sinh sản, đây chính là sự mở rộng trực tiếp của thể chế “hoạch định kinh tế” mà Đảng Cộng sản không gì không quản, tức là cái gì cũng đều muốn nằm trong hoạch định. Ngày 27 tháng 2 năm 1957, trong Hội nghị Quốc vụ tối cao, Mao Trạch Đông nói: “Với vấn đề sản xuất trong nhà máy, sản xuất vải, sản xuất bàn ghế, ghế dài, sản xuất gang thép, đều đã tăng trưởng theo kế hoạch, đôi khi còn có thể khiến nó có thể gia tăng thêm một chút, đôi khi có thể dừng lại một chút.” Theo tư tưởng bắt nguồn từ Thuyết vô Thần như vậy thì số lượng sinh con và sản lượng luyện thép, dệt vải cũng đều có thể cùng bàn luận, đều là “sản xuất” trong mắt đảng, vậy thì cũng giống như việc đảng lên kế hoạch kinh tế, khống chế sức sản xuất các loại sản phẩm, Đảng Cộng sản khống chế nhân khẩu cũng không có gì kỳ lạ. Sau khi “vệ tinh lương thực” trong cuộc Đại Nhảy vọt năm 1957 bay lên không trung, Mao và Trung Cộng đã thay đổi cách nhìn, “nhiều người là việc tốt” đã trở thành tư tưởng chủ đạo. “Nhiều người sức mạnh lớn”, “Con người không chỉ có một cái miệng, mà còn có một đôi tay, có thể sáng tạo ra thế giới”, cổ vũ phụ nữ Trung Quốc sinh càng nhiều càng vẻ vang và ban tặng danh hiệu “bà mẹ vinh quang” cho người phụ nữ có 10 con trở lên. Lúc đó “Bài luận mới về nhân khẩu” của Mã Thẩm Sơ, hiệu trưởng trường đại học Bắc Kinh bị coi là “sai lầm của giai cấp tư sản” và “công kích điên cuồng của cánh hữu”, đã bị “vạch trần, phê phán triệt để”.

Chính sách dân số của Trung Cộng đã khiến cho dân số của Trung Quốc những năm 60, 70 tăng trưởng chóng mặt. Ngày 6 tháng 3 năm 1981, Trung Cộng thành lập Ủy ban Kế hoạch sinh sản, yêu cầu cưỡng chế sinh ít con, “kế hoạch sinh sản” dần trở thành “quốc sách” cơ bản của Trung Cộng.

“Kế hoạch sinh sản” của Trung Cộng và “kế hoạch hóa gia đình” của nước ngoài có sự khác biệt về bản chất. “Kế hoạch hóa gia đình” thông thường được chính phủ hỗ trợ, phục vụ và tư vấn những vấn đề liên quan, do nhân dân tự nguyện tiến hành. Còn “kế hoạch sinh sản” của Trung Cộng là nghĩa vụ công dân được hiến pháp quy định, đề xướng (rất nhiều đơn vị tiến hành cưỡng chế) kết hôn muộn sinh con muộn, mỗi cặp vợ chồng chỉ sinh một (trừ dân tộc thiểu số), phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ phải được lãnh đạo cấp chỉ tiêu mới được phép có thai.

“Kế hoạch hóa gia đình” được bảo hộ thực thi bằng phương pháp cưỡng chế cực đoan. Khi bào thai chưa ra đời, hoặc có thể tiến hành nạo hút thai, “nhân viên chấp pháp” của Ủy ban Kế hoạch hóa cưỡng chế thai phụ không nằm trong kế hoạch tới bệnh viện phá thai. Nơi nào bào thai sau khi sinh ra mà bị phát hiện thì Ủy ban Kế hoạch sinh sản sẽ phạt nặng với gia đình đó “theo pháp luật”. Dưới sự khống chế thực tế của Đảng Cộng sản, nhất loạt đều dùng bạo lực đe dọa, về cơ bản nhân quyền không nằm trong phạm vi suy xét của nó. “Kế hoạch sinh sản” thực thi trên diện rộng, thời gian dài lại can thiệp tới sinh mệnh của thai nhi, quá trình này vô cùng tàn khốc. Đặc biệt là với những người nông dân “sinh vượt mức” bị Trung Cộng chỉnh đốn không chút kiềm chế. Đứa trẻ về cơ bản đã đủ tháng hoặc đầy tháng mà không có thẻ cho phép sinh thì không cho phép sống sót khi sinh ra. Dù đã sinh ra, thì bác sỹ y tá cũng phải giết chết đứa bé sơ sinh vô tội ngay khi vẫn còn sống. Theo kế hoạch, từ khi “kế hoạch sinh sản” bắt đầu ít nhất đã có 40 triệu thai nhi hoặc trẻ sơ sinh bị Trung Cộng giết chết.

Từ khẩu hiệu và biểu ngữ tại vùng nông thôn Trung Quốc cũng có thể cảm nhận được sát khí bừng bừng. “Thà nát nhà, cũng không để vong quốc”, “uống thuốc không giật lại chai, treo cổ thì đưa dây thừng”, “một người siêu sinh, toàn thôn thắt cổ”, “một thai sinh, hai thai thắt chặt, ba thai bốn thai nạo! nạo! nạo!, một thai hỏng, hai thai thắt chặt, ba bốn thai giết giết giết! “Thà máu chảy thành sông, cũng không cho siêu sinh thêm một trẻ”, “Thà thêm 10 phần mộ cũng không thêm một con người!” Những khẩu hiệu tàn nhẫn này có thể thấy khắp nơi tại Trung Quốc, hơn nữa không chỉ là nói suông. Lục soát nhà, dỡ nhà, bắt người, liên lụy người nhà, giết trẻ sơ sinh, v.v.. đã khiến mọi người nhìn lâu quen mất.

Năm 2006, giới truyền thông Trung Quốc Đại lục đã báo cáo một chuyện như sau: Hoàng Cầu Sinh, một nông dân tại thôn Thái Điếm, khu Hoàng Pha, thành phố Vũ Hán do gia cảnh vô cùng bần hàn, không có tiền lo lót trên dưới nên người của Ủy ban Kế hoạch sinh sản đã xông vào nhà anh, đưa vợ anh Hoàng người đã mang bầu chín tháng tới phòng phẫu thuật của Ủy ban Kế hoạch sinh sản, tiêm cho chị ấy một mũi thuốc đọa thai, ngay chiều hôm đó vợ anh Hoàng sinh con. Nhưng mũi tiêm đó chưa khiến cho thai nhi chết đi, người của Ủy ban Kế hoạch chứng kiến tình hình đó đã ép Hoàng mang đứa trẻ còn sống vứt đi. Khoảng 5 giờ chiều, một bà lão họ Lưu nghe bà con lối phố nói trong nhà vệ sinh đằng sau Sở Tài chính của xã có tiếng khóc của trẻ nhỏ. Bà Lưu trước kia từng làm bác sỹ đã nhanh chóng lần theo tiếng khóc tìm thấy đứa trẻ, quả nhiên là trong bệ tiểu nhà vệ sinh phát ra tiếng khóc của bé trai sơ sinh này, chỉ nhìn thấy nó ngoài đầu ra thì toàn thân lẫn trong phân và nước tiểu. Bà Lưu nhanh chóng tiến về phía trước bế đứa trẻ lên, sau khi vệ sinh sơ qua, liền bế ngay vào phòng khám gần đó, cắt dây rốn cho đứa trẻ, tiêm thuốc sát trùng. Sau khi xử lý mọi việc đâu vào đấy, bà Lưu dùng túi bọc đứa trẻ lại, ngồi trước cửa nhà cho đứa trẻ uống nước. Đúng vào lúc này, năm người trong ủy ban kế hoạch sinh sản của xã đã xuất hiện trước cửa nhà bà Lưu, một người trong số họ không nói không rằng cướp đứa trẻ khỏi tay bà Lưu, ném xuống đất. Lúc đó chỉ nghe thấy một tiếng nghẹt thở, đứa trẻ đau đớn tứ chi co giật, người của Ủy ban Kế hoạch hóa vẫn chưa dừng lại, còn tiến về phía trước đá cho đứa bé một cái. Sau đó tên này lôi đứa trẻ đi, đi rất xa mà vẫn nghe thấy tiếng khóc của thằng bé. Cuối cùng người của Ủy ban Kế hoạch sinh sản đặt đứa bé trong ruộng lúa nước cho chết đuối. Những trường hợp như vậy tại Trung Quốc Đại lục không phải là hiện tượng cá biệt.

Chính sách kế hoạch sinh sản” là một biểu hiện cụ thể về giáo dục Thuyết vô Thần của Trung Cộng. Dù cho xảy ra thiên tai rất lớn hoặc chiến tranh, thì tội giết trẻ sơ sinh cũng đều là tội phản nhân loại rất nặng, còn quan chức các cấp dưới sự giáo dục của “Thuyết vô Thần” của Trung Cộng chỉ biết vâng lời Trung Cộng, hoàn toàn không có khái niệm đạo đức cơ bản về “nhân mệnh quan thiên” (sinh mệnh con người liên quan tới trời), hoàn toàn vô cảm trước việc giết hại trẻ sơ sinh.

Những nước phương Tây có một truyền thống, khi gặp phải nguy hiểm thường nhường lại cơ hội sống cho trẻ em và phụ nữ. Một nước tôn trọng quyền lợi của kẻ yếu sẽ trân trọng quyền lợi của tất cả mọi người. Trung Cộng miệt thị quyền con người của trẻ sơ sinh, quả thực vạch trần việc Trung Cộng căn bản không hề tôn trọng nhân quyền của bất kỳ ai. Trung Cộng đè nén nông dân, thờ ơ với tai nạn sập hầm mỏ, bức hại những người đi thỉnh nguyện một cách vô tình, thậm chí còn sát hại trẻ sơ sinh, đều phản ánh giá trị quan “mạnh được yếu thua” của Trung Cộng. Kết quả là những ghi chép về nhân quyền của Trung Cộng tiếp tục xấu đi.

Mọi người có lẽ đều sẽ tìm ra đủ lý do nhằm thuyết minh cho việc không khống chế một cách cưỡng chế khiến dân số Trung Quốc bùng nổ thì làm thế nào? Đây chỉ là bề mặt của vấn đề này, còn nhân tố Văn hóa đảng của chính sách này mới là thực chất của vấn đề. Đảng Cộng sản chỉ cần hứng lên, muốn nhiều người thì cổ động sinh nhiều, nhiều người không nuôi nổi, vỗ trán một cái lại không từ bất kỳ thủ đoạn nào, giết nhiều tới mức âm hồn thai nhi không thể tiêu tán trên mảnh đất Trung Hoa rộng lớn. Sinh nhiều hay sinh ít, xem ra là hai thái cực, nhưng quả thực là điều gì Trung Cộng cũng dám làm, là biểu hiện của thói quen lưu manh bá đạo muốn làm gì thì làm nấy. Dân số hiện nay tăng thêm mấy trăm triệu so với ba mươi năm về trước, nhưng những năm này Trung Cộng nới lỏng một chút về lĩnh vực kinh tế, bớt quản đi một chút, mọi người chẳng phải ăn no hơn, phòng rộng hơn hay sao? Có thể thấy, cốt lõi của vấn đề không phải là dân số mà là bản thân Trung Cộng.

