Một quyển sách
đã truyền cảm hứng cho hơn 300 triệu người
thoát khỏi Đảng Cộng sản Trung Quốc

Chương 6: Ngôn ngữ đảng đã trở thành thói quen (phần hạ)

Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Mục lục

4. Sự hình thành của ngôn ngữ đảng trải qua quá trình thanh lọc quy mô lớn

1) Nguồn gốc của ngôn ngữ đảng

2) Sự hình thành và phát triển của ngôn ngữ đảng

3) Ngôn ngữ đảng mang tính giai đoạn và ngôn ngữ đảng mang tính chế độ

4) Mối quan hệ giữa ngôn ngữ đảng và ngôn ngữ bình thường

5) Ngôn ngữ đảng thực chất là ngôn ngữ của xã hội đen được Trung Cộng truyền bá toàn xã hội

5. Đặc trưng của ngôn ngữ đảng

1) Trung Cộng đã lũng đoạn quyền định nghĩa từ ngữ

2) Tính đa tầng thứ và tính lừa gạt của ngôn ngữ đảng

3) Tính trừu tượng và tính ngụy biện của ngôn ngữ đảng

4) Tính tiếp thu và tính sáng tạo của ngôn ngữ đảng

6. Hậu quả của việc phổ biến ngôn ngữ đảng

1) Hiện thực mất nước của văn hóa – ngôn ngữ

2) Ngôn ngữ đảng cưỡng chế người Trung Quốc thay đổi cuộc sống

3) Ngôn ngữ đảng – cái nhìn phiến diện của người Trung Quốc hiện nay

Lời kết: Thanh trừ ngôn ngữ đảng, nói ngôn ngữ của người bình thường

1) Phân biệt ngôn ngữ đảng như thế nào

2) Chú ý hiện tượng “bối cảnh hóa của ngôn ngữ đảng”

3) Tìm kiếm chân tướng, liễu giải chân tướng, truyền rộng chân tướng

========

4. Sự hình thành của ngôn ngữ đảng trải qua quá trình thanh lọc quy mô lớn

Sự hình thành và phát triển của ngôn ngữ là một quá trình tự nhiên. Tính ổn định cao của hệ thống chữ Hán có tác dụng hết sức quan trọng trong việc duy trì sự ổn định và thống nhất của nền văn minh Hoa Hạ. Đối với một quốc gia có bề dày truyền thống lịch sử như Trung Quốc, sự cẩn trọng và phù hợp hoàn cảnh trong quy phạm ngôn ngữ càng đặc biệt quan trọng.

Tuy nhiên, xuất phát điểm của các chính sách của Trung Cộng lại không phải có mục đích gìn giữ sự toàn vẹn và thuần chính của văn hóa chính thống. Ngược lại, để phá bỏ tất cả những chướng ngại trên con đường thiết lập ách thống trị độc tài của nó, Trung Cộng cần phải nhanh chóng hoàn thành việc chối bỏ văn hóa truyền thống, đồng thời nhồi nhét vào đầu người dân các tà thuyết vô thần luận, thuyết tiến hóa, triết học đấu tranh. Do vậy, Trung Cộng đã sử dụng chính quyền quốc gia để tiến hành cuộc chỉnh lý ngôn ngữ trên quy mô lớn. Huy động bộ máy quốc gia dùng mọi thủ đoạn để tuyên truyền ngôn ngữ đảng khắp toàn quốc, đây là đặc điểm căn bản của việc xây dựng hệ thống ngôn ngữ đảng.

1) Nguồn gốc của ngôn ngữ đảng

Nói một cách khái quát, ngôn ngữ đảng có sáu nguồn gốc chủ yếu: phiên dịch, do lãnh đạo tối cao của đảng sáng tác ra, gắn với tổ chức, biên tập có hệ thống, sự tô vẽ của các nhà văn, sự hợp tác của quần chúng.

Chủ nghĩa Marx Lenin là một học thuyết ngoại lai, ngôn ngữ đảng thời kỳ đầu tất nhiên phải dùng sách phiên dịch để làm phương tiện truyền đạt. Cuốn “Thiên diễn luận” [3] xuất bản năm 1897 đã lần đầu tiên truyền bá học thuyết Darwin vào Trung Quốc, làm nền móng cho sự truyền bá của chủ nghĩa Mác-xít. Năm 1919, bản dịch hoàn chỉnh đầu tiên của “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” đã xuất hiện trên tạp chí “Thanh niên mới”, ngôn ngữ đảng bắt đầu bám rễ vào mảnh đất Trung Hoa. Sau khi Trung Cộng thành lập, việc phiên dịch các tác phẩm của Marx, Engels, Lenin, Stalin và các văn kiện của Liên Xô là một phần công việc chính của nó, nó tập trung thành lập các “phòng biên dịch”, “cục biên dịch” v.v.. Ông Vương Thực Vị – người bị giết ở Diên An, đã từng làm việc tại “ Phòng biên dịch học viện Marx-Lenin Trung ương Trung Cộng”. Những từ vựng cơ bản trong hình thái ý thức của Trung Cộng như “Chủ nghĩa Cộng sản”, “giai cấp vô sản”, “chủ nghĩa duy vật lịch sử”, “đấu tranh giai cấp” đã ra đời từ những cuốn sách dịch này.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Lãnh đạo tối cao của Trung Cộng là tác giả chính của ngôn ngữ đảng. Mao Trạch Đông từng nói rằng phải “kết hợp chân lý phổ quát của chủ nghĩa Mác-xít với thực tiễn cách mạng Trung Quốc”, từ giữa những năm 30, ông ta đã bắt đầu sáng tạo một cách có ý thức những ngôn từ mang đậm màu sắc của đảng. Những lãnh đạo cùng thời hoặc sau thời của Mao cũng bắt chước làm theo, với ý đồ thông qua các “từ mới” này để đặt định ra cơ sở lý luận cho quyền lực của mình, từ đó mà giữ vị thế bất bại trong các cuộc đấu tranh nội bộ đảng. “Trung Quốc hóa chủ nghĩa Mác-xít”, “tiếp tục sự nghiệp cách mạng theo chuyên chính vô sản”, “đi theo con đường chủ nghĩa tư sản”, “bốn kiên trì”, “xã hội chủ nghĩa mang đặc sắc Trung Quốc”, “phản đối tự do hóa giai cấp tư sản”, “tam giảng”, “tam đại biểu”, “xã hội hài hòa”, “bát vinh bát nhục” đều là những từ mới do lãnh đạo đảng sáng tạo ra. Cần nói rõ rằng, là một chỉnh thể, Trung Cộng cần phải tạo cho nó một cơ sở hợp pháp, cá nhân lãnh đạo Trung Cộng cũng phải tạo cho mình một lai lịch hợp pháp. Do hầu hết các đời lãnh đạo Trung Cộng đều gây nợ máu, nên người kế nhiệm phải giữ một khoảng cách nhất định với người tiền nhiệm, nhưng họ không thể vượt quá giới hạn mà chỉnh thể Trung Cộng đã định ra từ trước. Hoa Quốc Phong [4] chỉ vì không dàn xếp tốt quan hệ hai bên, không từ bỏ mối quan hệ với Mao, lại còn đưa ra phương châm “hai điều phàm là”, nên chẳng bao lâu sau đã bị ép phải từ chức.

Trung Cộng là một đảng theo chủ nghĩa Lenin có tính kỷ luật và tổ chức nghiêm ngặt. Ngôn ngữ đảng “gắn với tổ chức” chỉ một số lượng lớn từ vựng được sản sinh gắn với hình thức tổ chức và hoạt động thông thường của Trung Cộng. Một số từ vựng này là do Trung Cộng tạo ra; một số là từ vựng tiếng Hán hoặc là mượn từ tiếng Đức, tiếng Nga, tiếng Nhật, nhưng qua thời gian sử dụng lâu dài của Trung Cộng, toàn bộ các từ ngữ đều bị thấm đẫm tinh thần Văn hóa đảng. Do chúng gắn bó với sự vận hành của tổ chức Trung Cộng, là cấu thành kiên cố trong các văn kiện từ trên xuống dưới trong nội bộ tổ chức Trung Cộng, vì vậy có thể nói chúng là những ngôn ngữ đảng ẩn sâu nhất nhưng lại mạnh mẽ nhất. Nửa chương trước, chúng tôi đã đi sâu phân tích những loại ngôn ngữ đảng như “tuyên truyền, quán triệt, chấp hành, đấu tranh, chiến sỹ thi đua, đại biểu, tinh thần hội nghị, đường lối, nhận thức, lãnh đạo, hiệu triệu, phấn đấu, ủy ban, báo cáo tư tưởng, tự kiểm điểm, phê bình và tự phê bình” chính là thuộc loại này.

