Chương 6: Ngôn ngữ đảng đã trở thành thói quen


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Mục lục

Lời dẫn: Ngôn ngữ – Linh hồn và ký ức của dân tộc

1. Gọi nhau bằng “đồng chí”

2. Những từ ngữ dập khuôn điển hình của đảng

1) Tinh thần hội nghị, đường lối, nhận thức, báo cáo tư tưởng – các thủ đoạn khống chế tinh thần của tà giáo Trung Cộng

2)Lãnh đạo, đơn vị, tổ chức, hồ sơ, thẩm tra chính trị , hộ khẩu – hình thức tổ chức giám sát chặt chẽ

3)Tuyên truyền, quán triệt, chấp hành, hiệu triệu, chiến sỹ thi đua, cấp trên, đại biểu, ủy ban – kết cấu tổ chức phân chia đẳng cấp nghiêm ngặt

4)Phấn đấu, tự kiểm điểm, đấu tranh, phê bình và tự phê bình – kích động đấu tranh tiếp năng lượng cho “đảng”

3. Trung Cộng dùng ngôn ngữ đảng để thiết lập lại cuộc sống của người Trung Quốc

1)Những ngôn ngữ đảng quen thuộc khó có thể nhận ra

2)Chế độ chính trị thiết lập dựa trên ngôn ngữ đảng

3)Đời sống tinh thần dưới ảnh hưởng của ngôn ngữ đảng

4)Ngôn ngữ đảng xâm nhập vào đời sống mỗi cá nhân

4. Sự hình thành của ngôn ngữ đảng trải qua quá trình thanh lọc quy mô lớn

1) Nguồn gốc của ngôn ngữ đảng

2) Sự hình thành và phát triển của ngôn ngữ đảng

3) Ngôn ngữ đảng mang tính giai đoạn và ngôn ngữ đảng mang tính chế độ

4) Mối quan hệ giữa ngôn ngữ đảng và ngôn ngữ bình thường

5) Ngôn ngữ đảng thực chất là ngôn ngữ của xã hội đen được Trung Cộng truyền bá toàn xã hội

5. Đặc trưng của ngôn ngữ đảng

1) Trung Cộng đã lũng đoạn quyền định nghĩa từ ngữ

2) Tính đa tầng thứ và tính lừa gạt của ngôn ngữ đảng

3) Tính trừu tượng và tính ngụy biện của ngôn ngữ đảng

4) Tính tiếp thu và tính sáng tạo của ngôn ngữ đảng

6. Hậu quả của việc phổ biến ngôn ngữ đảng

1) Hiện thực mất nước của văn hóa – ngôn ngữ

2) Ngôn ngữ đảng cưỡng chế người Trung Quốc thay đổi cuộc sống

3) Ngôn ngữ đảng – cái nhìn phiến diện của người Trung Quốc hiện nay

Lời kết: Thanh trừ ngôn ngữ đảng, nói ngôn ngữ của người bình thường

1) Phân biệt ngôn ngữ đảng như thế nào

2) Chú ý hiện tượng “bối cảnh hóa của ngôn ngữ đảng”

3) Tìm kiếm chân tướng, liễu giải chân tướng, truyền rộng chân tướng

========

Lời dẫn: Ngôn ngữ – Linh hồn và ký ức của dân tộc

Ngôn ngữ là công cụ để con người ghi nhớ, trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm và giáo dục thế hệ sau. Ngôn ngữ là linh hồn và ký ức của một dân tộc, nó đúc kết những quan niệm của dân tộc đó về sinh tử, hiểu biết về thế giới, kiến thức về lịch sử, phương thức tư duy, giá trị thẩm mỹ, phong tục tập quán của một dân tộc, nó phản ánh mối liên hệ của dân tộc đó với vũ trụ, vị trí của dân tộc đó trên thế giới, toàn bộ phương thức sinh tồn và phát triển của dân tộc đó. Ngôn ngữ vừa là một bộ phận của văn hóa và cũng là công cụ truyền tải văn hóa. Nó là một phần quan trọng nhất trong toàn bộ thể hệ văn hóa.

Trong “Kinh dịch – Hệ từ hạ” có viết rằng: Thời cổ đại Bào Hy (tức Phục Hy) cai trị thiên hạ, ông ngẩng lên thì quan sát hiện tượng thiên văn trên trời, cúi xuống thì quan sát phép tắc dưới đất, quan sát các văn vẻ chim muông cùng những thích nghi với trời đất [của từng miền], gần thì lấy ở thân mình, xa thì lấy ở vật, rồi làm ra bát quái để thông suốt cái đức thần minh và điều hoà cái tình của vạn vật. (“Cổ giả Bào Hy thị chi vương thiên hạ dã, ngưỡng tắc quan tượng vu thiên, phủ tắc quan pháp vu địa, quan điểu thú chi văn dữ địa chi nghi, cận thủ chư thân, viễn thủ chư vật, dư thị sử tác bát quái, dĩ thông thần minh chi đức, dĩ loại vạn vật chi tình”)

Đoạn văn này tuy là giảng về nguồn gốc của bát quái, nhưng chúng ta có thể dùng nó để khái quát về khởi nguồn của ngôn ngữ Trung Quốc. Người xưa đã lấy hình tượng của tự nhiên và con người, tạo thành những ký tự vừa trừu tượng vừa cụ thể, tượng trưng cho thiên địa vạn vật, và câu thông với thần linh – đây chính là nguồn gốc của Hán ngữ. Nguồn gốc của Hán ngữ đã cho thấy chữ viết và ngôn ngữ có mối quan hệ liên đới kỳ diệu với vũ trụ, ngôn ngữ trở thành cầu nối giữa Thiên – Địa – Nhân.

Ngôn ngữ đã nhào nặn nên diện mạo tinh thần của một dân tộc. Do đời sống tinh thần và vật chất của con người đều được truyền tải bằng ngôn ngữ, nên có thể nói, hình thức văn hóa chính là hình thức ngôn ngữ của một dân tộc. Xét một khía cạnh nào đó thì sáng tạo văn hóa chính là sáng tạo nên một kiểu ngôn ngữ đặc thù; hủy diệt văn hóa, chính là hủy diệt thứ ngôn ngữ dùng để truyền tải nền văn hóa đó.

“Cổ nhân vân, ngôn vi tâm thanh, văn dĩ tải đạo” (Người xưa nói, ý ở trong lời, văn để chở đạo). Người xưa sử dụng văn tự được Trời ban cho với tấm lòng thành kính, trân trọng. Từ những điển cố lưu  lại, chúng ta có thể phỏng đoán được diện mạo ngôn ngữ và đời sống tinh thần của người xưa. Từ “Chu Dịch” huyền bí tinh thâm đến “Lão Tử” súc tích, thấu triệt; từ “Kinh Thi” ấm áp nồng hậu đến “Ly Tao” đẹp đẽ thanh tao; từ “Xuân Thu” vi ngôn đại nghĩa đến “Sử Ký” hùng tráng thâm trầm; từ kinh Phật giản dị mộc mạc, đến thơ Đường khoáng đạt hoa mỹ, thơ nhà Tống hoa lệ uyển chuyển, nhạc nhà Nguyên tràn trề sức sống, Hán ngữ đã ghi chép lại trí huệ vĩ đại của dân tộc Trung Hoa, một thế giới nội tâm rộng lớn và không ngừng theo đuổi những giá trị tinh thần.

Một dân tộc tự tôn tất nhiên phải tôn trọng ngôn ngữ của mình, một dân tộc tự trọng tất nhiên sẽ bảo vệ ngôn ngữ của mình, một dân tộc tự cường tất nhiên sẽ sử dụng ngôn ngữ của mình một cách đúng đắn.

Thế nhưng, trong tiến trình văn minh của mình, Trung Quốc cận đại đã phải chịu cảnh thù trong giặc ngoài, bị áp bức, sỉ nhục, sự thất bại về quân sự và ngoại giao hết lần này đến lần khác đã khiến cho rất nhiều người dần dần mất đi niềm tự hào đối với nền văn minh của Trung Quốc xưa, cũng mất đi niềm tin vào ngôn ngữ Trung Quốc. Trong các cuộc vận động  văn chương bạch thoại, vận động thế giới ngữ, phế bỏ chữ Hán,  ném sách cổ vào nhà xí,… phần tử trí thức đề xướng nên những phương thức “cải cách” ngày càng quyết liệt hơn. Mặc dù ý thức được nguy cơ nghiêm trọng của những phương thức cải cách này nhưng người dân không có thì giờ suy ngẫm tìm giải pháp, khi một số phương thức cải cách nhận được sự đồng tình của xã hội, thì sự thuần chính của Hán ngữ cũng bắt đầu bị xâm lấn. Mặc dù vậy, sự phá hủy và cải biến ngôn ngữ văn tự này chỉ mang tính cục bộ, không có sự can thiệp rộng rãi của chính quyền, vậy nên nó không phải là đòn chí mạng đánh vào ngôn ngữ.

Sau khi cướp đoạt chính quyền, Trung Cộng coi văn hóa Trung Hoa truyền thống là chướng ngại lớn nhất đối với sự thống trị chuyên chế của nó. Với một đất nước đông dân như Trung Quốc, Trung Cộng không thể nào hoàn toàn hất truyền thống sang một bên, vì vậy nó chọn cách sống ký sinh, để hủy diệt nền văn hóa dân tộc từ bên trong. Nó cũng không nhổ tận gốc Hán ngữ, mà kế thừa hình thức bề mặt, rồi đưa vào đó nội hàm Văn hóa đảng, khiến cho độc tố Văn hóa đảng bám chặt trên thân thể của ngôn ngữ dân tộc. Cách làm này đối với Trung Cộng mà nói, có thể gọi là “một vốn bốn lời”. Trung Cộng lợi dụng tất cả các công cụ mà nó có trong tay: các bộ tuyên truyền, bộ văn hóa, bộ giáo dục, báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình, đoàn thể văn nghệ, các hội nghị liên tiếp, các văn kiện chất đống như núi, các cuộc vận động chính trị điên cuồng, để sáng tạo ra số lượng lớn các từ mới và các phương thức biểu đạt đặc thù của Văn hóa đảng. Nó cũng cố định hệ thống ngôn ngữ thông qua từ điển, các loại sách hướng dẫn sử dụng, sách giáo khoa, các tài liệu quy hoạch lại ngôn ngữ. Việc đơn giản hóa chữ viết khiến cho thế hệ trẻ không thể đọc được các sách cổ, trong khi giới văn nhân của Trung Cộng lại tuyên truyền rằng đảng đã sáng tạo ra quy phạm ngôn ngữ mới và tiêu chuẩn mỹ thuật mới. Việc giáo dục Văn hóa đảng ngay từ bậc tiểu học đến trung học, đại học đã khiến cho học sinh coi thứ ngôn ngữ đảng xấu xa, tà ác, đạo đức giả trở thành ngôn ngữ chính thống. Cho đến ngày nay, những ngôn từ của đảng như đồng chí, tuyên truyền, quán triệt, chấp hành, đấu tranh, chiến sỹ thi đua, đại biểu, hội nghị tinh thần, đường lối, nhận thức, lãnh đạo, cấp trên, hiệu triệu, phấn đấu, ủy ban, báo cáo tư tưởng, tự kiểm điểm, phê bình và tự phê bình, … tràn ngập trong các văn kiện, báo chí, sách vở và trong cuộc sống thường nhật của người dân, ngôn ngữ đảng đã trở thành ngôn ngữ quen thuộc của hàng tỷ người Trung Quốc. Mọi người không ý thức được rằng mỗi giây phút mình đều đang sống trong không gian ngôn ngữ mà Trung Cộng hữu ý tạo nên, họ tưởng rằng ngôn ngữ hiện đại là kết quả của sự phát triển tự nhiên của ngôn ngữ dân tộc, họ tưởng rằng mọi người bình thường trong thiên hạ đều nói như thế. Nếu thoát khỏi ngôn ngữ đảng thì người ta thực sự không biết sẽ nói chuyện như thế nào.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Chính quyền bạo ngược của Trung Cộng đã gây tổn thương nghiêm trọng đối với văn hóa và ngôn ngữ dân tộc, có thể nói là chưa từng có trong lịch sử. Ngôn ngữ là công cụ của tư duy. Ngôn ngữ bị Văn hóa đảng làm ô nhiễm nghiêm trọng, gây tổn hại nặng nề đến năng lực đánh giá Trung Cộng, đánh giá Văn hóa đảng và suy nghĩ cho tương lai đất nước của người dân. Rất nhiều người đã phát hiện ra một hiện tượng kỳ lạ: Mọi người dùng ngôn ngữ do Trung Cộng tạo ra để phê phán chính Trung Cộng, trong những bài viết chỉ trích lên án Trung Cộng vẫn gọi việc Trung Cộng thành lập chính quyền là “giải phóng”, có người trong “tuyên bố thoái đảng” vẫn nói “ tôi ‘sinh ra ở nước Trung Quốc mới, lớn lên dưới lá cờ đỏ’” khiến cho người ta khó mà hiểu được rốt cuộc anh ta muốn vứt bỏ Trung Cộng hay là cảm kích Trung Cộng. Ngày nay, khi chính quyền Trung Cộng đang sụp đổ, người dân đang mong ngóng trở về với văn hóa nhân loại bình thường, việc nhận rõ thứ ngôn ngữ đảng bám trên ngôn ngữ dân tộc và thanh trừ nó đã trở thành nhiệm vụ không thể trì hoãn.

1. Gọi nhau bằng “đồng chí”

Ngôn ngữ đảng mà người Trung Quốc quen thuộc nhất là “đồng chí”: Đồng chí Trương, đồng chí Vương, đồng chí cũ, đồng chí nhỏ, đồng chí nam, đồng chí nữ, đồng chí tốt, đồng chí mới, đồng chí phụ huynh, đồng chí lãnh đạo, đồng chí lái xe, đồng chí cục trưởng, thậm chí là đồng chí chủ tịch… Nó xuất hiện cả trong những lời thoại kinh điển trên phim ảnh và những ngôn từ thường dùng trong cuộc sống: “Tôi đã tìm thấy đồng chí rồi!”, “Các đồng chí hãy xông lên!”, “Đồng chí cách mạng…”, “đồng chí cách mạng cùng chung chiến hào”, “học tập theo đồng chí nào đó”, “Kính cẩn nghiêng mình trước đồng chí nào đó”, “các đồng chí vất vả quá” … …  từ “đồng chí” đã được sử dụng rất phổ biến đến nỗi mọi người đều không cảm thấy rằng nó là ngôn từ của Đảng Cộng sản.

Có người tìm thấy từ “đồng chí” này trong một số sách cổ hoặc thành ngữ Trung Quốc, nhưng từ “đồng chí” mà Đảng Cộng sản phổ biến lại không mang ý nghĩa giống như trong sách cổ Trung Quốc, mà nó là một từ ngoại lai. Theo nghiên cứu, từ “đồng chí” bắt nguồn từ từ “comrade”, thường gặp trong Chủ nghĩa Xã hội thế kỷ 19. Người Nhật Bản là người đầu tiên đã dùng từ “đồng chí” để phiên dịch cho từ “comrade”, sau đó từ này đã tiến nhập vào Trung Quốc, dùng để gọi những người có cùng chính kiến với mình (đặc biệt là trong chính trị). Cuối thế kỷ 19, hoàng đế nhà Thanh – Quang Tự khi lên kế hoạch “Chính biến Mậu Tuất”, đã gọi những đại thần đồng tình với mình là “đồng chí”. Trong Đồng minh hội và những hội liên quan thành lập Quốc Dân đảng, từ “đồng chí” cũng được sử dụng khá phổ biến. Nhưng khi sử dụng từ “đồng chí” trong Quốc Dân đảng, nó giống như là một danh từ phổ thông chứ không phải danh xưng. Khi xưng hô thì vẫn dùng “tiên sinh”, “cô”, “tiểu thư”. Ví dụ: “Trương tiên sinh là một đồng chí trung thành đáng tin cậy của chúng ta.”

Năm 1920, Mao Trạch Đông, La Học Toản khi gửi thư cho nhau cũng bắt đầu dùng từ “đồng chí”. Năm 1921, trong cương lĩnh “Nhất đại” của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã quy định: “Những người thừa nhận cương lĩnh và chính sách của đảng, nguyện trở thành đảng viên trung thành, được đảng viên giới thiệu, không phân giới tính, không phân quốc tịch, đều có thể được thu nạp làm đảng viên, trở thành đồng chí của chúng ta.” Đây là lần đầu tiên Đảng Cộng sản Trung Quốc sử dụng từ “đồng chí” trong văn bản chính thức và đưa vào đó hàm nghĩa mới. Sau năm 1923, trong nội bộ Trung Cộng, Đảng Cộng sản Quốc tế và tổ chức công nhân, việc gọi nhau bằng “đồng chí” đã trở nên phổ biến.

Sau khi Trung Cộng cướp đoạt chính quyền, từ “đồng chí” được phổ biến đến mọi giai tầng, mọi ngõ ngách ở Trung Quốc Đại lục. Năm 1959, Trung Cộng đã ra chỉ thị yêu cầu mọi người phải gọi nhau là “đồng chí”. Trên thực tế, phạm vi sử dụng của từ “đồng chí” đã được mở rộng, nó không chỉ được dùng trong nội bộ đảng mà còn trở thành cách xưng hô quen thuộc giữa những người dân, và nó được đặt trước họ của người ta, thậm chí đặt trước từ chỉ chức danh, nó trở thành một danh xưng được sử dụng thường xuyên nhất. Ví dụ: “đồng chí Trương là người trung thực và đáng tin cậy”, “đồng chí bộ trưởng”, “đồng chí công nhân”, “nữ đồng chí”, v.v.

Những cách xưng hô trong giao tiếp quen thuộc của xã hội truyền thống Trung Quốc đã biến mất, thay vào đó người ta gọi nhau bằng “đồng chí”, nhưng lại mang ý nghĩa là “đồng” tình với “chí” hướng của đảng. “Đồng chí” đã tiêu hủy thuộc tính tự nhiên của con người, gắn lên cho con người tính chất “tập đoàn”, “đảng phái”, “bang hội”. Cách gọi này có ý lựa chọn rõ ràng, đồng chí nghĩa là thừa nhận tư tưởng của Trung Cộng, tuân theo mục tiêu “cách mạng” của Trung Cộng, phục tùng sự lãnh đạo của đảng, ẩn giấu đằng sau đó là ý đồ khống chế sự tự do của con người. Mọi người cứ tưởng rằng gọi nhau bằng “đồng chí” là thể hiện sự bình đẳng và thân thiết trong “đội ngũ cách mạng”. Nhưng hoàn toàn ngược lại, “đồng chí” khiến cho người ta mất đi ý chí tự do và trở thành công cụ chế ngự của đảng, đằng sau sự bình đẳng bề mặt là sự phân biệt đẳng cấp một cách sâu sắc. “Đồng chí Mao Trạch Đông” thể hiện quyền uy tuyệt đối, “đồng chí Đặng Tiểu Bình” thể hiện tất cả địa vị của người lãnh đạo, “đồng chí Giang Trạch Dân” thể hiện kẻ dùng thủ đoạn để thăng tiến vùn vụt. Các cán bộ của Trung Cộng có bao giờ coi người dân là các “đồng chí” ngang hàng với họ đâu?


Ảnh: Đại Kỷ  Nguyên

Từ xưa người Trung Quốc rất coi trọng cách xưng hô. Trong “Luận ngữ – Nhan Uyên”có viết rằng, Tế Cảnh Công hỏi Khổng Tử về đạo trị quốc , Khổng Tử nói: “Vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con.” (Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử).” “Luận ngữ – Tử Lộ” có viết rằng, một lần Tử Lộ hỏi Khổng Tử: “Nếu vua nước Vệ mời thầy về giúp cai trị nước, thầy làm gì trước?” Khổng Tử nói: “Tất phải lấy chính danh làm trước vậy!” “Danh bất chính tất lời nói không thuận. Lời nói mà không thuận tất việc chẳng thành. Việc chẳng thành thì tất lễ nhạc không hưng thịnh. Lễ nhạc không hưng thịnh thì tất hình phạt chẳng đúng phép, hình phạt mà không đúng khuôn phép thì tất dân không biết đặt tay chân vào đâu để nhờ cậy.”

Trong quan niệm truyền thống, việc đặt và sử dụng tên phù hợp là xuất phát điểm của “vi chính” (trị vì đất nước và xã hội). Cách xưng hô phù hợp (Ngũ luân: Quân thần, phụ tử, huynh đệ, phu thê, bằng hữu) đặt con người vào đúng vị trí trong các mối quan hệ xã hội hình thành một cách tự nhiên, ước chế hành vi của mỗi người.

Ngôn ngữ không chỉ là biểu hiện bề ngoài của tư tưởng, ngôn ngữ cũng sáng tạo nên các giá trị vật chất. Trung Cộng không những phá bỏ đi hệ thống cách xưng hô dựa trên các quy tắc tự nhiên của xã hội truyền thống, nó cũng phá bỏ đi những tôn ti trật tự truyền thống, khiến cho cá nhân vốn có trật tự trong xã hội trở thành thành viên của những bang phái, giáo phái vô kỷ cương vô trật tự.

Các cách xưng hô phong phú bị đơn giản hóa thành “đồng chí”, thực ra là để phục vụ cho triết học đấu tranh của đảng cộng sản. Từ “đồng chí” cũng chỉ là cách xưng hô thường thấy ở các quốc gia cộng sản khi tiến hành bạo lực cách mạng. Đặc trưng của cách xưng hô này trong xã hội học là: (1) cá thể có tính độc lập kém; (2) quần thể có sự phong bế mạnh mẽ; (3) xã hội thiếu bao dung; (4) cảm giác bất an. Trong từ điển của Trung Cộng, nếu anh không phải là “đồng chí” thì là “kẻ thù”, là “kẻ lạc loài”, sẽ trở thành đối tượng của “chuyên chính dân chủ nhân dân”. Trong cuốn Tuyển tập Mao Trạch Đông do Trung Cộng phát hành, mở đầu có đoạn: “Ai là bằng hữu của chúng ta, ai là kẻ thù của chúng ta, đây là vấn đề trọng yếu đầu tiên của cách mạng.” Những nhân sỹ “đảng phái dân chủ” tiếng tăm do Trung Cộng lập ra là “bằng hữu thân thiết” của Trung Cộng về mặt chính trị, Trung Cộng cũng gọi họ là “đồng chí”. “Đối với đồng chí thì phải nồng nhiệt như mùa xuân, đối với kẻ thù thì phải lạnh lùng như mùa đông”. Mọi người sớm đã quen với việc sử dụng từ “đồng chí”, một cách gọi có tính sát thương chính trị. Bất kể ai đã từng sống ở Trung Quốc đều biết rằng nếu bị Trung Cộng coi là kẻ thù thì sẽ như thế nào. Giữa thế kỷ trước, dù bạn có “xuất thân cao” (xuất thân từ “địa chủ”, “phú nông” hoặc gia đình “tư bản”) hoặc là có một chút vấn đề lý lịch không trong sạch, nhưng nếu kẻ vốn vẫn khinh thường bạn mà gọi bạn một tiếng “đồng chí” thì bạn có thể cảm động đến nỗi toàn thân run rẩy.

Trong đấu tranh chính trị, kẻ thất bại có thể sẽ đối diện với nguy cơ mất đi tư cách “đồng chí”. Nếu bên thắng cho rằng đối phương chỉ phạm sai lầm, thì cho dù sai lầm nghiêm trọng đến mấy, kẻ thất bại thông thường vẫn có thể được đứng trong hàng ngũ đảng, hơn nữa tên của họ mặc dù rất ít có cơ hội xuất hiện trên các văn bản chính trị, nhưng trong tình huống không thể tránh khỏi (ví dụ cáo phó) thì trên văn bản chính trị vẫn gọi họ là “đồng chí”. Nếu bên thắng cho rằng tính chất của bên thua còn nghiêm trọng hơn cả phạm sai lầm, thì bên thua thường sẽ bị coi là “phản cách mạng”, bị khai trừ khỏi đảng, từ đó trên văn bản chính trị cũng không được gọi là “đồng chí” nữa. Tương tự, trong chính trị quốc tế của đảng cộng sản, phải chăng khi gọi nhau bằng “đồng chí” có nghĩa rằng hai nước vẫn cùng một chiến tuyến.

Đồng chí điển hình không có ý thức cá nhân, cũng không có ý thức công dân xã hội, không đảm nhận được trách nhiệm của một công dân trong xã hội, nó chỉ phục tùng cho các cấp trên trong tổ chức của Trung Cộng. Rất nhiều “đồng chí” không thể tạo thành một xã hội theo nghĩa thông thường, chỉ có thể trở thành đoàn thể và tôn giáo. Đoàn thể này dùng biện pháp khống chế để trói buộc nhân tâm và nắm giữ chính quyền quốc gia, biến xã hội thành tổ chức khép kín theo kiểu tà giáo. Như vậy, chúng ta rất khó lý giải tại sao trong lịch sử của Trung Cộng, trong khi người ta coi nhau là “đồng chí”, họ cũng không ngại gì mà biến nhau thành kẻ thù, ai ai cũng là kẻ thù.

Cách xưng hô này thông qua hàng tỷ thực tiễn “xưng hô-trả lời”, có tác dụng ám thị mạnh mẽ, khiến cho người ta càng thêm sự đồng cảm với tập đoàn Trung Cộng. “Cửu Bình Cộng sản đảng” đã chỉ ra Trung Cộng là tà giáo hại người, cách xưng hô “đồng chí” chính là cách tập đoàn tà giáo này mê hoặc và khống chế tín đồ. Mỗi lần bạn vô thức đáp lại cách gọi “đồng chí” thì chính là đã thừa nhận thân phận của bạn tại giáo phái này, nó sẽ gia tăng sự khống chế vô hình của tà linh đối với bạn.

Sau “Cải cách mở cửa”, mặc dù trong các hội nghị và văn kiện chính thức của đảng, chính phủ và nội bộ quân đội, mọi người vẫn gọi nhau theo cách cũ là “đồng chí”, nhưng ngoài xã hội thì bắt đầu giảm dần. Khi xưng hô trong những trường hợp thông thường người ta không còn dùng từ ngữ mang đầy tính chính trị này nữa, mà dùng từ “ông”, “bà”, “cô” hoặc những từ thể hiện tình cảm như “Sư phụ” v.v.. Nhưng trong cuộc sống mọi người vẫn thường hay trêu đùa gọi nhau là “đồng chí”. Người mẹ gọi cô con gái không chịu nghe lời là “này đồng chí nhỏ, có nghe lời không”, bạn bè khi tụ tập thường nói “nào các đồng chí, cạn ly”, khi nhờ người khác giúp đỡ thường nói “chúng ta cùng là đồng chí cách mạng mà”. Cách gọi này tưởng chừng không có vấn đề gì, nhưng nó lại là biểu hiện thâm sâu của ngôn ngữ đảng xâm nhập vào cuộc sống của người dân một cách vô thức. Chỉ cần khi vui đùa người ta vẫn gọi nhau “đồng chí” thì bất kể là có ý thức được hay không, mọi người vẫn chính là đồng lòng với chí hướng của Đảng Cộng sản, là đang duy hộ cho hệ thống ngôn ngữ Đảng Cộng sản, là đang duy trì chế độ chuyên chế độc tài của Đảng Cộng sản.

2. Những từ ngữ điển hình của đảng

Từ “đồng chí” chỉ là một ví dụ về ngôn ngữ quen thuộc của đảng. Ngày nay, hầu hết người Trung Quốc Đại lục từ nhỏ đã sống trong môi trường ngôn ngữ Văn hóa đảng, họ đã quen với ngôn từ của đảng đến mức không cảm thấy gì kỳ quặc, cũng không cảm thấy những ngôn từ này có gì không tự nhiên. Nói cách khác, họ còn tưởng rằng mọi người bình thường đều nói như vậy.