Vấn đề dân số là vấn đề mà đa số các quốc gia trên thế giới đều phải đối mặt, nhưng hiện nay trong phạm vi thế giới, chính phủ cưỡng chế kế hoạch sinh sản chủ yếu là Trung Quốc. Điều này không phải là phản đối cách giải quyết vấn đề dân số, mà là cách làm tùy tiện, bất kính với Thần linh, đặc biệt là giết người hại mệnh của Trung Cộng.

Trung Cộng khống chế sinh sản đã gây nên hậu quả nghiêm trọng, biểu hiện của nó là cơ cấu dân số nhanh chóng già đi, số người về hưu không ngừng tăng lên, còn số người trong độ tuổi lao động ngày càng giảm đi, hệ thống lương hưu xã hội luôn thiếu hụt nghiêm trọng nguồn vốn phải đối mặt với áp lực sẽ sụp đổ. Hiện nay một cặp vợ chồng phải phụng dưỡng cho bốn người già, đồng thời còn phải nuôi một đứa con. Một đứa con hoàn toàn không thể bảo đảm tuyệt đối nó sẽ thành tài, nếu đứa con không thành công thì cha mẹ già sẽ mất đi chỗ dựa, còn quốc gia lại không có cơ chế cứu trợ. Tại vùng nông thôn Trung Quốc, một gia đình một khi đã sinh con gái, vậy thì sau khi con gái lấy chồng mà cha mẹ cao tuổi sẽ không còn ai, cũng không còn sức lực để làm việc nhà nông, sẽ mất đi nguồn sống.

Kế hoạch sinh sản còn khiến tỷ lệ giới tính nam nữ được sinh ra hiện nay của Trung Quốc mất cân bằng. Trước kia sinh con gái còn có thể sinh tiếp, cho tới khi có con trai thì thôi. Hiện nay mỗi người chỉ có thể sinh một con, rất nhiều người đã chọn giới tính cho con bằng cách phá thai nhằm nối dõi tông đường, truyền thừa hương hỏa, nạo thai bé gái, giữ lại thai bé trai, kết quả đã khiến tỷ lệ trẻ sơ sinh nam và nữ mất cân bằng nghiêm trọng, như hiện nay đã đạt tới tỷ lệ 120:100, điều này đồng nghĩa với 20 năm sau, sẽ có 1/6 đàn ông (khoảng 40 triệu người) sẽ không tìm được người phối ngẫu, từ đó gieo mầm họa lớn về sự an toàn cho xã hội.

Khống chế sinh sản còn khiến một thế hệ người trẻ tại thành phố ít có anh chị em, những đứa trẻ con một thường trở thành “tiểu hoàng đế” được nuông chiều, tạo nên “tính kiêu ngạo, quen được nuông chiều” nghiêm trọng và tùy tiện, ích kỷ, thiếu đi tinh thần trách nhiệm và thiếu đi sự quan tâm, yêu thương dành cho người khác. Khi thế hệ những cậu ấm cô chiêu con một này trở thành nòng cốt của xã hội, đặc điểm tính cách của họ sẽ ảnh hưởng tới toàn xã hội Trung Quốc.

Kỳ thực, cũng giống như quy luật tồn tại trong giới tự nhiên, số lượng dân số bản thân nó cũng tồn tại cơ chế điều tiết, cũng như trong “Thi kinh” có nói: “Thiên sinh chưng dân, hữu vật hữu tắc” (Trời sinh bách tính, vạn vật đều nằm trong nguyên tắc). Đối với một chính phủ thông thường sẽ có rất nhiều cách điều tiết dân số. Nhân khẩu học và tài liệu thống kê của Liên Hợp Quốc đã thể hiện rõ rằng những khu có cơ chế đảm bảo cho xã hội hoàn thiện và trình độ giáo dục của nhân dân cao thì tỷ lệ sinh sản sẽ tự nhiên giảm bớt. Theo con số thống kê của Trung Quốc, chỉ cần phụ nữ được giáo dục tới trung học cơ sở thì tỷ lệ sinh sản sẽ giảm tới 2.13 lần, từ đó khiến cho dân số đạt được mức cân bằng, những người phụ nữ được giáo dục tới hết trung học và đại học thì tỷ lệ sinh sẽ giảm thêm tới 1.82 và 1.11 lần (những căn cứ trên là theo số liệu thống kê năm 1986, hiện nay đang giảm xuống).

Trung Cộng đã quen với chính sách giết chóc và cưỡng chế, đặc biệt hứng thú với việc phá thai, còn về vấn đề giáo dục có tác dụng căn bản thì nó không hề có chút hứng thú, tỷ lệ đầu tư cho giáo dục thấp đáng ngạc nhiên (không tới 4% GDP, xếp số gần chót trên thế giới, không bằng cả nước Uganda của Châu Phi). Theo tài liệu Trung Cộng công bố, kinh phí giáo dục theo nghĩa vụ toàn quốc năm 2006 cần khoảng 226 tỷ nhân dân tệ, nhưng khoản tiền ăn uống công quỹ chỉ riêng trong năm 2004 đã đạt tới 370 tỷ nhân dân tệ. Nói cách khác, chỉ cần Trung Cộng dừng ăn uống bằng công quỹ đã đủ để những đứa trẻ trong độ tuổi đi học được giáo dục miễn phí, mà trình độ giáo dục nâng cao sẽ có tác dụng giảm áp lực tăng trưởng dân số.

Trong thế kỷ này có rất nhiều quốc gia đã áp dụng biện pháp kế hoạch hóa gia đình. Ví dụ như Ấn độ, những người kết hôn sau khi vượt quá độ tuổi kết hôn tối thiểu được pháp luật quy định là 21 tuổi sẽ được thưởng, những cặp vợ chồng sau khi sinh được hai con mà chủ động triệt sản sẽ được chiếu cố về phương diện phúc lợi gia đình và bảo hiểm y tế, nhưng không phải là biện pháp mang tính ép buộc. Ở những nước như Mexico, Thổ Nhĩ Kỳ và Ấn Độ cũng tiến hành lập pháp đối với kế hoạch hóa gia đình, nhưng pháp luật của những nước này đều quy định rõ ràng: Vợ chồng có quyền tự do quyết định số con và khoảng cách sinh.

Những quốc gia phương Tây phải đối mặt với tỷ lệ sinh sản thấp, cách làm ứng phó lại chính là việc khuyến khích thông qua hỗ trợ về kinh tế hoặc giảm thuế, chính phủ cũng không thể khống chế sinh sản bằng thủ đoạn cưỡng chế. Trên thực tế, không hề có chính phủ một quốc gia nào lại đi quản vấn đề sinh sản của mỗi gia đình, càng không dùng cơ cấu bạo lực để đảm bảo việc thực thi chính sách sinh sản. Áp dụng cách khống chế sinh sản chỉ có Trung Quốc dưới sự thống trị của Trung Cộng, khiến vấn đề xã hội cũng trở nên gay gắt xưa nay chưa từng có trong lịch sử.

2) Vợ chồng là đồng chí cách mạng

Dù là phương Đông hay phương Tây, văn hóa truyền thống đều lấy “gia đình” làm trung tâm. Tại một nước công nghiệp hiện đại như nước Mỹ “quan niệm gia đình” vẫn được coi là phẩm chất đạo đức quan trọng.

Đối với con người mà nói, gia đình là nơi thư giãn, giữa vợ chồng có ân nghĩa, có sự tin cậy nương tựa vào nhau, có sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Giữa vợ chồng mở lòng dốc bầu tâm sự là phương thức quan trọng để giảm trừ áp lực tâm lý, cũng là con đường quan trọng để duy trì sự lành mạnh về tâm lý, từ đó đảm bảo sức khỏe sinh lý.

Trong “Kinh Thi” có viết: “Thê tử hảo hợp, như cổ tỳ bà” (Người vợ hòa hợp, như gảy đàn tỳ bà). Trong gia đình truyền thống đàn ông đối ngoại, phụ nữ đối nội, đàn ông cương trực biết quan tâm, là nơi che mưa che gió cho vợ; phụ nữ dịu dàng hiền thục, quản việc gia đình, cũng là người vợ đảm cho chồng. Vợ chồng như đàn tỳ bà hòa hợp với nhau, tâm đầu ý hợp. Cuộc hôn nhân tốt đẹp chú trọng tới việc khoan dung lẫn nhau, có thể lượng thứ cho đối phương, dâng khay ngang mày, tương kính như tân chính là một minh họa cho trạng thái này.

Văn hóa Đảng Cộng sản không chỉ làm biến dị nghi thức hôn lễ của con người mà còn khống chế cả sinh sản của con người, đồng thời nó cũng quy định lại mối quan hệ đạo đức giữa vợ chồng. Trung Cộng phê phán Văn hóa truyền thống, coi mối quan hệ luân thường của con người là cám bã phong kiến lạc hậu, hạ thấp tình cảm ấm áp và nhân tính thành nhân tính của giai cấp tiểu tư sản, là biểu hiện của việc không đủ đảng tính và tính cách mạng, do đó đã điều khiển mối quan hệ vợ chồng. Sau khi nhân tính bị tách rời, đảng còn phải nhồi nhét đảng tính, cổ vũ vợ chồng là “đồng chí cách mạng”, không thừa nhận tình cảm và luân lý giữa vợ chồng. Vợ chồng phải nhất trí đồng tâm với đảng, “đồng chí” phải cùng chí hướng với đảng. Sự tin tưởng giữa vợ chồng không thể vượt quá sự tin tưởng với đảng; ân nghĩa giữa vợ chồng tuyệt đối không được cao hơn lòng trung thành với đảng.

Cuộc sống gia đình là mục đích của hôn nhân, Trung Cộng lại hoàn toàn ngược lại, nam nữ kết hợp không hoàn toàn chỉ là để lập gia đình, mà là vì đảng, trở thành một đơn vị của đảng, là thủ đoạn và công cụ để đảng làm cách mạng, cho nên vợ chồng đã trở thành “đồng chí cách mạng”. Tằng Chí, phu nhân của Đào Chú, được Trung Cộng thừa nhận là một trong mười “nhà cách mạng nữ” từng viết về quan niệm hôn nhân của mình trong hồi ức “Một người cách mạng may mắn còn sót lại”: Đối với một đảng viên Cộng sản, cuộc sống vợ chồng chỉ là thứ yếu, điều quan trọng là sinh mệnh chính trị.