Biên soạn có hệ thống. Trung Cộng khống chế tất cả các bộ máy tuyên truyền, các bộ ngành văn hóa giáo dục, cơ quan nghiên cứu khoa học, chỉ cần lãnh đạo tối cao của đảng hoặc là “trung ương đảng” đưa ra những cái gọi là “đường lối, phương châm, chính sách” thì những cơ quan này liền ra sức phát triển các luận chứng, khoác lên chúng vẻ ngoài sáng sủa, bảnh bao. Trung Quốc Đại lục đã xuất bản một lượng lớn những cuốn sách kiểu như “XX học chủ nghĩa Mác-xít”, “Tư tưởng XX của Mao Trạch Đông”, “Lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc”, tập hợp một số câu nói “bất hủ” của những “người thầy cách mạng” về một vấn đề nào đó, sau đó được những nhà văn giỏi xu nịnh – tay sai của đảng chế tác lại thành những tác phẩm “vĩ đại” dày cộp. Trong quá trình này cũng sản sinh ra một lượng lớn ngôn ngữ đảng.

Sự tô vẽ của các nhà văn và sự hợp tác của quần chúng cũng là nguồn gốc của ngôn ngữ đảng. Các nhà văn của tà đảng vì muốn nịnh bợ cấp trên để thăng quan tiến chức mà đã chủ động phối hợp với Trung Cộng sáng tạo nên đống rác rưởi là Văn hóa đảng. Những người dân sống dưới chế độ độc tài của đảng chỉ có thể bất lực thuận theo nó, đều cũng đã tham gia vào quá trình tạo ra ngôn ngữ đảng. Ví dụ, luận điệu của các nhà văn Trung Cộng “Văn hóa truyền thống cản trở hiện đại hóa”, chính là một ví dụ về “sự tô vẽ của nhà văn”. Trung Cộng còn tự mình hô hào rằng “không có Đảng Cộng sản thì không có nước Trung Hoa mới”, những năm gần đây người dân Trung Quốc cũng tiếp thu những ẩn ý của Trung Cộng, mà tự phát ngôn ra những câu kiểu như “không có Đảng Cộng sản thì Trung Quốc sẽ ra sao”, đây chính là thể loại “sự hợp tác của quần chúng”.

2) Sự hình thành và phát triển của ngôn ngữ đảng

Muốn nhìn thấu Văn hóa đảng thì phải chú ý đến những yếu tố thay đổi và bất biến trong đó. Lá cờ lý tưởng của Đảng Cộng sản đang thay đổi, phương châm chính sách đang thay đổi, đối tượng đả kích cũng đang thay đổi; nhưng chế độ độc tài chuyên chính của đảng thì mãi mãi không đổi, bản chất tà giáo của nó mãi mãi không đổi, thủ đoạn lưu manh của nó mãi mãi không đổi. Vì vậy, mặc dù ở các giai đoạn lịch sử khác nhau, ngôn ngữ đảng thể hiện những đặc điểm khác nhau, gắn bó mật thiết với các cuộc vận động chính trị của Trung Cộng, nhưng bên trong nó vẫn tồn tại một hạt nhân kiên cố, hạt nhân này đại diện cho bản chất của Trung Cộng.

Sự phát triển của ngôn ngữ đảng có thể chia thành một số giai đoạn như sau:

(1) 1919-1937: Giai đoạn phôi thai của ngôn ngữ đảng

Năm 1919, bản dịch toàn văn “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” được xuất bản. Trung Cộng ban đầu được thành lập là một chi bộ của Quốc tế Cộng sản vùng Viễn Đông, vì vậy từ cơ sở lý luận ban đầu cho đến hình thức tổ chức của Trung Cộng đều mô phỏng theo Quốc tế Cộng sản, ngoài các từ ngữ dịch ra thì hoàn toàn không có những ngôn từ đặc trưng riêng của đảng. Thời gian này, lực lượng vũ trang được gọi là “hồng quân”, căn cứ địa được gọi là “tô khu”, khu chia cắt chính quyền gọi là “Xô Viết”, toàn là phụ họa theo Liên Xô.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

(2) 1938-1949: Phủ thêm vẻ ngoài được “Trung Quốc hóa’”

Vì nhu cầu đấu tranh nội bộ đảng, sau khi tháo chạy khỏi Diên An, Mao Trạch Đông vội vàng giành lấy quyền giải thích riêng về chủ nghĩa Mác-xít. Trong hội nghị toàn quốc lần thứ 6 của Trung Cộng năm 1938, Mao đã lần đầu tiên đưa ra khái niệm “Trung Quốc hóa chủ nghĩa Mác-xít”. Sau đó trong cuộc chỉnh phong Diên An, Mao một mặt dùng những ngôn ngữ đảng mới mà tự mình sáng tác ra để đả kích những người bất đồng ý kiến, mặt khác dùng để tẩy não các cán bộ đảng viên; một mặt phản đối những từ ngữ dập khuôn, sáo rỗng, mặt khác dùng ngôn ngữ của mình để tiêu chuẩn hóa văn phong. Cán bộ đảng viên bị ép học thuộc ngôn ngữ của lãnh đạo Trung Cộng, ngôn ngữ của tập đoàn Trung Cộng bước đầu đã được hình thành.

(3) 1949-1966: Giành quyền làm chủ ngôn ngữ

Trung Cộng đã cướp lấy chính quyền ở Trung Quốc Đại lục, đồng thời cũng giành lấy cả quyền thao túng ngôn ngữ trên mảnh đất này. Tất cả các cơ quan chi phối hệ thống ngôn ngữ tiêu chuẩn như – xuất bản, tin tức, học thuật, giáo dục, đều nằm trong tay giới quan chức, kết hợp với bộ tuyên truyền trung ương độc tài cùng hệ thống tuyên truyền phía dưới, hệ thống huấn luyện và tổ chức sinh hoạt cho cán bộ, các cơ quan giáo dục tư tưởng như trường cán bộ đảng trung ương và địa phương. Ngôn ngữ đảng đã mở rộng đến các ngành nghề, các giai tầng, các độ tuổi, các ngõ ngách ở Trung Quốc. Nó không chỉ được hợp thức hóa mà còn trở thành ngôn ngữ hợp pháp duy nhất. Trung Cộng bắt đầu dùng ngôn ngữ đảng để quét sạch văn hóa truyền thống.

(4) 1966-1976: Thời kỳ đại bùng phát ngôn ngữ đảng

Mười năm cách mạng văn hóa là thời kỳ đại bùng phát, phô trương thanh thế của Văn hóa đảng. Những tấm áp phích, khẩu hiệu rợp trời, các cuộc tranh luận với lời lẽ đanh thép, những bài hịch văn phê phán kẻ phản bội, các sắc lệnh (chỉ thị cao nhất)… Bạo lực ngôn ngữ được đẩy đến đỉnh điểm, người dân kinh hồn bạt vía khi tận mắt chứng kiến sự phá hủy ngôn ngữ truyền thống. Ngôn ngữ đảng đã hoàn toàn thay thế ngôn ngữ bình thường của con người, đến lúc này người Trung Quốc không còn biết nói những lời bình thường nữa.

(5) 1976-1989: Thời kỳ ngôn ngữ đảng hỗn hợp biến dị

Sau “cải cách mở cửa”, Trung Cộng có chút nới lỏng kiểm soát trong lĩnh vực kinh tế và văn hóa, một số ít từ ngữ thông thường được cho phép sử dụng trở lại, ví dụ đầu những năm 80 đã từng có các cuộc thảo luận về “chủ nghĩa nhân đạo”. Nhưng do Trung Cộng trong suốt 30 năm kể từ ngày thành lập đã liên tục nhồi nhét ngôn ngữ đảng vào đầu người dân, cũng do Trung Cộng quyết không buông lỏng kiểm soát trong lĩnh vực chính trị, nên ngôn ngữ đảng vẫn giữ vị trí chi phối trong hệ thống ngôn ngữ của người Trung Quốc, người ta đã mất đi khả năng phân biệt và khả năng miễn dịch đối với ngôn ngữ đảng.