Nhưng, sự thật không phải như vậy. Ngôn ngữ đảng là do Đảng Cộng sản cố tình tạo ra và truyền bá để xây dựng và duy trì sự thống trị của nó, vì vậy trong những thể chế chính trị không phải Đảng Cộng sản thì người ta không có nhu cầu sử dụng những từ ngữ này; mà trước khi Đảng Cộng sản xuất hiện, người Trung Quốc cũng chưa từng nói như vậy. Suốt mấy chục năm dưới chính sách cai trị khắc nghiệt và bế quan tỏa cảng của Trung Cộng, người Trung Quốc đã không chỉ  thay đổi phương thức tư duy và thói quen ứng xử, mà còn thay đổi một cách mạnh mẽ hệ thống ngôn ngữ Trung Quốc. Hiện nay, trong ngôn ngữ nói chuyện của người Trung Quốc Đại lục, đa phần đều là ngôn ngữ đã bị Trung Cộng cải biến hoặc tạo mới, hơn nữa đã trở thành quen miệng.

Dưới đây chúng tôi sẽ phân tích một số ngôn từ điển hình của đảng. Cần nhấn mạnh rằng, những câu từ trong ngôn ngữ đảng không nhất định là do Đảng Cộng sản tạo ra, hay là đặc trưng của xã hội do Đảng Cộng sản thống trị. Phàm là những câu từ bị chèn thêm hàm nghĩa đặc định mang màu sắc Văn hóa đảng, đồng thời phục vụ cho sự thống trị của Đảng Cộng sản thì đều có thể coi là ngôn ngữ đảng. Ví dụ từ “đoàn kết” nghĩa thông thường biểu thị những cá nhân khác nhau cùng kết hợp lại vì một mục tiêu chung, trong các ngôn ngữ khác cũng có từ mang ý nghĩa tương tự. Nhưng trong triết học đấu tranh của Văn hóa đảng, từ “đoàn kết” lại bị phủ lên một hàm nghĩa đặc định. Đối tượng được coi là “đoàn kết” với Trung Cộng, về mặt chính trị thì không thuộc vào “người của Trung Cộng”, nhưng cũng không thuộc vào kẻ thù của Trung Cộng, ví dụ “đảng phái dân chủ” chính là đối tượng “đoàn kết” của Trung Cộng; trong Văn hóa đảng thường dùng “khối đại đoàn kết” với hàm ý là “thành phần thiểu số XXX” không nằm trong “khối đại đoàn kết”, vì đó là đối tượng bị đả kích, đấu tranh; Khi Trung Cộng tuyên bố hội nghị xxx của đảng là “một đại hội đoàn kết”, điều đó không có nghĩa là trong hội nghị không có  ý kiến bất đồng, mà là lời tuyên bố rằng “Trung ương đảng đứng đầu đại hội” là “người thắng lợi” trong cuộc đấu tranh chính trị này, kẻ bất đồng ý kiến với “Trung ương đảng” sẽ bị thanh trừng, hoặc ít nhất thì trước mắt sẽ không có cơ hội biểu đạt ý kiến bất đồng. Cũng có nghĩa là, “đoàn kết” trong Văn hóa đảng đã bị mang ý nghĩa đặc định phục vụ cho triết học đấu tranh, vì thế mà bị gọi là ngôn ngữ đảng.

1) Tinh thần hội nghị, đường lối, nhận thức, báo cáo tư tưởng – các thủ đoạn khống chế tinh thần của tà giáo Trung Cộng


Ảnh: Đại Kỷ  Nguyên

Các cách nói như truyền đạt, lĩnh hội “tinh thần hội nghị XXX”, “thống nhất nhận thức”, “kiên trì đường lối XXX”, đối với người sống trong xã hội bình thường thì đây là điều khó tưởng tượng. Trong một xã hội có nhiều loại người, khác nhau  về thân phận địa vị, tư tưởng tín ngưỡng, sở thích, tại sao mọi người phải đi chung một con đường? Tại sao phải thống nhất “nhận thức”, phải truyền đạt, quán triệt tư tưởng XXX? Nho gia thời xưa của Trung Quốc giảng rằng “quân tử hòa nhi bất đồng” (người quân tử trong giao tiếp thông thường có thể giữ thái độ ôn hòa, nhưng đối với vấn đề cụ thể thì có cách nhìn nhận khác đối phương), Tây phương có câu: “Mọi con đường đều dẫn đến thành Rome”, đều có nghĩa là phải có thái độ bao dung, tôn trọng các ý kiến và lựa chọn khác nhau, như vậy mới tạo nên một xã hội muôn màu muôn vẻ.

Trung Cộng không ngừng thay đổi lập trường nguyên tắc của mình, không đi con đường thẳng, mà lại đi đường vòng, nó không ngừng thay đổi phương hướng, thậm chí nhiều lần quay trở lại con đường cũ. Nhưng tại mỗi thời khắc lịch sử, Trung Cộng luôn tuyên bố rằng nó đại biểu cho “đường lối” chính xác duy nhất. “Con đường đấu tranh” của Trung Cộng luôn là anh chết tôi sống, tàn nhẫn vô tình, bẩn thỉu vô liêm sỉ, người đi theo “con đường phản động” sẽ bị hạ bệ một cách bi thảm, người đi theo “con đường đúng đắn” thì vênh váo hống hách, tự cao tự đại.

Mỗi khi Trung Cộng kết thúc một cuộc đấu tranh về đường lối, kẻ chiến thắng sẽ tuyên bố “chủ nghĩa XXX” của kẻ thua cuộc là sai lầm, là tả khuynh, hữu khuynh, cánh tả, cánh hữu, bề ngoài là cánh hữu mà thực ra là cánh tả, bề ngoài là cánh tả mà thực ra là cánh hữu v.v.. Tóm lại, chỉ có kẻ thắng cuộc được đi trên “con đường Chủ nghĩa Xã hội”. Đối với những người dân thường, nhiệm vụ của họ là làm “báo cáo tư tưởng”, “đề cao nhận thức” – cuối cùng phải vứt bỏ đi nhân cách độc lập của mình, chôn vùi suy nghĩ chân thực của mình, để thừa nhận sẽ kiên trì đi theo “đường lối đấu tranh” của kẻ thắng cuộc, thể hiện sự trung thành với đảng.

Trong một cuộc hội nghị thông thường đều sẽ ra một nghị quyết. Bởi vì mọi người đều có nhận thức khác nhau đối với cùng một sự việc, hoặc việc gì cần rất nhiều người cùng phối hợp làm, thì mới cần phải họp mặt. Trong hội nghị mọi người trao đổi để thống nhất ý kiến và lập ra nghị quyết, sau hội nghị thì giải quyết sự việc theo nghị quyết đưa ra. Nếu trong hội nghị không thống nhất được ý kiến, thì cuối cùng cũng phải quyết định bằng cách bỏ phiếu. “Kết quả bỏ phiếu” là sự thống nhất các ý kiến khác nhau. Mặc dù các bên có thể không hoàn toàn hài lòng, nhưng đây cũng là cái giá phải trả tất yếu của các cuộc thảo luận dân chủ, người tham gia hội nghị cũng hiểu rõ điểm này. Còn “tinh thần hội nghị” thì không giống nhau, nó đã tồn tại từ trước lúc họp hội nghị, nó là ý kiến đại biểu cho ý kiến của “Trung ương đảng”, “tổ chức cấp cao của đảng”, không liên quan gì tới ý kiến của người tham gia hội nghị. Người tham gia chỉ có thể “lĩnh hội” tinh thần hội nghị, “truyền đạt” tinh thần hội nghị, “quán triệt”, “kiên trì” tinh thần hội nghị, chứ tuyệt đối không được nghi ngờ, thách thức, phản đối tinh thần hội nghị. Người tham gia hội nghị chỉ là một con rối bị giật dây, cái dây điều khiển con rối đằng sau chính là Trung Cộng. Nếu mọi người có quan điểm khác nhau thì cần phải “nâng cao nhận thức”, cuối cùng đạt đến “thống nhất tư tưởng” với Trung Cộng, phục tùng theo sự khống chế tinh thần của Trung Cộng.

Trong Văn hóa đảng, những từ ngữ này đã liên tục bị cưỡng chế sử dụng để trở thành từ ngữ quen dùng của mọi người, cuối cùng hình thành nên phản xạ có điều kiện trong tiềm thức của mọi người, khiến cho người ta không thể ý thức được rằng mình đã bị biến thành cái vỏ trống rỗng, không còn tư tưởng tự do nữa.

2) Lãnh đạo, đơn vị, tổ chức, hồ sơ, thẩm tra chính trị, hộ khẩu – hình thức tổ chức giám sát chặt chẽ

Ngày nay trong những từ ngữ thịnh hành của giới trẻ, từ “lãnh đạo” ngày càng được nhiều người dùng để chỉ “bà xã”. Chúng ta thường nghe thấy ai đó khi không quyết định được việc gì nói, “việc này phải về nhà hỏi lãnh đạo đã”. Điều này cho thấy từ “lãnh đạo” trong Văn hóa đảng có phạm trù ý nghĩa rất rộng. Trong xã hội bình thường cũng có “lãnh đạo” – như ông chủ, chủ quán, giám đốc, v.v.. nhưng lĩnh vực quản lý của họ chỉ trong phạm vi nghiệp vụ, ngược lại nếu phản đối lãnh đạo thì hậu quả xấu nhất cũng chỉ là bị “sa thải”. Nhưng trong Văn hóa đảng, phạm vi quyền hạn của “lãnh đạo” rất lớn – không kém so với những việc mà “bà xã” có thể quản lý, việc gì “lãnh đạo” cũng muốn nhúng tay vào, lãnh đạo có thể quản cả những việc mà vợ có muốn quản cũng không được, từ việc thăng chức, tăng lương đến việc kết hôn, ly hôn, sinh con, cho con đi học, v.v.. Phản đối “lãnh đạo” thì không chỉ mất miếng ăn, mà còn có thể phải đối mặt với sự “trừng phạt”, không những không ngẩng mặt lên được trước mặt đồng nghiệp, mà còn có thể bị vết nhơ trong hồ sơ lý lịch, đi đến đâu cũng không thoát khỏi.

“Lãnh đạo” sở dĩ có thể quản lý mọi việc, nguyên nhân chủ yếu là do trong xã hội do Trung Cộng thống trị, mọi người phải sống trong các “đơn vị” suốt một thời gian dài. Tất cả những nhu cầu cơ bản như sinh, lão, bệnh, tử, ăn ở, đi lại, đều phải thông qua “đơn vị” giải quyết, hoặc cần “đơn vị” xác minh. Trong “đơn vị”, mỗi người đều có một cuốn “sổ bí mật ghi chép mọi việc tốt xấu” gọi  là “hồ sơ”, trong đó ghi rõ lai lịch của một người từ khi là học sinh đã đạt những thành tích gì, quá trình trưởng thành, quá trình bị chụp mũ chính trị cho đến khi được bỏ mũ chính trị, đến “vấn đề tác phong sinh hoạt”… dường như không việc gì là không được ghi chép lại trong lý lịch. Một người nếu muốn “thuyên chuyển” khỏi “đơn vị” nào đó thì phải được “đơn vị” chấp nhận “thuyên chuyển”, nếu “lãnh đạo” của đơn vị đó không chấp nhận thì có thể giữ “sơ yếu lý lịch” không cho đi. Điều khủng khiếp nhất là người bình thường không được phép xem “hồ sơ”, vì vậy hồ sơ này vĩnh viễn được giữ bí mật, người ta cũng không biết “lãnh đạo đơn vị” thêm thắt gì vào đó. Còn có một quá trình liên quan chặt chẽ đến “hồ sơ” đó là “thẩm tra chính trị”, trong quá trình này “lãnh đạo” có quyền điều tra thẩm vấn tất cả những hoạt động xã hội trong quá khứ của ai đó, khi cần còn có thể cử người đến các “đơn vị cũ” để xác minh, mục đích là kiểm tra “sự trung thành với đảng” của người đó, trực tiếp quyết định việc người đó có thể được thăng chức hoặc là tham gia các “nhiệm vụ quan trọng” hay không.

Nhờ có “đơn vị”, đảng chỉ cần đảm bảo rằng “lãnh đạo” “đơn vị” có thể khống chế từng nhân viên thì nó có thể dễ dàng khống chế mỗi cá nhân trong xã hội.

Cơ quan đại diện cho đơn vị của Trung Cộng là “tổ chức”. Trong các bộ phim “chủ đề lịch sử cách mạng”, nhân vật thường vui mừng phát khóc và nói rằng: “Cuối cùng đã tìm thấy tổ chức rồi.” Hiện nay người ta cũng thường nói như vậy khi trêu đùa nhau. “Mất liên lạc với tổ chức” là việc rất đáng sợ. “Có việc gì hãy tìm tổ chức” là cách suy nghĩ giải quyết vấn đề của người Trung Quốc. “Tin vào tổ chức, tin vào đảng”, “tổ chức sẽ đưa ra kết luận”, “sẽ giải thích rõ với tổ chức” là những câu nói mà người Trung Quốc thường nói để tự an ủi mình. “Có tổ chức” thường đi với “có kế hoạch, có dự kiến”. “Pháp Luân Công là có tổ chức” là một tội danh. “Tổ chức bên trên” thể hiện quyền lãnh đạo tối cao vô thượng. “Tổ chức đảng” là cơ quan chỉ huy đấu tranh với kẻ thù, là “pháo đài chiến đấu kiên cường”. Cảm giác lệ thuộc, cảm giác cô độc, cảm giác an toàn, cảm giác không an toàn, cảm giác tin tưởng, cảm giác tuyệt vọng, cảm giác sùng bái, cảm giác tội lỗi v.v.. đều bị đảng ép nhập vào trong từ “tổ chức” này. “Đồng chí” là cá thể cấu thành nên “tổ chức”. “Đảng” chia xã hội thành các “đơn vị” để thuận tiện biến các “tổ chức” trở thành những phụ thể bám trên cơ thể của xã hội.

Ngoài ra, Trung Cộng còn giám sát xã hội thêm một bước nữa bằng “hộ khẩu”. “Hộ khẩu”, “giấy tạm trú” cũng giống như “thẻ xanh”, “chứng nhận công tác ngắn hạn” ở các nước phương Tây, chỉ khác là đối tượng hạn chế là công dân trong nước. Điều này đúng là sự giễu cợt đối với việc chính quyền Trung Cộng ký kết “tuyên ngôn nhân quyền thế giới.” (Trong đó điều thứ 13 quy định: “Con người có quyền tự do đi lại và cư trú tại quốc gia”)

Tóm lại, một loạt những ngôn từ của đảng như “lãnh đạo”, “đơn vị”, “tổ chức”, “điều lệnh”, “điều động”, “hồ sơ”, “thẩm tra chính trị”, “hộ khẩu”, “giấy tạm trú” v.v.. đã phản ánh đặc trưng sinh hoạt của con người bị tổ chức tà giáo Trung Cộng giám sát chặt chẽ. Chúng luôn luôn nhắc nhở mọi người một sự thật cơ bản rằng: Phổ thiên chi hạ, mạc phi đảng thổ (lãnh thổ của đảng ở khắp thiên hạ), những ai đứng “ngoài thể chế” thì gần như không còn đường sống. Trong xã hội truyền thống Trung Quốc, người làm không sợ đắc tội với ông chủ, không chịu được thì còn có thể về nhà tự trồng trọt nuôi bản thân; kể cả có đắc tội với hoàng đế cũng vẫn còn có thể mai danh ẩn tích. Nhưng trong xã hội bị Trung Cộng khống chế chặt chẽ, “đơn vị”, “điều động”, “hồ sơ”, “hộ khẩu” v.v.. khiến cho họ không thể trốn đi đâu được nữa. Mặc dù hiện nay “đơn vị”, “điều động” đã dần dần nhạt nhòa trong cuộc sống của người dân, nhưng cách tư duy Văn hóa đảng đã thành hình trong đầu não người ta, trở thành những âm hồn lảng vảng của lối tư duy Văn hóa đảng trước đây, ví dụ “làm trái với đảng sẽ không có kết cục tốt đẹp”, “đảng cho tôi cơm ăn”, “đảng bồi dưỡng tôi trở thành người XXX”, v.v..


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

3) Tuyên truyền, quán triệt, chấp hành, hiệu triệu, chiến sỹ thi đua, cấp trên, đại biểu, ủy ban – kết cấu tổ chức phân chia đẳng cấp nghiêm ngặt

Xã hội Trung Cộng được xây dựng dựa trên một kết cấu tổ chức có tính thứ bậc nghiêm ngặt. Ở đó, ý chí của “đảng” là tối cao, do vậy chính sách của đảng không cần thảo luận và cũng không thể thảo luận, mọi người chỉ có thể “tuyên truyền”, “quán triệt”, “chấp hành”, hơn nữa “hiểu thì phải chấp hành, không hiểu cũng phải chấp hành, trong khi chấp hành sẽ hiểu rõ hơn”. Một nền văn hóa tốt đẹp được truyền bá bằng cách cảm hóa con người. Trung Cộng mặc dù hô hào rằng nó “phục vụ nhân dân”, “lấy dân làm gốc”, nhưng lại không thực sự vì lợi ích của nhân dân, vì vậy những chính sách nó đưa ra luôn đi ngược lại với lợi ích căn bản của dân, thế nên mới cần phải “tuyên truyền”, “hiệu triệu” người dân làm thế này làm thế khác. Những kẻ tích cực làm theo những lời “tuyên truyền”, “hiệu triệu” của nó thường là những người không có suy nghĩ độc lập, bọn họ được phong là “chiến sỹ thi đua”, là “đội quân danh dự”, nhưng thực ra chỉ là những “cái đinh ốc” thấp kém nhất trong xã hội phân chia giai tầng này mà thôi. Những lời “tuyên truyền”, “hiệu triệu” của Trung Cộng dùng bạo lực làm hậu thuẫn, dùng lợi ích làm miếng mồi, dùng lừa gạt làm thủ đoạn. Phải “quán triệt, chấp hành” ý chí của Trung Cộng, còn làm thế nào rốt cuộc không quan trọng. Nếu có thành tích, thì nghĩa là đã nỗ lực “quán triệt, chấp hành” theo đảng, nếu xảy ra sai sót, gây ra sự cố, thì đó là vì không nỗ lực “quán triệt, chấp hành”, hoặc là kết quả của việc “giáo điều hóa phương châm, chính sách của đảng”, phương châm của đảng chính là “chân lý”.

Bên trên “đơn vị” thì có “đơn vị cấp trên”, bên trên lãnh đạo có “lãnh đạo cấp trên”, cuối cùng cao nhất là “Trung ương đảng”. Văn kiện “trung ương”, “tinh thần hội nghị” đến cấp nào, cấp đó được phép tiếp xúc với những thông tin nước ngoài nào, được hưởng đãi ngộ gì, đều có quy định nghiêm ngặt. “Trung ương đảng” là hiện thân của “chân lý”, “cấp trên” gần với “Trung ương đảng” hơn “cấp dưới”, cũng có nghĩa là tiếp cận gần với “chân lý” hơn. Vì thế “cấp trên” xuống  thăm “đơn vị cấp dưới” là đại biểu cho ý chí của đảng, gọi là “chỉ đạo”, “thị sát”, “thăm hỏi”, “đơn vị cấp dưới” phải ghi chép “tinh thần cuộc họp”, phải “xin chỉ đạo”, “báo cáo”. Mặc dù có lúc từ “cấp trên”, “cấp dưới” vẫn được dùng để biểu đạt mối quan hệ thân thiết giữa người với người, nhưng điều này không xóa bỏ được sự phân biệt đẳng cấp giữa họ, giữa “cấp trên” và “cấp dưới” vẫn có sự ràng buộc, đó là “đảng” tối cao.

Trong xã hội bình thường, mọi người thông qua lựa chọn đại biểu nhân dân (ví dụ nghị viên) để tham gia vào quản lý xã hội, phát biểu ý kiến, dân chúng có thể tự do trao đổi ý kiến với đại biểu nhân dân bất cứ lúc nào. Nếu đại biểu được bầu ra không khiến mọi người hài lòng khi thực hiện chức trách thì dân chúng vẫn có thể bãi miễn họ trước nhiệm kỳ. Nhưng trong xã hội phân chia đẳng cấp nghiêm ngặt của Trung Cộng, không phải ai cũng có cơ hội biểu đạt ý kiến của mình, Trung Cộng ở bên trên thường hô to rằng: Tôi đại biểu cho quần chúng nhân dân… nhưng quần chúng nhân dân không hề cần Trung Cộng làm đại biểu. Trung Cộng tìm những người công khai thể hiện bất đồng ý kiến với nó và tách khỏi “quảng đại quần chúng nhân dân”, gọi họ là “thiểu số” để đả kích gay gắt, sau đó tự tuyên bố rằng mình đại biểu cho “quảng đại quần chúng nhân dân”. Trung Cộng đã “thay mặt nhân dân” giết hại hàng trăm vạn người có tài sản trong “nhân dân” (“địa chủ”, “phú nông”, “nhà tư bản”), cũng “thay mặt nhân dân” bỏ đói hàng nghìn vạn người không có quyền thế trong “nhân dân” (như “nạn đói” do “Đại nhảy vọt”). Xã hội Trung Quốc cũng có những “đại biểu nhân dân” làm mặt tiền cho Trung Cộng, nhưng họ không phải được tuyển cử trực tiếp từ dân chúng, mà chức năng chủ yếu của họ là “đại biểu” cho Trung Cộng chứ không phải đại biểu cho nhân dân, mục đích tồn tại của họ chính là để “giơ tay đồng ý” với các quyết sách của Trung Cộng, che đậy cho bản chất độc tài của Trung Cộng.

Trong chế độ đẳng cấp Trung Cộng, các kiểu “Ủy ban xxx”, “Văn phòng xxx” là những thực thể đặc quyền được trực tiếp nghe theo mệnh lệnh cấp cao của Trung Cộng. Ví dụ trách nhiệm của “Ủy ban Chính trị và Pháp luật” của Trung Cộng nghe nói là “chỉ đạo và điều hành vĩ mô công tác chính trị và pháp luật”, “thống nhất tư tưởng và hành động chính trị pháp luật của các cơ quan, đảm bảo hoạt động chấp hành pháp luật của các bộ ngành chính trị và pháp luật luôn đi theo đường lối chính trị đúng đắn”. Lẽ ra bộ phận tư pháp, hành pháp vốn chỉ cần thực hiện nghiêm túc theo quy định pháp luật, ở các quốc gia pháp trị đều như vậy, cần gì phải “thống nhất tư tưởng”, “kiên trì phương hướng” về pháp luật? Thực ra chức trách của “Ủy ban Chính trị và Pháp luật” chính là đảm bảo khi hoạt động pháp luật bình thường và “lợi ích của đảng” phát sinh xung đột, thì cơ quàn này sẽ kiên trì theo “đảng tính” chứ không phải kiên trì nguyên tắc pháp luật. Tương tự, sự thành lập của “Phòng 610” chính là để vận dụng những thủ đoạn vượt trên pháp luật để đối phó với đoàn thể tín ngưỡng Pháp Luân Công (nếu không chỉ cần công an, viện kiểm sát, tòa án là đủ, hoàn toàn không cần thành lập “Phòng 610”).  Một ví dụ nữa là “Ủy ban Kế hoạch hóa Gia đình”, “Phòng Kế hoạch hóa Gia đình” có quyền bắt người, xông vào nhà, cưỡng chế đặt vòng, phá thai v.v..


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Khi mọi người đã quen với các ngôn từ của đảng như tuyên truyền, quán triệt, chấp hành, hiệu triệu, chiến sỹ thi đua, cấp trên, đại biểu, ủy ban, thì thực tế đã giúp Trung Cộng củng cố cơ cấu tổ chức phân chia đẳng cấp nghiêm ngặt, từ đó dễ dàng khống chế toàn xã hội bằng “trung ương” từ trên xuống dưới theo kiểu kết cấu kim tự tháp.

4) Phấn đấu, tự kiểm điểm, đấu tranh, phê bình và tự phê bình – kích động đấu tranh tiếp năng lượng cho “đảng”

Trong đoạn kết bộ phim “Thị trấn Phù Dung”, Vương Thu Xá một tên điên vừa đi gõ chiêng vừa hô lớn “Vận động rồi! Vận động rồi!”, cái giọng khàn khàn của hắn vang lên suốt cả ngày khiến người ta phải ghê rợn. Từ “Dẹp nhóm AB” (Một nhóm trong Quốc dân Đảng chủ trương chống lại Trung Cộng, được thành lập vào tháng 12 năm 1926 ở Giang Tây), “Cuộc chỉnh phong tại Diên An”, “Trấn phản”, “Tam phản”, “Ngũ phản”, “Túc phản”, “Phản hữu”, “Vận động Tứ thanh”, “Đại Cách mạng Văn hóa”, “Phê phán Nho giáo”, “Phê phán Lâm Bưu và Khổng Tử”, “Phản kích lật đổ phe cánh hữu”, “Phản ô nhiễm tinh thần”, “chống lại tự do hóa của giai cấp tư sản” đến “trấn áp bạo loạn phản cách mạng”, “chống lại Pháp Luân Công”… …Từ ngày Trung Cộng ra đời, nó liên tục tiến hành các cuộc “vận động”, đấu tranh. Triết học đấu tranh là cơ sở lý luận để Trung Cộng cướp đoạt chính quyền, cũng là phương thức sinh tồn của tà giáo Trung Cộng, nó không ngừng đấu tranh để đào thải những kẻ chống đối, bồi dưỡng “đảng tính” cho các đảng viên, bổ sung năng lượng cho đảng. Những từ ngữ của đảng mà mọi người quen dùng bao gồm: đấu tranh giai cấp, đấu tranh đường lối, đấu tranh tư tưởng, đấu tranh tinh thần, đấu tranh sống còn, đấu tranh chống kẻ thù, một cuộc đấu tranh…, lực lượng dựa vào để đấu tranh, đối tượng đả kích của đấu tranh, “lấy đấu tranh để giữ đoàn kết thì càng thêm đoàn kết, lấy nhượng bộ để giữ đoàn kết thì sẽ gây mất đoàn kết” (Mao Trạch Đông).


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Bị ảnh hưởng bởi ngôn ngữ đảng, trong từ vựng của người Trung Quốc ngày nay, người ta đã vô hình chung coi đấu tranh là trạng thái bình thường của xã hội. Ví dụ khi người ta phải nỗ lực làm việc gì đó, họ thường quen dùng từ phấn đấu. “Phấn đấu vì …”, “sau bao nhiêu năm phấn đấu, cuối cùng tôi đã….”, “phấn đấu thì sẽ phải có hy sinh, chết người là việc thường xuyên xảy ra.” Người bình thường muốn làm gì chỉ cần nỗ lực là được, sao lại phải đấu? Một ví dụ nữa, trong cách dùng từ của rất nhiều người Trung Quốc, “thỏa hiệp” bị coi là mang nghĩa tiêu cực, nó luôn được liên hệ với “đầu hàng”. Nhưng “thỏa hiệp” vốn là một từ trung tính. Trong các cuộc đàm phán về chính trị, kinh tế, cuối cùng luôn là các bên tham gia cùng phải nhượng bộ, thỏa hiệp mới có thể đạt được kết quả đàm phán. Trong xã hội quốc tế, khi hai bên nảy sinh xung đột không chịu nhượng bộ thì kết quả luôn là chiến tranh, đổ máu, vì vậy trước tiên phải cam kết vứt bỏ vũ khí, chủ động nhượng bộ, thoả hiệp và thúc đẩy hòa giải xung đột, thậm chí bên hòa giải còn được đề cử giải “Nobel hòa bình”. Nhưng trong Văn hóa đảng, đấu tranh được coi là “động lực của sự phát triển lịch sử”, còn “thỏa hiệp” là xoa dịu mâu thuẫn, “cản trở” tiến bộ lịch sử, vì vậy nó có ý nghĩa tiêu cực.