Trong “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” đã biểu thị rõ phải “tiêu diệt gia đình”: “Chúng ta phải thay thế giáo dục gia đình bằng giáo dục xã hội, chính là phải tiêu diệt mối quan hệ thân mật nhất giữa con người.” Luân thường giữa gia đình, người thân vẫn luôn là thiên kinh địa nghĩa không thể thay đổi; vợ chồng, con cái, cha mẹ, bạn bè, mối quan hệ thông thường giữa người với người đã cấu thành xã hội nhân loại. Nhân loại cũng vì có hình thức gia đình vợ chồng mới có thể sinh sôi và phát triển dưới sự câu thúc của lý tính và đạo nghĩa. Nhưng Đảng Cộng sản thay mối quan hệ luân thường giữa vợ chồng bằng mối quan hệ lợi ích giữa “đồng chí cách mạng”, làm biến dị hình thức tổ chức cơ bản của xã hội nhân loại từ căn bản.

Cũng giống như Chương 6 trong cuốn sách này đã phân tích, giữa vợ chồng mà xưng hô “đồng chí”, là khiến vợ chồng ngay trong cuộc sống đời thường luôn luôn ghi nhớ “thân phận trong tôn giáo” của mình, khiến cái bóng tà giáo Trung Cộng vượt lên cả gia đình. Đầu tiên là “đồng chí”, sau đó mới là vợ chồng. Nếu một bên bị Trung Cộng coi là kẻ địch, thì sẽ không thuộc về hàng ngũ “đồng chí”, do đó mới phải vạch rõ ranh giới, vứt bỏ bạn đời, dựa vào tổ chức đảng. Coi vợ chồng như “đồng chí cách mạng”, phá vỡ mối thân tình truyền thống giữa vợ chồng, phá hoại ân nghĩa và sự tin tưởng giữa vợ chồng, mọi người không dám tin ngay cả người cùng mình đầu ấp tay gối. Một khi mối quan hệ “đồng chí cách mạng” bị phá vỡ, luân lý giữa vợ chồng cũng không còn tác dụng, trực tiếp tạo thành những việc vợ chồng tố cáo lẫn nhau mất hết nhân tính trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa và trong những cuộc vận động chính trị.

Người làm con người bị tổn thương nhiều nhất chính là những người thân nhất của mình. Vì họ biết hầu như toàn bộ ưu điểm, khuyết điểm của bạn. Một khi bị người mà mình tin tưởng nhất làm tổn thương, con người rất có thể sẽ cảm thấy như trời sập xuống, không chốn dung thân, biển người mênh mang mà không thể tin tưởng một ai, hoài nghi tất cả. Đây chính là điều mà Đảng Cộng sản cần.

Sau khi “cách mạng” kết thúc, nhân tố cách mạng dần dần nhạt nhòa, mối quan hệ “đồng chí cách mạng” này đã trở thành “mối quan hệ đồng chí” trong cuộc sống, chỉ vì mục đích và lợi ích cụ thể để duy trì gia đình, sự chia sẻ tình cảm giữa vợ chồng và săn sóc lẫn nhau vô cùng thiếu thốn, cuộc sống gia đình trở nên đơn điệu buồn chán. Rất nhiều gia đình sau khi những đứa trẻ lớn lên, vợ chồng thậm chí không biết sau này phải làm gì.

3) Nam nữ như nhau, phụ nữ làm chủ nửa vùng trời

Tục ngữ có câu nam nữ khác nhau, còn dưới ảnh hưởng nhiều năm của Văn hóa đảng, nhắc đến con gái, rất nhiều người tự nhiên nghĩ tới những lời như “thời đại khác rồi, nam nữ đều như nhau”, “phụ nữ có thể làm chủ nửa vùng trời”. Nhưng nam nữ vốn không giống nhau.

Văn hóa truyền thống Trung Quốc chú trọng cân bằng âm dương, kỳ thực chính là chú trọng tới quy luật vạn sự vạn vật điều tiết lẫn nhau, trong đó bao gồm nam nữ. Nam là dương, nữ là âm, đặc tính của nam là cương trực, đặc tính của nữ là nhu mỳ. Hai đặc tính nhu cương bổ trợ cho nhau, cộng sinh hài hòa, chứ không phải là ỷ mạnh hiếp yếu. Luân lý đạo đức mấy nghìn năm của Trung Quốc đề xướng ân ái giữa vợ chồng là điều quan trọng, nam đối ngoại, phải gánh vác trách nhiệm gia đình, phải nuông dưỡng gia đình, yêu thương và bảo vệ vợ con mình, có trách nhiệm với vợ suốt cuộc đời; nữ đối nội, trên phải kính cha mẹ chồng, đỡ đần chồng dạy bảo con cái, phải yêu thương chồng của mình.

Gia đình là tế bào cơ bản của xã hội, trong xã hội Trung Quốc cổ đại, gia đình và gia tộc càng đóng vai trò quan trọng. Lý tưởng nhân sinh của cổ nhân là “tu thân, tề gia, trị quốc bình thiên hạ”, kỳ thực tuần tự đó cũng có cùng đạo lý, “bình thiên hạ” chỉ là mở rộng đạo “tề gia” sang một phạm vi lớn hơn. Trong mối quan hệ gia đình, quan hệ “vợ chồng” là phương diện quan trọng nhất. “Trung Dung” giảng: “Quân tử chi đạo, tạo đoan hồ phu phụ, cập kỳ chí dã, sát hồ thiên địa” (Đạo Trung Dung mà người quân tử gìn giữ, bắt đầu từ đạo lý nông cạn mà một người phụ nữ bình thường cũng hiểu được, khi đạt tới chỗ tinh vi ảo diệu thì có thể hiểu rõ mọi sự vật trong trời đất). Việc Trung Cộng cổ vũ “nam nữ đều giống nhau” đã trực tiếp phá vỡ sự cân bằng và hài hòa của gia đình, là một bước quan trọng để Trung Cộng lật đổ trật tự xã hội truyền thống.

Trong xã hội truyền thống, nữ giới dù không có thành tựu nổi bật về những phương diện như chính trị, kinh tế, khoa học, quân sự, nhưng về phương diện dạy dỗ con cái, duy trì đạo đức và duy trì trật tự xã hội bình thường lại phát huy tác dụng không thể thay thế. Đặc biệt là mẹ sẽ gieo tình yêu vào tâm hồn non nớt của đứa trẻ, đợi sau này khi đứa trẻ lớn lên sẽ mang tình yêu này truyền ra xã hội. Giống như “Mạnh mẫu tam thiên” [2] (Mẹ Mạnh Tử ba lần chuyển nhà) và “Nhạc mẫu thích tự” [3] (Mẹ Nhạc khắc chữ), hầu như mỗi một người dân Trung Quốc đều quá đỗi quen thuộc. Nếu không có sự dạy dỗ của Nhạc mẫu thấu hiểu đại nghĩa thì có lẽ cũng không có nghĩa cử Nhạc Phi “tận trung báo quốc” sau này.

Trung Cộng cổ động “Nam nữ như nhau, phụ nữ làm chủ nửa vùng trời”, ép buộc nữ giới thay đổi vai trò hiền thê từ mẫu, khiến phụ nữ xung phong lâm trận giống đàn ông, đi làm những việc mình khó đảm đương nổi. Mặt khác, gánh nặng chăm sóc người già, giáo dục trẻ nhỏ không người gánh vác hoặc không thể gánh vác, việc giáo dục trẻ nhỏ hoàn toàn ỷ lại vào thế hệ trước (ông bà nội, ông bà ngoại) hoặc nhà trường và xã hội, do đó sẽ gây ra những vấn đề xã hội phức tạp khó giải quyết.

Cổ động “Nam nữ như nhau, phụ nữ làm chủ nửa vùng trời” là sự cần thiết để Trung Cộng tiến hành toàn dân đấu tranh. Bởi vì phụ nữ truyền thống rất ít can thiệp vào các hoạt động xã hội, cũng như vậy, người mà Trung Cộng có thể thao túng cũng ít đi một nửa. Trung Cộng tuyên truyền mình “giải phóng” phụ nữ, thực chất là khuyến khích phụ nữ tham gia cái được gọi là hoạt động cách mạng, biến những người phụ nữ hiền thục dịu dàng, không ra khỏi nhà nửa bước thành “đội ngũ những cô gái sắt” và “đội quân nương tử màu đỏ”, cuốn toàn xã hội vào trong cuộc vận động tạo phản của Trung Cộng.

Trên bề mặt “Nam nữ như nhau” có vẻ như nâng cao địa vị của phụ nữ, nhưng lại không biết rằng quan niệm này là để thiết lập sự đồng thuận với Văn hóa đảng. Kiểu ép buộc phụ nữ đảm đương rất nhiều công việc không phù hợp mà hoàn toàn không quan tâm tới sự khác nhau về sinh lý, dùng tiêu chuẩn của đàn ông để yêu cầu phụ nữ, thực tế chính là sự bất công bằng với phụ nữ, cũng thực sự là sự nô dịch phụ nữ trong Văn hóa đảng.

Khổng Tử giảng: “Quân tử hòa nhi bất đồng” (Quân tử hòa đồng nhưng vẫn mang nét khác biệt), quả thực là đặc điểm khác biệt của mỗi người đã cấu thành nên một xã hội nhiều màu. Mỗi người có một sở trường riêng, tôn trọng lẫn nhau, đối đãi công bằng. Còn với Trung Cộng, phải “thống nhất tư tưởng”, biến xã hội thành một xã hội thống nhất. Nam nữ hai giới mang những sự khác biệt bẩm sinh, nhưng Trung Cộng lại nhồi nhét tư tưởng “quần ngư tranh thực”, khiến phụ nữ cảm thấy nếu yếu thế hơn đàn ông thì sẽ thành vật hy sinh, hoặc bị áp bức. Còn phụ nữ nếu muốn bảo vệ bản thân thì phải dữ dằn lên.

Phụ nữ từ bỏ sự nhu mì theo đuổi sự cương trực, cũng chính là vứt bỏ sở trường của mình, dùng sở đoản của mình đi tranh với sở trường của đàn ông, cho nên mất đi rất nhiều lợi thế riêng. Phụ nữ ngoài học tập, công tác ra còn cần phải làm một người vợ hiền, lại phải nối tiếp đời sau, còn phải giằng xé giữa việc mình có phải làm mẹ hiền hay không, lại phải chạy đua tranh giải với đàn ông, lại phải tô vẽ thêucan thùa. Phụ nữ Trung Quốc tự mình cũng cảm thấy áp lực này, cảm thấy làm phụ nữ thật mệt mỏi.

Quan niệm “Nam nữ như nhau” đã dẫn đến hiện tượng âm thịnh dương suy trên mảnh đất Trung Hoa rộng lớn. Hình tượng phụ nữ mà kiểu Văn hóa đảng này tạo thành chính là Lưu Hồ Lan, Lý Thiết Mai, chị Giang, dì A Khánh, v.v.. ai cũng mắt tròn như hạt nhãn, đi bộ hùng hổ như cọp, nói chuyện nạt nộ to tiếng. Phía êm ái của phụ nữ Trung Quốc thời xưa bị cố tình vứt bỏ. Rất nhiều phụ nữ cũng đã phát hiện ra đặc điểm này của mình qua sách báo, truyền hình, phụ nữ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan lại biết trang điểm, trông càng nữ tính hơn. Phụ nữ dưới sự chỉ đạo của Văn hóa đảng, trong quá trình nam tính hóa dần mất đi đặc tính dịu dàng của mình, trở nên thô bạo độc ác, cường điệu hóa quan niệm về việc thực hiện giá trị nhân sinh chính là chiến thắng đàn ông, khiến cho xã hội ngày nay rất nhiều cô gái mất đi đặc trưng của phụ nữ, cũng khiến cuộc cạnh tranh giữa nam và nữ thêm ác liệt, mối quan hệ hôn nhân gia đình ngày nay càng thêm căng thẳng.