(6) Từ năm 1989 cho đến nay: Thời kỳ suy đồi bại hoại

Vào thời kỳ Giang Trạch Dân nắm quyền, đằng sau vẻ bề ngoài phồn vinh của xã hội Trung Quốc tiềm ẩn rất nhiều mâu thuẫn, cuộc sống vô vị, đạo đức tuột dốc, tư tưởng khô kiệt, cải cách thụt lùi, các tệ nạn xã hội lan tràn, ngôn ngữ đảng càng thêm sáo rỗng, không có nội dung gì (“Dùng thuyết Tam đại biểu để chỉ đạo công tác giết mổ của chúng ta” – biểu ngữ tại một cơ sở giết mổ gia súc ở Đồng Nhân, Quý Châu), nó thể hiện sự suy thoái của thời kỳ cuối cách mạng. Ngôn ngữ đảng thời kỳ cuối có ý đồ mượn thuật ngữ Tây phương, thuật ngữ khoa học kỹ thuật (công trình XX) và một số cách dùng từ theo văn hóa truyền thống (đức trị) để cứu vãn số mệnh suy tàn của mình. Ngôn ngữ đảng và một lượng lớn dân ca, truyện cười chính trị đã tạo nên hiện tượng cộng sinh lạ lùng, nó thể hiện sự suy đồi toàn diện của xã hội và thái độ tự chế giễu trong tuyệt vọng của người dân.

3) Ngôn ngữ đảng mang tính giai đoạn và ngôn ngữ đảng mang tính chế độ

Căn cứ vào việc sử dụng từ ngữ xuyên suốt theo các giai đoạn phát triển của Trung Cộng, có thể chia ngôn ngữ đảng thành hai loại “ngôn ngữ đảng mang tính giai đoạn” và “ngôn ngữ đảng mang tính chế độ”. Ngôn ngữ đảng mang tính giai đoạn là ngôn ngữ được sáng tạo và sử dụng trong các cuộc vận động chính trị của Trung Cộng, nó mang tính tạm thời và dễ loại bỏ. Còn ngôn ngữ đảng mang tính chế độ lại xuyên suốt qua các thời kỳ kể từ khi thành lập Trung Cộng đến nay, nó là ngôn ngữ nòng cốt nhất, trọng yếu nhất, và thể hiện rõ nhất bản chất của Trung Cộng. Ngôn ngữ đảng mang tính giai đoạn thể hiện sự “thay đổi” của Trung Cộng, còn ngôn ngữ đảng mang tính chế độ thể hiện sự “bất biến” của Trung Cộng. Nếu ngôn ngữ đảng mang tính giai đoạn như là phù sa trôi theo dòng nước, thì ngôn ngữ đảng mang tính chế độ như lòng sông kiên cố. Sự lừa gạt của Trung Cộng thể hiện ở chỗ chúng thu hút sự chú ý của mọi người vào ngôn ngữ đảng mang tính giai đoạn, mỗi lần qua một cuộc vận động chính trị, chúng liền nhanh chóng đào thải những ngôn ngữ đó, thay hình đổi dạng để lừa gạt mọi người. Những người tưởng rằng “Trung Cộng đã thay đổi”, “Trung Cộng ngày hôm nay đã không còn là Trung Cộng ngày hôm qua nữa”, đều không nhận ra mối liên hệ giữa ngôn ngữ đảng mang tính giai đoạn và ngôn ngữ đảng mang tính chế độ này.

Những cuộc vận động chính trị không ngừng đã sản sinh ra rất nhiều từ ngữ mới, như ví dụ dưới đây (Bảng 4):

Niên đại Vận động chính trị Ngôn ngữ đảng
1942 Vận động Chỉnh Phong Chủ nghĩa chủ quan, chủ nghĩa bè phái, chủ nghĩa tự do, thẩm can, diệt phản, cứu giúp những người sa ngã, tin vịt, bức cung, hạ nhục, loại bỏ tư tưởng xấu
1947-1950 Cải cách ruộng đất Ba kiểm tra, ba chỉnh đốn, dựa vào tầng lớp bần nông, cố nông, đoàn kết tầng lớp trung nông, tầng lớp phú nông trung lập, vùng lên, đánh bọn cường hào, chia lại ruộng đất
1951-1952 Tam phản ngũ phản Các nhà tư bản phạm pháp, chống lại sự lãnh đạo kinh tế theo chủ nghĩa xã hội, nhảy dù (nhảy lầu tự sát)
1957 Phản hữu Trăm hoa đua nở, dụ rắn ra khỏi hang, âm mưu thủ đoạn, cánh hữu, phần tử chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh, mở rộng tấn công trên mọi mặt
1958-1960 Đại nhảy vọt Đường lối chung chủ nghĩa xã hội, công xã nhân dân, nhất đại nhì công (quy mô lớn và mức độ công hữu hóa cao), tiến hành cách mạng trên ba phương diện (hình thành đường lối chung, bắt đầu bằng đại nhảy vọt, thực hiện công xã nhân dân), cánh đồng vạn tấn, ba năm tai họa thiên nhiên
1963-1966 Tứ thanh Vận động giáo dục xã hội chủ nghĩa ở vùng nông thôn, đoàn kết các tầng lớp bần nông, cố nông, trung nông, bốn loại cán bộ không trong sạch
1966-1976 Đại Cách mạng Văn hóa Bè phái, xuất hiện phản cách mạng, trợ giúp phe cánh tả, càn quét, đấu văn, đấu võ, đấu tố, chuồng bò (các cơ quan, đơn vị nơi hạn chế tự do của các phần tử cánh hữu), phê bình sửa chữa, thuyết đỉnh cao (tư tưởng Mao là đỉnh cao của chủ nghĩa Marx Lenin), bài ca cách mạng, điệu múa cách mạng xin chỉ thị vào buổi sáng, báo cáo lại vào buổi tối, sách đọc hàng ngày, nhuộm đỏ đại dương, sách quý cách mạng, hồng vệ binh, phe tạo phản, phe theo tư bản, lũ thối tha, lũ chó má, lật lại bản án, đứng nhầm hàng ngũ, đại đoàn kết, tấm gương cách mạng, đại hội đỏ, hậu đài đen, đội tuyên truyền, đấu tư phê tu (đấu tranh chống tư hữu, phê phán chủ nghĩa xét lại, phê phán giai cấp tư sản), văn công võ vệ (dùng ngòi bút làm vũ khí, dùng vũ lực để phòng vệ), hưng vô miệt tư (đề cao tư tưởng giai cấp vô sản, xóa bỏ tư tưởng giai cấp tư sản), chiến sĩ cách mạng trẻ, kẻ phản động, trào lưu phản động vào tháng 2, lên rừng xuống biển, cây đại thụ (chỉ vị thống soái Mao), phê phán Lâm Bưu, Khổng Tử, pháp quyền của giai cấp tư sản, quyền lực của giới trí thức phản động, vận động thanh trừng giai cấp, trời đất bao la ta có đất dụng võ
1977-1989 Thời kỳ “cải cách mở cửa” Thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm chân lý, cải cách mở cửa, mò đá qua sông, mèo trắng mèo đen, bốn nguyên tắc cơ bản, bốn hiện đại hóa, ưu tiên một số người giàu lên, xã hội chủ nghĩa mang đặc sắc Trung Quốc, gột rửa sự tha hóa về tinh thần, phản đối tự do hóa giai cấp tư sản, bốn loại người mới, năm bài giảng bốn đức tính ba yêu mến.
1989-2002 Thời kỳ Giang Trạch Dân Tam giảng, tam đại biểu, tám điểm của Giang Trạch Dân, theo kịp thời đại, nền văn hóa tiên tiến, sự ổn định làm nên tất cả
Từ năm 2002 đến nay Thời kỳ Hồ Cẩm Đào Xã hội hài hòa, lấy dân làm gốc, giữ vị trí tiên phong, bát vinh bát nhục, trỗi dậy trong hòa bình, quan điểm về phát triển khoa học, quan điểm về vinh nhục của Chủ nghĩa Xã hội

Ngôn ngữ đảng mang tính chế độ được xây dựng trong quá trình vận hành của đảng (gắn liền với tổ chức), như “tuyên truyền, quán triệt, chấp hành, đấu tranh, chiến sỹ thi đua, đại biểu, tinh thần hội nghị, đường lối, nhận thức, lãnh đạo, cấp trên, hiệu triệu, phấn đấu, ủy ban, báo cáo tư tưởng, tự kiểm điểm, phê bình và tự phê bình” v.v.. những từ ngữ này trực tiếp định ra quyền lực của đảng, kết cấu tổ chức, sự khống chế tư tưởng, thủ đoạn thống trị và mối quan hệ với quần chúng nhân dân của “đảng”, đó là loại ngôn ngữ thể hiện rõ nhất thuộc tính tà giáo của Trung Cộng.