“Tự kiểm điểm”, “phê bình và tự phê bình” là thủ đoạn khai triển đấu tranh của Trung Cộng. Phải nói rõ rằng, “tự kiểm điểm”, “tự phê bình” trong Văn hóa đảng Trung Cộng hoàn toàn khác với “tự kiểm điểm trong lòng” trong văn hóa truyền thống. Tự kiểm điểm trong lòng là quá trình tự giác tu chính lại bản thân, lấy tiêu chuẩn tham chiếu là giá trị đạo đức truyền thống (trên thực tế cũng là tiêu chuẩn giá trị chung của con người ), như “nhân lễ nghĩa trí tín”, mục đích là đạt được sự thăng hoa của tinh thần, sự thuần tịnh của nội tâm, vứt bỏ những dục vọng và truy cầu dục vọng thấp hèn; còn “tự phê bình” hay “tự kiểm điểm” của Trung Cộng lại là thủ đoạn đấu tranh, mục đích của nó là “thống nhất tư tưởng”, kích động đấu tranh, thanh trừng kẻ chống đối, tiêu chuẩn tham chiếu là giáo điều của Trung Cộng. Nhưng do giáo điều của Trung Cộng không ngừng cải biến, “hôm nay đảng sẵn sàng vứt bỏ lập trường nguyên tắc đang được tuyên truyền hôm qua, và ngày mai, có thể đảng lại có một lập trường nguyên tắc mới” (Trích Cửu Bình Cộng sản đảng), vì vậy tiêu chuẩn tham chiếu này trên thực tế trở thành mức độ trung thành đối với đảng, điều kiện trước tiên là “đảng luôn đúng, phần sai luôn thuộc về mình”. Vì vậy người “tự kiểm điểm” phải bẻ cong quan sát của mình, thông qua tự kiểm điểm để tăng thêm cho mình một tội, lấy đó để thể hiện lòng trung thành đối với đảng. Mục đích cuối cùng của “tự kiểm điểm”, “tự phê bình” không phải là tự giác làm trong sạch tâm hồn của mình, mà là làm biến dạng tâm hồn của bản thân vì một loại chính trị hoặc lợi ích vật chất nào đó, cho đến khi qua được “sự quan sát, khảo nghiệm của đảng”.

Mặt khác, “tự phê bình” trong cuộc sống thực tế là để “phê bình”. Tuyệt đại bộ phận người Trung Quốc đều quen với cảnh này : “Trong buổi sinh hoạt đảng”, đảng viên sẽ nói mấy câu kiểu như là bản thân “tính cách nóng vội, phương pháp làm việc cần phải cải tiến”, sau đó sẽ quay ngoắt chủ đề sang bắt đầu một tràng lê thê phê bình, công kích người khác. Đặc điểm này là hướng ngoại tìm, kích động người ta công kích lẫn nhau.

Những ngôn ngữ đảng này đã làm thay đổi rất nhiều tư tưởng hành vi của con người. Người Trung Quốc đã quen với ngôn ngữ đảng, thì tự mình sẽ “lấy đấu tranh làm niềm vui” trong cuộc sống, và lấy những thủ thuật cặn bã lừa đảo để đả kích người khác trong văn hóa cổ đại Trung Quốc ra để ứng dụng thêm, truyền thống “dĩ hòa vi quý” của Trung Quốc đã bị biến dị thành kiểu “đấu tranh nội bộ” trong Văn hóa đảng.

3. Trung Cộng dùng ngôn ngữ đảng để thiết lập lại cuộc sống của người Trung Quốc

Cái mà chủ nghĩa Marx khởi xướng không phải để hiểu rõ về thế giới, mà là dùng bạo lực để cải biến thế giới. Nhưng khi một kiểu lý luận có vẻ như hợp lý lại kích động được sự cuồng nhiệt của quần chúng, thì sẽ biến thành hành động bạo lực phi lý tính. Do vậy, từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản luôn rất coi trọng lý luận và ngôn ngữ để truyền đạt lý luận. Có thể nói ngôn ngữ là một trong những công cụ quan trọng của Trung Cộng để “cải biến” thế giới.

Trung Cộng đang thay đổi đất nước Trung Quốc, thay đổi hoàn toàn chế độ chính trị và kết cấu xã hội của Trung Quốc, thay đổi tín ngưỡng tinh thần, tập quán tư duy và phương thức sinh hoạt của người Trung Quốc, một trong những công cụ của nó, cũng chính là ngôn ngữ – một mặt đào thải ngôn ngữ của con người truyền thống, mặt khác tạo ra ngôn ngữ đảng hoặc biến ngôn ngữ đời thường thành ngôn ngữ đảng, sau đó nó lại dùng ngôn ngữ đảng để ước chế cuộc sống của người Trung Quốc. Trong phần này chúng tôi dùng bảng biểu để liệt kê một số ngôn ngữ đảng thường gặp, nhằm giúp bạn đọc có một sự hiểu biết trực quan đối với những ngôn ngữ đảng xuất hiện ở mọi nơi mọi lúc mà người ta đã quá quen đến mức không thể nhận ra, sau đó luận bàn sâu hơn về việc ngôn ngữ đảng đã thiết lập lại cuộc sống của người Trung Quốc như thế nào từ một số phương diện thể chế chính trị, đời sống tinh thần và cuộc sống cá nhân.

1) Những ngôn ngữ đảng quen thuộc đến mức khó mà nhận ra

Trong xã hội Trung Quốc hiện đại, ngôn ngữ đảng xuất hiện phổ biến trên mọi phương diện như tín ngưỡng tinh thần, thể chế chính trị, hoạt động kinh tế, đời sống xã hội, tư tưởng tình cảm cá nhân. Thông qua nó, Trung Cộng đã thể hiện đầy đủ bản chất tà giáo, lịch sử bạo lực, các thủ đoạn chính trị trong “vận động trị quốc” và “lưu manh trị quốc”, sự khống chế nghiêm ngặt đối với xã hội và tư tưởng con người, chế độ phân chia đẳng cấp nghiêm ngặt, bóp méo và sửa đổi sự thật lịch sử, bôi nhọ, phỉ báng các tín ngưỡng chân chính và xã hội truyền thống. Ngôn ngữ đảng đã tạo nên một hệ thống hoàn chỉnh, bao trùm mọi phương diện cuộc sống của người Trung Quốc.

Hãy xem bảng dưới đây (Bảng 1):

Danh xưng Đồng chí, lãnh đạo, cấp trên, bí thư, thư ký, chiến hữu, người yêu
Thời kỳ lịch sử Giải phóng, dựng nước, trước giải phóng, sau giải phóng, xã hội cũ, Trung Quốc mới, Xã hội Nô lệ, Xã hội Phong kiến, Phong kiến nửa Thực dân, chiến tranh giải phóng, ba năm thiên tai, Đại Cách mạng Văn hóa, những năm tháng hoang đường, cải cách mở cửa, thời kỳ đổi mới, từ hội nghị lần thứ 3 đại hội toàn quốc lần thứ 11 cho đến nay, cuối mùa xuân năm 1989, mùa xuân năm 1992
Xuất thân gia đình Bần nông, trung nông, phú nông, địa chủ; lũ cẩu tể (chó má); hắc ngũ loại (năm thành phần xấu xa); hồng ngũ loại (năm thành phần cách mạng), xuất thân tốt, duy thành phần luận; cha làm anh hùng, con hảo hán; xuất thân gia đình thuộc giai cấp bóc lột; lấy xuất thân giai cấp làm tiêu chuẩn đánh giá tốt xấu
Thân phận cá nhân Đảng viên, đoàn viên, đội viên, quần chúng, phần tử tích cực, đảng phái dân chủ, nhân sỹ yêu nước không thuộc đảng phái
Định vị cá nhân Tôi cống hiến cả cuộc đời cho đảng, tôi lớn lên ở nước Trung Quốc mới; tôi là thế hệ lớn lên dưới lá cờ đỏ; tôi được đảng bồi dưỡng trưởng thành
Cấp bậc thâm niên Lão thành cách mạng, hồng quân cũ, thủ trưởng cũ, cấp trên cũ, anh ta có tư cách tốt hơn tôi, cán bộ về hưu, lãnh đạo nòng cốt đời thứ x, cán bộ lão thành đã từng tham gia kháng chiến trường kỳ, nhà cách mạng giai cấp vô sản
Danh hiệu vinh quang Chiến sỹ thi đua, đội quân danh dự, đảng viên ưu tú, đoàn viên ưu tú, đơn vị cờ đỏ, người con ngoan của đảng, người chiến sỹ giỏi của đảng, cán bộ tốt của đảng, nhà sản xuất tiên tiến, tôn vinh phụ nữ ngày 8-3, thanh niên xung kích trên các mặt trận mới, anh hùng lao động ngày 1-5
Lý tưởng Chủ nghĩa cộng sản, thiên đường nhân gian, xã hội trung lưu, cùng hưởng sung túc, xã hội ổn định, lấy đức trị quốc, cờ đỏ tung bay toàn thế giới, tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội
Tư tưởng Hoài nghi tất cả, mọi sự vật đều có hai mặt đối lập, thống nhất trong mâu thuẫn; nhìn bản chất sự việc từ hiện tượng bề ngoài; thực sự cầu thị; phân tích tình hình; chân lý sáng tỏ nhờ tranh luận; anh không đánh thì hắn không chịu lùi; vứt bỏ ảo tưởng sẵn sàng đấu tranh; những gương sáng có sức mạnh vô song; chưa điều tra thì chưa có quyền phát ngôn; vũ khí phê phán không thể thay thế cho sự phê phán bằng vũ khí, không quét sạch bụi bẩn thì bụi bay lên khiến chúng ta phải chạy (không dẹp sạch bọn phản động thì chúng sẽ phản lại ta); thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm chân lý; mèo đen mèo trắng không quan trọng, miễn bắt được chuột đều là mèo tốt
Tình hình trong nước Thay đổi diện mạo; khắp nơi chim hót tưng bừng; cuộc đại loạn đã được lập lại trật tự; đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác; tình hình rất tốt, lại còn ngày càng tốt hơn
 

Tình hình quốc tế

Nghiêng về một phía; diễn biến hòa bình; chủ quyền cao hơn nhân quyền; Trung Mỹ nhất định có chiến tranh; cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng; bạn bè chúng ta ở khắp năm châu; chủ nghĩa bá chủ và chính trị bạo quyền; Chiến tranh thế giới thứ 3 là không thể tránh khỏi; thế lực phản động người Hoa có chết hết thì chúng ta mới sống; hòa bình và phát triển là xung hướng của thế giới ngày nay; không phải lực lượng cách mạng áp đảo thế lực phản cách mạng, mà là ngược lại; chủ nghĩa đế quốc và tất cả thế lực phản động đều là lũ hổ giấy; chỉ có giải phóng toàn nhân loại thì giai cấp vô sản mới có thể được giải phóng thực sự
 

Khởi nguồn bạo lực của đảng

Lấy vũ trang công nông làm cơ sở, chính quyền được lập nên từ nòng súng, làm cách mạng từ hai con dao nhỏ, “cách mạng chính là bạo động, là hành động tàn bạo của một giai cấp này lật đổ một giai cấp khác”
 Đảng là nhất quán và chính xác Nhìn về phía trước, xác định tư tưởng [trước hội nghị], đóng phí, lập lại trật tự, một cơn ác mộng, rút kinh nghiệm xương máu, sinh tử tồn vong, cứu lấy cách mạng cứu lấy đảng, luôn nhất trí với trung ương đảng, đưa ra nghị quyết những vấn đề lịch sử trọng đại
Đảng có lập trường độc lập Đi ngược lại trào lưu, tạo phản là có lý do, phải tính món nợ chính trị, thà lấy kẻ vô văn hóa của chủ nghĩa xã hội chứ không lấy kẻ có văn hóa của chủ nghĩa tư bản,cái gì mà kẻ thù phản đối thì chúng ta phải ủng hộ, cái gì kẻ thù ủng hộ thì chúng ta phản đối
Đảng tàn khốc vô tình Nắm đấm thép, chuyên chính giai cấp vô sản, tiêu diệt từ trong trứng nước
Đảng “khoan dung độ lượng” Sát hạch, sửa lại kết luận sai, cải chính, kết luận, chứng thực chính sách, phát bù lương, sắp xếp công tác, xử lý khoan hồng,giữ lại để đảng xem xét, giao nộp cho tổ chức, cảnh cáo nghiêm khắc trong đảng, giữ lại những đảng viên đã bị khai trừ khỏi đảng, khoan hồng với những người thẳng thắn và trừng trị những kẻ chống cự
Đảng có tình người Trao tình thương, xuống cơ sở (quan tâm đến người dân), làm việc thực chất, giải quyết mọi khó khăn, đi sâu vào quần chúng, phụng sự nhân dân, thực hành chủ nghĩa nhân đạo cách mạng
Đảng “quyết tâm sửa sai” Chỉnh đốn đảng, đảng phải quản đảng, thắt chặt kỷ luật đảng, chống tham nhũng, làm trong sạch đảng và nhà nước, tổng kết rút bài học kinh nghiệm
Đảng quyết không rời khỏi vũ đài lịch sử Không dao động, kiên trì lãnh đạo của đảng, đề phòng diễn biến hòa bình, giang sơn màu đỏ vĩnh viễn không đổi màu, giang sơn của đảng được đánh đổi bằng sinh mệnh của hàng chục triệu người, giết 20 vạn người để đổi lấy hai mươi năm ổn định
Văn kiện và hội nghị đảng Phát biểu, báo cáo, hội nghị sửa chữa khuyết điểm, hội nghị giải quyết mâu thuẫn, hội nghị thảo luận, văn kiện trung ương, văn kiện của đảng, chỉ thị của cấp trên, tinh thần của trung ương, ý muốn của lãnh đạo, tiếng nói của trung ương đảng, đại hội đảng toàn quốc lần thứ x
Kinh tế Quốc doanh, chờ việc, thôi việc, thôi việc trong nội bộ, đại nhảy vọi, tăng vọt sản lượng, đội sản xuất, chế độ bao cấp,chế độ hai giá, công ty liên doanh nhà nước, công xã nhân dân, một bình ổn hai điều tiết, kinh tế kế hoạch, đặc khu kinh tế, về hưu mất sức, chế độ sở hữu tập thể
Quân sự Tổng chính trị, tổng tham mưu, vượt chiến tuyến, đảng chỉ huy họng súng, chủ tịch quân ủy, lực lượng hùng hậu vững mạnh, quân đội nhân dân, tình quân dân như cá với nước, yêu nhân dân như anh em
Giáo dục Học công nhân, học nông dân, mở lớp dạy học, vừa hồng vừa chuyên, giỏi chuyên môn nhưng thờ ơ chính trị, bốn đức tính tiêu chuẩn của con người mới, người tiếp nối cách mạng, tiếp thu giáo dục giai cấp, phát triển toàn diện đạo đức, trí tuệ, thể chất, năm lời dạy, bốn đức tính, ba yêu mến,tiến bước đi lên tiếp nối truyền thống của cha ông, chiếc khăn quàng đỏ được nhuốm bằng máu của các chiến sỹ cách mạng đã hy sinh
 

Tin tức

Thông tin nội bộ, mẫn cảm, xử bắn,tự hạn chế, định hướng dư luận, miệng lưỡi của đảng, tốt đẹp phô ra xấu xa đậy lại, bộ tuyên truyền trung ương, trung tâm tuyên truyền của đảng, bộ phận thẩm tra cấp trên
 

Đấu với Trời Đất

Chống lũ lụt, chống hạn hán, tiêu diệt tứ hại, thay trời đổi đất, bình nguyên nhân tạo, vây hồ thành ruộng, hăng hái làm thủy lợi, khiến núi cao phải cúi đầu, sông sâu phải rẽ lối
 

Đấu với người

Xác định, giao nộp, kiểm tra, kiểm thảo, thẩm tra chính trị, thuyên chuyển, sàng lọc, thọc gậy bánh xe, nắm thóp, chụp mũ, đánh đập, khai đao từ…, phóng đại, đặt ra giới hạn, đường lối sai lầm, anh sống tôi chết, gánh chịu mọi hậu quả từ sai lầm của mình, tạo ra bước đột phá, vùi lên dập xuống, bới lông tìm vết, suốt đời không ngóc đầu lên được, đấu tranh tàn khốc vô nhân tính, kẻ thù không đầu hàng thì phải tiêu diệt chúng; quần chúng rất có mắt (mượn quần chúng để đả kích người bất đồng ý kiến), đã đạp đổ lại còn giày xéo
 

Khẩu hiệu thời đại

“… hãy vùng lên”, “xxx vạn tuế”, “gìn giữ nước nhà”, “công xã nhân dân là tốt đẹp”, hăng hái phấn đấu, xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa nhanh chóng vừa tiết kiệm công sức, lấy … làm cương lĩnh, đường lối chung chính là ngọn đèn soi sáng cho mọi hành động của chúng ta, đả đảo…”, “phản đối chủ nghĩa…”, “học theo tấm gương đồng chí xxx”,tìm thấy cách mạng, thúc đẩy sản xuất,“nghỉ học đi làm cách mạng”, “tiếp tục làm cách mạng dưới chế độ chuyên chính của giai cấp vô sản, “dội pháo……”, “chuẩn bị cho chiến tranh, chuẩn bị cho mất mùa, phục vụ cho nhân dân”, ” làm trang trại cho nông nghiệp”, “tinh thần ngày quốc khánh của giai cấp công nhân”, “cùng nhau đoàn kết đánh bại…”, “hãy đoàn kết lại, giành lấy……”, “đoàn kết một lòng hướng về phía trước”, “ chủ nghĩa xã hội không có nghèo đói, bần cùng”, “một trung tâm, hai phương hướng cơ bản”, “ba điều cần giảng”, “chiến lược ba bước”, “ba định hướng”, “ba đại biểu”, “ba điều có lợi”, “tứ hữu”, “tứ hóa”, “bốn nguyên tắc cơ bản”, “kế hoạch năm năm”, “nền văn minh….  chủ nghĩa xã hội”, “nền kinh tế…. chủ nghĩa xã hội”, “giai đoạn … chủ nghĩa xã hội”, “chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc”, “tiến hành xxx cho đến cùng”, “xxx áp đảo tất cả”
Tư tưởng được đảng khuyến khích Gian khổ cần kiệm, yêu ghét rõ ràng, hiến dâng hết mình, đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân, ý thức giác ngộ chính trị cao, dựa vào đảng, tích cực cầu tiến, nghe lời đảng và đi theo đảng, đảng bảo làm gì thì làm nấy, trung với cách mạng trung với đảng, lập trường kiên kịnh ý chí đấu tranh mạnh mẽ, một không sợ khổ hai không sợ chết, quay lưng lại với gia đình thuộc giai cấp bóc lột, nguyện làm con người cần mẫn, trung thành của cách mạng, nguyện làm chiếc đinh ốc trong bộ máy cách mạng, đối với kẻ thù phải tàn khốc vô tình như mùa đông khắc nghiệt, phấn đấu suốt đời vì sự nghiệp chủ nghĩa cộng sản
Chụp mũ chính trị Cánh hữu, xã hội đen, công kích tàn bạo, tà giáo, làm chính trị, phần tử thuộc tam phản, phá hoại hợp tác hóa, nhà tư bản bất hợp pháp, lịch sử phản cách mạng, phản cách mạng hiện hành, phản đảng phản chủ nghĩa xã hội, tự do hóa giai cấp tư sản, người con ngoan cháu thảo của giai cấp xx
Danh từ thường gặp Đường lối, phương châm, chính sách, phương hướng, nhiệm vụ, chế độ, nòng cốt, lãnh đạo, cán bộ, đội ngũ, nhân dân, quần chúng, kẻ địch, thế lực, bảo chứng, tượng đài, cải cách, giác ngộ, vũ khí, chiến tuyến, tính tổ chức, tính kỷ luật, tính khoa học, đội quân tiên phong, sức chiến đấu
Động từ thường gặp Tuyên truyền, quán triệt, chấp hành, hiệu triệu, động viên, đấu tranh, phấn đấu, chiến đấu, chỉ trích, tổng kết, tiền tiến, thúc đẩy, kiên trì, cải thiện, phát triển, coi trọng, tăng cường, củng cố, giương cao,mất đi, nguy hại, dao động, xây dựng kiện toàn, tăng cường thêm một bước, tăng cường… thêm nữa
Tính từ thường gặp (Đảng) vĩ đại, quang vinh, chính xác, (đấu tranh) trường kỳ, gian khổ, phức tạp, (con đường trải qua) vinh quang, chói lọi, (tinh thần) quả cảm, (gia nhập đảng, hy sinh) vinh dự vẻ vang, kiên quyết (ủng hộ), (lĩnh hội, nhận thức) sâu sắc, (lập trường) vững chắc, tự giác (giữ gìn, ngăn chặn), nghiêm túc (chấp hành), vô cùng (coi trọng), (ý nghĩa) trọng đại, (quan tâm, gặp mặt) thân thiết, khí phách hăng hái, tinh thần chiến đấu sục sôi, kiên định không dao động, quyết đoán nhanh chóng, rầm rộ oanh liệt, ngọn cờ tươi sáng

Những từ ngữ trong bảng trên, từ cách xưng hô trong giao tiếp như “đồng chí, lãnh đạo, cấp trên”, cho đến thời kỳ lịch sử “trước giải phóng, sau giải phóng”; từ xuất thân gia đình “bần nông, phú nông, địa chủ”, cho đến cách phân biệt đẳng cấp trong công việc “hồng quân, lão thành cách mạng”; từ các danh từ quen thuộc “đường lối, phương châm, chính sách”, cho đến các động từ thường gặp “tuyên truyền, quán triệt, chấp hành, hiệu triệu, động viên” v.v.. tất cả đều là sản phẩm của Văn hóa đảng. Chỉ cần xem qua một lượt cũng khiến người ta cảm thấy vô cùng áp lực và ngột ngạt.

2) Chế độ chính trị được hình thành trong ngôn ngữ đảng

(1) “Đảng” là nòng cốt của ngôn ngữ đảng   

“Đảng” là nòng cốt của ngôn ngữ đảng, những bộ phận khác của hệ thống ngôn ngữ đảng đều được xây dựng xung quanh nòng cốt “đảng”. Trong ngôn ngữ đảng, bất kể có xuất hiện từ “đảng” hay không, chúng ta đều có thể suy luận và phát hiện ra đằng sau nó có bàn tay hắc ám của “đảng”. Ví dụ, từ “đồng chí” không xuất hiện chữ “đảng”, nhưng chúng ta chỉ cần hỏi một câu rằng “đồng lòng theo chí hướng của ai?” thì sẽ phát hiện ra bóng ma Trung Cộng ở đằng sau.

Từ khái niệm “đảng” sinh ra phạm trù “giáo điều của đảng” và “hoạt động của đảng”. “Giáo điều của đảng” là cơ sở lý luận của Đảng Cộng sản và dùng để lừa gạt người dân, chúng ta sẽ nói cụ thể hơn ở chương sau. “Hoạt động của đảng” là cơ chế vận hành của đảng để đảm bảo địa vị thống trị chính trị của nó không bao giờ thay đổi, bao gồm tổ chức, phương châm, chính sách, vận động, nhân viên, kỷ luật và chế độ thưởng phạt v.v.. phương hướng vận hành của các quy định xã hội, khống chế tư tưởng và hành vi của con người một cách toàn diện, tạo thành mảnh đất phì nhiêu cho Văn hóa đảng phát triển, hòa tan và nhào nặn nên ý thức tư tưởng của người dân.