Con người với cuộc hôn nhân và trong gia đình đã bị Văn hóa đảng làm cho biến dị rất khó tìm được chốn đi về bình yên trong tâm hồn. Phụ nữ phải làm chủ nửa vùng trời, làm những việc mà đàn ông muốn làm, ắt sẽ khiến phụ nữ trở nên mạnh mẽ như đàn ông. Trong nhà không ai phục ai, tranh đấu với nhau khiến gia đình mất đi sự ấm áp. Đàn ông oán trách phụ nữ không nữ tính, phụ nữ cũng hận người đàn ông của mình không cương quyết, vô dụng. Người đàn ông bị phụ nữ áp chế, không thể đội trời đạp đất, mang sự tôn nghiêm của nam tử hán, mà bị biến thành “vợ quản chặt”. Rất nhiều người đàn ông không thể thể hiện được sự tôn nghiêm của mình trong nhà, bèn ra ngoài tìm người phụ nữ biết phục tùng và tôn trọng đàn ông, kết quả tạo nên càng nhiều mâu thuẫn hơn, tinh thần trách nhiệm với hôn nhân của con người ngày càng nhạt nhòa. Tỷ lệ ly hôn cao trong xã hội Trung Quốc hiện đại, những mối tình ngoài hôn nhân tràn lan có liên quan rất nhiều tới việc gia đình bị Văn hóa đảng phá hoại.

“Nam nữ đều giống nhau” còn thể hiện trong cách ăn mặc của phụ nữ. Thơ của Mao từng họa thơ rằng “không thích hồng trang (mặc màu hồng), thích vũ trang”. Kỳ thực, yêu thích cái đẹp là thiên tính của con người, lại càng là thiên tính của phụ nữ. Phụ nữ Trung Quốc rốt cuộc thích gì sao có thể do người đàn ông lãnh đạo Đảng Cộng sản nói một câu là xong? Trong suốt mấy chục năm trời, phụ nữ Trung Quốc chỉ được mặc ba màu: xanh lam, đen, xám, trang phục vũ trang cũng hạn chế với vài kiểu như trang phục của Lenin, trang phục của lục quân. Chỉ cần cô gái nào dám mặc quần áo có chút hình hoa, nhẹ thì bị phê bình, nặng thì bị phê phán. Đảng Cộng sản từng phái người chuyên đi bẻ gãy giày cao gót của phụ nữ, dùng dao cắt nát những chiếc quần may bằng vải tốt. Người nước ngoài khi tới Trung Quốc, thấy phụ nữ trung quốc mặc trang phục không phân biệt được giới tính, quả thực phải giật mình, còn tưởng là Trung Quốc nghèo tới mức phụ nữ không có cả quần để mặc, đành phải mặc quần của chồng đi ngoài phố.

Trang phục của mọi người hiện nay dù muôn hình muôn vẻ nhưng quan niệm về Văn hóa đảng đã được nhồi nhét vẫn còn ngoan cố phát huy tác dụng. So với những quốc gia khác, phụ nữ Trung Quốc ăn mặc không phù hợp, nói năng thô lỗ lớn tiếng, không đủ sự tinh tế nhạy cảm, hành vi cũng thường tỏ ra vô lễ. Những biểu hiện nữ tính như nhu mỳ, nho nhã, đoan trang, tinh tế, chu đáo đều bị Đảng Cộng sản phá hoại, còn sót lại không được vài phần.

5. Chống hạn hán, lũ lụt, đấu với Trời đấu với Đất, đảng chỉ đâu đánh đó, mang quan niệm đấu tranh giai cấp

1) Chống hạn hán, lũ lụt, đấu với Trời đấu với Đất

Nhắc tới thiên tai tự nhiên, trong đầu óc chúng ta sẽ tự nhiên hiện ra cảnh tượng chống hạn hán, lũ lụt, sẽ xuất hiện cảnh những người xếp thành hàng, đắp đập, người còn đê còn, cố thủ tới cùng… Thái độ của Đảng Cộng sản với tự nhiên là: “đấu với Trời đấu với Đất”. Chịu ảnh hưởng của Văn hóa đảng, rất nhiều người Trung Quốc tin rằng muốn xử lý thiên tai nhất định phải dùng phương pháp đối kháng này mới làm được. “Cải tạo tự nhiên”, “đấu với Trời đấu với Đất” được giải thích thành anh hùng khí khái. Nhưng dùng thân người bằng máu bằng thịt chiến đấu sinh tử với quỷ lũ, đắp đi đắp lại, tình hình nguy hiểm vẫn liên tiếp không ngừng, nước lũ còn xói mòn cả con đê, con người không thể chiến thắng được tự nhiên.

Đối đãi với thiên tai, “Đại Vũ trị thủy” trong Trung Quốc cổ đại và công trình Đô Giang Yển đã lưu lại cho hậu thế rất nhiều gợi mở.

Câu chuyện Đại Vũ trị thủy chúng ta đều rất quen thuộc. Cổn, phụ thân của Vũ dùng “đập” để trị thủy, nhưng “chín năm mà nước chảy không ngừng, không có hiệu quả”. Đại Vũ dùng cách “khơi thông” để trị thủy, gặp núi xẻ núi, gặp dốc đắp đê, khơi thông dòng nước, thuận theo thế dòng chảy mà dẫn nước, cuối cùng đưa ra biển.

Công trình thủy lợi cổ đại “Đô Giang Yển” được Tổ chức Giáo dục Khoa học Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) công nhận là “Di sản Văn hóa Thế giới”, xứng danh là tinh hoa văn hóa của nhân loại. Đồng bằng Tứ Xuyên có Đô Giang Yển, biến họa nước trở thành thủy lợi, mới trở thành “Thiên cổ chi quốc” (đất nước thiên đường) nổi tiếng màu mỡ phì nhiêu. Điều thần kỳ nhất là, trải qua hơn 2.200 năm đằng đẵng, nó vẫn luôn bồi đắp cho đồng bằng Tứ Xuyên, tới nay vẫn nuôi dưỡng không mệt mỏi “Thiên cổ chi quốc” này. Trên thế giới còn không có một công trình nào có sinh mệnh kéo dài như vậy.

Đô Giang Yển gồm một con đê nông hình miệng cá ngăn nước phân lũ nằm giữa sông Mân, chia sông Mân thành sông trong và sông ngoài. Con đê này không phải dùng để ngăn nước lũ mà nằm ngay giữa dòng sông, tự động chia nước thành 4 hay 6 phần, mùa nước lũ nước chảy vào sông ngoài 6 phần, sông trong 4 phần, còn mùa nước cạn nước chảy vào sông trong 6, sông ngoài 4 phần. Nước chảy vào sông trong đổ vào “Cửa khẩu Bảo Bình” chảy về phía Đông tưới tắm cho vùng đồng bằng Xuyên Tây. Thêm một bước nữa khống chế dung lượng nước chảy vào cửa khẩu Bảo Bình, tại phần đuôi của đập chia nước miệng cá, lại tu sửa mương Bình Thủy dùng để phân nước lũ và đường tràn lũ “đập Phi Cát”. Mực nước Nội Giang quá cao, nước lũ sẽ men theo mương Bình Thủy qua đập Phi Cát ra sông ngoài, đảm bảo khu thủy lợi sông trong tránh khỏi bị ngập úng. Dòng nước xoáy từ đập Phi Cát chảy vào dòng nước sông ngoài đảm bảo bùn cát không tích tụ tại phía trước và phía sau cửa khẩu Bảo Bình. Toàn bộ công trình đập Đô Giang đã thể hiện một cách đầy đủ tư tưởng thuận theo tự nhiên và “Thiên nhân hợp nhất” của cổ nhân Trung Quốc, không đối đầu với tự nhiên mà mượn sức mạnh của tự nhiên dùng cái hay của nó biến hại thành lợi, chung sống hòa bình với tự nhiên.

Những quốc gia phương Tây hiện đại phân khu vùng lũ giảm nhẹ tác hại của nước lũ, giảm tác dụng phá hoại đối với xã hội, kinh tế, môi trường sinh thái xuống mức tối thiểu và giá thành chống lũ giảm thấp nhất, cũng là tận dụng một cách ngẫu nhiên lợi thế vốn có. Còn với dân thường, phương pháp chống lũ tiêu chuẩn chính là rời khỏi nhà, mua bảo hiểm trước, dùng mọi cách bảo vệ đồ đạc trong nhà, cố gắng giảm thiểu tổn thất, chứ không giống Trung Cộng quyết làm bằng được, đối đầu với tự nhiên, làm chuyện trái Thiên ý.

Ngoài ra, cổ nhân Trung Quốc cũng nhận thức được sự xuất hiện của thiên tai chính là lời cảnh cáo cho những hành vi thất đạo của quốc gia, cảnh báo chính quyền và nhân dân đương thời, nếu không hối cải thì tai họa lớn hơn sẽ ập đến. Khi Thương Thang lên ngôi trời hạn hán lớn, nên vua Thang lập đàn tại rừng dâu cầu khẩn Thiên thượng sẽ kiểm điểm lại hành vi của bản thân mình, hỏa hoạn do vậy mà được hóa giải. Đây chính là nguồn gốc của điển cố lịch sử “Thang đảo tang lâm” (Thương Thang tế lễ cầu mưa trong rừng dâu).

Dù là Đại Vũ trị thủy, đập Đô Giang hay vua Thành Thang tế lễ cầu mưa trong rừng dâu, đều phản ánh thái độ đối với thiên tai trong Văn hóa truyền thống của Trung Quốc: Khai thác theo lợi thế, tu đức giải họa, thuận theo thiên lý và quy luật tự nhiên. Còn Trung Cộng tin thờ Thuyết vô Thần, vẫn luôn tự thần thánh hóa và biến bản thân thành thần, tự hào rằng “Vĩ, quang, chính”, đương nhiên sẽ không coi thiên tai là lời cảnh báo với chính quyền bạo lực của nó, càng không biết hối cải hành thiện còn thủ đoạn trị quốc mà Trung Cộng thường dùng lại chịu sự chỉ đạo sâu sắc của tư tưởng đấu tranh, do đó đã quen với việc đối kháng với thiên tai.