4) Mối quan hệ giữa ngôn ngữ đảng và ngôn ngữ bình thường

(1) Ngôn ngữ đảng bám rễ vào ngôn ngữ dân tộc

Trung Cộng không hề tự sáng tạo ra một loại ngôn ngữ nào, nó kế thừa hình thức căn bản của ngôn ngữ dân tộc và nhồi nhét vào đó nội hàm của Văn hóa đảng, làm biến đổi từ gốc rễ ngôn ngữ dân tộc Trung Hoa. Do bị ngôn ngữ đảng bám rễ như một phụ thể, Hán ngữ hiện đại tuy ngữ âm biến đổi không nhiều và vẫn sử dụng những từ vựng cơ bản, nhưng cú pháp câu đã bị thay đổi, chủ yếu là do Hán ngữ bị Âu hóa sau cuộc vận động văn bạch thoại. Sự thay đổi và biến dị của Hán ngữ dưới sự thao khống của Trung Cộng thể hiện ở những phương diện sau đây.

(2) Sáng tạo ra lượng lớn từ mới

Như: Khu Xô viết, vùng căn cứ giáp ranh, hồng quân, đấu tranh, trường chinh, mặt trận thống nhất, chỉnh phong, cải cách ruộng đất, tổ đổi công, hợp tác hóa, doanh nghiệp liên doanh nhà nước tư nhân, túc phản (quét sạch bọn phản động), điều cán bộ xuống cơ sở rèn luyện (đi đày), đại nhảy vọt, đường lối chung, công xã nhân dân, an cương hiến pháp (cải cách chế độ, đưa cán bộ đi lao động, đưa công nhân lên làm quản lý), quốc khánh, con người dẻo dai, bền bỉ, cánh đồng ở Đại Trại, tinh thần Long Giang, hồng vệ binh, tấm gương cách mạng, theo phe tư sản, phe tạo phản, đại đoàn kết, đội tuyên truyền, trợ giúp phe cánh tả, phê bình quy mô lớn, tự do phát biểu ý kiến, đội quân thanh trừng giai cấp, ủy ban cách mạng, đội quân tóc dài cách mạng, phiếu lương thực, phiếu vải, phiếu dầu, dấu ấn giai cấp, thống soái chính trị, gió đông áp đảo gió tây (phe chính nghĩa áp đảo phe phản diện), phải nắm bằng hai tay v.v.. Những từ ngữ này đều do Trung Cộng tạo ra trong quá trình hoạt động và trong các cuộc vận động chính trị, mặc dù sử dụng Hán ngữ, nhưng bản chất lại khác hẳn với nội hàm văn hóa dân tộc, nó hoàn toàn mang màu sắc văn hóa đảng.

(3) Làm sai lệch ý nghĩa của Hán ngữ

Một số từ vốn là từ vựng tiếng Hán, nhưng do bị Trung Cộng sử dụng sai lệch ý nghĩa trong thời gian dài, khiến cho ý nghĩa của những từ này bị bóp méo, rồi bị định nghĩa lại trong từ điển, do vậy trở thành nghĩa cơ bản hoặc một trong những nghĩa cơ bản của từ vựng đó, ví dụ như tích tiểu thành đại, nhắm mắt làm theo,mọi người vẫn tưởng rằng nghĩa gốc của những từ này là như thế, nên không có cảm nhận về nhân tố văn hóa đảng trong đó.

Như: Bí thư (vốn là nhân viên thư ký, một chức vụ gần giống với văn thư. Trung Cộng tự quảng cáo mình là “toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân”, vì vậy gọi giáo chủ của tà giáo Trung Cộng – người có quyền lực tối cao là “bí thư”, khiến người ta lầm tưởng đó là người “gần gũi với dân”, “phục vụ nhân dân”), kiểm thảo (nghĩa gốc là kiểm tra, nghiên cứu, thảo luận, ở Đài Loan vẫn sử dụng theo nghĩa này. Ép mọi người “kiểm thảo” là một trong những thủ đoạn chủ yếu mà Trung Cộng dùng để áp chế tư tưởng của quần chúng, đảng viên. Dưới chế độ thống trị Trung Cộng, từ đảng viên cấp dưới cho đến lãnh đạo trung ương, từ học sinh tiểu học đến giáo sư lâu năm, ai cũng từng bị ép viết “kiểm thảo”. Trong “sổ kiểm thảo”, mọi người bị ép nhận rằng mình đã phạm lỗi, phải đào bới tận căn nguyên những sai lầm trong tư tưởng của bản thân, thể hiện quyết tâm đi theo “đảng”, mong có được sự khoan hồng của tổ chức), mê tín (người ta chỉ cần say mê tin tưởng vào điều gì đó, thì chính là mê tín, bản thân từ này không có nghĩa xấu. Con người đều ở trong mê, chỉ khác nhau là có “tin” hay “không tin” mà thôi. Nếu người ở trong mê có thể tin thần, tin thiên lý, tin thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo, thì toàn bộ xã hội sẽ giữ được tiêu chuẩn đạo đức cao, như vậy đều tốt cho tất cả mọi người. Trung Cộng đã nhồi nhét nội hàm “mê muội”, “lạc hậu”, “phản khoa học” vào trong từ “mê tín”, không chỉ làm biến dị Hán ngữ, mà còn làm bại hoại đạo đức xã hội), giác ngộ (vốn là một từ mang sắc thái văn hóa tu luyện, chỉ người thông qua tu luyện đạt được đại trí huệ và năng lực to lớn, “Phật” trong tiếng Phạn vốn có nghĩa là người giác ngộ thông qua tu luyện; Đảng Cộng sản đã liên hệ từ này với mức độ bị tẩy não của các đảng viên, nếu đảng tính áp đảo nhân tính thì chính là “giác ngộ cao”, nếu không thì là “giác ngộ kém”) v.v..


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Trung Cộng biến nghĩa ví von của một số từ thành nghĩa thông thường, khiến cho những từ này cũng bị nhiễm màu sắc Văn hóa đảng. Ví dụ: gánh nặng (nguyên nghĩa là bưu kiện, hiện nay thường được dùng để chỉ gánh nặng tư tưởng. Người bị Trung Cộng tẩy não thường phải chịu sự xung đột giữa “đảng tính” và “nhân tính”, “nhân viên công tác tư tưởng chính trị” của Trung Cộng thường khuyên người ta “vứt bỏ gánh nặng tư tưởng”, có nghĩa là chỉ cần vứt bỏ nhân tính, thì sẽ không còn sự dằn vặt của lương tâm nữa), tóc, mũ, gậy (“túm tóc”, “chụp mũ”, “quật ngã” là những thủ đoạn thường dùng trong các cuộc vận động chính trị của Trung Cộng. Túm tóc nghĩa là nắm chắc lấy điểm yếu của kẻ thù chính trị; chụp mũ nghĩa là chụp thêm cho kẻ thù chính trị hoặc đối tượng đả kích một tội danh đáng sợ, như “phản đảng phản xã hội chủ nghĩa”, “công kích Mao chủ tịch”, “hữu khuynh” v.v.. ban đầu làm ra vẻ “nhân đạo” để chiếm lấy thế thượng phong, sau đó thẳng tay trừng trị mà không phải lo lắng gì; quật ngã chính là “đấu tranh tàn khốc, công kích vô tình”).