(2) Thể chế chính trị Trung Cộng do ngôn ngữ đảng xây dựng

Bảng dưới đây đã phác họa nên thể chế chính trị Trung Cộng thông qua ngôn ngữ đảng thường gặp. (Bảng 2)

Lãnh tụ của đảng Marx Engels Lenin Stalin Mao Trạch Đông; bốn vị lãnh tụ vĩ đại; nhà hoạch định cho công cuộc cải cách mở cửa;người mở đường dẫn lối; chiếm vị trí tối cao vô thượng;quyền uy tuyệt đối của xxx đến từ quần chúng nhân dân
Địa vị lãnh đạo nòng cốt của đảng Nòng cốt của đảng; Đảng Cộng sản Trung Quốc là đội tiên phong của giai cấp công nhân; lực lượng nòng cốt lãnh đạo sự nghiệp của chúng ta là Đảng Cộng sản Trung Quốc; sự lãnh đạo của Đảng là sự bảo đảm căn bản cho chúng ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi lớn hơn; đảng là người thống soái và dẫn đường cho công cuộc cách mạng và sự nghiệp xây dựng chính đảng của giai cấp vô sản, là sự bảo đảm căn bản cho giai cấp vô sản tự giải phóng và tiến đến giải phóng toàn nhân loại, là sự bảo đảm căn bản cho sự phát triển không ngừng của chủ nghĩa cộng sản
Đường lối của đảng Đường lối chính trị, đường lối tư tưởng, đường lối tổ chức, đường lối văn hóa nghệ thuật, đường lối cán bộ, đường lối quần chúng, đường lối giai cấp, đường lối nông thôn, thống nhất đường lối; đường lối phong trào công nhân
Chính sách của đảng Đánh đổ địa chủ chia lại ruộng đất; hợp tác hóa; công xã nhân dân; đoàn kết đại đa số,đả kích thiểu số; có thành phần nhưng không phải duy thành phần luận; quan trọng là biểu hiện chính trị; khiến cho một bộ phận giàu lên; thu hẹp khoảng cách giữa thành phố và nông thôn, giữa công nghiệp và nông nghiệp; không giết thì không giải tỏa được sự phẫn nộ của người dân; giấu nghề; ổn định áp đảo hết thảy; tiêu diệt tất cả nhân tố bất ổn định từ trong trứng nước; dò dẫm kinh nghiệm; mở cửa ra thế giới; đặc khu kinh tế
Sự nghiệp xây dựng đảng Tác phong của người cán bộ có ảnh hưởng đến bộ mặt xã hội; căn cứ cách mạng; con đường trường chinh; nhìn lại lịch sử; học tập lịch sử; tuyên dương truyền thống cách mạng quang vinh; chỉnh đốn đảng, chỉnh phong; cuộc vận động duy trì sự phát triển giáo dục tiên tiến; chỉnh đốn tổ chức; làm trong sạch nội bộ; đăng ký lại; phát triển tổ chức; sinh hoạt tổ chức; đưa chi bộ đảng vào nhân dân, quân đội; bảo đảm cho sự bất bại; thiên thu vạn đại vĩnh viễn không thay đổi; sự nghiệp cách mạng kế tục sang thế hệ sau; sự nghiệp cách mạng rốt cuộc sẽ kéo dài bao lâu
Tác phong của đảng Gian khổ cần cù; đoàn kết khẩn trương nghiêm túc sôi nổi; làm thành một khối với quần chúng; quan tâm đến nỗi khổ của quần chúng; không lấy một cây kim sợi chỉ của người dân; cán bộ xuống lao động với người dân; vai trò đầu tàu; phê bình và tự phê bình; chỉnh đốn phong cách đảng
Kỷ luật của đảng Tuyệt đối phục tùng tổ chức; cấp dưới theo mệnh lệnh cấp trên, toàn đảng theo mệnh lệnh trung ương; không sợ hy sinh xương máu; không bao giờ phản bội; hiểu thì phải chấp hành, không hiểu cũng phải chấp hành; không có điều kiện sáng tác cũng phải sáng tác; đảng chỉ huy họng súng, tất cả do đảng ủy lãnh đạo; lãnh đạo tập thể; chế độ bảo mật
Kết cấu tổ chức của đảng Nhiệm vụ tình báo; cơ quan tình báo đảng; đội thiếu niên tiền phong; trung ương đoàn thanh niên cộng sản; liên đoàn; công đoàn; phòng nhân sự; phòng cán bộ; ban đối ngoại trung ương đảng; ban tổ chức; ban tuyên giáo trung ương đảng; quân ủy trung ương; chính ủy; chủ nhiệm, phó chủ nhiệm bộ chính trị; chính trị viên; tỉnh ủy; bí thư tỉnh ủy; thành ủy; thư ký thành ủy; thư ký thứ nhất; thư ký thứ hai; tổ chức đảng; đảng ủy; thư ký; thư ký đảng ủy; thành viên đảng ủy; chi bộ; bí thư chi bộ; tổng bí thư chi bộ; ủy viên chi bộ; cán bộ công tác chính trị
Sinh hoạt tổ chức của đảng Truyền đạt báo cáo, nộp đảng phí, nộp đoàn phí; sinh hoạt tổ chức; ngày hoạt động tập thể đội; học tập chính trị; sinh hoạt chính trị; kiểm điểm tư tưởng; phê bình và tự phê bình; tìm hiểu tư tưởng của mọi người; tranh cử vào đảng, vào đoàn; đảng viên dự bị; thời gian dự bị; phát triển tổ chức; đối tượng phát triển; đảng viên dự bị chuyên chính; được tổ chức bên trên nói chuyện; kinh phí hoạt động của đảng; tổ chức đảng; phần tử tích cực; đảng viên trù bị; tổ chức thử thách; hủy bỏ tư cách đảng viên dự bị; khuyến khích nhà tư bản gia nhập đảng, tổ chức đảng thuộc Giáo hội Ái quốc Tam tự [1]
Đấu tranh giữa các phe phái trong đảng Phe cải cách và phe bảo thủ; hai bộ tư lệnh; chính quyền đương thời đi theo con đường tư bản chủ nghĩa; hai điều ‘phàm là’ [2]; trong lịch sử đảng đã nhiều lần đấu tranh chống lại chủ nghĩa cơ hội của các phe cánh tả, cánh hữu.
Văn kiện của đảng Nguyên tác chủ nghĩa Mác Lê; tư tưởng Mao Trạch Đông; tuyển tập các câu nói trứ danh của Mao; tuyển tập Mao Trạch Đông; bốn áng hùng văn; sổ tay của người chiến sĩ cách mạng; lý luận Đặng Tiểu Bình; văn kiện của đảng; tài liệu phân phát đến từng văn phòng; lịch sử đảng; lịch sử các cuộc vận động cộng sản quốc tế; báo cáo đại hội toàn toàn quốc Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ x; nghị quyết xx của đảng; bài phát biểu của đồng chí xx tại hội nghị xx; tuyển tập các bài viết của Giang Trạch Dân
Quan hệ giữa đảng cộng sản và các đảng phái chính trị khác Thống nhất chiến tuyến; nhân sỹ dân chủ; cùng chung chí hướng; đối xử chân thành với nhau; vinh nhục cùng chịu; trung thành với Đảng Cộng sản; trung thành ủng hộ Đảng Cộng sản; vật trang trí; Hội hiệp thương Dân chủ Chính trị; “các đảng phái cùng hợp tác dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Trung Quốc; Đảng Cộng sản Trung Quốc cầm quyền còn các đảng phái khác tham gia hoạt động chính trị; các đảng phái dân chủ là người bạn thân thiết của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đoàn kết hợp tác với đảng để tham gia vào hoạt động chính trị, chứ không phải là phản đối đảng hoặc đứng bên ngoài đảng”
Quan hệ trung ương và địa phương Toàn đảng phục vụ trung ương; thống nhất tư tưởng, thống nhất hành động; thống nhất tiến độ; đoàn kết chặt chẽ trong nội bộ trung ương đảng; nhất trí cao với trung ương đảng do xxx lãnh đạo
Quan hệ cấp trên và cấp dưới Cấp dưới theo mệnh lệnh của cấp trên; hiểu thì phải chấp hành, không hiểu cũng phải chấp hành
Quan hệ đảng và quân đội Đưa chi bộ đảng vào quân đội; đảng chỉ huy họng súng; quyết không cho phép họng súng chỉ huy đảng
Quan hệ đảng và quần chúng Nhân dân; chủ nhân của đất nước; giai cấp công nhân, nông dân, binh sĩ làm chủ đất nước; sáng tạo ra động lực của lịch sử; bảo vệ tính tích cực của quần chúng cách mạng; công nhân, nông dân, binh sĩ học làm thương mại; quan tâm đến nỗi khổ của dân; cùng chung hoạn nạn; đường lối quần chúng
Tổ chức phản đảng Bè lũ phản cách mạng; bom hẹn giờ ẩn trong đội ngũ cách mạng; đường lối chủ nghĩa hữu khuynh của Trần Độc Tú; bè lũ phản đảng Cao Nhiêu; bè lũ phản đảng Hồ Phong; bè lũ phản đảng Bành Đức Hoài; bè lũ phản cách mạng Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình; bè lũ phản đảng Lâm Bưu; bè lũ bốn tên; bè lũ phản bội
Kỹ thuật tuyên truyền Tham gia nội bộ; cơ quan thông tấn Tân Hoa Xã; cơ quan báo chí của Trung Cộng; tình hình mới của cải cách mở cửa; tuyên truyền kỷ luật; tinh thần của đảng; đại hội lần này là một đại hội đoàn kết, đại hội thống nhất tư tưởng, đại hội thắng lợi

Có thể nói mỗi người Trung Quốc đều rất quen thuộc với những nội dung trong bảng trên. Trung Cộng đã dùng ngôn ngữ đảng để đặt định ra từ cách xưng hô người có quyền lực tối cao trong đảng, cho đến địa vị độc tài, cơ chế vận hành, thủ đoạn thống trị của nó v.v.. Vậy mà người Trung Quốc ngày nay trong công tác, trên giảng đường, trong học tập chính trị vào mọi thời khắc đều không ngừng lặp lại những ngôn ngữ đó của Trung Cộng, họ tâng bốc nịnh hót lãnh đạo đảng, công nhận địa vị độc tài của Trung Cộng, tuân thủ sinh hoạt tổ chức và kỷ luật của đảng, đi theo đường lối, chính sách của đảng. Ngôn ngữ chính trị của Trung Cộng đã trở thành một phần cuộc sống của người dân. Có một số nhìn từ bề mặt sẽ không dễ nhận ra màu sắc Văn hóa đảng bên trong, nhưng nếu chúng ta so sánh với Trung Quốc cổ đại và những quốc gia khác, hoặc phân tích những nhân tố đằng sau từ ngữ đó, thì chúng ta có thế thấy rằng những từ ngữ này hoàn toàn được hình thành trong quá trình hoạt động của Trung Cộng, chứa đựng ý đồ rõ ràng của Trung Cộng, hoàn toàn không giống với ngôn ngữ của xã hội bình thường.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

3) Đời sống tinh thần bị đảng cưỡng chế

Đảng Cộng sản đã coi tư tưởng chỉ đạo của nó làm ra vẻ như là “chân lý” duy nhất của thế giới và nhân loại, vì vậy tất nhiên phải ngụy tạo một hệ thống ngôn ngữ phủ khắp mọi phương diện xã hội. Tất cả những vấn đề khúc mắc trong xã hội truyền thống về tôn giáo, triết học, khoa học, lịch sử, luân lý đạo đức, văn học nghệ thuật, đều có thể bị lý giải khác đi thông qua hệ thống ngôn ngữ đảng.

Chúng ta hãy xem “tín ngưỡng” của Trung Cộng. Tôn giáo chính thống giúp con người không ngừng đề cao tâm tính của mình (tiêu chuẩn đạo đức), nó câu thông với tiêu chuẩn của thế giới Thiên quốc, từ đó đạt đến “niết bàn”, “viên mãn”, đến cõi vĩnh hằng. Còn Trung Cộng trước tiên tuyên truyền rằng Thiên quốc và Địa ngục đều không tồn tại, Thần là do con người sáng tạo ra; từ đó đem “tính tất yếu của lịch sử” ra sùng bái như Thần, và tuyên truyền rằng bản thân nó đại biểu cho “tính tất yếu của lịch sử”. Tính tất yếu của lịch sử này quy định: Đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của lịch sử, thế là đảng cộng sản ngang nhiên hô hào bạo lực và tàn sát, từ đó biến mọi hành vi tội ác thành “hợp pháp”.

Chúng ta hãy xem lại đạo đức của Trung Cộng. Nội hàm của đạo đức truyền thống là “đạo và đức”, “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”. “Đạo đức” mà đảng định nghĩa là “một hình thái ý thức xã hội, là hoạt động cộng đồng của con người và chuẩn tắc, quy phạm của các hành vi đó. Ở mỗi tầng lớp khác nhau trong xã hội, đạo đức có vai trò ước thúc đối với cuộc sống xã hội bằng dư luận. Các giai cấp khác nhau có các quan niệm đạo đức khác nhau. Đạo đức của chủ nghĩa cộng sản là đạo đức tối cao của nhân loại” (“Từ điển Hán ngữ hiện đại”, 1981, nhà xuất bản thương mại).

Dễ dàng nhận thấy rằng, trong hệ thống ngôn ngữ đảng, tất cả chân lý, lịch sử, đạo đức, nghệ thuật v.v. đều phục vụ cho sự thống trị của Trung Cộng.

Bảng dưới đây liệt kê những từ ngữ thường dùng của đảng trong quá trình cải tạo tư tưởng của người Trung Quốc. (Bảng 3)

Phủ nhận chính tín Tôn giáo là thuốc phiện tinh thần, chế độ phong kiến mê tín; phản ánh mơ hồ về thế giới khách quan; Chủ nghĩa Cộng sản là thiên đường; tính tất yếu của lịch sử; Giáo hội Ái quốc Tam tự
Con người đến từ đâu Thuyết tiến hóa; kẻ mạnh ăn thịt kẻ yếu, kẻ thích nghi thì tồn tại; vai trò của lao động đối với quá trình vượn tiến hóa thành người
Con người đi về đâu Chủ nghĩa cộng sản; phân phối theo nhu cầu; tiêu diệt giai cấp; xây dựng thiên đường nhân gian; sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân là điều kiện tiền đề cho sự phát triển toàn diện của tất cả mọi người
Ý nghĩa nhân sinh ở đâu Làm người chiến sỹ tốt của Mao chủ tịch; làm chiếc ốc vít không bao giờ han gỉ của bộ máy cách mạng; phấn đấu suốt đời vì sự nghiệp Chủ nghĩa Cộng sản; toàn bộ cuộc đời và tinh lực của tôi đều cống hiến cho sự nghiệp tráng lệ nhất thế giới – đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng nhân loại
Cơ sở lý luận của đảng

 

Chủ nghĩa Marx Engels Lenin; tư tưởng Mao Trạch Đông; lý luận Đặng Tiểu Bình; bài giảng của Giang Trạch Dân; hình thái ý thức chủ nghĩa xã hội; giai đoạn sơ cấp, giai đoạn cao cấp của chủ nghĩa cộng sản; thực hiện lý tưởng chủ nghĩa cộng sản; đi theo con đường chủ nghĩa xã hội; vật chất vô cùng phong phú; phân phối theo nhu cầu; phân chia theo lao động; ngọn đèn chỉ đường; triết học, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học là ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Marx Lenin; triết học đấu tranh; chủ nghĩa duy vật biện chứng;chủ nghĩa duy vật lịch sử; chủ nghĩa duy vật; vật chất quyết định ý thức, ý thức quyết định lại vật chất; chủ nghĩa xã hội khoa học; cơ sở kinh tế quyết định kiến trúc thượng tầng, kiến trúc thượng tầng quyết định lại cơ sở kinh tế
 “Cái nhìn lịch sử” của đảng Xã hội không có giai cấp; xã hội giai cấp; xã hội nguyên thủy; xã hội nô lệ; xã hội phong kiến; xã hội phong kiến nửa thực dân; cách mạng chủ nghĩa dân chủ cũ; cách mạng chủ nghĩa dân chủ mới; xã hội chủ nghĩa; thời kỳ đầu của chủ nghĩa xã hội
“Quan điểm về đạo đức” của đảng Đảng tính; công cụ thuần phục; trung thành vô hạn với xxx; bảo vệ cho đến chết; trung thành vô hạn với đảng; ba trung thành vô hạn; tình cảm giai cấp giản dị, chân thành; sự tu dưỡng của đảng viên cộng sản; hiến dâng tất cả cho đảng; tôi luyện ý chí như thế nào; mọi việc đều theo sự sắp xếp của tổ chức đảng; lợi ích của đảng cao hơn tất cả; đảng chỉ đâu thì đánh đấy; mang theo quyết tâm chiến đấu ra tiền tuyến dù phải hy sinh; chỉ nghĩ có lợi cho người khác mà không tơ hào cho bản thân; yêu Đảng Cộng sản Trung Quốc, yêu chủ nghĩa xã hội; chỉ thị của đảng là linh hồn của tất cả hành động của chúng ta; năm lời khuyên, bốn phẩm chất, ba yêu mến; bốn phẩm chất của con người mới; giáo dục nhân sinh quan về khoa học; bát vinh bát nhục; quan niệm vinh nhục của chủ nghĩa xã hội
“Cái nhìn văn hóa nghệ thuật” của đảng Dao găm; ngọn giáo; hoa thơm; cỏ độc; tính tư tưởng; ba điều vượt trội; tấm gương cách mạng; quan điểm cơ bản; đề tài lịch sử cách mạng; đề tài hiện thực cách mạng; chủ nghĩa lãng mạn cách mạng; chủ nghĩa hiện thực của chủ nghĩa xã hội; nghệ thuật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng; nghệ thuật phục vụ cho công nhân, nông dân, quân nhân; nghệ thuật phục vụ cho giai cấp vô sản
Cải tạo tư tưởng “Tụt quần” (sỷ nhục); từ bỏ thói quen xấu; rửa sạch; viết kiểm điểm; báo cáo tư tưởng; lũ thối tha; bước đường cùng; chính sách cơ bản lâu dài cho phần tử trí thức Trung Quốc; phương thức khống chế phần tử trí thức; phần tử trí thức chỉ là một lực lượng có thể lợi dụng được; giáo dục họ khắc phục tư tưởng sai lầm của địa chủ, giai cấp tư sản hoặc giai cấp tiểu tư sản

Đối với người Trung Quốc mà nói, có lẽ “tôn giáo là thuốc phiện tinh thần”, “phong kiến mê tín” v.v.. đều là những câu nói cửa miệng, dùng để chỉ trích tín ngưỡng truyền thống. Nhưng rất ít người có thể suy xét kỹ lưỡng xem tại sao họ lại có suy nghĩ này, ngôn từ của họ rốt cuộc là từ đâu đến. Thực ra, Trung Quốc trong quá khứ hàng nghìn năm đều tồn tại các loại tín ngưỡng, tư tưởng coi tín ngưỡng chính thống truyền thống là “phong kiến mê tín” hoàn toàn là sản phẩm của Văn hóa đảng Trung Cộng. Thật hài hước là khi người ta mù quáng tin tưởng Chủ nghĩa Cộng sản, hoàn toàn chịu sự khống chế tư tưởng của Trung Cộng, từ đó gây ra cho xã hội Trung Quốc những tai ương chính trị liên tiếp, thì lại rất ít người nghĩ rằng “Chủ nghĩa Cộng sản là thuốc phiện tinh thần”, “Đảng Cộng sản là tà giáo”, vì thông qua sự tẩy não lâu dài, Trung Cộng đã khiến những từ như “thuốc phiện tinh thần”, “tà giáo” thường bị người ta liên tưởng tới một số đoàn thể bị Trung Cộng công kích,  hoặc là trong tư tưởng người ta đã hình thành nên một quan niệm cố định, khiến họ khó mà đột phá tư duy, quay ngược lại dùng những từ ngữ này để nhìn nhận Trung Cộng.

4) Ngôn ngữ đảng xâm nhập không gian riêng tư

Trung Cộng khống chế xã hội một cách nghiêm ngặt, bàn tay hắc ám của nó can thiệp vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội, vốn dĩ được chế ước bởi các luân thường đạo lý, tập tục xã hội. Dưới sự thống trị của Đảng Cộng sản, cuộc sống riêng tư của người Trung Quốc cũng tràn ngập ngôn ngữ đảng. Ngôn ngữ bình thường của con người một khi bị “đảng” lợi dụng thì sẽ trở thành ngôn ngữ đảng; ngôn ngữ đảng còn thâm nhập, lấn chiếm, cải biến và thôn tính một cách trắng trợn thể hệ ngôn ngữ bình thường.

Xã hội truyền thống gọi những người có quan hệ hôn nhân là “phu thê”, “vợ chồng”, “tướng công”, “phu nhân”, thời cận đại thì gọi là “ông nhà”, “bà nhà”, khách khí một chút gọi là “bên ngoại”, “bên nội”, thoải mái một chút gọi là “ông xã”, “bà xã”. Cho dù gọi thế nào đều thể hiện sự khác biệt giữa nam và nữ, trong đó bao hàm ý tôn trọng những đặc điểm giới tính khác nhau, từ đó tạo nên sự hòa hợp giữa hai giới.

Dưới chế độ Trung Cộng, mọi người gọi vợ/chồng mình là “ái nhân” (người yêu). “Ái nhân” vốn là cách gọi của những người ái mộ lẫn nhau, ý nghĩa tương tự như “người yêu”, có nhiều nước dùng để chỉ người tình, đặc biệt là quan hệ ngoài hôn nhân, quan hệ bất chính. Tại các khu “căn cứ địa” của Trung Cộng, từ này được dùng rộng rãi để chỉ “sự hôn phối”, cả vợ lẫn chồng đều gọi chung là “ái nhân”, Trung Cộng nói rằng nó “thể hiện sự đề cao địa vị người phụ nữ và sự cải cách về kết cấu gia đình”. Nhà sử học Ngô Hàm khi mới đến “khu giải phóng”, nghe người ta giới thiệu vợ của Ngô Ngọc Chương: “Đây là ái nhân của ông Ngô.” Ông giật mình, trong lòng nghĩ, Ngô Ngọc Chương đã lớn tuổi thế rồi còn yêu đương gì nữa?

Từ “ái nhân” mặc dù không có tính sát khí mạnh như  từ “đồng chí” nhưng đằng sau bất cứ từ ngữ nào cũng hàm chứa cái nhìn với cuộc sống và phương thức sống. Cái gọi là “chủ nghĩa bình quân” mà Trung Cộng tuyên dương đã cố gắng cào bằng mọi sự khác biệt giữa người với người về phẩm chất đạo đức, trình độ văn hóa, địa vị xã hội, sự giàu có và khác biệt giới tính. Cách dùng của từ “ái nhân” phản ánh những quan niệm được Trung Cộng cổ súy như “nam nữ bình đẳng”, “phụ nữ là một nửa thế giới” (sẽ phân tích kỹ ở chương sau), làm biến dị quan hệ nam nữ, đảo lộn kết cấu gia đình truyền thống, cuối cùng tạo thành vấn đề xã hội nan giải phức tạp. Con người vốn có nam có nữ, nam giới và nữ giới có vai trò và nghĩa vụ khác nhau, âm dương hòa hợp mới có được gia đình hòa hợp. Trung Cộng lại muốn người ta không phân biệt nam nữ, muốn nữ giới làm những việc của nam giới, thậm chí nữ giới cũng tham gia bạo lực, vận động “cách mạng”, như vậy người phụ nữ không những không còn dịu dàng, mà lại còn cứng rắn giống như nam giới, trong gia đình cũng xuất hiện đấu tranh và xung đột “cách mạng”, thế thì sao có thể có cuộc sống hòa hợp được? Ngày nay, khi hình thái ý thức của Chủ nghĩa Cộng sản đã bị sụp đổ, từ “đồng chí” ngày càng bị quên lãng, không biết từ bao giờ, rất nhiều người đã gọi những người đồng tính là “đồng chí”. Nhưng người ta vẫn không ý thức được hàm nghĩa Văn hóa đảng trong từ “ái nhân”, “ái nhân” vẫn là một trong những cách thường dùng để xưng hô vợ chồng của người Trung Quốc.

Cuộc sống thường nhật của người Trung Quốc  trong mọi phương diện đều tràn ngập ngôn ngữ đảng. Ví dụ, miêu tả một người hay cáu kỉnh, mọi người thường nói anh ta “đầu não sặc mùi đấu tranh giai cấp”; khen một người có tài đức vẹn toàn, mọi người thường nói “vừa hồng vừa chuyên”; mô tả một người chăm chỉ lo liệu việc nhà, mọi người sẽ nói “phấn đấu gian khổ” hoặc là “cần cù gian khổ”. Khi ai đó đau khổ tuyệt vọng, người khác sẽ an ủi anh ta rằng, phải “lấy gian khổ làm chất liệu”; có người đạt thành tích, người khác sẽ cảnh báo anh ta, chớ “kiêu căng, nóng nảy”, “đây mới chỉ là bước đầu trong chặng đường dài”.

Một người từ khi sinh ra đã bị bao vây bởi ngôn ngữ đảng. Nhà ai mới sinh em bé, đồng nghiệp sẽ nói: “Nhà anh có người tiếp nối cách mạng rồi.” Đặt tên là “Hướng Đông”, “Vệ Đông”, “Kiến Quân”. Khi đi học ai cũng phải đeo “khăn quàng đỏ” (một góc cờ đỏ của Trung Cộng), thời tiểu học học giỏi thì được bình bầu làm “đội viên ưu tú”, thời trung học học giỏi thì được bình bầu làm “đoàn viên thanh niên ưu tú”. Phổ thông chia theo khối văn hóa và tự nhiên, chắc chắn sẽ có người khuyên rằng “học giỏi toán lý hóa thì đi đâu cũng không sợ”, vì dưới sự thống trị của Trung Cộng, môn văn rất gần với hình thái ý thức của đảng nên người ta không dám động vào. Câu đầu tiên trong đánh giá cuối học kỳ phải là “học sinh này cần tiến bộ hơn về chính trị, tích cực tham gia tổ chức đảng (đoàn). Điền lý lịch, phải thêm “xuất thân gia đình” và “thành phần bản thân”. Lên đại học thì không tránh khỏi phải tiếp xúc với “bí thư đảng”, “bí thư đoàn”, “phụ đạo viên chính trị”. Kết bạn thì nói “chúng ta từ năm châu bốn biển, đến với nhau vì một mục tiêu cách mạng”.

Khó khăn lắm mới tìm được một công việc, phải nói là mình “tham gia công tác” rồi. Ý nghĩa của “tham gia công tác” là: Chỉ có một loại công tác, đó là “công tác cách mạng” của Trung Cộng, ý nói là hiện nay tôi đã được kết nạp thành một thành viên của Trung Cộng rồi. “Tham gia công tác” có nghĩa là người này đã có “đơn vị”, đã tìm thấy “tổ chức”, mỗi tuần phải tham gia nửa ngày “học tập chính trị”, không được trễ nải. Kết hôn phải được “đơn vị” viết “thư giới thiệu”, sinh con phải có “chỉ thị”. Cứ thế làm mấy chục năm, đến tuổi về hưu phải xét công luận tội theo các quy tắc của chế độ quan liêu Trung Cộng, mấy năm trước tham gia “cách mạng” gọi là “cán bộ nghỉ hưu”, mấy năm sau tham gia “cách mạng” gọi là “cán bộ về hưu”, trẻ hơn một chút thì không có “về hưu”, chỉ là “xuống chức”, “nghỉ hưu nội bộ”, bị “tổ chức” hất cẳng, ra ngoài “tự mưu sinh”. Có người không chịu bị ức hiếp, liền chủ động bỏ việc, “giữ chức nhưng không công tác nữa”, “nghỉ hưu trước tuổi”. Nếu chẳng may qua đời, nhận xét tốt nhất trong cáo phó là “trung với cách mạng, trung với đảng”, “sự ra đi của đồng chí xxx là mất mát to lớn của đảng ta, quân ta và nhân dân các dân tộc cả nước”, lễ truy điệu sẽ không thể thiếu việc liệt kê tên những cán bộ đảng đã tới thăm người đó trong thời gian lâm bệnh nặng.

Kết quả của việc ngôn ngữ đảng xâm lấn vào đời sống cá nhân là: Kết cấu của xã hội bình thường, cuộc sống gia đình, toàn bộ tư tưởng, tình cảm của người ta đều bị ô nhiễm bởi Văn hóa đảng, con người mất đi cơ sở tham chiếu quan trọng để đánh giá chính quyền Trung Cộng.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

4. Sự hình thành của ngôn ngữ đảng trải qua quá trình thanh lọc quy mô lớn

Sự hình thành và phát triển của ngôn ngữ là một quá trình tự nhiên. Tính ổn định cao của hệ thống chữ Hán có tác dụng hết sức quan trọng trong việc duy trì sự ổn định và thống nhất của nền văn minh Hoa Hạ. Đối với một quốc gia có bề dày truyền thống lịch sử như Trung Quốc, sự cẩn trọng và phù hợp hoàn cảnh trong quy phạm ngôn ngữ càng đặc biệt quan trọng.

Tuy nhiên, xuất phát điểm của các chính sách của Trung Cộng lại không phải có mục đích gìn giữ sự toàn vẹn và thuần chính của văn hóa chính thống. Ngược lại, để phá bỏ tất cả những chướng ngại trên con đường thiết lập ách thống trị độc tài của nó, Trung Cộng cần phải nhanh chóng hoàn thành việc chối bỏ văn hóa truyền thống, đồng thời nhồi nhét vào đầu người dân các tà thuyết vô thần luận, thuyết tiến hóa, triết học đấu tranh. Do vậy, Trung Cộng đã sử dụng chính quyền quốc gia để tiến hành cuộc chỉnh lý ngôn ngữ trên quy mô lớn. Huy động bộ máy quốc gia dùng mọi thủ đoạn để tuyên truyền ngôn ngữ đảng khắp toàn quốc, đây là đặc điểm căn bản của việc xây dựng hệ thống ngôn ngữ đảng.

1) Nguồn gốc của ngôn ngữ đảng

Nói một cách khái quát, ngôn ngữ đảng có sáu nguồn gốc chủ yếu: phiên dịch, do lãnh đạo tối cao của đảng sáng tác ra, gắn với tổ chức, biên tập có hệ thống, sự tô vẽ của các nhà văn, sự hợp tác của quần chúng.