Mặt khác, chịu ảnh hưởng của Thuyết duy vật, Trung Cộng chỉ chú trọng xem tự nhiên có thể mang tới cho những lợi ích kinh tế hoặc nông nghiệp có thể nhìn thấy được hay không, nhưng lại xem nhẹ những quy luật khách quan và cơ bản nhất, chỉ coi tự nhiên như đối tượng để cải tạo và lợi dụng. Chính dưới sự dẫn dắt của tư tưởng này, Đảng Cộng sản rất thích làm những “công trình lớn”, động viên toàn dân cùng nhau sôi sục khí thế. Nhằm tô vẽ cho vai trò không gì là không thể và triển hiện lá gan “dám bảo nhật nguyệt đổi ngày mới”, Trung Cộng “quây hồ làm ruộng”, “đốt rừng làm ruộng”, “diệt cỏ làm ruộng” một cách ngu xuẩn, mang tới cho người Trung Quốc biết bao nhiêu tổn thất và thiên tai sinh thái khó có thể dự tính được.

Ví như sông Trường Giang, tự cổ Trung Quốc chỉ có lũ sông nhỏ chứ không có họa lũ sông lớn, tức là chỉ Hoàng Hà thường dâng nước thành lũ, còn Trường Giang thì ít khi có lũ. Chính là vì rừng nguyên thủy trên thượng du Trường Giang có năng lực trữ khoảng 400 tỷ khối nước, còn sau khi Trung Cộng cướp chính quyền nó đã tàn phá rừng nguyên thủy bừa bãi, khiến khả năng dự trữ nước giảm mạnh xuống còn 100 tỷ khối, khả năng trữ nước 300 tỷ khối đã bị Trung Cộng phá hoại, tương đương với 10 công trình Tam Hiệp (khả năng trữ nước của Tam Hiệp không quá 30 tỷ khối). Còn việc Trung Cộng quây hồ làm ruộng khiến khu vực trung hạ lưu của Trường Giang trong vòng 50 năm đã mất đi 12.000 km2 diện tích sông hồ, vượt quá tổng diện tích của 5 hồ nước ngọt lớn. Muốn trị nước lũ hoàn toàn có thể trồng cây gây rừng, bồi đắp phù sa và vứt bỏ cách làm phá hoại thủ công “quây hồ thành ruộng” này, nhưng trong từ điển Văn hóa đảng lại hoàn toàn không có từ “thuận theo tự nhiên”.

Trung Cộng diệt cỏ làm ruộng, thảm thực vật được hình thành hàng nghìn năm bị diệt dưới một mồi lửa, sau đó gieo giống trồng trọt. Ba năm đầu do thổ nhưỡng được che phủ bởi lớp mùn được tích lũy hàng nghìn năm không cần bón phân cũng thu được vụ mùa bội thu. Nhưng ngọt bùi cũng chỉ kéo dài được ba năm, trồng trọt không có khả năng cố định đất, nước, gió lớn thổi lên thêm nước mưa xói mòn, đất nhanh chóng bị cát hóa, từng vùng từng vùng thảo nguyên nghìn năm bị vắt kiệt, chỉ trong ba năm khẩn hoang cải tạo đất đã để lại cho con cháu từng vùng từng vùng sa mạc và bão cát mù trời không thể cải tạo.

Binh đoàn Tân Cương của Trung Cộng nhằm trồng trọt trên đất phèn, đã lãng phí mỗi mẫu vài nghìn khối nước để “rửa mặn”, tức là dùng nước ngâm đất nhiều lần, sau khi đất ngậm nước bão hòa, nước thấm xuống sẽ muối phèn trong lớp đất canh tác vào tầng thổ nhưỡng sâu hơn. Hai ba năm sau, mực nước ngầm dâng lên, sẽ mang muối quay trở lại mặt đất, đất canh tác không thể dùng tiếp, tầng thực vật vốn có sẽ bị tiêu diệt, chỉ còn lại một vùng sa mạc. Chỉ trong những năm 1950, Trung Cộng chính do dùng cách này mà đã tạo ra 2 triệu mẫu sa mạc. Mực nước sông Tarim hạ thấp, cuối cùng đã ngừng chảy, khiến vùng Lục Châu vốn được dòng nước đó tưới tắm cũng bị sa mạc hóa, tạo thành một tai nạn sinh thái không thể cứu vãn.

Không chỉ có vậy, Trung Cộng còn bồi dưỡng ra những người được gọi là “nhà khoa học” đề xuất cách nghĩ điên cuồng là dùng bom nguyên tử đánh bom cho nổ núi Hymalaya để mở một cái cổng rộng 50 km, để khí nóng ẩm của Ấn Độ Dương tràn sang Nepal, thổi vào vùng cao nguyên Tây Tạng, căn nguyên của nó cũng là “đấu với Trời, đấu với Đất”.

Dưới ảnh hưởng của quan niệm về tự nhiên như vậy, con người nhằm đạt được mục đích kinh tế hoặc chính trị đã phá hoại môi trường tự nhiên một cách không kiểm soát, gây ra thiên tai và những vấn đề môi trường. Đối với việc chống lũ, chống hạn hán rất nhiều người đã quen với việc khi sự việc xảy ra thì oanh oanh liệt liệt, nhưng lại xem nhẹ nguyên nhân gây ra thiên tai. Trên thực tế, nguyên nhân căn bản của những vấn đề môi trường tại Trung Quốc hiện nay chính là tư duy Văn hóa đảng “đấu với Trời đấu với Đất”.

2) Đảng chỉ đâu đánh đó, có quan niệm đấu tranh giai cấp

Sau một thời gian dài bị nhồi nhét Văn hóa đảng, trong cuộc sống của mọi người “Đảng chỉ đâu đánh đó”, ai ai cũng đều mang quan niệm đấu tranh. Biểu hiện cụ thể là hiện nay một khi đảng “định tội” cho một nhóm người nào đó, thậm chí chỉ là hơi ám chỉ thì toàn xã hội hoặc chủ động tham dự bức hại hoặc kỳ thị, xa lánh nhóm người bị đảng ấn định là “khác với mình”, hoặc giữ thái độ cảnh giác, sợ hãi và thờ ơ với nạn nhân bị đả kích, còn ngôn luận và hành vi của dân chúng lại thêm một bước nữa trở thành căn cứ để đảng tuyên truyền nó “được quảng đại quần chúng nhân dân ủng hộ”.

Có người cảm thấy Trung Cộng ngày nay không hề còn đấu tranh giai cấp nữa, tư tưởng của mọi người đều tập trung vào kinh doanh, kiếm tiền, đa phần ý thức chính trị đã phai nhạt, Văn hóa đảng không hề ảnh hưởng lớn tới cuộc sống hàng ngày. Còn có một số người tự cho rằng mình đã trải qua mưa gió chính trị thời gian dài, sớm đã nhìn thấu bản chất của Văn hóa đảng, thấy ghét bỏ những cuộc vận động chính trị của Trung Cộng, đã hoàn toàn không bị nó gây ảnh hưởng.

Trên thực tế, mấy chục năm nay Trung Cộng phát động những cuộc đấu tranh trị người tàn khốc, lan tới từng thành viên trong xã hội. Văn hóa đảng với nền tảng là Thuyết vô Thần và tư tưởng đấu tranh kết hợp với hình thức đấu tranh phổ biến trên toàn xã hội, vài năm lại phát động một lần, hầu như đã ngấm sâu vào cuộc sống của từng người trong xã hội. Con người hoặc bị lừa gạt, kích động mù quáng theo Trung Cộng hành ác, hoặc chủ động theo Trung Cộng trị người vì sinh tồn và lợi ích của mình, hoặc đành phải không biểu đạt thái độ mà bị động theo các cuộc vận động của Trung Cộng, hoặc chán ghét không muốn tìm hiểu sự thực có liên quan, kỳ thực đều là trực tiếp hoặc gián tiếp phối hợp với Trung Cộng tăng cường sự khống chế tư tưởng của nó đối với từng thành viên trong xã hội, đều là tự giác hoặc không tự giác múa theo cây gậy chỉ huy của Trung Cộng mà hô phong hoán vũ, chém giết do ảnh hưởng của Văn hóa đảng.

Vì bị lừa gạt, kích động mù quáng mà theo Trung Cộng “chỉ đâu đánh đó”

Với vấn đề này, hôm nay chúng ta cùng tìm hiểu thêm một chút về lịch sử mà mọi người đều khá quen thuộc. Những năm 50, 60 của thế kỷ trước, Trung Cộng cổ động giấc mơ “thiên đường tại nhân gian” vẫn được rất nhiều người mong ngóng, cộng thêm Trung Cộng nhất loạt dùng những lời dối trá tuyên truyền Marx-Lenin vĩ đại, mọi người dưới sự hiệu triệu của Trung Cộng bị kích động và lừa gạt mà đã làm ra nhất nhiều hành động không thể tưởng tượng được.

Như Trung Cộng hiệu triệu làm công xã nhân dân, mọi người đều một bầu nhiệt huyết sôi sục, phải “rảo bước tiến nhập vào Chủ nghĩa Cộng sản”. Sau vài tháng, làn sóng công xã nhân dân đã nhấn chìm vùng nông thôn. Từng nhà từng hộ đều giao hết khẩu phần ăn miễn phí lên cho nhà ăn. Không tới vài năm sau đã xảy ra thảm cảnh nạn đói hoành hành.

Trung Cộng mở rộng luyện thép, Trung Quốc trên dưới đều phải coi đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu mà luyện thép bằng lò nung đất, người nông thôn đập nồi, người thành phố bẻ song sắt cửa sổ, dỡ đường ống sưởi ấm, dùng lò đất nung luyện ra mấy triệu tấn sắt thải không hề có tác dụng gì. Đồng thời cũng có rất nhiều nông dân vứt bỏ công việc đồng áng đi “tìm mỏ”, “luyện thép”, một lượng lớn hoa màu thối nát không có người thu hoạch về kho, hoặc vội vàng vứt bỏ lượng lớn. Có người dự tính tỉnh Tứ Xuyên “lương thực bị vứt bỏ lãng phí chiếm khoảng trên dưới 10% tổng sản lượng… trên 2,2 triệu tấn.” Tỉnh Hà Nam thì có 50% lương thực vụ thu bị vứt bỏ trên đồng ruộng không thu hoạch về kho.

Trung Cộng đề xuất trừ tứ hại, thế là ngay cả loài chim nhỏ cũng trở thành đối tượng “đấu tranh”. Già trẻ gái trai khua chổi, đập bát đập nồi, la hét ầm trời, công trường nhấn còi báo động, nhấn còi ô tô inh ỏi, khiến đàn chim sâu thất kinh bay mất, không còn nơi hạ cánh, cuối cùng chết vì sợ vì mệt. Chim sâu giảm nhanh, nạn côn trùng lại tăng mạnh, khiến nông sản thất thu lớn, nạn đói nghiêm trọng.

Năm 1968, Mao Trạch Đông ra chỉ thị: “Thanh niên tri thức tới nông thôn, tiếp nhận lại giáo dục của nông dân nghèo là vô cùng cần thiết”. Thế là rất nhiều người nhiệt huyết sôi sục, sinh viên tốt nghiệp các trường đại học, trung cấp của mấy triệu thành thị cáo biệt cha mẹ, người thân và quê nhà tới nông thôn và vùng biên cương “đấu với Trời đấu với Đất”, tiếp tục dấy lên cao trào “cách mạng” mới (thực chất là bị cải tạo lao động một cách biến tướng).