Trung Cộng là một tổ chức tà giáo khống chế các thành viên của nó vô cùng chặt chẽ, nó dùng cách khống chế quân đội để khống chế toàn xã hội. Thể hiện trên ngôn ngữ là rất nhiều từ ngữ đằng đằng sát khí dùng trong quân sự đã trở thành những từ ngữ thường nhật, đây cũng là lý do chính vì sao người Hoa hải ngoại và người dân Hồng Kông cảm thấy lời nói của người dân Đại lục đầy tính sát khí. Chúng ta thường thấy các từ như “đội ngũ” (chỉ tập thể, đoàn đội), chiến tuyến (chỉ một lĩnh vực nào đó, đại lục có một tạp chí khoa học  có tên là “mặt trận khoa học xã hội”, “lính”, “chiến sỹ” (chỉ thành viên, nhân viên công tác, thường đi cùng với từ với “mặt trận”, như “một người lính mới trên mặt trận giao thông của đảng”), “tiêu diệt” (chỉ ăn hết, làm hết v.v.. như “anh phải tiêu diệt hết đĩa rau này”), “trận tiêu diệt” (chỉ hoàn thành nhiệm vụ, như “chúng ta tiêu diệt trận này nhé”), “sức chiến đấu” (“tôi không còn sức chiến đấu nữa rồi” nghĩa là “tôi không ăn được nữa rồi”), “thu dọn chiến trường” (chỉ công tác khắc phục hậu quả), “Tinh giảm biên chế” (chỉ việc sa thải nhân viên dư thừa) v.v..

(4) Thay đổi sắc thái tình cảm của từ vựng

Thế giới quan của Văn hóa đảng và văn hóa truyền thống hoàn toàn tương phản với nhau, Trung Cộng quen với việc biến điều giả dối thành sự thật, biến thứ xấu xa thành tốt đẹp, biểu hiện trên ngôn ngữ chính là làm đảo lộn hàm nghĩa tốt xấu của một số từ. Từ “đấu tranh”, “tính chiến đấu” chưa từng được văn hóa nhân loại bình thường ca ngợi, nhưng Trung Cộng lại coi nó là những hành vi, tư tưởng đúng đắn nhất và truyền bá rộng rãi. Đồng thời những từ vốn có ý nghĩa tốt đẹp hoặc những từ trung tính lại bị mang nghĩa tiêu cực. Như từ “người lương thiện” (trong “vận động cải cách ruộng đất” Trung Cộng thường dùng để nói về “địa chủ”, như “địa chủ Vương là người lương thiện”, “địa chủ Lý là người lương thiện”. Sau khi Trung Cộng phát huy sở trường của nó trong việc phỉ báng, vu khống “địa chủ” thì “người lương thiện” trở thành đồng nghĩa với “kẻ gian ác”), “trung thành”, “nhân ái”, “lễ nghĩa”, “hiếu thuận”, “thanh liêm”, “công hầu đế vương”, “tài tử giai nhân” (Trung Cộng đã biến những từ này thành từ mô tả “chủ nghĩa phong kiến”), “nhân tính”, “dân chủ” (Trung Cộng gọi là thuộc về “giai cấp tư sản”), “giải thưởng” (“chủ nghĩa giải thưởng” nghĩa là chỉ chú ý đến nâng cao kỹ năng làm việc mà thiếu đi “tinh thần cách mạng”) v.v..

(5) Thay đổi hàm nghĩa liên tưởng của từ vựng

Ý nghĩa của một từ vựng bao gồm nghĩa lý tính, nghĩa cảm tính, nghĩa kết hợp, nghĩa liên tưởng. Nghĩa liên tưởng là chỉ một từ sau nhiều lần sử dụng, khiến người ta liên tưởng đến một ý nghĩa nhất định nào đó, chỉ cần nói ra từ này thì người ta sẽ liên tưởng đến một câu nói, một bối cảnh xã hội, thậm chí là một hình thức văn hóa nhất định.

Ví dụ, màu đỏ vốn là một màu sắc phổ thông, nhưng vì Trung Cộng dùng màu đỏ để chỉ “cách mạng”, “tính cách mạng”, nên chỉ cần nhắc đến màu đỏ, người ta liền liên tưởng đến một loạt các thông tin liên quan đến cách mạng của đảng cộng sản, như “giang sơn cách mạng”, “người tiếp nối cách mạng”, “làm việc hết mình với một lòng nhiệt huyết cách mạng”, “tua du lịch đến các địa điểm kỷ niệm cách mạng”, “ký ức cách mạng”, “ánh sao cách mạng lấp lánh” v.v..

Trung Cộng khống chế xã hội một cách toàn diện và nghiêm ngặt, nó nhồi nhét Văn hóa đảng trong suốt thời gian dài bằng số lượng lớn từ ngữ với các cấp độ khác nhau. Ví dụ, “mưa gió” (chỉ đấu tranh, như “trải qua mưa gió, mới hiểu rõ cuộc đời”), “món hàng” (chỉ đồ vật, ví dụ như “ món hàng lỗi thời của giai cấp tư sản”), “bàn tính” (chỉ kế hoạch, ý tưởng, ví dụ “kẻ địch đã bàn tính sai”), “khoác áo” (chỉ vẻ bề ngoài, đồ ngụy trang, ví dụ Trung Cộng nói Lâm Bưu là “khoác áo của chủ nghĩa Marx Lenin, thực hành theo đạo của Khổng Mạnh”), “sau cơn mưa trời lại sáng” (Nhằm tô vẽ cho bản thân, Trung Cộng thường dùng cách nói này để ví với “sự quan tâm của đảng”), “thăm hỏi ân cần” (trải qua sự tuyên truyền lâu dài của Trung Cộng, từ này thường khiến người ta liên tưởng đến các cán bộ Trung Cộng “quan tâm đến quần chúng nhân dân”) v.v..

(6) Cố tình đào thải, đưa từ vựng truyền thống ra ngoài lề

Trong quá trình xây dựng Văn hóa đảng, Trung Cộng một mặt tạo ra nhiều từ mới hoặc làm sai lệch ý nghĩa của từ vựng tiếng Hán, mặt khác lại cố tình đào thải hoặc đưa từ vựng trong văn hóa truyền thống ra ngoài lề, ví dụ những từ ngữ liên quan đến tu luyện (Thái cực Bát Quái, Hà đồ Lạc thư, âm dương ngũ hành, đan kinh đạo tạng), từ ngữ liên quan đến đạo đức truyền thống (nhân quả báo ứng, nhân nghĩa lễ trí tín) v.v.. Trong xã hội truyền thống, “nhân quả báo ứng” là nhận thức chung của toàn thể các thành viên trong xã hội, nó có vai trò to lớn trong việc duy trì tiêu chuẩn đạo đức của người dân và ổn định trật tự xã hội. Trong Văn hóa đảng, từ này không bị bỏ đi hẳn mà bị biến thành nghĩa tiêu cực, trở thành đối tượng bị coi thường, khinh miệt, nhạo báng.

(7) Cấu trúc câu, hành văn và tu từ

Ngôn ngữ đảng còn biểu hiện ở một số cấu trúc câu, cách hành văn và các biện pháp tu từ . Tính đấu tranh của Trung Cộng thẩm thấu vào trong mọi phương thức dùng từ, biểu hiện là trong ngôn ngữ có mang ý thức đấu tranh, nói lời không hay thì dễ mà nói lời hay thì khó, thường dùng những câu hỏi vặn và câu nói mỉa mai, khiến cho đối phương rơi vào trạng thái bị động, lúng túng, khó xử.