Chủ nghĩa Marx Lenin là một học thuyết ngoại lai, ngôn ngữ đảng thời kỳ đầu tất nhiên phải dùng sách phiên dịch để làm phương tiện truyền đạt. Cuốn “Thiên diễn luận” [3] xuất bản năm 1897 đã lần đầu tiên truyền bá học thuyết Darwin vào Trung Quốc, làm nền móng cho sự truyền bá của chủ nghĩa Mác-xít. Năm 1919, bản dịch hoàn chỉnh đầu tiên của “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” đã xuất hiện trên tạp chí “Thanh niên mới”, ngôn ngữ đảng bắt đầu bám rễ vào mảnh đất Trung Hoa. Sau khi Trung Cộng thành lập, việc phiên dịch các tác phẩm của Marx, Engels, Lenin, Stalin và các văn kiện của Liên Xô là một phần công việc chính của nó, nó tập trung thành lập các “phòng biên dịch”, “cục biên dịch” v.v.. Ông Vương Thực Vị – người bị giết ở Diên An, đã từng làm việc tại “ Phòng biên dịch học viện Marx-Lenin Trung ương Trung Cộng”. Những từ vựng cơ bản trong hình thái ý thức của Trung Cộng như “Chủ nghĩa Cộng sản”, “giai cấp vô sản”, “chủ nghĩa duy vật lịch sử”, “đấu tranh giai cấp” đã ra đời từ những cuốn sách dịch này.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Lãnh đạo tối cao của Trung Cộng là tác giả chính của ngôn ngữ đảng. Mao Trạch Đông từng nói rằng phải “kết hợp chân lý phổ quát của chủ nghĩa Mác-xít với thực tiễn cách mạng Trung Quốc”, từ giữa những năm 30, ông ta đã bắt đầu sáng tạo một cách có ý thức những ngôn từ mang đậm màu sắc của đảng. Những lãnh đạo cùng thời hoặc sau thời của Mao cũng bắt chước làm theo, với ý đồ thông qua các “từ mới” này để đặt định ra cơ sở lý luận cho quyền lực của mình, từ đó mà giữ vị thế bất bại trong các cuộc đấu tranh nội bộ đảng. “Trung Quốc hóa chủ nghĩa Mác-xít”, “tiếp tục sự nghiệp cách mạng theo chuyên chính vô sản”, “đi theo con đường chủ nghĩa tư sản”, “bốn kiên trì”, “xã hội chủ nghĩa mang đặc sắc Trung Quốc”, “phản đối tự do hóa giai cấp tư sản”, “tam giảng”, “tam đại biểu”, “xã hội hài hòa”, “bát vinh bát nhục” đều là những từ mới do lãnh đạo đảng sáng tạo ra. Cần nói rõ rằng, là một chỉnh thể, Trung Cộng cần phải tạo cho nó một cơ sở hợp pháp, cá nhân lãnh đạo Trung Cộng cũng phải tạo cho mình một lai lịch hợp pháp. Do hầu hết các đời lãnh đạo Trung Cộng đều gây nợ máu, nên người kế nhiệm phải giữ một khoảng cách nhất định với người tiền nhiệm, nhưng họ không thể vượt quá giới hạn mà chỉnh thể Trung Cộng đã định ra từ trước. Hoa Quốc Phong [4] chỉ vì không dàn xếp tốt quan hệ hai bên, không từ bỏ mối quan hệ với Mao, lại còn đưa ra phương châm “hai điều phàm là”, nên chẳng bao lâu sau đã bị ép phải từ chức.

Trung Cộng là một đảng theo chủ nghĩa Lenin có tính kỷ luật và tổ chức nghiêm ngặt. Ngôn ngữ đảng “gắn với tổ chức” chỉ một số lượng lớn từ vựng được sản sinh gắn với hình thức tổ chức và hoạt động thông thường của Trung Cộng. Một số từ vựng này là do Trung Cộng tạo ra; một số là từ vựng tiếng Hán hoặc là mượn từ tiếng Đức, tiếng Nga, tiếng Nhật, nhưng qua thời gian sử dụng lâu dài của Trung Cộng, toàn bộ các từ ngữ đều bị thấm đẫm tinh thần Văn hóa đảng. Do chúng gắn bó với sự vận hành của tổ chức Trung Cộng, là cấu thành kiên cố trong các văn kiện từ trên xuống dưới trong nội bộ tổ chức Trung Cộng, vì vậy có thể nói chúng là những ngôn ngữ đảng ẩn sâu nhất nhưng lại mạnh mẽ nhất. Nửa chương trước, chúng tôi đã đi sâu phân tích những loại ngôn ngữ đảng như “tuyên truyền, quán triệt, chấp hành, đấu tranh, chiến sỹ thi đua, đại biểu, tinh thần hội nghị, đường lối, nhận thức, lãnh đạo, hiệu triệu, phấn đấu, ủy ban, báo cáo tư tưởng, tự kiểm điểm, phê bình và tự phê bình” chính là thuộc loại này.

Biên soạn có hệ thống. Trung Cộng khống chế tất cả các bộ máy tuyên truyền, các bộ ngành văn hóa giáo dục, cơ quan nghiên cứu khoa học, chỉ cần lãnh đạo tối cao của đảng hoặc là “trung ương đảng” đưa ra những cái gọi là “đường lối, phương châm, chính sách” thì những cơ quan này liền ra sức phát triển các luận chứng, khoác lên chúng vẻ ngoài sáng sủa, bảnh bao. Trung Quốc Đại lục đã xuất bản một lượng lớn những cuốn sách kiểu như “XX học chủ nghĩa Mác-xít”, “Tư tưởng XX của Mao Trạch Đông”, “Lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc”, tập hợp một số câu nói “bất hủ” của những “người thầy cách mạng” về một vấn đề nào đó, sau đó được những nhà văn giỏi xu nịnh – tay sai của đảng chế tác lại thành những tác phẩm “vĩ đại” dày cộp. Trong quá trình này cũng sản sinh ra một lượng lớn ngôn ngữ đảng.

Sự tô vẽ của các nhà văn và sự hợp tác của quần chúng cũng là nguồn gốc của ngôn ngữ đảng. Các nhà văn của tà đảng vì muốn nịnh bợ cấp trên để thăng quan tiến chức mà đã chủ động phối hợp với Trung Cộng sáng tạo nên đống rác rưởi là Văn hóa đảng. Những người dân sống dưới chế độ độc tài của đảng chỉ có thể bất lực thuận theo nó, đều cũng đã tham gia vào quá trình tạo ra ngôn ngữ đảng. Ví dụ, luận điệu của các nhà văn Trung Cộng “Văn hóa truyền thống cản trở hiện đại hóa”, chính là một ví dụ về “sự tô vẽ của nhà văn”. Trung Cộng còn tự mình hô hào rằng “không có Đảng Cộng sản thì không có nước Trung Hoa mới”, những năm gần đây người dân Trung Quốc cũng tiếp thu những ẩn ý của Trung Cộng, mà tự phát ngôn ra những câu kiểu như “không có Đảng Cộng sản thì Trung Quốc sẽ ra sao”, đây chính là thể loại “sự hợp tác của quần chúng”.

2) Sự hình thành và phát triển của ngôn ngữ đảng

Muốn nhìn thấu Văn hóa đảng thì phải chú ý đến những yếu tố thay đổi và bất biến trong đó. Lá cờ lý tưởng của Đảng Cộng sản đang thay đổi, phương châm chính sách đang thay đổi, đối tượng đả kích cũng đang thay đổi; nhưng chế độ độc tài chuyên chính của đảng thì mãi mãi không đổi, bản chất tà giáo của nó mãi mãi không đổi, thủ đoạn lưu manh của nó mãi mãi không đổi. Vì vậy, mặc dù ở các giai đoạn lịch sử khác nhau, ngôn ngữ đảng thể hiện những đặc điểm khác nhau, gắn bó mật thiết với các cuộc vận động chính trị của Trung Cộng, nhưng bên trong nó vẫn tồn tại một hạt nhân kiên cố, hạt nhân này đại diện cho bản chất của Trung Cộng.

Sự phát triển của ngôn ngữ đảng có thể chia thành một số giai đoạn như sau:

(1) 1919-1937: Giai đoạn phôi thai của ngôn ngữ đảng

Năm 1919, bản dịch toàn văn “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” được xuất bản. Trung Cộng ban đầu được thành lập là một chi bộ của Quốc tế Cộng sản vùng Viễn Đông, vì vậy từ cơ sở lý luận ban đầu cho đến hình thức tổ chức của Trung Cộng đều mô phỏng theo Quốc tế Cộng sản, ngoài các từ ngữ dịch ra thì hoàn toàn không có những ngôn từ đặc trưng riêng của đảng. Thời gian này, lực lượng vũ trang được gọi là “hồng quân”, căn cứ địa được gọi là “tô khu”, khu chia cắt chính quyền gọi là “Xô Viết”, toàn là phụ họa theo Liên Xô.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

(2) 1938-1949: Phủ thêm vẻ ngoài được “Trung Quốc hóa’”

Vì nhu cầu đấu tranh nội bộ đảng, sau khi tháo chạy khỏi Diên An, Mao Trạch Đông vội vàng giành lấy quyền giải thích riêng về chủ nghĩa Mác-xít. Trong hội nghị toàn quốc lần thứ 6 của Trung Cộng năm 1938, Mao đã lần đầu tiên đưa ra khái niệm “Trung Quốc hóa chủ nghĩa Mác-xít”. Sau đó trong cuộc chỉnh phong Diên An, Mao một mặt dùng những ngôn ngữ đảng mới mà tự mình sáng tác ra để đả kích những người bất đồng ý kiến, mặt khác dùng để tẩy não các cán bộ đảng viên; một mặt phản đối những từ ngữ dập khuôn, sáo rỗng, mặt khác dùng ngôn ngữ của mình để tiêu chuẩn hóa văn phong. Cán bộ đảng viên bị ép học thuộc ngôn ngữ của lãnh đạo Trung Cộng, ngôn ngữ của tập đoàn Trung Cộng bước đầu đã được hình thành.

(3) 1949-1966: Giành quyền làm chủ ngôn ngữ

Trung Cộng đã cướp lấy chính quyền ở Trung Quốc Đại lục, đồng thời cũng giành lấy cả quyền thao túng ngôn ngữ trên mảnh đất này. Tất cả các cơ quan chi phối hệ thống ngôn ngữ tiêu chuẩn như – xuất bản, tin tức, học thuật, giáo dục, đều nằm trong tay giới quan chức, kết hợp với bộ tuyên truyền trung ương độc tài cùng hệ thống tuyên truyền phía dưới, hệ thống huấn luyện và tổ chức sinh hoạt cho cán bộ, các cơ quan giáo dục tư tưởng như trường cán bộ đảng trung ương và địa phương. Ngôn ngữ đảng đã mở rộng đến các ngành nghề, các giai tầng, các độ tuổi, các ngõ ngách ở Trung Quốc. Nó không chỉ được hợp thức hóa mà còn trở thành ngôn ngữ hợp pháp duy nhất. Trung Cộng bắt đầu dùng ngôn ngữ đảng để quét sạch văn hóa truyền thống.

(4) 1966-1976: Thời kỳ đại bùng phát ngôn ngữ đảng

Mười năm cách mạng văn hóa là thời kỳ đại bùng phát, phô trương thanh thế của Văn hóa đảng. Những tấm áp phích, khẩu hiệu rợp trời, các cuộc tranh luận với lời lẽ đanh thép, những bài hịch văn phê phán kẻ phản bội, các sắc lệnh (chỉ thị cao nhất)… Bạo lực ngôn ngữ được đẩy đến đỉnh điểm, người dân kinh hồn bạt vía khi tận mắt chứng kiến sự phá hủy ngôn ngữ truyền thống. Ngôn ngữ đảng đã hoàn toàn thay thế ngôn ngữ bình thường của con người, đến lúc này người Trung Quốc không còn biết nói những lời bình thường nữa.

(5) 1976-1989: Thời kỳ ngôn ngữ đảng hỗn hợp biến dị

Sau “cải cách mở cửa”, Trung Cộng có chút nới lỏng kiểm soát trong lĩnh vực kinh tế và văn hóa, một số ít từ ngữ thông thường được cho phép sử dụng trở lại, ví dụ đầu những năm 80 đã từng có các cuộc thảo luận về “chủ nghĩa nhân đạo”. Nhưng do Trung Cộng trong suốt 30 năm kể từ ngày thành lập đã liên tục nhồi nhét ngôn ngữ đảng vào đầu người dân, cũng do Trung Cộng quyết không buông lỏng kiểm soát trong lĩnh vực chính trị, nên ngôn ngữ đảng vẫn giữ vị trí chi phối trong hệ thống ngôn ngữ của người Trung Quốc, người ta đã mất đi khả năng phân biệt và khả năng miễn dịch đối với ngôn ngữ đảng.

(6) Từ năm 1989 cho đến nay: Thời kỳ suy đồi bại hoại

Vào thời kỳ Giang Trạch Dân nắm quyền, đằng sau vẻ bề ngoài phồn vinh của xã hội Trung Quốc tiềm ẩn rất nhiều mâu thuẫn, cuộc sống vô vị, đạo đức tuột dốc, tư tưởng khô kiệt, cải cách thụt lùi, các tệ nạn xã hội lan tràn, ngôn ngữ đảng càng thêm sáo rỗng, không có nội dung gì (“Dùng thuyết Tam đại biểu để chỉ đạo công tác giết mổ của chúng ta” – biểu ngữ tại một cơ sở giết mổ gia súc ở Đồng Nhân, Quý Châu), nó thể hiện sự suy thoái của thời kỳ cuối cách mạng. Ngôn ngữ đảng thời kỳ cuối có ý đồ mượn thuật ngữ Tây phương, thuật ngữ khoa học kỹ thuật (công trình XX) và một số cách dùng từ theo văn hóa truyền thống (đức trị) để cứu vãn số mệnh suy tàn của mình. Ngôn ngữ đảng và một lượng lớn dân ca, truyện cười chính trị đã tạo nên hiện tượng cộng sinh lạ lùng, nó thể hiện sự suy đồi toàn diện của xã hội và thái độ tự chế giễu trong tuyệt vọng của người dân.

3) Ngôn ngữ đảng mang tính giai đoạn và ngôn ngữ đảng mang tính chế độ

Căn cứ vào việc sử dụng từ ngữ xuyên suốt theo các giai đoạn phát triển của Trung Cộng, có thể chia ngôn ngữ đảng thành hai loại “ngôn ngữ đảng mang tính giai đoạn” và “ngôn ngữ đảng mang tính chế độ”. Ngôn ngữ đảng mang tính giai đoạn là ngôn ngữ được sáng tạo và sử dụng trong các cuộc vận động chính trị của Trung Cộng, nó mang tính tạm thời và dễ loại bỏ. Còn ngôn ngữ đảng mang tính chế độ lại xuyên suốt qua các thời kỳ kể từ khi thành lập Trung Cộng đến nay, nó là ngôn ngữ nòng cốt nhất, trọng yếu nhất, và thể hiện rõ nhất bản chất của Trung Cộng. Ngôn ngữ đảng mang tính giai đoạn thể hiện sự “thay đổi” của Trung Cộng, còn ngôn ngữ đảng mang tính chế độ thể hiện sự “bất biến” của Trung Cộng. Nếu ngôn ngữ đảng mang tính giai đoạn như là phù sa trôi theo dòng nước, thì ngôn ngữ đảng mang tính chế độ như lòng sông kiên cố. Sự lừa gạt của Trung Cộng thể hiện ở chỗ chúng thu hút sự chú ý của mọi người vào ngôn ngữ đảng mang tính giai đoạn, mỗi lần qua một cuộc vận động chính trị, chúng liền nhanh chóng đào thải những ngôn ngữ đó, thay hình đổi dạng để lừa gạt mọi người. Những người tưởng rằng “Trung Cộng đã thay đổi”, “Trung Cộng ngày hôm nay đã không còn là Trung Cộng ngày hôm qua nữa”, đều không nhận ra mối liên hệ giữa ngôn ngữ đảng mang tính giai đoạn và ngôn ngữ đảng mang tính chế độ này.

Những cuộc vận động chính trị không ngừng đã sản sinh ra rất nhiều từ ngữ mới, như ví dụ dưới đây (Bảng 4):

Niên đại Vận động chính trị Ngôn ngữ đảng
1942 Vận động Chỉnh Phong Chủ nghĩa chủ quan, chủ nghĩa bè phái, chủ nghĩa tự do, thẩm can, diệt phản, cứu giúp những người sa ngã, tin vịt, bức cung, hạ nhục, loại bỏ tư tưởng xấu
1947-1950 Cải cách ruộng đất Ba kiểm tra, ba chỉnh đốn, dựa vào tầng lớp bần nông, cố nông, đoàn kết tầng lớp trung nông, tầng lớp phú nông trung lập, vùng lên, đánh bọn cường hào, chia lại ruộng đất
1951-1952 Tam phản ngũ phản Các nhà tư bản phạm pháp, chống lại sự lãnh đạo kinh tế theo chủ nghĩa xã hội, nhảy dù (nhảy lầu tự sát)
1957 Phản hữu Trăm hoa đua nở, dụ rắn ra khỏi hang, âm mưu thủ đoạn, cánh hữu, phần tử chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh, mở rộng tấn công trên mọi mặt
1958-1960 Đại nhảy vọt Đường lối chung chủ nghĩa xã hội, công xã nhân dân, nhất đại nhì công (quy mô lớn và mức độ công hữu hóa cao), tiến hành cách mạng trên ba phương diện (hình thành đường lối chung, bắt đầu bằng đại nhảy vọt, thực hiện công xã nhân dân), cánh đồng vạn tấn, ba năm tai họa thiên nhiên
1963-1966 Tứ thanh Vận động giáo dục xã hội chủ nghĩa ở vùng nông thôn, đoàn kết các tầng lớp bần nông, cố nông, trung nông, bốn loại cán bộ không trong sạch
1966-1976 Đại Cách mạng Văn hóa Bè phái, xuất hiện phản cách mạng, trợ giúp phe cánh tả, càn quét, đấu văn, đấu võ, đấu tố, chuồng bò (các cơ quan, đơn vị nơi hạn chế tự do của các phần tử cánh hữu), phê bình sửa chữa, thuyết đỉnh cao (tư tưởng Mao là đỉnh cao của chủ nghĩa Marx Lenin), bài ca cách mạng, điệu múa cách mạng xin chỉ thị vào buổi sáng, báo cáo lại vào buổi tối, sách đọc hàng ngày, nhuộm đỏ đại dương, sách quý cách mạng, hồng vệ binh, phe tạo phản, phe theo tư bản, lũ thối tha, lũ chó má, lật lại bản án, đứng nhầm hàng ngũ, đại đoàn kết, tấm gương cách mạng, đại hội đỏ, hậu đài đen, đội tuyên truyền, đấu tư phê tu (đấu tranh chống tư hữu, phê phán chủ nghĩa xét lại, phê phán giai cấp tư sản), văn công võ vệ (dùng ngòi bút làm vũ khí, dùng vũ lực để phòng vệ), hưng vô miệt tư (đề cao tư tưởng giai cấp vô sản, xóa bỏ tư tưởng giai cấp tư sản), chiến sĩ cách mạng trẻ, kẻ phản động, trào lưu phản động vào tháng 2, lên rừng xuống biển, cây đại thụ (chỉ vị thống soái Mao), phê phán Lâm Bưu, Khổng Tử, pháp quyền của giai cấp tư sản, quyền lực của giới trí thức phản động, vận động thanh trừng giai cấp, trời đất bao la ta có đất dụng võ
1977-1989 Thời kỳ “cải cách mở cửa” Thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm chân lý, cải cách mở cửa, mò đá qua sông, mèo trắng mèo đen, bốn nguyên tắc cơ bản, bốn hiện đại hóa, ưu tiên một số người giàu lên, xã hội chủ nghĩa mang đặc sắc Trung Quốc, gột rửa sự tha hóa về tinh thần, phản đối tự do hóa giai cấp tư sản, bốn loại người mới, năm bài giảng bốn đức tính ba yêu mến.
1989-2002 Thời kỳ Giang Trạch Dân Tam giảng, tam đại biểu, tám điểm của Giang Trạch Dân, theo kịp thời đại, nền văn hóa tiên tiến, sự ổn định làm nên tất cả
Từ năm 2002 đến nay Thời kỳ Hồ Cẩm Đào Xã hội hài hòa, lấy dân làm gốc, giữ vị trí tiên phong, bát vinh bát nhục, trỗi dậy trong hòa bình, quan điểm về phát triển khoa học, quan điểm về vinh nhục của Chủ nghĩa Xã hội

Ngôn ngữ đảng mang tính chế độ được xây dựng trong quá trình vận hành của đảng (gắn liền với tổ chức), như “tuyên truyền, quán triệt, chấp hành, đấu tranh, chiến sỹ thi đua, đại biểu, tinh thần hội nghị, đường lối, nhận thức, lãnh đạo, cấp trên, hiệu triệu, phấn đấu, ủy ban, báo cáo tư tưởng, tự kiểm điểm, phê bình và tự phê bình” v.v.. những từ ngữ này trực tiếp định ra quyền lực của đảng, kết cấu tổ chức, sự khống chế tư tưởng, thủ đoạn thống trị và mối quan hệ với quần chúng nhân dân của “đảng”, đó là loại ngôn ngữ thể hiện rõ nhất thuộc tính tà giáo của Trung Cộng.

4) Mối quan hệ giữa ngôn ngữ đảng và ngôn ngữ bình thường

(1) Ngôn ngữ đảng bám rễ vào ngôn ngữ dân tộc

Trung Cộng không hề tự sáng tạo ra một loại ngôn ngữ nào, nó kế thừa hình thức căn bản của ngôn ngữ dân tộc và nhồi nhét vào đó nội hàm của Văn hóa đảng, làm biến đổi từ gốc rễ ngôn ngữ dân tộc Trung Hoa. Do bị ngôn ngữ đảng bám rễ như một phụ thể, Hán ngữ hiện đại tuy ngữ âm biến đổi không nhiều và vẫn sử dụng những từ vựng cơ bản, nhưng cú pháp câu đã bị thay đổi, chủ yếu là do Hán ngữ bị Âu hóa sau cuộc vận động văn bạch thoại. Sự thay đổi và biến dị của Hán ngữ dưới sự thao khống của Trung Cộng thể hiện ở những phương diện sau đây.

(2) Sáng tạo ra lượng lớn từ mới

Như: Khu Xô viết, vùng căn cứ giáp ranh, hồng quân, đấu tranh, trường chinh, mặt trận thống nhất, chỉnh phong, cải cách ruộng đất, tổ đổi công, hợp tác hóa, doanh nghiệp liên doanh nhà nước tư nhân, túc phản (quét sạch bọn phản động), điều cán bộ xuống cơ sở rèn luyện (đi đày), đại nhảy vọt, đường lối chung, công xã nhân dân, an cương hiến pháp (cải cách chế độ, đưa cán bộ đi lao động, đưa công nhân lên làm quản lý), quốc khánh, con người dẻo dai, bền bỉ, cánh đồng ở Đại Trại, tinh thần Long Giang, hồng vệ binh, tấm gương cách mạng, theo phe tư sản, phe tạo phản, đại đoàn kết, đội tuyên truyền, trợ giúp phe cánh tả, phê bình quy mô lớn, tự do phát biểu ý kiến, đội quân thanh trừng giai cấp, ủy ban cách mạng, đội quân tóc dài cách mạng, phiếu lương thực, phiếu vải, phiếu dầu, dấu ấn giai cấp, thống soái chính trị, gió đông áp đảo gió tây (phe chính nghĩa áp đảo phe phản diện), phải nắm bằng hai tay v.v.. Những từ ngữ này đều do Trung Cộng tạo ra trong quá trình hoạt động và trong các cuộc vận động chính trị, mặc dù sử dụng Hán ngữ, nhưng bản chất lại khác hẳn với nội hàm văn hóa dân tộc, nó hoàn toàn mang màu sắc văn hóa đảng.

(3) Làm sai lệch ý nghĩa của Hán ngữ

Một số từ vốn là từ vựng tiếng Hán, nhưng do bị Trung Cộng sử dụng sai lệch ý nghĩa trong thời gian dài, khiến cho ý nghĩa của những từ này bị bóp méo, rồi bị định nghĩa lại trong từ điển, do vậy trở thành nghĩa cơ bản hoặc một trong những nghĩa cơ bản của từ vựng đó, ví dụ như tích tiểu thành đại, nhắm mắt làm theo,mọi người vẫn tưởng rằng nghĩa gốc của những từ này là như thế, nên không có cảm nhận về nhân tố văn hóa đảng trong đó.

Như: Bí thư (vốn là nhân viên thư ký, một chức vụ gần giống với văn thư. Trung Cộng tự quảng cáo mình là “toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân”, vì vậy gọi giáo chủ của tà giáo Trung Cộng – người có quyền lực tối cao là “bí thư”, khiến người ta lầm tưởng đó là người “gần gũi với dân”, “phục vụ nhân dân”), kiểm thảo (nghĩa gốc là kiểm tra, nghiên cứu, thảo luận, ở Đài Loan vẫn sử dụng theo nghĩa này. Ép mọi người “kiểm thảo” là một trong những thủ đoạn chủ yếu mà Trung Cộng dùng để áp chế tư tưởng của quần chúng, đảng viên. Dưới chế độ thống trị Trung Cộng, từ đảng viên cấp dưới cho đến lãnh đạo trung ương, từ học sinh tiểu học đến giáo sư lâu năm, ai cũng từng bị ép viết “kiểm thảo”. Trong “sổ kiểm thảo”, mọi người bị ép nhận rằng mình đã phạm lỗi, phải đào bới tận căn nguyên những sai lầm trong tư tưởng của bản thân, thể hiện quyết tâm đi theo “đảng”, mong có được sự khoan hồng của tổ chức), mê tín (người ta chỉ cần say mê tin tưởng vào điều gì đó, thì chính là mê tín, bản thân từ này không có nghĩa xấu. Con người đều ở trong mê, chỉ khác nhau là có “tin” hay “không tin” mà thôi. Nếu người ở trong mê có thể tin thần, tin thiên lý, tin thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo, thì toàn bộ xã hội sẽ giữ được tiêu chuẩn đạo đức cao, như vậy đều tốt cho tất cả mọi người. Trung Cộng đã nhồi nhét nội hàm “mê muội”, “lạc hậu”, “phản khoa học” vào trong từ “mê tín”, không chỉ làm biến dị Hán ngữ, mà còn làm bại hoại đạo đức xã hội), giác ngộ (vốn là một từ mang sắc thái văn hóa tu luyện, chỉ người thông qua tu luyện đạt được đại trí huệ và năng lực to lớn, “Phật” trong tiếng Phạn vốn có nghĩa là người giác ngộ thông qua tu luyện; Đảng Cộng sản đã liên hệ từ này với mức độ bị tẩy não của các đảng viên, nếu đảng tính áp đảo nhân tính thì chính là “giác ngộ cao”, nếu không thì là “giác ngộ kém”) v.v..


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Trung Cộng biến nghĩa ví von của một số từ thành nghĩa thông thường, khiến cho những từ này cũng bị nhiễm màu sắc Văn hóa đảng. Ví dụ: gánh nặng (nguyên nghĩa là bưu kiện, hiện nay thường được dùng để chỉ gánh nặng tư tưởng. Người bị Trung Cộng tẩy não thường phải chịu sự xung đột giữa “đảng tính” và “nhân tính”, “nhân viên công tác tư tưởng chính trị” của Trung Cộng thường khuyên người ta “vứt bỏ gánh nặng tư tưởng”, có nghĩa là chỉ cần vứt bỏ nhân tính, thì sẽ không còn sự dằn vặt của lương tâm nữa), tóc, mũ, gậy (“túm tóc”, “chụp mũ”, “quật ngã” là những thủ đoạn thường dùng trong các cuộc vận động chính trị của Trung Cộng. Túm tóc nghĩa là nắm chắc lấy điểm yếu của kẻ thù chính trị; chụp mũ nghĩa là chụp thêm cho kẻ thù chính trị hoặc đối tượng đả kích một tội danh đáng sợ, như “phản đảng phản xã hội chủ nghĩa”, “công kích Mao chủ tịch”, “hữu khuynh” v.v.. ban đầu làm ra vẻ “nhân đạo” để chiếm lấy thế thượng phong, sau đó thẳng tay trừng trị mà không phải lo lắng gì; quật ngã chính là “đấu tranh tàn khốc, công kích vô tình”).