Thời “Cách mạng Văn hóa”, Trung Cộng cổ động phá “tứ cựu”, rất nhanh chóng đình chùa, đạo quan, tượng Phật và những di tích thắng cảnh, tranh chữ, đồ cổ liền trở thành đối tượng bị đập phá. Vô số văn vật bị đốt cháy. Ngay cả mộ của bậc danh nhân, hài cốt của người chết cũng là mục tiêu đấu tranh “cách mạng”. Đến năm 1966, phàm là những người có tên tuổi trong sách cổ như Khổng Tử, Vương Nghĩa Chi, Nhạc Phi, Hải Thụy, Trương Cư Chính, Viên Sùng Hoán, Bồ Tùng Linh, v.v.. chỉ cần bị tìm thấy, hầu như đều bị đào mộ.

Trung Cộng muốn cắt cái đuôi chủ nghĩa tư sản, rau cỏ củ quả phía trước phía sau nhà của nông dân, gia cầm gia súc rất nhanh đều bị cắt đi. Có vài nông dân vì giải quyết khó khăn cuộc sống mà trộm vài quả trứng để đổi lấy đồ dùng hàng ngày thì lập tức bị cho là “cái đuôi của chủ nghĩa tư bản” bị tố cáo, vạch trần.

Vì sinh tồn hoặc lợi ích mà theo Trung Cộng “chỉ đâu đánh đó”

Có ba tình huống điển hình. Trước tiên nói tình huống thứ nhất. Quan chức của cơ cấu chính phủ, tư pháp, giám sát các cấp, viên chức cơ sở là công cụ chấp hành “chính sách” của Trung Cộng. Trung Cộng dùng thủ đoạn cây gậy và củ cà rốt để ép buộc họ làm theo, theo Trung Cộng hành ác. Một mặt Trung Cộng cưỡng chế truyền đạt chỉ tiêu xuống từng cấp, nếu không hoàn thành chỉ tiêu thì sẽ mất cái mũ ô sa hoặc mất bát cơm, mặt khác Trung Cộng còn dùng biện pháp khen thưởng công khai hoặc ngấm ngầm, dùng thủ đoạn vật chất khích lệ những người phản bội lương tâm theo Trung Cộng hành ác. Người Trung Quốc mấy chục năm nay đều đang chửi tham quan, chửi hủ bại khắp nơi, nhưng Trung Cộng có quyết tâm và sức mạnh đàn áp những nhân sỹ hoặc tín ngưỡng trong nhân dân đối lập với nó, nó cũng có khả năng phong tỏa truyền thông, liên kết mạng, tức là không thể trị hủ bại tân gốc, nguyên nhân chính là Trung Cộng cần cho quan chức các cấp cơ hội hủ bại, thông qua việc khen thưởng ngấm ngầm này cổ vũ họ nghe theo chiếc gậy chỉ huy của Trung Cộng đàn áp những thứ bất đồng chính kiến với mình để củng cố chính quyền. Rất nhiều người dân đều rất phẫn nộ với cảnh sát, nhân viên quản lý hoành hành bá đạo, lộng hành ngoài vòng pháp luật, nếu kiểm tra mạng Internet có thể thấy cư dân mạng không hề bình luận tốt về chúng. Nguyên nhân là Trung Cộng hy vọng cấp cho những nhân viên cơ sở này cơ hội “thu hoạch” bằng những thủ đoạn phi pháp, cổ vũ họ chấp hành “chính sách” của mình một cách trung thực, khi cần thiết “đảng chỉ đâu thì đánh đó”.

Ví dụ như sau khi Trung Cộng bắt đầu bức hại Pháp Luân Công, khi mới bắt đầu có một lượng lớn học viên Pháp Luân Công tới Bắc Kinh thỉnh nguyện. Trung Cộng lấy số người đi thỉnh nguyện tại các nơi làm chỉ tiêu đo lường “tình hình trị an” của địa phương, khiến cho quan chức, cảnh sát các nơi không tiếc công sức đi bắt giữ “những người thỉnh nguyện”, dùng thủ đoạn đánh đập, tra tấn và phạt tiền nhằm bức hại học viên Pháp Luân Công đảm bảo họ không tiếp tục đi thỉnh nguyện. Các đơn vị cũng như vậy, thông thường một người đi thỉnh nguyện cả đơn vị sẽ bị phạt tiền, nó dùng phương pháp bức hại liên lụy để khiến mọi người thù hận học viên Pháp Luân Công vì lợi ích của mình.

Ngoài ra, Trung Cộng còn coi tỷ lệ chuyển hóa các học viên Pháp Luân Công là chỉ tiêu của nhà tù, trại lao động, trại giam, khiến hàng loạt học viên Pháp Luân Công bị tra tấn dày vò thậm chí chết thảm trong những cơ cấu này. Có rất nhiều quan chức, cảnh sát nói với học viên Pháp Luân Công bị tra tấn dày vò rằng: “Chúng tôi cũng không còn cách nào khác, nếu không thì sẽ mất bát cơm.” Phòng 610 các nơi tiến hành phạt tiền phi pháp những học viên Pháp Luân Công đã thành thông lệ; nhưng sau năm 2001 có rất nhiều trại cưỡng bức lao động, nhà tù cấu kết cùng với bệnh viện, tiến hành mổ cướp nội tạng học viên Pháp Luân Công một cách tàn nhẫn để bán kiếm lợi nhuận khổng lồ, đây chính là phần thưởng ngấm ngầm của Trung Cộng dành cho những người ở tuyến đầu – trung thực chấp hành chính sách bức hại của nó.

Mặt khác, vì Trung Cộng nắm giữ mọi mặt về nguồn tài nguyên của xã hội, kế sinh nhai của mọi người đã có mối quan hệ mật thiết với việc có nghe theo cây gậy chỉ huy của đảng hay không, hướng quan sát phải đảm bảo mình không va chạm với phương hướng mà đảng cấm kị, cũng đã trở thành một kinh nghiệm sống khác của mọi người. Ví như hãng truyền thông của Trung Cộng, quan chức các cấp gặp phải chuyện đại sự có liên quan tới nhân dân, như những sự kiện truyền nhiễm dịch cúm gia cầm, dịch SARS, sông Tùng Hoa… trước khi “Trung ương đảng” chưa biểu đạt thái độ rõ ràng, thì nhất loạt đều ngậm miệng, im hơi lặng tiếng, phong tỏa tin tức. Lẽ ra khi phát hiện thấy có dịch bệnh phải áp dụng biện pháp cách ly sớm nhất, thông báo cho nhân dân phòng chống truyền nhiễm, phát hiện truyền nhiễm phải thông báo sớm cho những khu chịu ảnh hưởng và cấp dưới nhằm áp dụng những biện pháp cứu hộ, điều này đâu cần phải có tri thức cao thâm gì, chỉ cần có lương tâm là có thể làm được. Nhưng hãng truyền thông, quan chức của Trung Cộng trong thời khắc quan trọng này lại sợ mình lỡ lời, không nhất trí với Trung ương đảng sẽ mất đi bát cơm, mất đi cái mũ ô sa, cho nên thà làm trái lương tâm cũng phải làm theo sự chỉ huy của Trung Cộng.

“Đảng chỉ đâu thì đánh đó” còn có một biểu hiện khác, chính là lấy việc “đảng” thích hay ghét mà xác định rằng sự việc chính xác hay không, mọi người vì tự bảo vệ mình mà thường “lập lờ”, biểu hiện quá khích hơn cả yêu cầu bề mặt của đảng. Ví như Trung Cộng hoàn toàn không quy định một cách rõ ràng rằng trên mạng Internet có những bài viết bao gồm những từ nào phải bị phong tỏa, nhưng nhiều chủ xuất bản nhiều trang web đã tự bảo vệ mình bằng cách vạch ra phạm vi phong tỏa nghiêm ngặt, ví như với những bài viết gồm những từ như “Tự do”, “Đài Loan”, “Độc lập”, đối với lời thoại mà nói thì hoàn toàn có khả năng phù hợp với hình thái ý thức của Trung Cộng, nhưng rất nhiều mạng đều liệt kê những từ này thành từ quan trọng bị phong tỏa.

Loại thứ hai là công khai lợi dụng “đại hội đấu tố” để kích động “nhiệt tình cách mạng” của dân chúng, trong bầu không khí cuồng nhiệt mà mọi người cùng nhau reo hò, mặc dù rất nhiều người dân biết rõ rằng đối tượng bị đấu tố là người tốt tại thôn xóm, phố phường, nhưng mọi người vì tự bảo vệ mình mà nỗ lực biểu hiện ra sự kiên định về lập trường, chủ động tham dự “đấu tố, vạch trần”. Ví như những cuộc vận động “cải cách ruộng đất”, “trấn áp phản cách mạng” sau khi Trung Cộng cướp chính quyền không lâu nó đã thường xuyên dùng “đại hội phê phán quần chúng”, do đảng định tội, sau đó kích động dân chúng nổi lên “tố cáo”, tiếp theo là tùy tiện xử chết. Thông thường chỉ cần “lãnh đạo” Trung Cộng tại địa phương gật đầu, dân chúng bên dưới liền hô theo rằng “phải giết”, liền giết ngay không cần bàn luận. Trong bầu không khí sục sôi của quần chúng, không ai dám thể hiện sự đồng tình với “địa chủ” và “phần tử phản cách mạng”.

Loại thứ ba, trong các cuộc vận động Trung Cộng trước tiên đàn áp một nhóm người được gọi là “tội ác tày trời” nhằm tạo nên bầu không khí khủng bố, sau đó ép buộc mỗi người tự “bộc bạch”, “kiểm điểm”, tuyên bố chính sách gọi là “Thản bạch tòng dung, kháng cự tòng nghiêm, kiểm cử hữu thưởng, lập công chuộc tội” (Thành thật thì tha, kháng cự phạt nghiêm, kiểm điểm có thưởng, lập công chuộc tội), còn lợi dụng một cách đầy đủ tâm lý hy vọng sớm vượt quan của con người, khiến mọi người xuất phát từ việc tự bảo vệ mình hoặc đầu cơ mà tố cáo hãm hại người khác. Điều này khiến mọi người vì sinh tồn của bản thân mình mà bẻ cong nhân tính, “báo cáo, vạch trần” người thân, bạn bè, đồng nghiệp nhằm thể hiện lập trường của mình là đứng về “phía của đảng”. Như “cuộc vận động Chỉnh phong Diên An” những năm đầu của Trung Cộng, cuộc vận động “Ngũ tứ” nhằm vào “nhà tư bản” năm 1957 đều áp dụng thủ đoạn này, bức bách mọi người vì “vượt quan” mà vạch trần lẫn nhau; cuộc vận động “Phản cánh hữu” năm 1957 lại càng áp dụng việc phân chỉ tiêu cánh hữu tới các đơn vị, bức bách mọi người “tố cáo” cả đồng nghiệp.