Khi chứng minh một đạo lý, người bị ảnh hưởng bởi Văn hóa đảng không giảng đạo lý với một tâm thái bình tĩnh, ôn hòa, từ bi với mọi người, mà là ngụy biện, cãi lý, có lý thì nói cho đến cùng, không có lý thì cũng cãi bằng được, thái độ vênh váo, hung hăng. Có người đã chỉ ra một vài đặc điểm trong “hệ thống ngôn ngữ của Mao Trạch Đông”, những đặc điểm này không nhiều thì ít đã thẩm thấu vào trong phương thức sử dụng ngôn ngữ của người Trung Quốc. Những đặc điểm này bao gồm:

Thứ nhất, định tính. Ví dụ: “XXX là người thế nào? Là con chó trung thành của thế lực phản động người Hoa ở nước ngoài.” Thứ hai, gán tên cho cả nhóm. Điều thuận tiện ở đây là không thế chứng minh được anh ta đang bịa đặt, hơn nữa anh ta cũng không phải chịu bất cứ trách nhiệm nào khi phát ngôn. Ví như nói: “Ai cũng biết rằng, quảng đại nhân dân Trung Quốc sớm đã nhìn rõ bộ mặt thật của hắn.” Thứ ba, đó là đẩy trách nhiệm tìm chứng cứ cho đối phương, trên thực tế bản thân anh ta không thể chứng minh lời nói của mình, nhưng lại làm như thể người khác cũng không thể chứng minh, từ thường dùng nhất là “không thể nói cho người khác” hoặc “có dụng ý xấu”. Như “nhất cử nhất động của hắn ta đều có mục đích chính trị ở bên trong.” Thứ tư, hết thảy chứng cứ đều là giả. Đối với những sự thật không thể phản bác được thì anh ta sẽ chụp mũ cho là “đạo đức giả”, “có ác ý”, “thông tin giả”. Ví dụ, “Hắn ta cứ luôn miệng nói rằng XXX, thực tế đều là giả dối, chỉ có đảng chúng ta mới thực sự bảo vệ XXX.” Sau khi tội ác mổ cướp nội tạng học viên Pháp Luân Công của Trung Cộng bị bại lộ, “người phát ngôn tin tức” của Trung Cộng giảo hoạt nói rằng: “Gần đây truyền thông nước ngoài ngụy tạo tin tức giả về hoạt động cấy ghép nội tạng của nước ta, công kích chế độ tư pháp nước ta một cách đầy ác ý.” Thứ năm, tóm lại, không cho đối phương bất cứ đường thoái lui nào. Như: “Cho dù hắn ta giảo hoạt thế nào cũng không thể phủ nhận bản chất thực XXX của hắn.” Thứ sáu, tự hạ thấp bản thân, kiểu như: “Ta là lưu manh nên ta chẳng sợ ai.” Hay: “Đảng cộng sản chúng ta chính là phải đập cho kẻ phản động như hắn ta một cách không thương tiếc, không được nhân nhượng chút nào.”

Cấu trúc câu và hành văn bộc lộ rõ lối tư duy biến dị và tà ác của Trung Cộng, có thể do từ ngữ đặc thù của Trung Cộng tạo thành, hoặc do từ ngữ phổ thông tạo thành. Cho dù thế nào, những câu văn này đều được tạo nên bởi phương thức tư duy Văn hóa đảng, tất cả đều có dấu ấn rõ nét của Văn hóa đảng.

(8) Ngôn ngữ đảng là một hệ thống

Ngôn ngữ tồn tại một cách có hệ thống. Cách biểu đạt ý nghĩa và cách sử dụng từ đều chịu sự chế ước của cả hệ thống. Ngôn ngữ đảng cũng được xây dựng theo hệ thống. Trong quá trình này, một mặt Trung Cộng tạo ra một lượng lớn từ ngữ (cùng với chế độ danh xưng từ ngữ), mặt khác, từ ngữ trong cuộc sống thường nhật, từ ngữ trong văn hóa truyền thống, từ ngữ trong văn hóa ngoại quốc bị tổ chức lại trong hệ thống ngôn ngữ đảng và mang thêm ý nghĩa mới. Vì vậy, trong ngôn ngữ mà người Trung Quốc sử dụng hiện nay, những từ vựng vốn có của Hán ngữ mặc dù chiếm số lượng không ít, nhưng do ý nghĩa và cách dùng từ đó bị Trung Cộng cải biến mạnh mẽ, nên những từ phổ thông này đa số đều mang sắc thái Văn hóa đảng.

“Đảng” giống như một trường hấp dẫn mạnh mẽ. Nó giống như một ngôi sao đã tắt lao vào hệ mặt trời, trong nháy mắt có thể thay đổi cách sắp xếp các hành tinh trong hệ ngân hà, “đảng” xâm nhập vào không gian ngôn ngữ Trung Quốc, làm thay đổi trường ngữ nghĩa và cách biểu đạt ý nghĩa của Hán ngữ. “Đảng” giống như một nguồn gây ô nhiễm mạnh mẽ. Những nơi nào Văn hóa đảng vươn đến thì ngôn ngữ bình thường ở đó đều khó tránh khỏi bị nhiễm độc tố.

5) Ngôn ngữ đảng thực chất là ngôn ngữ của xã hội đen được Trung Cộng truyền bá toàn xã hội

Từ khi thành lập, Trung Cộng đã là một bè lũ lưu manh, chỉ là sau khi nó cướp đoạt được chính quyền thì “kẻ cướp lại trở thành vua”, bè lũ lưu manh được chính quyền hóa, tà giáo trở thành quốc giáo, trong lịch sử nhân loại chưa từng xuất hiện tình huống này, do vậy dù có trí tưởng tượng phong phú đến đâu, người ta cũng không thể hình dung nổi hoặc hoàn toàn không dám nghĩ đến sự thực này. “Cửu Bình Cộng sản đảng” đã lần đầu tiên tiết lộ Trung Cộng là một tà linh, tà giáo, là thế lực lưu manh phản vũ trụ, trên một ý nghĩa nhất định, quyển sách đã bắt đầu cho một quá trình “tìm lại sự thật”, giúp mọi người có một cái nhìn đúng đắn về Trung Cộng.

Vì vậy, ngôn ngữ đảng thực chất là một loại ngôn ngữ xã hội đen, hoặc là “từ lóng của tập đoàn”, “từ lóng chính trị”. Thực chất việc Trung Cộng phổ biến ngôn ngữ đảng chính là đem ngôn ngữ xã hội đen truyền bá đến toàn thể thành viên xã hội.

Ngôn ngữ xã hội đen còn gọi là ngôn ngữ bí mật, là ngôn ngữ được sử dụng trong xã hội đen, trong nội bộ bang phái. Loại ngôn ngữ này thường không có ngữ âm độc lập và hệ thống ngữ pháp, nó là một hiện tượng biến dị ngôn ngữ như một phụ thể bám vào ngôn ngữ xã hội bình thường. Ngôn ngữ đảng hoàn toàn phù hợp tiêu chuẩn này.

Ngôn ngữ xã hội đen có chức năng giao tiếp, chức năng bảo mật và chức năng nhận biết. Chức năng giao tiếp nghĩa là ngôn ngữ xã hội đen có thể có tác dụng biểu đạt và trao đổi ý kiến trong nội bộ bang phái; chức năng bảo mật chỉ người ngoài bang phái không thể hiểu được hàm nghĩa của ngôn ngữ đen; chức năng phân biệt nghĩa là căn cứ vào việc thành viên bang phái có sử dụng và hiểu được ngôn ngữ lóng của bang phái đó hay không để phán đoán xem họ có phải là “người mình” hay không. Đáng chú ý là, chức năng giao tiếp và chức năng bảo mật của ngôn ngữ đều được đồng thời thực hiện, bởi vì nếu không có hành vi giao tiếp thì không có bí mật để giữ; sử dụng ngôn ngữ xã hội đen có thể có tác dụng biểu đạt ý kiến với các thành viên trong bang phái, mà vẫn có thể giữ được bí mật  đối với người ngoài.