Trung Cộng là một tổ chức tà giáo khống chế các thành viên của nó vô cùng chặt chẽ, nó dùng cách khống chế quân đội để khống chế toàn xã hội. Thể hiện trên ngôn ngữ là rất nhiều từ ngữ đằng đằng sát khí dùng trong quân sự đã trở thành những từ ngữ thường nhật, đây cũng là lý do chính vì sao người Hoa hải ngoại và người dân Hồng Kông cảm thấy lời nói của người dân Đại lục đầy tính sát khí. Chúng ta thường thấy các từ như “đội ngũ” (chỉ tập thể, đoàn đội), chiến tuyến (chỉ một lĩnh vực nào đó, đại lục có một tạp chí khoa học  có tên là “mặt trận khoa học xã hội”, “lính”, “chiến sỹ” (chỉ thành viên, nhân viên công tác, thường đi cùng với từ với “mặt trận”, như “một người lính mới trên mặt trận giao thông của đảng”), “tiêu diệt” (chỉ ăn hết, làm hết v.v.. như “anh phải tiêu diệt hết đĩa rau này”), “trận tiêu diệt” (chỉ hoàn thành nhiệm vụ, như “chúng ta tiêu diệt trận này nhé”), “sức chiến đấu” (“tôi không còn sức chiến đấu nữa rồi” nghĩa là “tôi không ăn được nữa rồi”), “thu dọn chiến trường” (chỉ công tác khắc phục hậu quả), “Tinh giảm biên chế” (chỉ việc sa thải nhân viên dư thừa) v.v..

(4) Thay đổi sắc thái tình cảm của từ vựng

Thế giới quan của Văn hóa đảng và văn hóa truyền thống hoàn toàn tương phản với nhau, Trung Cộng quen với việc biến điều giả dối thành sự thật, biến thứ xấu xa thành tốt đẹp, biểu hiện trên ngôn ngữ chính là làm đảo lộn hàm nghĩa tốt xấu của một số từ. Từ “đấu tranh”, “tính chiến đấu” chưa từng được văn hóa nhân loại bình thường ca ngợi, nhưng Trung Cộng lại coi nó là những hành vi, tư tưởng đúng đắn nhất và truyền bá rộng rãi. Đồng thời những từ vốn có ý nghĩa tốt đẹp hoặc những từ trung tính lại bị mang nghĩa tiêu cực. Như từ “người lương thiện” (trong “vận động cải cách ruộng đất” Trung Cộng thường dùng để nói về “địa chủ”, như “địa chủ Vương là người lương thiện”, “địa chủ Lý là người lương thiện”. Sau khi Trung Cộng phát huy sở trường của nó trong việc phỉ báng, vu khống “địa chủ” thì “người lương thiện” trở thành đồng nghĩa với “kẻ gian ác”), “trung thành”, “nhân ái”, “lễ nghĩa”, “hiếu thuận”, “thanh liêm”, “công hầu đế vương”, “tài tử giai nhân” (Trung Cộng đã biến những từ này thành từ mô tả “chủ nghĩa phong kiến”), “nhân tính”, “dân chủ” (Trung Cộng gọi là thuộc về “giai cấp tư sản”), “giải thưởng” (“chủ nghĩa giải thưởng” nghĩa là chỉ chú ý đến nâng cao kỹ năng làm việc mà thiếu đi “tinh thần cách mạng”) v.v..

(5) Thay đổi hàm nghĩa liên tưởng của từ vựng

Ý nghĩa của một từ vựng bao gồm nghĩa lý tính, nghĩa cảm tính, nghĩa kết hợp, nghĩa liên tưởng. Nghĩa liên tưởng là chỉ một từ sau nhiều lần sử dụng, khiến người ta liên tưởng đến một ý nghĩa nhất định nào đó, chỉ cần nói ra từ này thì người ta sẽ liên tưởng đến một câu nói, một bối cảnh xã hội, thậm chí là một hình thức văn hóa nhất định.

Ví dụ, màu đỏ vốn là một màu sắc phổ thông, nhưng vì Trung Cộng dùng màu đỏ để chỉ “cách mạng”, “tính cách mạng”, nên chỉ cần nhắc đến màu đỏ, người ta liền liên tưởng đến một loạt các thông tin liên quan đến cách mạng của đảng cộng sản, như “giang sơn cách mạng”, “người tiếp nối cách mạng”, “làm việc hết mình với một lòng nhiệt huyết cách mạng”, “tua du lịch đến các địa điểm kỷ niệm cách mạng”, “ký ức cách mạng”, “ánh sao cách mạng lấp lánh” v.v..

Trung Cộng khống chế xã hội một cách toàn diện và nghiêm ngặt, nó nhồi nhét Văn hóa đảng trong suốt thời gian dài bằng số lượng lớn từ ngữ với các cấp độ khác nhau. Ví dụ, “mưa gió” (chỉ đấu tranh, như “trải qua mưa gió, mới hiểu rõ cuộc đời”), “món hàng” (chỉ đồ vật, ví dụ như “ món hàng lỗi thời của giai cấp tư sản”), “bàn tính” (chỉ kế hoạch, ý tưởng, ví dụ “kẻ địch đã bàn tính sai”), “khoác áo” (chỉ vẻ bề ngoài, đồ ngụy trang, ví dụ Trung Cộng nói Lâm Bưu là “khoác áo của chủ nghĩa Marx Lenin, thực hành theo đạo của Khổng Mạnh”), “sau cơn mưa trời lại sáng” (Nhằm tô vẽ cho bản thân, Trung Cộng thường dùng cách nói này để ví với “sự quan tâm của đảng”), “thăm hỏi ân cần” (trải qua sự tuyên truyền lâu dài của Trung Cộng, từ này thường khiến người ta liên tưởng đến các cán bộ Trung Cộng “quan tâm đến quần chúng nhân dân”) v.v..

(6) Cố tình đào thải, đưa từ vựng truyền thống ra ngoài lề

Trong quá trình xây dựng Văn hóa đảng, Trung Cộng một mặt tạo ra nhiều từ mới hoặc làm sai lệch ý nghĩa của từ vựng tiếng Hán, mặt khác lại cố tình đào thải hoặc đưa từ vựng trong văn hóa truyền thống ra ngoài lề, ví dụ những từ ngữ liên quan đến tu luyện (Thái cực Bát Quái, Hà đồ Lạc thư, âm dương ngũ hành, đan kinh đạo tạng), từ ngữ liên quan đến đạo đức truyền thống (nhân quả báo ứng, nhân nghĩa lễ trí tín) v.v.. Trong xã hội truyền thống, “nhân quả báo ứng” là nhận thức chung của toàn thể các thành viên trong xã hội, nó có vai trò to lớn trong việc duy trì tiêu chuẩn đạo đức của người dân và ổn định trật tự xã hội. Trong Văn hóa đảng, từ này không bị bỏ đi hẳn mà bị biến thành nghĩa tiêu cực, trở thành đối tượng bị coi thường, khinh miệt, nhạo báng.

(7) Cấu trúc câu, hành văn và tu từ

Ngôn ngữ đảng còn biểu hiện ở một số cấu trúc câu, cách hành văn và các biện pháp tu từ . Tính đấu tranh của Trung Cộng thẩm thấu vào trong mọi phương thức dùng từ, biểu hiện là trong ngôn ngữ có mang ý thức đấu tranh, nói lời không hay thì dễ mà nói lời hay thì khó, thường dùng những câu hỏi vặn và câu nói mỉa mai, khiến cho đối phương rơi vào trạng thái bị động, lúng túng, khó xử.

Khi chứng minh một đạo lý, người bị ảnh hưởng bởi Văn hóa đảng không giảng đạo lý với một tâm thái bình tĩnh, ôn hòa, từ bi với mọi người, mà là ngụy biện, cãi lý, có lý thì nói cho đến cùng, không có lý thì cũng cãi bằng được, thái độ vênh váo, hung hăng. Có người đã chỉ ra một vài đặc điểm trong “hệ thống ngôn ngữ của Mao Trạch Đông”, những đặc điểm này không nhiều thì ít đã thẩm thấu vào trong phương thức sử dụng ngôn ngữ của người Trung Quốc. Những đặc điểm này bao gồm:

Thứ nhất, định tính. Ví dụ: “XXX là người thế nào? Là con chó trung thành của thế lực phản động người Hoa ở nước ngoài.” Thứ hai, gán tên cho cả nhóm. Điều thuận tiện ở đây là không thế chứng minh được anh ta đang bịa đặt, hơn nữa anh ta cũng không phải chịu bất cứ trách nhiệm nào khi phát ngôn. Ví như nói: “Ai cũng biết rằng, quảng đại nhân dân Trung Quốc sớm đã nhìn rõ bộ mặt thật của hắn.” Thứ ba, đó là đẩy trách nhiệm tìm chứng cứ cho đối phương, trên thực tế bản thân anh ta không thể chứng minh lời nói của mình, nhưng lại làm như thể người khác cũng không thể chứng minh, từ thường dùng nhất là “không thể nói cho người khác” hoặc “có dụng ý xấu”. Như “nhất cử nhất động của hắn ta đều có mục đích chính trị ở bên trong.” Thứ tư, hết thảy chứng cứ đều là giả. Đối với những sự thật không thể phản bác được thì anh ta sẽ chụp mũ cho là “đạo đức giả”, “có ác ý”, “thông tin giả”. Ví dụ, “Hắn ta cứ luôn miệng nói rằng XXX, thực tế đều là giả dối, chỉ có đảng chúng ta mới thực sự bảo vệ XXX.” Sau khi tội ác mổ cướp nội tạng học viên Pháp Luân Công của Trung Cộng bị bại lộ, “người phát ngôn tin tức” của Trung Cộng giảo hoạt nói rằng: “Gần đây truyền thông nước ngoài ngụy tạo tin tức giả về hoạt động cấy ghép nội tạng của nước ta, công kích chế độ tư pháp nước ta một cách đầy ác ý.” Thứ năm, tóm lại, không cho đối phương bất cứ đường thoái lui nào. Như: “Cho dù hắn ta giảo hoạt thế nào cũng không thể phủ nhận bản chất thực XXX của hắn.” Thứ sáu, tự hạ thấp bản thân, kiểu như: “Ta là lưu manh nên ta chẳng sợ ai.” Hay: “Đảng cộng sản chúng ta chính là phải đập cho kẻ phản động như hắn ta một cách không thương tiếc, không được nhân nhượng chút nào.”

Cấu trúc câu và hành văn bộc lộ rõ lối tư duy biến dị và tà ác của Trung Cộng, có thể do từ ngữ đặc thù của Trung Cộng tạo thành, hoặc do từ ngữ phổ thông tạo thành. Cho dù thế nào, những câu văn này đều được tạo nên bởi phương thức tư duy Văn hóa đảng, tất cả đều có dấu ấn rõ nét của Văn hóa đảng.

(8) Ngôn ngữ đảng là một hệ thống

Ngôn ngữ tồn tại một cách có hệ thống. Cách biểu đạt ý nghĩa và cách sử dụng từ đều chịu sự chế ước của cả hệ thống. Ngôn ngữ đảng cũng được xây dựng theo hệ thống. Trong quá trình này, một mặt Trung Cộng tạo ra một lượng lớn từ ngữ (cùng với chế độ danh xưng từ ngữ), mặt khác, từ ngữ trong cuộc sống thường nhật, từ ngữ trong văn hóa truyền thống, từ ngữ trong văn hóa ngoại quốc bị tổ chức lại trong hệ thống ngôn ngữ đảng và mang thêm ý nghĩa mới. Vì vậy, trong ngôn ngữ mà người Trung Quốc sử dụng hiện nay, những từ vựng vốn có của Hán ngữ mặc dù chiếm số lượng không ít, nhưng do ý nghĩa và cách dùng từ đó bị Trung Cộng cải biến mạnh mẽ, nên những từ phổ thông này đa số đều mang sắc thái Văn hóa đảng.

“Đảng” giống như một trường hấp dẫn mạnh mẽ. Nó giống như một ngôi sao đã tắt lao vào hệ mặt trời, trong nháy mắt có thể thay đổi cách sắp xếp các hành tinh trong hệ ngân hà, “đảng” xâm nhập vào không gian ngôn ngữ Trung Quốc, làm thay đổi trường ngữ nghĩa và cách biểu đạt ý nghĩa của Hán ngữ. “Đảng” giống như một nguồn gây ô nhiễm mạnh mẽ. Những nơi nào Văn hóa đảng vươn đến thì ngôn ngữ bình thường ở đó đều khó tránh khỏi bị nhiễm độc tố.

5) Ngôn ngữ đảng thực chất là ngôn ngữ của xã hội đen được Trung Cộng truyền bá toàn xã hội

Từ khi thành lập, Trung Cộng đã là một bè lũ lưu manh, chỉ là sau khi nó cướp đoạt được chính quyền thì “kẻ cướp lại trở thành vua”, bè lũ lưu manh được chính quyền hóa, tà giáo trở thành quốc giáo, trong lịch sử nhân loại chưa từng xuất hiện tình huống này, do vậy dù có trí tưởng tượng phong phú đến đâu, người ta cũng không thể hình dung nổi hoặc hoàn toàn không dám nghĩ đến sự thực này. “Cửu Bình Cộng sản đảng” đã lần đầu tiên tiết lộ Trung Cộng là một tà linh, tà giáo, là thế lực lưu manh phản vũ trụ, trên một ý nghĩa nhất định, quyển sách đã bắt đầu cho một quá trình “tìm lại sự thật”, giúp mọi người có một cái nhìn đúng đắn về Trung Cộng.

Vì vậy, ngôn ngữ đảng thực chất là một loại ngôn ngữ xã hội đen, hoặc là “từ lóng của tập đoàn”, “từ lóng chính trị”. Thực chất việc Trung Cộng phổ biến ngôn ngữ đảng chính là đem ngôn ngữ xã hội đen truyền bá đến toàn thể thành viên xã hội.

Ngôn ngữ xã hội đen còn gọi là ngôn ngữ bí mật, là ngôn ngữ được sử dụng trong xã hội đen, trong nội bộ bang phái. Loại ngôn ngữ này thường không có ngữ âm độc lập và hệ thống ngữ pháp, nó là một hiện tượng biến dị ngôn ngữ như một phụ thể bám vào ngôn ngữ xã hội bình thường. Ngôn ngữ đảng hoàn toàn phù hợp tiêu chuẩn này.

Ngôn ngữ xã hội đen có chức năng giao tiếp, chức năng bảo mật và chức năng nhận biết. Chức năng giao tiếp nghĩa là ngôn ngữ xã hội đen có thể có tác dụng biểu đạt và trao đổi ý kiến trong nội bộ bang phái; chức năng bảo mật chỉ người ngoài bang phái không thể hiểu được hàm nghĩa của ngôn ngữ đen; chức năng phân biệt nghĩa là căn cứ vào việc thành viên bang phái có sử dụng và hiểu được ngôn ngữ lóng của bang phái đó hay không để phán đoán xem họ có phải là “người mình” hay không. Đáng chú ý là, chức năng giao tiếp và chức năng bảo mật của ngôn ngữ đều được đồng thời thực hiện, bởi vì nếu không có hành vi giao tiếp thì không có bí mật để giữ; sử dụng ngôn ngữ xã hội đen có thể có tác dụng biểu đạt ý kiến với các thành viên trong bang phái, mà vẫn có thể giữ được bí mật  đối với người ngoài.

Ngôn ngữ đảng có ba chức năng, nhưng phương thức phát huy tác dụng của ngôn ngữ đảng thì rất phức tạp. Mọi người đã quen thuộc với những lời thoại ngôn ngữ xã hội đen trong vở kịch cách mạng điển hình “Dùng mưu trí để dọa hổ”, như “thiên vương cái địa hổ”, “bảo tháp trấn yêu ma”, từ bề mặt chữ thì hoàn toàn không hiểu được ý nghĩa gì, tất nhiên chỉ có những người biết được quy tắc giải mã của ngôn ngữ xã hội đen mới hiểu được. Nhưng những câu đằng sau “sao mặt đỏ thế” và “sao lại sợ xanh mặt rồi”, nghe vừa giống lời của người thường, vừa giống ngôn ngữ đen, có thể hiểu theo hai tầng nghĩa. Mọi ngôn ngữ đảng của Trung Cộng đều có hai tầng nghĩa này. Tầng nghĩa đầu bao gồm “phần tử tam phản”, “tam danh tam cao” (ba danh hiệu: nhà văn, diễn viên, giáo sư được hưởng ba đãi ngộ: lương cao, nhuận bút cao, thưởng cao), “tam cảo nhất soán” (thực hiện chủ nghĩa xét lại, thực hiện phân tách, thực hiện âm mưu quỷ kế), “Tam hòa nhất thiểu” (Phải hòa hoãn với chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa xét lại và các phe phái phản động trên thế giới; giảm bớt sự hỗ trợ đối với cách mạng thế giới), “Tam tự nhất bao” (Tự do cư trú, tự do buôn bán, tự chịu lời lỗ, bao tiêu sản phẩm), “ba định hướng”, “ba lợi ích”, “ba điều học tập”, “tam đại biểu”, “một trọng tâm, hai điểm cơ bản”, “tăng cường một ý thức, hoàn thiện hai cơ chế, thực hiện ba chuyển biến, nắm vững ba nguyên tắc”, v.v.. nếu không được giải thích thì người bình thường khi đọc hoặc nghe những cụm từ này sẽ hoàn toàn không hiểu (kể cả khi đã nghe giải thích thì cũng rất khó khăn để có thể hiểu được hết). Một số từ khác, nhìn bề ngoài thì giống như từ ngữ bình thường, nhưng lại bị Trung Cộng đưa vào hàm nghĩa đặc biệt, đối với những từ này không thể lý giải từ mặt chữ được. Điểm phức tạp của ngôn ngữ Trung Cộng ở chỗ, cùng một cụm từ nhưng dùng cách giải mã ở tầng thứ khác nhau, có thể hiểu ra những ý nghĩa khác nhau. Càng đứng trên đỉnh kim tự tháp quyền lực của Trung Cộng thì càng nắm rõ được phương thức giải mã, càng có thể nhìn ra hàm nghĩa chân thực của ngôn ngữ đảng Trung Cộng. Ví dụ, gần đây Trung Cộng kêu gọi “xã hội hài hòa”, “lấy nhân làm gốc”, những đảng viên và người dân thường không hiểu rõ ngôn ngữ đen của Trung Cộng có thể sẽ cảm thấy Đảng Cộng sản thực sự vì quần chúng nhân dân, nhưng cán bộ cấp trung của Trung Cộng nắm được phương pháp giải mã nhất định, sẽ có thể lý giải một cách chính xác rằng “bây giờ đã đến thời kỳ ‘hài hòa áp đảo tất cả’, nếu ai dám tố cáo lên trên, khóc lóc kêu oan, nói những lời ‘không êm tai’ thì bộ máy chuyên chính của đảng sẽ không để yên!” Trung tâm quyền lực của Trung Cộng mới nắm được công cụ giải mã cao cấp nhất, chỉ họ mới biết hàm nghĩa thâm sâu nhất của từ “hài hòa”, “lấy dân làm gốc”: Làn sóng thoái đảng đã khiến cho nỗi sợ hãi mất đảng của Trung Cộng tăng lên đến cực điểm, do vậy nó hi vọng rằng hai khẩu hiệu này có lẽ có thể cứu được số mệnh lay lắt của nó, cứu vãn sự sụp đổ của Trung Cộng.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Do cơ chế bảo mật phức tạp của ngôn ngữ đảng Trung Cộng, rất nhiều người ngoại quốc, bao gồm rất nhiều chuyên gia, học giả, chính khách đều bị Trung Cộng lừa gạt mà không biết. Một vị học giả ngoại quốc đã phân tích đặc điểm dùng từ trong bài xã luận đầu năm của “Nhân dân nhật báo” và báo cáo đại hội đảng Trung Cộng, vị này đã dựa vào phương pháp thống kê tần suất từ ngữ để phân tích xu hướng chính trị của Trung Cộng. Nhưng Trung Cộng là kẻ “nói nhưng không làm, làm nhưng không nói”, phương pháp nghiên cứu của vị học giả này không cách nào phát hiện ra xu hướng chính trị của Trung Cộng, cùng lắm chỉ có thể nhận ra xu hướng dối trá của Trung Cộng mà thôi.

Chức năng phân biệt của ngôn ngữ đảng thể hiện ở chỗ, thông qua cách nói của một người, các đảng viên có thể xác định người này có phải thành viên của đảng hay không và mức độ nhận thức của anh ta về Văn hóa đảng đến đâu. Năm 2000 đã xảy ra một sự kiện bất ngờ khi cựu lãnh đạo Trung Cộng Giang Trạch Dân quát mắng một nữ phóng viên Hồng Kông. Nếu chúng ta nhìn lại bối cảnh lúc đó, sẽ phát hiện ra câu hỏi của phóng viên Hồng Kông vô cùng đơn giản, thế nhưng qua câu hỏi đơn giản như vậy, Giang lại phán xét chính xác rằng: Cô phóng viên này không đồng ý với chính sách Hồng Kông của Trung Cộng, nên đã lớn tiếng quát tháo. (Phóng viên: Chủ tịch Giang, ngài cảm thấy việc ông Đổng liên tiếp giữ chức vụ có tốt hay không?/ Giang: Tốt chứ! / Phóng viên: Trung Ương cũng ủng hộ ông ấy ư? / Giang: Đương nhiên rồi / Phóng viên: Không lo rằng việc này sẽ ảnh hưởng đến nền tự trị của Hồng Kông sao? / Giang: Lớn tiếng quát tháo)

Tháng 07 năm 2005, tổ phó “tổ lãnh đạo hoạt động giáo dục đảng viên tiên tiến”, Phó Bộ trưởng Bộ Tổ chức Trung ương Lý Cảnh Điền đã giới thiệu với giới truyền thông về tình hình “duy trì trật tự” của Trung Cộng. Có phóng viên hỏi: “Mấy tháng gần đây, ở vùng nông thôn Trung Quốc xuất hiện một số hiện tượng bạo loạn, xin ông cho biết Đảng Cộng sản Trung Quốc xử lý những vụ bạo loạn này như thế nào?” Lý Cảnh Điền trả lời: “Rất cảm ơn sự quan tâm của cô tới tình hình nông thôn Trung Quốc. Nhưng, tôi có thể khẳng định với cô rằng, những sự việc xảy ra gần đây ở nông thôn Trung Quốc, chúng tôi gọi là “sự kiện mang tính tập thể” chứ không gọi là bạo loạn.” Lý Cảnh Điền ngay lập tức đã nhận ra vị phóng viên này không phải là thành viên của bang phái Trung Cộng.

Sống lâu dài trong chế độ Trung Cộng, để hiểu được tình hình chân thực của bối cảnh chính trị, người Trung Quốc đã phát triển bản lĩnh siêu thường đọc hiểu các văn kiện và báo chí Trung Cộng. Họ rất giỏi phán đoán xu hướng chính trị của Trung Cộng qua các câu chữ, thứ tự sắp xếp các lãnh đạo, hoặc sự thay đổi cách đề xuất vấn đề. Trung Cộng đã lũng đoạn tất cả các nguồn tin tức của người dân, nên họ đành phải làm như vậy. Họ cũng có thể dò tìm ra được đầu mối của những thay đổi về chính trị, nhưng vì phương thức giải mã ngôn ngữ đảng Trung Cộng cũng không ngừng thay đổi, nên cách “giải mã tự phát” này tất nhiên có chỗ phiến diện và sai khác, thậm chí sai khác hàng nghìn lần. Rõ ràng là, thủ đoạn “làm chính trị” bẩn thỉu này của Trung Cộng còn không bằng cả băng đảng xã hội đen, chúng ta làm sao có thể để cho nó tiếp tục hại nước hại dân đây?

Do tập đoàn Trung Cộng chiếm vị trí thống trị đối với quốc gia, nên những “từ lóng của băng đảng”, “ngôn ngữ xã hội đen” trong ngôn ngữ đảng đã được mở rộng thành một loại “từ lóng chính trị”. “Từ lóng chính trị” là một hiện tượng hiếm có trong lịch sử ngôn ngữ học nhân loại, nó cũng chưa từng được phát hiện trong các hình thái xã hội khác, nó lấy lợi ích của tập đoàn làm nòng cốt, khống chế mọi phương thức giao tiếp bằng ngôn ngữ vì mục đích chính trị, truyền bá tư tưởng hẹp hòi, thậm chí tà ác, dùng phương thức hoạt động của bang phái để thay thế cho phương thức vận hành bình thường của quốc gia và xã hội, làm thay đổi tư tưởng và hành vi của con người, chiếm đoạt tinh thần và linh hồn của dân tộc.

5. Đặc trưng của ngôn ngữ đảng

Ngôn ngữ đảng có rất nhiều đặc điểm dễ nhận ra. Ví dụ, ngôn ngữ đảng có tính “giả dối, phóng đại, vu khống”, man rợ, thô tục, sặc mùi máu tanh (theo thống kê “từ điển tần suất Hán ngữ hiện đại” do Trung Quốc Đại lục xuất bản năm 1986, bao gồm tất cả các thực từ và hư từ trong từ vựng Hán ngữ hiện đại, tần suất sử dụng của động từ “chết” đứng vị trí thứ 237, từ “giết” xếp vị trí 940). Ngoài ra, do Đảng Cộng sản giành chính quyền bằng cách tạo phản, quản lý người dân Trung Quốc theo kiểu quân sự hóa, nên từ ngữ mang màu sắc quân sự trong ngôn ngữ đảng có rất nhiều. Ở đây chúng tôi tập trung phân tích bốn đặc trưng của ngôn ngữ đảng.

1) Trung Cộng lũng đoạn quyền định nghĩa từ ngữ

Ngạn ngữ phương Tây có câu: “Việc của Caesar là của Caesar, việc của Thượng đế là của Thượng đế.” “Chính trị chỉ là một mặt của toàn bộ kết cấu xã hội, trong tình huống thông thường chính trị sẽ cùng với tín ngưỡng, đạo đức, tập tục, v.v.. để điều tiết xã hội. Một chính quyền theo nghĩa thông thường sẽ không có ý đồ giải quyết tất cả mọi vấn đề nhân sinh, càng không muốn giải quyết những vấn đề mà con người đều rất quan tâm như “Con người từ đâu đến? Đi về đâu? Mục đích con người sinh ra để làm gì?” Nhưng Trung Cộng là một chính quyền tà giáo mà tôn giáo và chính trị được hợp nhất, nó tất nhiên phải đưa ra một cách giải thích khác về trời, đất, con người, hành vi, sinh hoạt và tư tưởng con người để thay thế cho sự câu thúc và điều tiết đối với xã hội của tín ngưỡng chính giáo, đạo đức truyền thống và phong tục tập quán. Ngôn ngữ đảng mà hệ thống Trung Cộng tạo dựng, đã cấu thành một thế giới ảo tưởng hoàn chỉnh, bao trùm một cách kín kẽ lên thế giới chân thực, quy định thể chế chính trị và kết cấu xã hội, chế ước mọi tư tưởng và hành vi của con người.

Nhìn từ bề ngoài, hệ thống ngôn ngữ đảng là một quá trình biến hóa không ngừng, nhưng, quy tắc căn bản của hệ thống ngôn ngữ đảng thì tuyệt đối không đổi, thay đổi cũng đồng nghĩa với việc tự nó giải thể. Quy tắc căn bản này là: Hệ thống ngôn ngữ đảng là để phục vụ cho việc duy hộ sự thống trị độc tài của tà giáo Trung Cộng, sự “thay đổi” của ngôn ngữ đảng cũng không nằm ngoài việc duy trì lợi ích căn bản của “đảng”. Thế nên, “đảng” tất nhiên sẽ lũng đoạn quyền giải thích hệ thống ngôn ngữ đảng. Điểm này cho thấy ngôn ngữ đảng suy cho cùng là một hệ thống khép kín.