Tự cho rằng “Đảng chỉ đâu” thì “không đánh đó” kỳ thực vẫn là “Đảng chỉ đâu thì đánh đó”

Trải qua mấy chục năm vận động, tư tưởng của con người thay đổi thành phức tạp hơn. Tin tưởng vào Chủ nghĩa Cộng sản hầu như không còn ai, sự sùng bái cá nhân cuồng nhiệt với lãnh đạo Đảng cũng không còn vết tích, rất nhiều người cũng nhìn thấu giả ác đấu của Đảng Cộng sản. Hiện nay khi Đảng Cộng sản phát động vận động chính trị, những người dân đối mặt cũng khác rất nhiều so với trước kia. Mọi người đã không muốn bị cuốn vào những cuộc đấu tranh chính trị này của Đảng Cộng sản, ngoài vài kẻ ác ý muốn chiếm đoạt lợi thế chính trị, thì đại bộ phận quần chúng trong những cuộc vận động này không còn tích cực chủ động bước ra làm, mà là cảm thấy bản thân mình rất tách biệt. Loại “tách biệt” này chính là không đi nghiên cứu, tìm hiểu những tình tiết đằng sau câu chuyện, cũng không muốn nghe người khác biện giải và tìm hiểu sự thực có liên quan, việc không liên quan tới mình thì ngoảnh mặt làm ngơ, thêm một chuyện chẳng bằng bớt một chuyện.

Đây chính là một cách biểu hiện gián tiếp “Đảng chỉ đâu thì đánh đó”, trong Văn hóa đảng, chính là do mọi người không còn tín nhiệm đảng, chán ghét đảng, chán ghét chính trị, ngược lại lại tạo thành chuyện hoang đường “Đảng chỉ đâu thì đánh đó”.

Một mặt, Trung Cộng hy vọng những người không muốn tham gia thì bàng quan, biểu hiện như không có chuyện gì xảy ra. Ví dụ, khi một tên cướp ngang nhiên cướp giật, cưỡng dâm trên xe buýt, điều mà chúng hy vọng chính là tất cả hành khách đều giả điếc, giả mù, như vậy khi chúng hành ác sẽ có thể không có bất kỳ áp lực hay lo lắng gì, còn nạn nhân ở thế tuyệt vọng cũng sẽ không phản kháng kịch liệt. Nếu có người cảm thấy Trung Cộng trấn áp những nhân sỹ bất đồng chính kiến, những nhân sỹ duy hộ nhân quyền trong nhân dân, trấn áp tín ngưỡng dân gian là không hề liên quan tới mình, thậm chí vứt bỏ lương tri, trách nhiệm đạo đức của cá nhân mà ra vẻ “thanh cao” không tham dự vào chính trị, sẽ khiến Trung Cộng đàn áp dân chúng vô độ không thèm kiêng kỵ.

Mặt khác trong Văn hóa đảng, thực tế rất khó “tách biệt” một cách thực sự. Đảng Cộng sản không cho phép “tách biệt” một cách thực sự. Bạn vẫn cứ phải xem ti vi, đọc báo, nghe đài, lên mạng đúng không? Mọi thứ trên đất nước rộng lớn này, đều là tuyên truyền tiếng nói của nó, không thể nào không lọt vào tai bạn. Ủy ban tại đơn vị, trường học và phố phường đều là những kênh truyền thông truyền đạt tiếng nói của Đảng. Mọi người hàng ngày ngập chìm trong chính trị, những người cho rằng mình “không tham gia chính trị” một cách vô ý thức từng người từng người một đều sớm đã trở thành “chính trị gia”. Lúc này, nếu không phản kháng Trung Cộng, từ đó thoát khỏi chính trị của Trung Cộng mà là tiêu cực hợp tác với Trung Cộng, thì kỳ thực chính là đã thể hiện “bộ mặt chính trị” của mình, đâu có thể nhắc tới sự “tách biệt”.

Đảng Cộng sản chỉ cần tấn công là những người tự thấy mình “tách biệt” sẽ thể hiện sự “tách biệt” của mình như sau: Đảng nói biểu đạt thái độ liền đi biểu đạt thái độ, đảng bảo ký tên liền đi ký tên, đảng nói ai ai đó không tốt liền hùa theo nói không tốt, đảng nói không được làm gì liền không làm đó, đảng nói cắt đứt với ai liền cắt đứt với người đó, đảng định tội cho ai thì liền không dám tiếp xúc với người đó, thậm chí thà nghe theo những lời dối trá do Trung Cộng nhồi nhét chứ không dám tìm hiểu tình trạng hiện thực của nạn nhân. “Tách biệt”, tức là tách biệt ở việc không “đấu” với đảng; “tách biệt”, tức là tách biệt ở việc “đảng nói làm gì liền làm nấy”; “tách biệt” tức là tách biệt ở việc “đảng chỉ đâu đánh đó”. Kiểu “tách biệt” này chẳng qua chỉ là “tách biệt chính trị hóa” hoặc là “chính trị hóa một cách tách biệt”, là một hình thức khác tham dự vào chính trị của Trung Cộng. Kỳ thực, đây chính là đủ loại nhân tố Văn hóa đảng trầm lắng xuống trong lịch sử được biểu hiện ra một cách tổng hợp vào thời kỳ mới.

Có lẽ có người cho rằng mình rất phản cảm với chính trị, “đảng chỉ đâu” sớm đã “không đánh đó”, sao lại có thể quay ngược lại thành “đánh đó” được đây? Kỳ thực chính là như vậy. Hiện giờ mọi người cảm thấy cuộc đại Cách mạng Văn hóa buồn cười biết bao, cân nhắc ngày nay mình đừng có ngốc như vậy, chính trị hóa như vậy, đừng tham gia vào đảng phái nào nữa. Mọi người cho rằng chính vì nhiệt tình chính trị của mọi người bị Trung Cộng lợi dụng nên mới xảy ra bi kịch Đại Cách mạng Văn hóa như vậy, sự phản cảm và thờ ơ với chính trị của mọi người hiện nay có lẽ đảm bảo sẽ không xảy ra những việc hoang đường như vậy. Nhưng mọi người nhìn xem cuộc bức hại rợp trời rợp đất nhằm vào Pháp Luân Công, ai ai cũng đều cảm nhận được sự tái hiện của Cách mạng Văn hóa, hơn nữa sự công kích mà nó tuyên truyền, phỉ báng, kích động thù hận lại dựa vào công cụ truyền thông hiện đại hóa ngày nay còn vượt xa so với Cách mạng Văn hóa. Nếu nói rằng những cuộc vận động trước kia là dựa vào nhiệt tình chính trị mù quáng của mọi người, thì cuộc vận động chính trị ngày nay được tiến hành với mức độ rộng lớn là nhờ vào cái gọi là thái độ tách biệt là sự phản cảm với chính trị, sợ hãi và “triết lý phòng thân sáng suốt” đó. Hậu quả gây ra cũng đều là “đảng chỉ đâu thì đánh đó”, giúp Trung Cộng được đà thảm sát bức hại nhân dân. Điều đáng sợ hơn chính là, vì cái gọi là “tách biệt” của con người ngày nay và cái gọi là “không quan tâm” tới chính trị, khiến cuộc bức hại của Trung Cộng càng dễ đạt được, càng triển khai một cách thảm khốc, đặc biệt là khi Trung Cộng chuyển cuộc bức hại từ công khai thành ngấm ngầm, càng âm thầm dùng hết mọi thủ đoạn gian manh, độc ác.

Chính trị của Trung Cộng cũng giống như chiếc xe lửa cao tốc, chỉ cần bạn ngồi bên trong, bạn chính là một phần của chiếc xe lửa, dù cho bạn có hành động hay không hành động, dù cho bạn hành động một cách chủ động hay bị động. Sự “tách biệt” không thể tránh khỏi bi kịch xảy ra, chỉ khi mọi người nhảy thoát khỏi cái vòng Văn hóa đảng quái dị, không hợp tác với bức hại chính trị của Trung Cộng, thoái xuất khỏi Trung Cộng, giải thể Trung Cộng, mới có thể cự tuyệt sự tái hiện của Cách mạng Văn hóa từ gốc rễ.

Tác dụng và biểu hiện của đấu tranh giai cấp

“Đảng chỉ đâu đánh đó”, chữ “đánh” ở đây rất được chú trọng, đó chính là lối viết sống sượng của tư duy đấu tranh giai cấp của Trung Cộng. “Đối với đồng chí ấm áp như mùa xuân, đối với kẻ thù lạnh lùng như giá rét”, “lập trường kiên định, yêu ghét phân minh” dường như không đánh không đấu thì không còn cách nào khác.

Từ những ngày đầu sáng lập, Đảng Cộng sản đã xây dựng lý luận đấu tranh giai cấp (“Tuyên ngôn đảng cộng sản” nói cho tới nay tất cả lịch sử phát triển của xã hội đều là lịch sử đấu tranh giai cấp), đằng sau lý luận này lại được Karl Marx, Engels, Lenin, Mao phát triển. Trước khi Trung Cộng cướp đoạt quyền thống trị nó cần phải cổ động lý luận đấu tranh giai cấp, bởi vì đây chính là lý do duy nhất để nó có thể lật đổ chính phủ hợp pháp đương thời, sau khi Trung Cộng thành lập chính quyền, nó không ngừng phát triển đấu tranh giai cấp là để củng cố chính trị, và là thủ đoạn để thảm sát những ai bất đồng chính kiến. Cái gọi là lý luận đấu tranh giai cấp đã trở thành một trong những hòn đá tảng của Văn hóa đảng.

Triết học đấu tranh đã tạo nên một tâm thái quân sự hóa toàn xã hội có thể được điều động vào bất cứ thời khắc nào, cho nên dù là lần vận động lớn nào thì tốc độ động viên của nó đều đáng kinh ngạc. Ngoại trừ quân đội bị nhào nặn thành công cụ chỉ đâu đánh đó thì mọi lĩnh vực công tác đều bị Trung Cộng gọi là “chiến tuyến”, đương nhiên cũng là quản lý quân sự hóa, cấp dưới tuyệt đối phục tùng cấp trên. Chỉ cần Trung Cộng chỉ ra một mục tiêu hoặc một phương hướng, rất nhiều người sẽ ngay lập tức phụ họa theo, ào ào xông lên. Trong cuộc sống hàng ngày của mọi người, mọi  người thường nhìn thấy, nghe thấy hoạt động kinh tế được gọi là “chiến dịch…”, “đánh một trận kiên cường” về khoa học, điều động chức vụ gọi là “nhanh chóng xông vào chiến trường mới”, cái gì cũng mang theo tâm thái “đả”, “đấu”, “làm rắn”. Không chỉ là những vấn đề đối đãi với thiên tai như “chống lụt, chống hạn” đều áp dụng biện pháp đắp chặn và đấu tranh, khi đối đãi với những vấn đề và mâu thuẫn xã hội, tư duy của Trung Cộng đều là “đấu tranh” và “cưỡng bức”. Bất kỳ một mâu thuẫn xã hội nào chỉ cần ló đầu ra, Trung Cộng liền dùng bạo lực “tiêu diệt từ trạng thái manh nha”. Trong cuộc sống hàng ngày cũng vậy, khi Trung Cộng thực sự tiến hành đấu tranh giai cấp, trị người, bức hại con người, biểu hiện của nó lại càng thêm lợi hại.