Ngôn ngữ đảng có ba chức năng, nhưng phương thức phát huy tác dụng của ngôn ngữ đảng thì rất phức tạp. Mọi người đã quen thuộc với những lời thoại ngôn ngữ xã hội đen trong vở kịch cách mạng điển hình “Dùng mưu trí để dọa hổ”, như “thiên vương cái địa hổ”, “bảo tháp trấn yêu ma”, từ bề mặt chữ thì hoàn toàn không hiểu được ý nghĩa gì, tất nhiên chỉ có những người biết được quy tắc giải mã của ngôn ngữ xã hội đen mới hiểu được. Nhưng những câu đằng sau “sao mặt đỏ thế” và “sao lại sợ xanh mặt rồi”, nghe vừa giống lời của người thường, vừa giống ngôn ngữ đen, có thể hiểu theo hai tầng nghĩa. Mọi ngôn ngữ đảng của Trung Cộng đều có hai tầng nghĩa này. Tầng nghĩa đầu bao gồm “phần tử tam phản”, “tam danh tam cao” (ba danh hiệu: nhà văn, diễn viên, giáo sư được hưởng ba đãi ngộ: lương cao, nhuận bút cao, thưởng cao), “tam cảo nhất soán” (thực hiện chủ nghĩa xét lại, thực hiện phân tách, thực hiện âm mưu quỷ kế), “Tam hòa nhất thiểu” (Phải hòa hoãn với chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa xét lại và các phe phái phản động trên thế giới; giảm bớt sự hỗ trợ đối với cách mạng thế giới), “Tam tự nhất bao” (Tự do cư trú, tự do buôn bán, tự chịu lời lỗ, bao tiêu sản phẩm), “ba định hướng”, “ba lợi ích”, “ba điều học tập”, “tam đại biểu”, “một trọng tâm, hai điểm cơ bản”, “tăng cường một ý thức, hoàn thiện hai cơ chế, thực hiện ba chuyển biến, nắm vững ba nguyên tắc”, v.v.. nếu không được giải thích thì người bình thường khi đọc hoặc nghe những cụm từ này sẽ hoàn toàn không hiểu (kể cả khi đã nghe giải thích thì cũng rất khó khăn để có thể hiểu được hết). Một số từ khác, nhìn bề ngoài thì giống như từ ngữ bình thường, nhưng lại bị Trung Cộng đưa vào hàm nghĩa đặc biệt, đối với những từ này không thể lý giải từ mặt chữ được. Điểm phức tạp của ngôn ngữ Trung Cộng ở chỗ, cùng một cụm từ nhưng dùng cách giải mã ở tầng thứ khác nhau, có thể hiểu ra những ý nghĩa khác nhau. Càng đứng trên đỉnh kim tự tháp quyền lực của Trung Cộng thì càng nắm rõ được phương thức giải mã, càng có thể nhìn ra hàm nghĩa chân thực của ngôn ngữ đảng Trung Cộng. Ví dụ, gần đây Trung Cộng kêu gọi “xã hội hài hòa”, “lấy nhân làm gốc”, những đảng viên và người dân thường không hiểu rõ ngôn ngữ đen của Trung Cộng có thể sẽ cảm thấy Đảng Cộng sản thực sự vì quần chúng nhân dân, nhưng cán bộ cấp trung của Trung Cộng nắm được phương pháp giải mã nhất định, sẽ có thể lý giải một cách chính xác rằng “bây giờ đã đến thời kỳ ‘hài hòa áp đảo tất cả’, nếu ai dám tố cáo lên trên, khóc lóc kêu oan, nói những lời ‘không êm tai’ thì bộ máy chuyên chính của đảng sẽ không để yên!” Trung tâm quyền lực của Trung Cộng mới nắm được công cụ giải mã cao cấp nhất, chỉ họ mới biết hàm nghĩa thâm sâu nhất của từ “hài hòa”, “lấy dân làm gốc”: Làn sóng thoái đảng đã khiến cho nỗi sợ hãi mất đảng của Trung Cộng tăng lên đến cực điểm, do vậy nó hi vọng rằng hai khẩu hiệu này có lẽ có thể cứu được số mệnh lay lắt của nó, cứu vãn sự sụp đổ của Trung Cộng.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Do cơ chế bảo mật phức tạp của ngôn ngữ đảng Trung Cộng, rất nhiều người ngoại quốc, bao gồm rất nhiều chuyên gia, học giả, chính khách đều bị Trung Cộng lừa gạt mà không biết. Một vị học giả ngoại quốc đã phân tích đặc điểm dùng từ trong bài xã luận đầu năm của “Nhân dân nhật báo” và báo cáo đại hội đảng Trung Cộng, vị này đã dựa vào phương pháp thống kê tần suất từ ngữ để phân tích xu hướng chính trị của Trung Cộng. Nhưng Trung Cộng là kẻ “nói nhưng không làm, làm nhưng không nói”, phương pháp nghiên cứu của vị học giả này không cách nào phát hiện ra xu hướng chính trị của Trung Cộng, cùng lắm chỉ có thể nhận ra xu hướng dối trá của Trung Cộng mà thôi.

Chức năng phân biệt của ngôn ngữ đảng thể hiện ở chỗ, thông qua cách nói của một người, các đảng viên có thể xác định người này có phải thành viên của đảng hay không và mức độ nhận thức của anh ta về Văn hóa đảng đến đâu. Năm 2000 đã xảy ra một sự kiện bất ngờ khi cựu lãnh đạo Trung Cộng Giang Trạch Dân quát mắng một nữ phóng viên Hồng Kông. Nếu chúng ta nhìn lại bối cảnh lúc đó, sẽ phát hiện ra câu hỏi của phóng viên Hồng Kông vô cùng đơn giản, thế nhưng qua câu hỏi đơn giản như vậy, Giang lại phán xét chính xác rằng: Cô phóng viên này không đồng ý với chính sách Hồng Kông của Trung Cộng, nên đã lớn tiếng quát tháo. (Phóng viên: Chủ tịch Giang, ngài cảm thấy việc ông Đổng liên tiếp giữ chức vụ có tốt hay không?/ Giang: Tốt chứ! / Phóng viên: Trung Ương cũng ủng hộ ông ấy ư? / Giang: Đương nhiên rồi / Phóng viên: Không lo rằng việc này sẽ ảnh hưởng đến nền tự trị của Hồng Kông sao? / Giang: Lớn tiếng quát tháo)

Tháng 07 năm 2005, tổ phó “tổ lãnh đạo hoạt động giáo dục đảng viên tiên tiến”, Phó Bộ trưởng Bộ Tổ chức Trung ương Lý Cảnh Điền đã giới thiệu với giới truyền thông về tình hình “duy trì trật tự” của Trung Cộng. Có phóng viên hỏi: “Mấy tháng gần đây, ở vùng nông thôn Trung Quốc xuất hiện một số hiện tượng bạo loạn, xin ông cho biết Đảng Cộng sản Trung Quốc xử lý những vụ bạo loạn này như thế nào?” Lý Cảnh Điền trả lời: “Rất cảm ơn sự quan tâm của cô tới tình hình nông thôn Trung Quốc. Nhưng, tôi có thể khẳng định với cô rằng, những sự việc xảy ra gần đây ở nông thôn Trung Quốc, chúng tôi gọi là “sự kiện mang tính tập thể” chứ không gọi là bạo loạn.” Lý Cảnh Điền ngay lập tức đã nhận ra vị phóng viên này không phải là thành viên của bang phái Trung Cộng.

Sống lâu dài trong chế độ Trung Cộng, để hiểu được tình hình chân thực của bối cảnh chính trị, người Trung Quốc đã phát triển bản lĩnh siêu thường đọc hiểu các văn kiện và báo chí Trung Cộng. Họ rất giỏi phán đoán xu hướng chính trị của Trung Cộng qua các câu chữ, thứ tự sắp xếp các lãnh đạo, hoặc sự thay đổi cách đề xuất vấn đề. Trung Cộng đã lũng đoạn tất cả các nguồn tin tức của người dân, nên họ đành phải làm như vậy. Họ cũng có thể dò tìm ra được đầu mối của những thay đổi về chính trị, nhưng vì phương thức giải mã ngôn ngữ đảng Trung Cộng cũng không ngừng thay đổi, nên cách “giải mã tự phát” này tất nhiên có chỗ phiến diện và sai khác, thậm chí sai khác hàng nghìn lần. Rõ ràng là, thủ đoạn “làm chính trị” bẩn thỉu này của Trung Cộng còn không bằng cả băng đảng xã hội đen, chúng ta làm sao có thể để cho nó tiếp tục hại nước hại dân đây?