Trong cuốn “Từ điển Hán ngữ hiện đại” (Nhà xuất bản Thương vụ, 1981) của chính quyền Trung Cộng, một lượng lớn cách giải thích từ ngữ tràn ngập sự giáo dục chính trị, tuyên truyền tẩy não của Đảng Cộng sản, Đảng Cộng sản đã biến cuốn sách tra cứu mang ý nghĩa truyền thống thành “từ điển văn hóa chính trị đảng hiện đại”. Những từ dưới đây vẫn đang được sử dụng trong xã hội bình thường, nhưng cách giải thích của Trung Cộng với chúng lại hoàn toàn khác.

“Đảng – chính đảng, ở nước ta là chỉ Đảng Cộng sản Trung Quốc.” “Đảng” trong chữ Khải nghĩa là “tôn sùng sự hắc ám”, Khổng Tử nói: “Quân tử quần nhi bất đảng” (người quân tử không kết bè đảng), “kết đảng” tất nhiên phải “mưu lợi riêng”, “người không cùng ý kiến” thì phải “công kích”,đó là từ mang nghĩa xấu trong truyền thống. “Lập đảng vi công” (thành lập đảng vì lợi ích chung) vốn là cách nói tự bản thân nó đã có mâu thuẫn, trong tu từ học Tây phương được gọi là “từ sửa chữa có tính mâu thuẫn” (oxymoron). Trung Cộng dùng từ “đảng” làm danh từ riêng cho mình, đảng không đâu không có, thống trị tất cả, từ này đã bị Trung Cộng cưỡng chế đưa vào nghĩa tốt, nghĩa chính diện.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

“Giải phóng – bỏ đi sự trói buộc, được tự do và phát triển, dùng để chỉ việc lật đổ sự thống trị phản động.”

“Cách mạng – giai cấp bị áp bức dùng bạo lực để cướp đoạt chính quyền, phá bỏ chế độ xã hội cũ suy đồi, xây dựng chế độ xã hội mới tiến bộ. Cách mạng phá bỏ quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới.”

“Dân chủ – chỉ quyền lợi của nhân dân được tự do phát biểu ý kiến về chính trị, tham gia quản lý chính quyền quốc gia. Dân chủ mang tính giai cấp, như dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, chỉ có dân chủ của giai cấp tư sản, không có dân chủ của giai cấp vô sản. Ở nước ta, nhân dân được hưởng dân chủ rộng rãi và chân chính nhất.”

Trung Cộng không chỉ độc quyền giải thích từ ngữ mà còn độc quyền giải thích pháp luật, quyền giải thích chân lý, cũng là quyền khống chế đối với chân lý. Có quyền bá chủ ngôn ngữ, trong nháy mắt Trung Cộng bất cứ lúc nào cũng có thể ngụy trang thành hóa thân của chân lý.

2) Tính đa tầng thứ và tính lừa gạt của ngôn ngữ đảng

Văn hóa đảng mang tính đa tầng thứ, có thể phân thành Văn hóa đảng bề mặt, Văn hóa đảng trung tầng và Văn hóa đảng tầng thâm sâu. Văn hóa đảng bề mặt thì “hót như khướu”, dùng để lừa gạt và khống chế đại chúng; Văn hóa đảng trung tầng dùng để duy trì các hoạt động căn bản của đảng; Văn hóa đảng tầng thâm sâu có mục đích để duy hộ sự sống còn của đảng, không gì không dùng đến nó, nó là đảm bảo căn bản cho sự tồn tại, phát triển của đảng. Đảng và lãnh đạo đảng không bị chế ước bởi Văn hóa đảng bề mặt, họ chỉ coi Văn hóa đảng bề mặt là một công cụ. Tính đa tầng thứ của Văn hóa đảng là một chướng ngại quan trọng khiến mọi người khó mà nhận thức được bản chất Văn hóa đảng.

Ngược lại, ngôn ngữ đảng cũng có thể phân thành ngôn ngữ đảng bề mặt, ngôn ngữ đảng trung tầng và ngôn ngữ đảng tầng thâm sâu. Ngôn ngữ đảng bề mặt bao gồm những ngôn ngữ mang hình thái ý thức tốt đẹp nhất của Trung Cộng, “vì nhân dân phục vụ”, “nền văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa”, “lấy đức trị quốc”, “xã hội hài hòa”, v.v.. Ngôn ngữ đảng trung tầng phối hợp với quá trình vận hành bình thường của chính quyền Trung Cộng, người bình thường dễ lẫn lộn nó với những từ ngữ hành chính được chính phủ sử dụng thông thường khi thực hiện chức năng quản lý. Ngôn ngữ đảng trung tầng bao gồm những từ ngữ được phân tích kỹ ở phần trước như “tuyên truyền, quán triệt, chấp hành, đấu tranh, chiến sỹ thi đua, đại biểu, tinh thần hội nghị, đường lối, nhận thức, lãnh đạo, cấp trên, hiệu triệu, phấn đấu, ủy ban, báo cáo tư tưởng, tự kiểm điểm, phê bình và tự phê bình”. Ngôn ngữ đảng tầng thâm sâu không có đặc trưng về hình thái, rất có thể chỉ là tiếng lóng, nhưng vì nó phơi bày rõ tính cực đoan, tàn bạo, vô liêm sỉ, bản chất lưu manh của Trung Cộng, nên trong tình huống bình thường nó chỉ lưu truyền trong nội bộ thành phần nòng cốt của Trung Cộng. Loại ngôn ngữ đảng này kiểu như câu nói của Lưu Thiếu Kỳ: “Nịnh nọt, ton hót thì không tốt, nhưng vì công tác cách mạng thì lại tốt và nên làm,” câu nói của Đặng Tiểu Bình: “Học sinh mà không nghe lời thì cho một phát súng là xong,” câu nói của Giang Trạch Dân: “Pháp Luân Công giảng Chân – Thiện – Nhẫn, cho nên có thể thẳng tay mà đàn áp,” v.v.. Đáng lưu ý là, có lúc Trung Cộng để cho ngôn ngữ đảng tầng thâm sâu biểu hiện ra trên bề mặt để biểu đạt mục đích đặc biệt nào đó. Ví dụ Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình có một số câu như: “Tôi là lưu manh thì tôi còn sợ ai,” kiểu bộc bạch như vậy đã kích động sự sùng bái bạo lực của rất nhiều người. Vị tướng trung ương đảng Chu Thành Hổ với luận điệu: “Không tiếc hy sinh Tây An để tất cả các thành phố ở phía Đông đều phải quyết chiến một cuộc chiến tranh hạt nhân với nước Mỹ, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trì Hạo Điền với phát ngôn “dẹp sạch nước Mỹ”, với ý đồ giả vờ “vô tình” tiết lộ cho thế giới, thăm dò phản ứng của nước kia, đồng thời tuyên bố rõ ràng với đối phương rằng nó là một kẻ sẵn sàng liều chết, nhằm gây cú sốc tâm lý cho đối phương.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Quá trình một người bình thường bị Văn hóa đảng khống chế là một quá trình từ nông cạn đến thâm sâu. Ban đầu bị ngôn ngữ đảng bề mặt lừa gạt (sự kích động trong thời kỳ cách mạng, sự ngây thơ, trong sáng của lớp thiếu niên nhi đồng, tinh thần sục sôi nhiệt huyết của lớp thanh niên, tiến thêm một bước nữa là thái độ phản cảm với ngôn ngữ đảng bề mặt (nhưng lại không dám nói ra), rồi khi quen thuộc với nó đến mức thành tự nhiên như ngựa quen đường cũ, người ta lặp lại một cách máy móc ngôn ngữ đảng trung tầng, và trở thành một phần tử của tổ chức tà giáo Trung Cộng. Tiến sâu hơn, người ta phát hiện ra những “lợi ích” của việc dựa vào Văn hóa đảng, thấm nhuần hàm nghĩa chân thực của ngôn ngữ đảng tầng thâm sâu (ích kỷ, cực đoan duy hộ lợi ích và sinh tồn của đảng), từ đó hoàn toàn trói buộc bản thân vào đảng, vinh thì cùng hưởng, nhục thì cùng chịu.

Con người hiện nay phần đông đều vô cùng phản cảm với ngôn ngữ đảng bề mặt, nhưng họ lại nhận thức không rõ thực chất việc dùng ngôn ngữ đảng trung tầng chính là để duy hộ sự thống trị độc tài của Trung Cộng, còn đối với ngôn ngữ đảng tầng thâm sâu thì họ không biết hoặc không dám tin rằng những từ ngữ cực đoan, ích kỷ, tàn bạo, vô liêm sỉ này mới là bản chất thực sự của Trung Cộng. Xét một cách tương đối, ngôn ngữ đảng bề mặt có tính lừa gạt yếu, tính lừa gạt của ngôn ngữ đảng trung tầng rất mạnh. Ngôn ngữ đảng tầng thâm sâu không che đậy sự tà ác của đảng, nên không thể xuất hiện trên các văn kiện và các kênh truyền thông chính thức, không thể quảng bá rộng cho người ta biết. Mặt khác, mức độ tà ác của Trung Cộng vượt khỏi sức tưởng tượng của người bình thường, nên để hiểu được ngôn ngữ đảng tầng thâm sâu cũng cần phải có dũng khí lớn và trí tuệ sáng suốt.

Cần nói rõ rằng, mặc dù Trung Quốc hiện nay hầu như không còn ai tin vào ngôn ngữ đảng bề mặt nữa, nhưng trong tuyên truyền thì Trung Cộng không thể tách khỏi ngôn ngữ đảng bề mặt, vì Trung Cộng cần nó để lừa gạt người ngoại quốc, và tung hỏa mù trong nội bộ Trung Cộng để lừa gạt lẫn nhau, đồng thời lừa gạt lương tâm của các đảng viên.

3) Tính trừu tượng và tính ngụy biện của ngôn ngữ đảng

Lời nói của người bình thường luôn luôn cụ thể, có cảm xúc, dễ hiểu và dễ nắm bắt. Cổ nhân Trung Quốc chú trọng “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, “tự thiên tử dĩ chí vu thứ dân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản” (từ Thiên tử cho đến thường dân, tất cả đều lấy việc tu thân làm căn bản). Một người bất kể có khát vọng lớn đến đâu, thì đều phải bắt đầu từ những việc cơ bản nhất như làm việc tỉ mỉ trước sau như một, hiếu kính phụ mẫu, yêu thương huynh đệ. Tín ngưỡng và hệ thống đạo đức chính thống luôn luôn dùng ngôn ngữ rõ ràng, dễ hiểu để biểu đạt, ví dụ những tiêu chuẩn như “không được giết người”, “không được trộm cướp”, “không được lấy giả làm thật, hãm hại người khác” trong “10 điều răn của Chúa”, vô cùng cụ thể và không cần trình độ giáo dục cao, ai ai cũng có thể hiểu và thực hành theo.

Nhưng, ngôn ngữ đảng Trung Cộng lại mơ hồ, trừu tượng khác thường. Tính trừu tượng cao của ngôn ngữ đảng khiến cho Trung Cộng dễ thay đổi, đùa cợt, ngụy biện, lừa gạt người dân trong nước và thế giới. Trung Cộng cưỡng ép nhồi nhét những từ ngữ của đảng vào đầu những người trí thức và người dân thường, khiến người ta thà tin vào thứ ngôn ngữ rườm rà, khó hiểu của Trung Cộng chứ không tin vào sự phán đoán thông thường của bản thân.

Trước “cải cách ruộng đất”, vùng nông thôn phía Bắc Trung Quốc có mối quan hệ gia tộc vô cùng khăng khít, hài hòa, hoàn toàn không có kiểu đấu tranh giai cấp một sống hai chết, giữa địa chủ và người làm thuê là mối quan hệ hợp tác, hỗ trợ. Nhưng sau khi Đảng Cộng sản đến, ngoài việc kích động, xúi giục lũ lưu manh địa phương tạo phản, nó còn tiêm nhiễm vào người nông dân sự hận thù giai cấp. Đa số mọi người mặc dù cả đời chưa từng gặp phải “địa chủ ác bá” như Trung Cộng miêu tả, nhưng Trung Cộng lại ngụy biện rằng, cướp bóc và áp bức nhân dân lao động là “bản chất giai cấp” của “giai cấp địa chủ”, vì vậy trải nghiệm mang tính “cá biệt” của những người nông dân không thể làm thay đổi kết luận mang tính “khoa học” của  “chủ nghĩa Marx Lenin”, “tư tưởng Mao Trạch Đông”. Một mặt mọi người sợ hãi và lãng quên, mặt khác không thể bác bỏ được cách nói trừu tượng của Trung Cộng về “bản chất giai cấp”, nên dần dần người ta bắt đầu thực sự tin tưởng có tồn tại một giai cấp địa chủ, giai cấp này áp bức bóc lột những người dân nghèo khổ, muốn sống tốt thì hoặc là tiêu diệt bọn họ, hoặc là phải khiến cho họ sống dưới nền chuyên chính vô sản “chỉ được thật thà, không được nói bừa làm bừa”.

Hiện tượng này vô cùng điển hình. Sở dĩ sự dối trá của Trung Cộng có thể thuận lợi thông suốt không trở ngại là do tính trừu tượng và tính ngụy biện của ngôn ngữ đảng. Trong lịch sử Trung Cộng trải qua nhiều cuộc vận động chính trị, đều đã từng xuất hiện hiện tượng này – không tin tưởng những tình cảm, luân lý tự nhiên như tình thân, tình bằng hữu, thậm chí không tin tưởng trải nghiệm của bản thân mình, mà đi tin tưởng những lý luận cực đoan trái ngược với cái tình cái lý thông thường của Đảng Cộng sản. Cũng vì thế mà gây ra biết bao thảm cảnh cha con phản bội lẫn nhau, vợ chồng thù hận lẫn nhau trong thời Cách mạng Văn hóa.

Theo thống kê tại cuốn “Từ điển tần suất Hán ngữ hiện đại”, xét về tần suất sử dụng, từ ‘chủ nghĩa” xếp ở vị trí thứ 37 trên tổng số các từ vựng Hán ngữ hiện đại (bao gồm thực từ và hư từ), và xếp thứ 4 trong số tất cả danh từ (chỉ đứng sau từ “nhân” và hai từ chỉ phương vị “trên”, “trong”). “Chủ nghĩa” xuất hiện 253 lần trong báo cáo đại hội thứ 12 của Trung Cộng, 250 lần trong đại hội thứ 13, 216 lần trong đại hội thứ 14, 253 lần trong đại hội thứ 15, 155 lần trong đại hội thứ 16. Trong các văn kiện, báo chí, sách giáo khoa thường gặp của Trung Cộng, những từ có từ đầu là “chủ nghĩa” gồm có chủ nghĩa Marx Lenin, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa phong kiến, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa bá quyền, chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa chủ quan, chủ nghĩa mệnh lệnh, chủ nghĩa gia tộc, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa mạo hiểm, chủ nghĩa đào tẩu, chủ nghĩa bế quan, chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa tập thể, chủ nghĩa anh hùng, chủ nghĩa quan liêu, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa một cuốn sách (cho rằng mỗi nhà văn cần phải sáng tác một cuốn sách để đời), chủ nghĩa một cốc nước (cho rằng việc đáp ứng nhu cầu giới tính của người phụ nữ cũng bình thường như uống một cốc nước), v.v.. Cho đến nay, có lẽ không ai có thể làm rõ những từ này rốt cuộc là có ý nghĩa gì, nhưng trong các cuộc vận động chính trị của Trung Cộng, cái mũ “chủ nghĩa XX” đã từng đẩy hàng nghìn hàng vạn người vào chỗ chết.

Tính trừu tượng của ngôn ngữ đảng thuận tiện cho Trung Cộng tùy ý giải thích từ ngữ dựa theo nhu cầu chính trị của nó. Nếu từ ngữ sử dụng quá cụ thể, thẳng thắn, mọi người đều có thể đọc hiểu, thì Trung Cộng không dễ dàng mà lừa gạt được. Trừu tượng một chút, mọi người đều thấy mơ hồ, thì Trung Cộng có thể tùy ý giải thích. “Xã hội chủ nghĩa” thời của Mao Trạch Đông là “tiếp tục cách mạng dưới điều kiện chuyên chính giai cấp vô sản”, thời Đặng Tiểu Bình lên thì lại nói rằng nghèo khổ không phải “xã hội chủ nghĩa”, thời của Giang thì có thể cho nhà tư bản gia nhập đảng, rốt cuộc cái gì là “chủ nghĩa xã hội”? Nói trắng ra – phàm là thứ mà Đảng Cộng sản làm thì đều là “chủ nghĩa xã hội”.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Những từ ngữ trừu tượng như “giai cấp”, “đường lối”, “nhận thức”, “cánh tả”, “cánh hữu”, “tiến bộ”, “phản động”, “chế độ công hữu” (người dân chỉ được sở hữu trên lý thuyết, chỉ Trung Cộng  thực sự được sở hữu), “chủ nghĩa xã hội”, “đặc sắc Trung Quốc” đã tạo nên một tấm màn đen bùng nhùng, mà tập đoàn quyền lực Trung Cộng nấp ở đằng sau tấm màn đó, vì lợi ích và sự sống còn của tập đoàn, một mặt trong nội bộ nó cấu xé lẫn nhau một cách vô liêm sỉ, mặt khác nó vẫn phạm tội trắng trợn đối với người dân.

4) Tính tiếp thu và tính sáng tạo của ngôn ngữ đảng

Ngôn ngữ đảng còn có tính tiếp thu và tính sáng tạo. Tính tiếp thu chỉ sở trường của Trung Cộng trong việc tổng hợp ngôn ngữ bình thường biến thành của mình, thậm chí dùng lời chỉ trích của người khác để đánh bóng tên tuổi của mình. Trung Cộng còn vô liêm sỉ đến mức chiếm đoạt tất cả thành quả văn minh trong lịch sử nhân loại làm thành tích cho bản thân. Những từ vốn mang ý nghĩa tốt đẹp như “ái quốc”, “sự phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa”, “lấy đức trị quốc” bị Trung Cộng ”đạo văn” trong thời gian dài, hiện nay chúng ta hầu như không thể sử dụng những từ này một cách bình thường mà không cảm thấy phản cảm.

Tính sáng tạo nghĩa là sau khi hình thành tư duy Văn hóa đảng thì có thể sáng tạo ra từ mới, thể hiện “sức sống đi cùng thời đại của chính quyền Trung Cộng”. Trung Cộng có tổ chức nghiêm ngặt và sự khống chế nghiêm ngặt đối với xã hội. Một khi cơ quan đầu não của chính quyền tà ác này – nhà lãnh đạo hoặc trung ương đảng – đã quyết định phương châm chính sách gì, thì những cơ quan cấp dưới của chính quyền sẽ giống như tay chân của nó, hoàn toàn chấp hành chính sách mà nó đưa ra, trong quá trình thực hiện sẽ sinh ra một lượng lớn ngôn ngữ đảng.

Trong những năm gần đây những từ sáng tạo mới của Trung Cộng chủ yếu bao gồm: Văn hóa đảng + từ dùng trong văn hóa truyền thống, ví dụ “đức trị”, “xã hội hài hòa”; Văn hóa đảng + thuật ngữ khoa học kỹ thuật, ví dụ “công trình XX” (công trình hy vọng, công trình an cư, công trình cung cấp rau xanh, công trình cung cấp lương thực, công trình tái tuyển dụng, công trình 211 (100 công trình trường cao đẳng và học viện khoa học hướng tới thế kỷ 21), năm công trình; Văn hóa đảng + thuật ngữ Tây phương, ví dụ “ý thức xx” (ý thức chính đảng (niềm tự hào và trách nhiệm đối với chính đảng), ý thức thủ đô (niềm tự hào và trách nhiệm của người dân thủ đô), v.v..

Hậu quả của tính tiếp thu và tính sáng tạo của ngôn ngữ đảng là: Sau khi một loạt ngôn ngữ đảng bị đào thải rồi, thì một loạt ngôn ngữ đảng mới lại nhanh chóng được tạo ra; trong quá trình sử dụng, ngôn ngữ đảng bị pha trộn, biến dạng làm xuất hiện một số lượng khổng lồ các biến thể của nó, nội hàm Văn hóa đảng của những từ mới này khiến cho người ta khó mà phân biệt được.

6. Hậu quả của việc phổ biến ngôn ngữ đảng

1) Hiện thực mất nước do văn hóa và ngôn ngữ

Trong lịch sử nhân loại, kẻ ngoại lai đến xâm lược chỉ chiếm lĩnh đất đai, chứ không thể thuần phục được cả một dân tộc, chỉ cần người dân còn giữ được tinh thần dân tộc thì sẽ không dễ dàng bị khuất phục. Trong lời dẫn của bài này có nói, ngôn ngữ tạo nên diện mạo tinh thần mang bản sắc của dân tộc. Vì vậy kẻ xâm lược ngoài việc chiếm hữu đất đai, còn phải phá hủy văn hóa truyền thống dân tộc, để hủy hoại tinh thần của dân tộc đó; mà hủy hoại ngôn ngữ – công cụ tải thể của nền văn hóa, chính là một trong những phương pháp hữu hiệu nhất để hủy diệt văn hóa dân tộc, tinh thần dân tộc. Ví dụ trong cuộc chiến Phổ – Pháp năm 1870, nước Phổ sau khi chiếm nước Pháp, liền mưu toan bắt phải dạy tiếng Đức ở các trường học nằm trong khu vực chiếm đóng, không cho dùng tiếng Pháp. Trung Cộng dùng nhiều cách để hủy hoại văn hóa truyền thống Trung Hoa, một trong những cách đó là làm biến dị và thay thế ngôn ngữ.

Ngược lại với thứ ngôn ngữ chú trọng “bồi dưỡng đạo đức, hoàn thiện phẩm cách, giáo dục nhân tính” của văn hóa truyền thống, ngôn ngữ của Trung Cộng là để phục vụ cho lợi ích của tập đoàn này, giả dối là linh hồn của ngôn ngữ Trung Cộng. Ngôn ngữ của Trung Cộng không chỉ giả dối mà còn méo mó, lệch lạc. Chúng dùng một bộ từ vựng thật thật giả giả, biến đổi ngầm, nhằm đạt mục đích làm biến dị tư tưởng của con người. Chúng dùng một hệ thống ngôn ngữ kiểu treo đầu dê bán thịt chó, thay đổi hoàn toàn chiều hướng phát triển của lịch sử dân tộc, cuối cùng hủy diệt truyền thống và tinh thần dân tộc Trung Hoa được Thần truyền lại mà người dân không hay biết. Văn hóa chính thống của Trung Hoa đã hoàn toàn biến mất, và bị thay thế bằng Văn hóa đảng. Dân tộc Trung Hoa từ đó đã tách khỏi mối quan hệ hài hòa với vũ trụ, bị đặt sai vị trí trên thế giới, đối lập với tôn chỉ của nhân loại, toàn bộ phương thức sinh tồn và hướng phát triển của dân tộc Trung Hoa đã đi ngược lại với quỹ đạo mà tạo hóa đã sắp đặt.

Nguồn gốc của ngôn ngữ và văn hóa Trung Quốc là gì, đa số người Trung Quốc ngày nay đều không biết, họ cứ tưởng rằng người Trung Quốc từ xưa đến nay vẫn nói như vậy. Hệ thống ngôn ngữ đảng đã bóp nghẹt tinh thần và sức sống dân tộc, khiến người ta càng thêm bị ràng buộc mạnh mẽ vào hệ thống phản nhân loại này.

Trong lịch sử người Trung Quốc vẫn luôn kiêu hãnh tự hào vì khả năng đồng hóa của văn hóa Trung Quốc. Văn hóa Trung Quốc không chỉ khiến cho các nước phải ngưỡng mộ, tôn thờ trong thời kỳ hòa bình, mà ngay cả khi Trung Quốc bại trận hay mất nước thì khả năng đồng hóa các nền văn hóa khác của nó vẫn rất mạnh mẽ. Triều đình Nguyên Mông và Mãn Thanh đã bị khuất phục bởi sự bác đại tinh thâm của văn hóa Trung Hoa, cam tâm tình nguyện đầu hàng trước sức mạnh thần kỳ ấy, chấp nhận phổ biến những tinh hoa của dân tộc Trung Hoa.

Qua phân tích tổng hợp số lượng lớn từ ngữ, chúng ta không thể không đối diện với một hiện thực quan trọng: Lịch sử không thể khuất phục của văn hóa Trung Hoa đã bị thay đổi. Văn hóa Trung Hoa đã bị Trung Cộng thay thế bằng chủ nghĩa Marx Lenin tà ác từ phương tây đưa đến, trên phương diện văn hóa và ngôn ngữ thì chúng ta đã bị mất nước từ lâu rồi.

2) Ngôn ngữ đảng cưỡng chế thay đổi cuộc sống của người dân Trung Quốc

Ngôn ngữ đảng là bộ phận ngôn ngữ được người Trung Quốc hiện nay sử dụng nhiều nhất, có tính hành động và tính chi phối mạnh nhất. Tính chi phối của ngôn ngữ đảng biểu hiện chủ yếu ở: thứ nhất, ngôn ngữ đảng có tần suất sử dụng cao; thứ hai, ngôn ngữ đảng có uy quyền cao.

Theo thống kê “Từ điển tần suất Hán ngữ hiện đại”, thứ tự về tần suất sử dụng của một số từ ngữ đảng điển hình trong toàn bộ từ vựng Hán ngữ hiện đại (bao gồm cả những hư từ như “của”, “và”) như sau: “Cách mạng” 71, “đồng chí” 83, “giai cấp” 149, “kẻ thù” 153, “đấu tranh” 209, “giải phóng” 285, “lãnh đạo” 312, “giai cấp vô sản” 372, “đường lối” 561, “đại biểu” 570, “chiến đấu” 602, “phản động” 617. Ngoài ra, từ “đảng” là một từ không thường dùng trong xã hội truyền thống, nhưng sau khi Trung Cộng thành lập, tần suất sử dụng của từ “đảng” nhanh chóng nhảy lên vị trí 119, “Đảng Cộng sản” vị trí 331, đây gần như là danh từ có tần suất sử dụng cao nhất, có thể thấy rõ ràng rằng hiện nay Trung Cộng đang đứng ở địa vị độc đảng độc tài ở Trung Quốc.

Quyền uy cao của ngôn ngữ đảng thể hiện ở việc nó lấy bạo lực Trung Cộng làm hậu thuẫn, nó chiếm lĩnh những lĩnh vực ngôn ngữ có sức ảnh hưởng nhất như chính trị, kinh tế, tư pháp, giáo dục, tin tức. Những thể loại ngôn ngữ của xã hội chính thống liên quan đến luân thường đạo lý, ăn ở đi lại, tình yêu đôi lứa không hoàn toàn biến mất nhưng chỉ nằm ở vị trí ngoài rìa và dễ bị chi phối. Cho dù người ta có muốn hay không, trong các hoàn cảnh chính thức, công khai thì đều bị bắt sử dụng ngôn ngữ đảng. Ngôn ngữ đảng và hậu quả mà ngôn ngữ đảng mang lại (lý luận của Trung Cộng được “học tập”, “lĩnh hội”, chính sách của Trung Cộng được “quán triệt”, “chấp hành”, v.v..) đã cưỡng chế thay đổi cuộc sống của người Trung Quốc, đem đến cho người dân Trung Quốc những tai họa nghiêm trọng.