Điều cần chỉ ra ở đây là cái gọi là đấu tranh giai cấp của Trung Cộng hoàn toàn không chỉ giới hạn đấu tranh giữa “giai cấp”. Ví như “những kẻ thù giai cấp” trong “lịch sử phản cách mạng”, “cánh hữu”, “đi theo chủ nghĩa tư sản”. Trước khi bị đấu tố nhà tư sản đã sớm mất đi sự chiếm hữu đối với tư liệu sản xuất, Trung Cộng vẫn liệt kê họ vào danh sách kẻ thù giai cấp, lý do là tư tưởng của họ, lập trường của họ vẫn đứng trên “mặt đối lập với giai cấp vô sản”. Cái gọi là căn cứ để vạch ra “giai cấp” trên thực tế là tư tưởng của mọi người. Những tư tưởng không được Trung Cộng công nhận sẽ bị liệt kê thành kẻ thù giai cấp cần thanh trừ.

Những năm đầu “nhà tư bản” do chiếm hữu tài liệu sản xuất mà bị đấu tố, ngày nay được gọi là “nhà doanh nghiệp”, chỉ cần tư tưởng, lập trường của nó được Trung Cộng công nhận là có thể được liệt vào “giai cấp vô sản”, gia nhập vào cái gọi là “đội tiên phong của giai cấp vô sản”, trở thành đảng viên Trung Cộng; những công nhân thất nghiệp, nông dân mất đất không còn gì thì bị coi là nhân tố bất ổn định, nếu dám kêu oan lên trên, biểu đạt sự bất mãn, nói những lời Trung Cộng không thích nghe là có thể dùng vũ lực trấn áp những “giai cấp vô sản” chân chính này.

Trong xã hội ngày nay, vùng biên của ý thức “đấu tranh giai cấp” càng rộng lớn hơn, biểu hiện càng phức tạp hơn, nhưng thực chất nó đều là phân loại các thành viên trong xã hội theo một tiêu chuẩn nào đó, tiến hành công kích với những người khác với mình. Biểu hiện cụ thể của kiểu ý thức “đấu tranh giai cấp” ăn sâu vào trong cuộc sống gồm: cưỡng chế người khác hành sự theo ý đồ của mình, không tôn trọng người khác; công kích, hạ thấp, bôi nhọ người khác, trực tiếp đả kích tâm linh, danh dự và nhân cách của đối phương; không chú trọng đạo lý, không nói chuyện đàng hoàng; cãi nhau, mắng chửi, đấu đá với người khác; giỏi dùng quyền lực, lợi ích, điều kiện sống, tình cảm của con người hoặc thông qua đủ mối quan hệ và kênh xã hội, dùng đủ mọi cách gây áp lực cho người khác, trấn áp, khuất phục đối phương. Trong khi giải quyết những vấn đề trong cuộc sống, xã hội cũng rất ít khi nghĩ tới người khác, xuất phát từ phương diện tích cực, mang tính xây dựng, làm tốt công việc, mà thường dùng thủ đoạn phụ diện đấu tranh, mang tính phá hoại.

Cá tính, năng lực, công tác, tình trạng gia đình, của cải nhiều ít, môi trường sống, bối cảnh văn hóa của mỗi người đều khác nhau, xã hội nhân loại từ cổ chí kim đều tồn tại sự khác biệt, thậm chí là mâu thuẫn. Còn Trung Cộng lại quy kết nguyên nhân của sự khác biệt này là do “giai cấp”, đẩy mạnh giải quyết những sự khác biệt và mâu thuẫn này bằng phương thức  đấu tranh, khiến người Trung Quốc đơn giản hóa khi xem xét vấn đề, không đen thì là trắng, không thế này thì là thế khác, không phải là bạn thì là kẻ thù, mà coi nhẹ việc tư duy và hành vi của con người vốn phức tạp, không tồn tại sự đối lập hoàn toàn hay nhất trí hoàn toàn, sự hợp tác hoặc là đồng thuận giữa con người với nhau cũng không thể được kiến lập trên cơ sở không có mâu thuẫn hoặc không có kiến giải bất đồng. Phương thức giải quyết vấn đề cụ thể cũng quên mất những đạo đức truyền thống của dân tộc Trung Hoa như nghĩ tới người khác, lắng nghe ý kiến của người khác, khiêm tốn, cũng chưa từng nhắc tới tinh thần đồng đội, dung hòa và đa nguyên hóa của phương Tây. Chỉ cần có chút không phù hợp hoặc khác với mình thì tự nhiên liền dùng thủ đoạn đấu tranh để giải quyết vấn đề. Mỗi một người Trung Quốc đều cảm nhận sâu sắc hiện tượng đấu đá trong nội bộ người Trung Quốc, quan niệm đấu tranh giai cấp từ đó khởi tác dụng không nhỏ.

Nếu nói rằng trong các cuộc vận động chính trị được phát động vào những năm 80 của thập niên trước, thì sau khi động viên, cưỡng chế, dụ dỗ quần chúng mới có thể tham dự, còn trong mấy chục năm sau, cùng với tâm sợ hãi ngày càng gia tăng trong các cuộc vận động, cùng với việc Trung Cộng nhồi nhét tư tưởng đấu tranh, việc tuyên truyền “Đảng vĩ đại”, múa và chém giết theo cây gậy chỉ huy của Trung Cộng đã dần ăn nhập vào phương thức tư tưởng của người Trung Quốc, trở thành trạng thái tư duy, hành động tự nhiên thường ngày.

Kết luận

Chính trị chỉ là một bộ phận trong đời sống xã hội bình thường, hơn nữa còn là một bộ phận kém quan trọng nhất. Sau khi Văn hóa đảng xâm chiếm, cuộc sống riêng tư của người Trung Quốc bị cưỡng chế lôi vào chính trị. Những ngày lễ tết truyền thống của chúng ta bị bãi bỏ hoặc bị đổi mất nội hàm, chúng ta bị ép buộc tham gia vào ngày lễ do đảng sắp xếp, coi những buổi lễ kỷ niệm hỷ nộ ai lạc của đảng thành lễ kỷ niệm hỷ nộ ai lạc của bản thân chúng ta. Hôn nhân đại sự phải do đảng tổ chức, người trẻ khi kết hôn không còn lễ nghi bái thiên địa bái phụ mẫu, cũng không thể hiện phu phụ ân ái tương kính như tân, lại phải cảm ơn đảng, thể hiện sự trung thành với đảng.

Khi chúng ta thảo luận những vấn đề chống lũ chống hạn, hạn chế sinh sản thì chúng ta nên ý thức được đây hoàn toàn không phải là do Trung Cộng không có quyết sách khoa học, mà là Trung Cộng không thể đưa ra quyết sách khoa học. Tư tưởng chỉ đạo để Trung Cộng giải quyết vấn đề không phải là quyết sách khoa học, mà là “triết học đấu tranh”. “Chống lũ chống hạn, đấu với trời đấu với đất” đã phản ánh thái độ với tự nhiên là đấu tranh. Vấn đề nhân khẩu hoàn toàn có thể giải quyết thông qua việc đầu tư cho hệ thống giáo dục và bảo vệ xã hội, còn Trung Cộng lại một mực vứt bỏ tất cả cách làm nhân đạo và ấm áp, mà thông qua giết người và cưỡng chế để khống chế sinh sản. Tuyên truyền “nam nữ đều như nhau, phụ nữ chiếm giữ nửa vùng trời” lại là cổ động phụ nữ đấu tranh với nam giới, đằng sau đó vẫn là một chữ “đấu”. “Đảng chỉ đâu đánh đó”, một chữ “đánh” cũng đã phản ánh tư tưởng “đấu tranh”.

Sau khi bị Trung Cộng nhồi nhét những tà thuyết trong Văn hóa đảng như tư tưởng đấu tranh, quần ngư tranh thực, chọn lọc tự nhiên, người Trung Quốc đã quen dùng tư tưởng đấu tranh để giải quyết những vấn đề cụ thể trong cuộc sống. Khi gặp phải mâu thuẫn, điều nghĩ tới không phải là “có lời từ từ nói”, “lui một bước biển rộng trời quang”, mà là thủ đoạn đấu tranh như cưỡng chế, giết người, vận động quần chúng. Gặp phải những vấn đề liên quan tới giới tự nhiên điều nghĩ tới không phải là thuận theo tự nhiên, mà là cứng đầu cứng cổ làm nghịch ý trời.

Đào sâu căn nguyên của “triết học đấu tranh” nhất định sẽ thấy nó có quan hệ rất lớn tới việc tuyên truyền Thuyết vô Thần và Thuyết Duy vật. Chính vì vô Thần cho nên không biết kính sợ Trời Đất, không biết rằng cần phải “nhân giả ái nhân” (người nhân nghĩa yêu thương mọi người). Đây chính là nguyên nhân mà tư tưởng đấu tranh được quảng bá.


Bản tiếng Hán:

http://www.epochtimes.com/gb/6/11/4/n1509358.htm

http://www.epochtimes.com/gb/6/11/8/n1513446.htm

Chú thích:

[1] Uông Tinh Vệ: Một chính trị gia thời Trung Hoa Dân Quốc. Ông ban đầu được biết đến là một thành viên của phe tả trong Quốc Dân đảng, nhưng về sau đã ngày càng trở nên chống cộng sau khi những nỗ lực thất bại của ông nhằm cộng tác với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Hoạt động chính trị của ông đột ngột chuyển sang hữu sau đó, khi ông kết giao với người Nhật. Vì tham gia chính phủ thân Nhật, Uông thường bị gọi là Hán gian và tên của ông tại Trung Quốc trở thành một thuật ngữ dùng để ám chỉ kẻ phản bội.

[2] Mạnh mẫu tam thiên: Mẫu thân của Mạnh Tử dọn nhà ba lần để chọn nơi ở tốt cho Mạnh Tử. (Lần thứ nhất, nhà ở gần nghĩa địa. Lần thứ hai, nhà ở gần chợ mua bán. Cuối cùng mẹ của Mạnh Tử dọn nhà một lần nữa để ở gần trường học, cho Mạnh Tử hoàn cảnh tốt về giáo dục).

[3] Nhạc mẫu thích tự: Điển cố kể về việc Nhạc mẫu thích chữ lên lưng con mình là Nhạc Phi. Để thể hiện tấm lòng trung thành với tổ quốc, quyết tâm ra tiền tuyến giết giặc Kim xâm lược Đại Tống, Nhạc mẫu đã khắc bốn chữ “Tinh trung báo quốc” lên lưng Nhạc Phi.

Ngày đăng:15-06-2015
Copyright © 2008 www.9binh.com. All rights reserved.