3) Ngôn ngữ đảng – cái nhìn phiến diện của người Trung Quốc ngày nay

Ngôn ngữ là công cụ tư tưởng, tư tưởng của con người thể hiện ở sự kết hợp của từ và câu. Ngôn ngữ đảng đã cải biến cách nhìn nhận về thế giới của con người, nó thể hiện cái nhìn phiến diện của người Trung Quốc ngày nay.

(1) Ngôn ngữ đảng khiến cho người ta duy hộ ác đảng Trung Cộng một cách không tự biết

Ngôn ngữ đảng, dù là ngôn ngữ do Trung Cộng tạo ra, hay là ngôn ngữ bị Trung Cộng cải tạo, mục đích tồn tại của chúng đều là để duy trì, bảo vệ nền thống trị của ác đảng Trung Cộng. Vì sử dụng những tư liệu ngôn ngữ đã bị Trung Cộng bóp méo nên người dân không thể nhìn thấy được hình ảnh chân thực của thế giới, mà chỉ có thể nhìn thấy hình ảnh của thế giới mà Trung Cộng muốn mọi người nhìn thấy.

Những từ vựng mà Trung Cộng sáng tác ra, đã mô tả lại lịch sử của nó. Nếu một người dùng những từ ngữ này để suy xét về lịch sử Trung Cộng thì chỉ có thể tìm ra những kết luận mà Trung Cộng muốn cho anh ta biết. Hãy xem bảng dưới đây (Bảng 5):

Ngôn ngữ đảng Thực chất Phân tích
Khởi nghĩa (Khởi nghĩa Nam Xương, Khởi nghĩa Thu Thâu) Phiến loạn, bạo động Khởi nghĩa là chỉ cuộc kháng nghị vì mục đích chính nghĩa. Cái gọi là “khởi nghĩa” của Trung Cộng là phiến loạn, bạo động, lật đổ chính quyền hợp pháp đương thời
Trường chinh, Bắc Thượng  kháng Nhật Trốn chạy, rút lui Sau năm 1931, khi đang diễn ra cuộc chiến chống quân xâm lược Nhật Bản, Trung Cộng đã phát động cuộc phiến loạn tại Giang Tây, tiến hành “ly khai vũ trang”, sau khi bị bao vây tiêu diệt đã tháo chạy tán loạn về phía Tây Nam. Cuộc Bắc Thượng sau đó vốn là muốn tháo chạy sang Nga, nên đành phải trụ lại Diên An, sau khi quân Nhật xâm lược toàn Trung Quốc, Đảng Cộng sản thừa cơ phát triển lớn mạnh, cuối cùng mang tai họa đến cho cả nước.
Chỉnh đốn tác phong Tẩy não Diên An, khủng bố Diên An “Chỉnh” là tư tưởng được chỉnh đốn, quản lý, quy phạm. Từ “chỉnh đốn tác phong” ám chỉ với mọi người rằng: “đảng đang quản đảng”, Trung Cộng đang “gia tăng kiến thiết của mình”. Đang nỗ lực biến “tác phong của đảng” thành chính thống. Thực ra “chỉnh đốn tác phong” nghĩa là Trung Cộng tăng cường tẩy não các cán bộ đảng viên, là cuộc tổng diễn tập cho những cuộc vận động chính trị về sau của Trung Cộng.
Giải phóng Trung Cộng cướp chính quyền “Giải phóng” chỉ sự phá bỏ mọi trói buộc, giành được tự do. Sau khi Trung Cộng thành lập chính quyền, cả nước Trung Quốc biến thành một nhà tù lớn, nhân dân cả nước đều sống trong sự nô dịch.
Đi về địa phương Đi đày Chỉ khác nhau một vài chữ, nhưng có thể thấy được sự giảo hoạt của Trung Cộng trong việc che giấu hành vi ác độc của mình
Ba năm thiên tai Nạn đói lớn ba năm Nạn đói ba năm là một tai họa do con người gây nên bởi chính sách mông muội của Trung Cộng.
Đại Cách mạng Văn hóa Đại phá hoại văn hóa, đại tẩy não toàn dân, đại thanh trừng chính trị Văn hóa truyền thống tin tưởng mệnh của vua do trời định, “cách mạng” chỉ “sự thay đổi thiên mệnh”, như “Cuộc cách mạng Thang Vũ, thuận ý trời mà hợp ý dân” trong “Dịch Cách”. Trung Cộng đã bóp méo ý nghĩa của từ “cách mạng”, vốn để chỉ “hành động bạo lực lật đổ giai cấp thống trị”, bóp méo nó trở thành một từ mang ý nghĩa tán dương. Từ “Đại Cách mạng Văn hóa” đã che giấu đi bản chất của cuộc vận động, có tính lừa gạt nhất là với thế hệ trẻ và người nước ngoài.
Lên rừng xuống biển Lao động cải tạo trá hình dành cho phần tử trí thức trẻ Từ “lên rừng xuống biển” khiến cho người ta liên tưởng đến sự lãng mạn, ấm áp, đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cho một số thanh niên thời đó có cảm giác hoài niệm về khoảng thời gian đó.
Cải cách mở cửa Nới lỏng quản lý kinh tế, quản lý chính trị để duy trì chính quyền Bế quan tỏa cảng, suy thoái kinh tế là do Trung Cộng gây ra. “Cải cách mở cửa” chẳng qua chỉ là phục hồi lại một phần phương thức hoạt động kinh tế trước khi Trung Cộng cướp chính quyền. Không hề có sự nới lỏng về mặt chính trị.
Bạo loạn phản cách mạng, sóng gió chính trị Vận động dân chủ năm 1989 Ban đầu Trung Cộng gọi cuộc vận động dân chủ năm 1989 là “bạo loạn”, sau đó bắt đầu sử dụng từ “sóng gió chính trị” với ý đồ khiến mọi người hiểu nhầm rằng Trung Cộng cũng chỉ là nạn nhân của “sóng gió”.

Những năm gần đây, Trung Cộng lại tạo ra một lượng lớn những từ mang ẩn ý chính trị, để tô son trát phấn, che đậy khuyết điểm cho sự thống trị của nó. Ví dụ gọi thất nghiệp là “đợi việc”, “nghỉ việc”, “về hưu nội bộ”. “Đợi việc” ám chỉ là sẽ có việc trong tương lai, “nghỉ việc” tức là trước đây đã từng có công việc, chỉ là hiện nay không có việc. Dưới sự thống trị của Trung Cộng, những người dân nghèo khổ bị gọi là “nhóm người hèn kém”, ám chỉ tình cảnh nghèo khổ của họ là do nguyên nhân ở tự thân họ.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Những ngôn ngữ đảng mang “ẩn ý chính trị” của Trung Cộng có một vài loại hình chủ yếu như sau:

Đổi trắng thay đen, ví dụ như “khởi nghĩa”, “giải phóng”.

Đảng không tách rời với nước, ví dụ “kiến quốc”, “ái quốc”, “thế lực phản động (chống người Hoa)”.

Hình thức khuấy nước đục (làm rối loạn tư tưởng) như “10 năm tai họa”, “năm tháng hoang đường”, “sóng gió chính trị”. Đặc điểm của nó là dùng những từ trừu tượng để gọi tên sự kiện chính trị nào đó, khiến cho người ta không nhận ra vai trò gây tội ác của Trung Cộng trong đó.

Biến lời nói dối trở thành nói thật, như “trường chinh”, “cải cách mở cửa”. Đặc điểm của nó là chuyện xấu nói thành chuyện tốt, gọi “đống rác rưởi” được Trung Cộng vớt lên sau thời kỳ khủng hoảng là “công lao to lớn” của Trung Cộng hoặc là “chính sách sáng suốt” của lãnh đạo Trung Cộng.

Giương đông kích tây, như “bốn hiện đại hóa”, “phát triển là con đường tất yếu”. “Bốn hiện đại hóa” bao gồm công nghiệp, nông nghiệp, quốc phòng, khoa học kỹ thuật, nhưng không nhắc đến “hiện đại hóa chính trị” (bản thân khái niệm “hiện đại hóa” cũng phải kiểm tra lại, nhưng ở đây chúng ta có thể chưa bàn đến); trình độ văn minh xã hội và phúc lợi của người dân là do nhiều nhân tố quyết định, Trung Cộng chỉ nhấn mạnh đến phát triển kinh tế một cách phiến diện, mà che giấu hiện thực rằng: chính trị hủ bại, đạo đức suy đồi, môi trường ô nhiễm do sự thống trị độc tài mang lại mới là nguyên nhân khiến cho cuộc sống của người dân ngày càng tồi tệ hơn.

”Định giấu giếm, che đậy, nhưng kết quả bị bại lộ” như “trỗi dậy trong hòa bình”. Một người đến thăm nhà bạn thì chắn chắn sẽ không nói rằng: “Không phải tôi đến cướp nhà anh đâu.” Biết bao đất nước có nền kinh tế phát triển nhưng cũng không có nước nào tự xưng mình là “trỗi dậy trong hòa bình”. Cách nói này của Trung Cộng lộ rõ dã tâm quân sự của nó đằng sau sự phát triển kinh tế.

Do sự độc quyền của Trung Cộng trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, nghiên cứu khoa học, tin tức, nên người Trung Quốc hiện nay khi bàn luận về một vấn đề nào đó rất khó để không sử dụng những từ vựng mà Trung Cộng tạo ra, mà những từ vựng này lại dẫn dắt người ta đến những kết luận tất yếu phải duy trì, bảo vệ sự thống trị của ác đảng Trung Cộng. Sự bao trùm của ngôn ngữ đảng đã ngăn cản tư duy và phát ngôn bình thường của người dân.

(2) Ngôn ngữ đảng khiến người ta không thể suy nghĩ bình thường

Ngôn ngữ đảng khiến người ta không thể suy nghĩ bình thường thể hiện ở rất nhiều phương diện, trong đó chủ yếu là phá hoại các quy tắc đạo đức cơ bản.

Người trong xã hội truyền thống tin tưởng rằng mọi người đều có lòng trắc ẩn, sự quan tâm, yêu mến giữa người với người là nguyên tắc làm người cơ bản. Vì mục đích cướp đoạt và củng cố quyền lực, Trung Cộng cần phải không ngừng kích động thù hận của người dân. Nhưng lòng nhân ái đối với đồng loại không thể trong một sớm một chiều mà nhổ bỏ được, thế nên Trung Cộng sáng tạo ra “kẻ thù giai cấp”, “năm loại phần tử xấu xa”, “phần tử X giáo” để biến những nhóm người mà chúng muốn loại bỏ trở thành xấu xa, khiến cho những người đảng viên khi bức hại những người này không chỉ không cảm thấy có tội, mà còn có “cảm giác tự hào” rằng “có lẽ phải thì không việc gì phải sợ”.

Dưới sự thống trị của Đảng Cộng sản, “bán đứng (phản bội)” bị thay thế bởi những từ ngữ mang ý tuyên dương trong Văn hóa đảng như “báo cáo tư tưởng”, “trao trái tim cho đảng”, “đại nghĩa diệt người thân”, “tố giác vạch trần”, “giúp chính phủ làm rõ tình hình”. “Bán đứng” không chỉ không bị lên án bởi lương tâm đạo đức, mà còn được chính quyền ca ngợi là “hành động chính nghĩa” xuất phát từ “tình cảm cách mạng cao thượng”, “lập trường cách mạng kiên định”, “tình cảm cách mạng của giai cấp vô sản”, “trung thành tận tụy với đảng”, nó xóa bỏ cảm giác khinh bỉ của người bình thường đối với những hành vi thấp hèn như “bán đứng”, “tiết lộ thông tin bí mật”, khuyến khích người ta quay lưng lại với những chuẩn tắc đạo đức cơ bản của xã hội nhân loại.

Ngôn ngữ đảng là một hệ thống có tính phong bế, bản thân hệ thống này là tà ác và biến dị. Trong môi trường Văn hóa đảng biến dị này, một số cách tư duy lố bịch lại trở thành rất bình thường. Ví dụ, “Thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm chân lý” được Trung Cộng hô hào gần 30 năm nay, người dân đã quá quen đến nỗi trở thành bình thường, coi nó là những quy tắc vàng, chính xác không còn nghi ngờ gì nữa. Nhưng suy nghĩ kỹ một chút, chúng ta sẽ phát hiện ra rằng, câu nói này nghe lố bịch như kiểu “vải vóc là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm thước đo”, “hàng hóa là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm cái cân”. Nếu nhất định phải làm theo những câu này, thì lẽ ra nói “chân lý là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm thực tiễn” còn hợp lý một chút. Có thể sẽ có người nói, anh đã hiểu sai ý của câu này rồi, ý của nó là như thế này, vào lúc đó nó có nghĩa là “lập lại trật tự”, “giải phóng tư tưởng”. Vấn đề chính là ở chỗ này. Phải đặt câu nói này vào trong hiện thực xã hội lố bịch do Trung Cộng tạo ra thì nó mới thể hiện ra sự “có lý”. Điều này lại càng cho thấy Văn hóa đảng là một hệ thống lố bịch và biến dị. Những ví dụ như thế có rất nhiều, chúng tôi sẽ không đề cập thêm nữa.

(3) Ngôn ngữ đảng khiến người ta khó có thể giao lưu với người ở xã hội bình thường

Sau khi mọi người tiếp thu ngôn ngữ đảng do Trung Cộng định nghĩa, thì không thể biểu đạt ý kiến của mình một cách rõ ràng cho những người sống bên ngoài Văn hóa đảng, cũng khó có thể nghe và hiểu được hàm nghĩa chân chính trong câu nói của những người sống bên ngoài Văn hóa đảng. Một ví dụ điển hình là cách hiểu về từ “nhân quyền” của người Trung Quốc và người Tây phương hoàn toàn khác nhau. Nhân quyền là quyền lợi cơ bản của người dân. Khi một người phương Tây bàn về bảo vệ nhân quyền thì điều họ quan tâm là quyền lợi của người dân không bị chính phủ xâm hại. Tương tự, khi một người phương Tây bàn về vấn đề nhân quyền với người Trung Quốc thì họ đứng về phía người dân Trung Quốc chứ không phải đứng về phía chính quyền Trung Cộng, lúc này một người bình thường nên cảm ơn anh ấy mới đúng. Nhưng qua sự tuyên truyền lâu dài của Trung Cộng, rất nhiều người Trung Cộng nhận thức rằng: “Đây nhất định là chủ nghĩa bá quyền Tây phương dùng nhân quyền làm cái cớ để xâm phạm vào chính trị trong nước,” “Chủ nghĩa đế quốc Mỹ mãi mãi muốn tiêu diệt chúng ta,” nghe thấy người Tây phương nói đến nhân quyền, những người này còn bất bình hơn cả quan chức Trung Cộng. Hậu quả là không chỉ làm tổn hại đến hình tượng của người Trung Quốc, quan trọng hơn còn khiến cho người Trung Quốc không thể tiếp nhận những thông tin bên ngoài một cách bình tĩnh, từ đó mà hủy hoại cơ hội phát triển của dân tộc, khiến cho cả một dân tộc bị cách ly với văn minh nhân loại.

Lời kết: Bài trừ ngôn ngữ đảng, nói ngôn ngữ bình thường

1) Làm thế nào phân biệt ngôn ngữ đảng

Muốn bài trừ ngôn ngữ đảng, thì trước tiên phải phân biệt được ngôn ngữ đảng. Nguyên tắc cơ bản để phân biệt ngôn ngữ đảng là: Nghĩ theo ngôn ngữ đảng thì nhất định sẽ đưa đến kết luận là phải duy hộ sự thống trị của Trung Cộng, đây chính là “ý nghĩa sâu xa” của ngôn ngữ đảng. Chúng ta lại tiếp tục bàn về một số cách đơn giản để phân biệt ngôn ngữ đảng.

Hỏi thêm một câu tại sao. Những năm gần đây “làm chính trị” đã trở thành một tội danh đáng sợ. Nhưng, chẳng phải Trung Cộng tự xưng là đảng chính trị sao? Chẳng phải nó kêu gọi mọi người đều phải tham gia tổ chức của nó, phải ủng hộ nó, hơn nữa phải quan tâm đến “quốc gia đại sự” hay sao? Hỏi như vậy thì chúng ta sẽ phát hiện ra, Trung Cộng chỉ cho phép nó làm chính trị chứ không cho người dân tham gia chính trị. Giống như cách nói “làm việc thật”. Tại sao “làm việc thật” cũng có thể trở thành cái cớ để quan chức Trung Cộng tự khoe khoang, khoác lác? Lẽ nào quan chức chính phủ lại không nên làm việc thật? Không làm việc thật thì chẳng nhẽ làm “việc giả” sao? Nói như vậy, chúng ta sẽ phát hiện, công việc thực sự của quan chức Trung Cộng là chỉnh đốn, khống chế tư tưởng của người dân, rồi làm một chút “thành tích”, “thể diện”, vì vậy đối với họ mà nói, làm được một hoặc hai “việc thật” đã rất đáng khoe khoang.

Thử hỏi xem ai nói: Do ai làm? Làm cho ai? Ví dụ khẩu hiệu “sự ổn định áp đảo tất cả”, chúng ta thử hỏi: Sự ổn định của ai áp đảo tất cả? Sự ổn định của bách tính trăm họ, hay là sự ổn định của đảng cộng sản? Khi chúng ta phát hiện ra đáp án là vế sau thì có thể hiểu rằng khẩu hiệu này cũng là do Trung Cộng hô hào để duy hộ sự thống trị của bản thân nó.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Chúng ta thường kết hợp với những từ nào. Ví dụ, “tuyên truyền” (chính sách của đảng), “quán triệt” (tinh thần trung ương), “chấp hành” (nghị quyết của đảng), “giương cao” (ngọn cờ vĩ đại…) v.v..

Xem xem từ đồng nghĩa, từ gần nghĩa, hoặc là từ trái nghĩa với từ đó là gì. Khi điền sơ yếu lý lịch, nếu một người không phải là đảng viên Trung Cộng, cũng không phải đoàn viên cộng sản, cũng không phải “đảng phái dân chủ” thì phải điền ở cột “thành phần chính trị” là “quần chúng”. Tại sao không điền là “người không thuộc đảng phái”? “Quần chúng” và “người không thuộc đảng phái” có ý nghĩa tương tự nhau đúng không? Sau khi so sánh, chúng tôi phát hiện rằng, “quần chúng” không phải là “người không thuộc đảng phái”. “Người không thuộc đảng phái” là thành phần vô đảng vô phái, còn “quần chúng” là người có nguyện vọng gia nhập đảng nhưng không đủ tư cách, “đảng” không cần anh, anh chỉ chịu sự “lãnh đạo”. Vì vậy, theo nghĩa này thì từ “quần chúng” cũng là từ của ngôn ngữ đảng. Những năm gần đây có một số nhà văn ở Trung Quốc đại lục khi nhắc đến Trung Cộng liền dùng từ “đảng cầm quyền”. Tại sao không gọi thẳng là “Đảng Cộng sản”? “Đảng cầm quyền” đối lập với sự tồn tại của “đảng không cầm quyền”, ở Trung Quốc hoàn toàn không có đảng không cầm quyền, mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản và “đảng phái dân chủ” là mối quan hệ giữa đảng độc tài và đảng “bình hoa”, chứ không phải là mối quan hệ giữa đảng cầm quyền và đảng không cầm quyền. Sử dụng từ “đảng cầm quyền” tạo nên hình ảnh giả tạo về một chính phủ Trung Cộng do dân bầu ra, nhằm mục đích che giấu nền thống trị độc tài của Trung Cộng. Tương tự, cách nói “nâng cao năng lực cầm quyền” cũng tạo cho người ta cảm giác rằng Trung Cộng đang thực hiện chức năng quản lý chính phủ bình thường. Thực ra, “nâng cao năng lực cầm quyền” được hiểu chính xác là củng cố quyền lực độc tài.

Thay đổi hoàn cảnh sẽ thấy. Thử tưởng tượng xem có thể xảy ra những tình huống như sau: Thị trưởng thành phố Los Angeles trong một cuộc hội nghị đã phát ngôn rằng: “Chúng ta phải lĩnh hội tinh thần bài phát biểu quan trọng của đồng chí XX tổng thư ký Đảng Cộng hòa Gia Châu về vấn đề XX”; cầu thủ bóng rổ nổi tiếng của NBA (Hội liên hợp bóng rổ ngành nghề Mỹ) khi trả lời phỏng vấn tiết mục “Đứa con phương Tây” trên truyền hình Mỹ đã trả lời rằng: “Chúng ta đạt được giải quán quân lần này, đầu tiên là nhờ công lao của lãnh đạo đảng dân chủ…”

Ngoài ra, so sánh theo chiều ngang hoặc là so sánh theo chiều dọc, hay là so sánh với xã hội truyền thống Trung Quốc hoặc so sánh với xã hội quốc tế, cũng là phương pháp hiệu quả để phân biệt ngôn ngữ đảng.

2) Chú ý hiện tượng “bối cảnh hóa ngôn ngữ đảng”

Cùng với sự sụp đổ hình thái ý thức của Trung Cộng, Văn hóa đảng đã trở thành đối tượng để dân chúng Trung Quốc đưa ra làm trò cười, rất nhiều câu vè, truyện cười, trào phúng, châm biếm được sáng tác theo ngôn ngữ đảng đã trở thành chủ đề bàn luận của người dân trong những lúc rỗi rãi. Ví dụ người ta dùng những câu như “cách mạng không phải là mời khách thì là ăn cơm” (chế giễu câu nói của Mao Trạch Đông: “Cách mạng không phải là mời khách ăn cơm”, ý nói làm cách mạng không cần lịch thiệp, nhã nhặn mà là bạo lực), “cán bộ không ngại ăn uống vất vả, trăm chén nghìn cốc chỉ mong được nghỉ ngơi” để đả kích phong trào ăn uống của giới quan chức, những người dân ở tầng lớp thấp kém thì đả kích bằng những câu như “Suốt 30 năm cuộc sống vất vả, nghèo khổ, cảm giác như quay trở lại thời kỳ trước giải phóng”,“Chính phủ là Hoàng Thế Nhân, Chúng tôi là Dương Bạch Lao [5]” để thể hiện sự bất mãn với chính sách kinh tế của Trung Cộng.

Sau khi Văn hóa đảng được xác lập, ngôn ngữ đảng đã trở thành ngôn ngữ chuẩn mực. Hiện tượng sửa đổi ngôn ngữ đảng đề cập trên đây là sự chế giễu đối với ngôn ngữ đảng, nhưng cũng là thừa nhận ngôn ngữ đảng, coi ngôn ngữ đảng là “chuẩn mực”. Lúc này ngôn ngữ đảng từ chỗ sáng lùi về chỗ tối, từ ý thức đi vào tiềm thức của con người, nó vẫn phát huy vai trò của mình ở vị trí mà người ta khó phát hiện ra. Chúng tôi gọi hiện tượng này là hiện tượng “bối cảnh hóa ngôn ngữ đảng (đưa ngôn ngữ đảng làm nền cho chủ thể)”.

Ngôn ngữ đảng bị biến dạng thì vẫn là ngôn ngữ đảng, hơn nữa còn là thứ ngôn ngữ đảng ở tầng thâm sâu hơn. Bất cứ từ ngữ nào cũng mang theo những tín tức nhất định, ngôn ngữ đảng bị biến dạng trong những câu truyện cười, câu vè dân gian vẫn tiềm ẩn sức ảnh hưởng lớn đối với tư duy con người. Chúng ta phải hết sức tránh sử dụng những ngôn ngữ này.

Hiện nay ở Trung Quốc Đại lục, ngày càng có nhiều người công khai lên án, tố cáo Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong những lúc như vậy, mọi người nên sử dụng ngôn ngữ của người thường và tư duy của người thường để mạ lỵ ác đảng, chứ không phải là ở trong Văn hóa đảng, dùng ngôn ngữ đảng để mạ lỵ ác đảng.

Cần phải nhấn mạnh rằng, một số ngôn ngữ đảng vốn là ngôn ngữ của xã hội nhân loại bình thường, nhưng sau khi bị Đảng Cộng sản cải tạo, bị sử dụng nhiều lần trong môi trường Văn hóa đảng nên bị nhiễm màu sắc văn hóa đảng. Đây không có nghĩa là chúng ta từ nay về sau không thể sử dụng những ngôn ngữ này nữa. Ngược lại, chúng ta có thể, và hơn nữa phải dùng những từ này một cách đường đường chính chính với ý nghĩa bình thường, với ngữ cảnh bình thường, giống như trong “Cửu bình Cộng sản đảng” đã gọi Trung Cộng là “tà giáo”.

3) Tìm kiếm chân tướng, liễu giải chân tướng, truyền rộng chân tướng

Sở dĩ Đảng Cộng sản có thể xây dựng và mở rộng một hệ thống ngôn ngữ đảng lớn mạnh đến thế chỉ trong mấy chục năm ngắn ngủi là do dựa vào những thủ đoạn cưỡng chế bạo lực, phong tỏa tin tức và sự tuyên truyền rợp trời. Vì vậy, để phá bỏ ngôn ngữ đảng không chỉ cần dũng khí phi thường, cần ý thức trách nhiệm đạo đức để cự tuyệt với Văn hóa đảng, mà còn cần tiếp xúc nhiều với những thông tin chân thực được biểu đạt bằng ngôn ngữ nhân loại bình thường. Nếu người dân Trung Quốc không muốn tiếp tục sống trong dối trá, thì họ không thể không bắt đầu từ việc nỗ lực tìm kiếm chân tướng, liễu giải chân tướng, truyền rộng chân tướng.

Văn hóa Trung Hoa mới cần có ngôn ngữ mới, ngôn ngữ mới sẽ được sáng tạo bởi những con người được hồi sinh trên nền tảng đạo đức mới.


Bản tiếng Hán:

http://www.epochtimes.com/gb/6/10/27/n1500011.htm

http://www.epochtimes.com/gb/6/10/31/n1504159.htm

Chú thích

[1] Giáo hội Ái quốc Tam tự là một tổ chức Giáo hội Tin lành quốc doanh do nhà nước điều khiển.

[2] Hai điều ‘phàm là’: Phàm là quyết sách của Mao Trạch Đông, chúng ta đều phải kiên quyết ủng hộ; phàm là chỉ thị của Mao Trạch Đông, chúng ta đều phải tuân theo.

[3] Thiên diễn luận là bản dịch Trung văn cuối thế kỷ XIX của cuốn sách Evolution and Ethics của Hussley về thuyết tiến hóa

[4] Hoa Quốc Phong, là người được chỉ định kế tục Mao Trạch Đông. Ông trở thành Phó Thủ tướng năm 1975, rồi quyền Thủ tướng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sau khi Chu Ân Lai mất tháng 01 năm 1976, ông trở thành Thủ tướng và Phó Chủ tịch thứ nhất của Đảng tháng 04 năm 1976, và Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc khi Mao chết, tháng 9 năm 1976. Khi Đặng Tiểu Bình dần nắm quyền kiểm soát Đảng Cộng sản Trung Quốc, Hoa Quốc Phong bị thay chức Thủ tướng bởi Triệu Tử Dương năm 1980, và chức Chủ tịch Đảng bởi Hồ Diệu Bang năm 1981.

[5] Hoàng Thế Nhân, Dương Bạch Lao: Tên hai nhân vật trong phim Bạch Mao Nữ nổi tiếng mấy chục năm trước của Trung Quốc. Dương Bạch Lao là nông dân nghèo làm thuê cho địa chủ Hoàng Thế Nhân, mà quanh năm chẳng đủ ăn, chẳng đủ tiền nộp tô, dẫn đến mắc nợ không thể trả nổi.

Ngày đăng:27-12-2014
Copyright © 2008 www.9binh.com. All rights reserved.