Do tập đoàn Trung Cộng chiếm vị trí thống trị đối với quốc gia, nên những “từ lóng của băng đảng”, “ngôn ngữ xã hội đen” trong ngôn ngữ đảng đã được mở rộng thành một loại “từ lóng chính trị”. “Từ lóng chính trị” là một hiện tượng hiếm có trong lịch sử ngôn ngữ học nhân loại, nó cũng chưa từng được phát hiện trong các hình thái xã hội khác, nó lấy lợi ích của tập đoàn làm nòng cốt, khống chế mọi phương thức giao tiếp bằng ngôn ngữ vì mục đích chính trị, truyền bá tư tưởng hẹp hòi, thậm chí tà ác, dùng phương thức hoạt động của bang phái để thay thế cho phương thức vận hành bình thường của quốc gia và xã hội, làm thay đổi tư tưởng và hành vi của con người, chiếm đoạt tinh thần và linh hồn của dân tộc.

5. Đặc trưng của ngôn ngữ đảng

Ngôn ngữ đảng có rất nhiều đặc điểm dễ nhận ra. Ví dụ, ngôn ngữ đảng có tính “giả dối, phóng đại, vu khống”, man rợ, thô tục, sặc mùi máu tanh (theo thống kê “từ điển tần suất Hán ngữ hiện đại” do Trung Quốc Đại lục xuất bản năm 1986, bao gồm tất cả các thực từ và hư từ trong từ vựng Hán ngữ hiện đại, tần suất sử dụng của động từ “chết” đứng vị trí thứ 237, từ “giết” xếp vị trí 940). Ngoài ra, do Đảng Cộng sản giành chính quyền bằng cách tạo phản, quản lý người dân Trung Quốc theo kiểu quân sự hóa, nên từ ngữ mang màu sắc quân sự trong ngôn ngữ đảng có rất nhiều. Ở đây chúng tôi tập trung phân tích bốn đặc trưng của ngôn ngữ đảng.

1) Trung Cộng lũng đoạn quyền định nghĩa từ ngữ

Ngạn ngữ phương Tây có câu: “Việc của Caesar là của Caesar, việc của Thượng đế là của Thượng đế.” “Chính trị chỉ là một mặt của toàn bộ kết cấu xã hội, trong tình huống thông thường chính trị sẽ cùng với tín ngưỡng, đạo đức, tập tục, v.v.. để điều tiết xã hội. Một chính quyền theo nghĩa thông thường sẽ không có ý đồ giải quyết tất cả mọi vấn đề nhân sinh, càng không muốn giải quyết những vấn đề mà con người đều rất quan tâm như “Con người từ đâu đến? Đi về đâu? Mục đích con người sinh ra để làm gì?” Nhưng Trung Cộng là một chính quyền tà giáo mà tôn giáo và chính trị được hợp nhất, nó tất nhiên phải đưa ra một cách giải thích khác về trời, đất, con người, hành vi, sinh hoạt và tư tưởng con người để thay thế cho sự câu thúc và điều tiết đối với xã hội của tín ngưỡng chính giáo, đạo đức truyền thống và phong tục tập quán. Ngôn ngữ đảng mà hệ thống Trung Cộng tạo dựng, đã cấu thành một thế giới ảo tưởng hoàn chỉnh, bao trùm một cách kín kẽ lên thế giới chân thực, quy định thể chế chính trị và kết cấu xã hội, chế ước mọi tư tưởng và hành vi của con người.

Nhìn từ bề ngoài, hệ thống ngôn ngữ đảng là một quá trình biến hóa không ngừng, nhưng, quy tắc căn bản của hệ thống ngôn ngữ đảng thì tuyệt đối không đổi, thay đổi cũng đồng nghĩa với việc tự nó giải thể. Quy tắc căn bản này là: Hệ thống ngôn ngữ đảng là để phục vụ cho việc duy hộ sự thống trị độc tài của tà giáo Trung Cộng, sự “thay đổi” của ngôn ngữ đảng cũng không nằm ngoài việc duy trì lợi ích căn bản của “đảng”. Thế nên, “đảng” tất nhiên sẽ lũng đoạn quyền giải thích hệ thống ngôn ngữ đảng. Điểm này cho thấy ngôn ngữ đảng suy cho cùng là một hệ thống khép kín.

Trong cuốn “Từ điển Hán ngữ hiện đại” (Nhà xuất bản Thương vụ, 1981) của chính quyền Trung Cộng, một lượng lớn cách giải thích từ ngữ tràn ngập sự giáo dục chính trị, tuyên truyền tẩy não của Đảng Cộng sản, Đảng Cộng sản đã biến cuốn sách tra cứu mang ý nghĩa truyền thống thành “từ điển văn hóa chính trị đảng hiện đại”. Những từ dưới đây vẫn đang được sử dụng trong xã hội bình thường, nhưng cách giải thích của Trung Cộng với chúng lại hoàn toàn khác.

“Đảng – chính đảng, ở nước ta là chỉ Đảng Cộng sản Trung Quốc.” “Đảng” trong chữ Khải nghĩa là “tôn sùng sự hắc ám”, Khổng Tử nói: “Quân tử quần nhi bất đảng” (người quân tử không kết bè đảng), “kết đảng” tất nhiên phải “mưu lợi riêng”, “người không cùng ý kiến” thì phải “công kích”,đó là từ mang nghĩa xấu trong truyền thống. “Lập đảng vi công” (thành lập đảng vì lợi ích chung) vốn là cách nói tự bản thân nó đã có mâu thuẫn, trong tu từ học Tây phương được gọi là “từ sửa chữa có tính mâu thuẫn” (oxymoron). Trung Cộng dùng từ “đảng” làm danh từ riêng cho mình, đảng không đâu không có, thống trị tất cả, từ này đã bị Trung Cộng cưỡng chế đưa vào nghĩa tốt, nghĩa chính diện.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

“Giải phóng – bỏ đi sự trói buộc, được tự do và phát triển, dùng để chỉ việc lật đổ sự thống trị phản động.”

“Cách mạng – giai cấp bị áp bức dùng bạo lực để cướp đoạt chính quyền, phá bỏ chế độ xã hội cũ suy đồi, xây dựng chế độ xã hội mới tiến bộ. Cách mạng phá bỏ quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới.”

“Dân chủ – chỉ quyền lợi của nhân dân được tự do phát biểu ý kiến về chính trị, tham gia quản lý chính quyền quốc gia. Dân chủ mang tính giai cấp, như dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, chỉ có dân chủ của giai cấp tư sản, không có dân chủ của giai cấp vô sản. Ở nước ta, nhân dân được hưởng dân chủ rộng rãi và chân chính nhất.”

Trung Cộng không chỉ độc quyền giải thích từ ngữ mà còn độc quyền giải thích pháp luật, quyền giải thích chân lý, cũng là quyền khống chế đối với chân lý. Có quyền bá chủ ngôn ngữ, trong nháy mắt Trung Cộng bất cứ lúc nào cũng có thể ngụy trang thành hóa thân của chân lý.

2) Tính đa tầng thứ và tính lừa gạt của ngôn ngữ đảng

Văn hóa đảng mang tính đa tầng thứ, có thể phân thành Văn hóa đảng bề mặt, Văn hóa đảng trung tầng và Văn hóa đảng tầng thâm sâu. Văn hóa đảng bề mặt thì “hót như khướu”, dùng để lừa gạt và khống chế đại chúng; Văn hóa đảng trung tầng dùng để duy trì các hoạt động căn bản của đảng; Văn hóa đảng tầng thâm sâu có mục đích để duy hộ sự sống còn của đảng, không gì không dùng đến nó, nó là đảm bảo căn bản cho sự tồn tại, phát triển của đảng. Đảng và lãnh đạo đảng không bị chế ước bởi Văn hóa đảng bề mặt, họ chỉ coi Văn hóa đảng bề mặt là một công cụ. Tính đa tầng thứ của Văn hóa đảng là một chướng ngại quan trọng khiến mọi người khó mà nhận thức được bản chất Văn hóa đảng.

Ngược lại, ngôn ngữ đảng cũng có thể phân thành ngôn ngữ đảng bề mặt, ngôn ngữ đảng trung tầng và ngôn ngữ đảng tầng thâm sâu. Ngôn ngữ đảng bề mặt bao gồm những ngôn ngữ mang hình thái ý thức tốt đẹp nhất của Trung Cộng, “vì nhân dân phục vụ”, “nền văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa”, “lấy đức trị quốc”, “xã hội hài hòa”, v.v.. Ngôn ngữ đảng trung tầng phối hợp với quá trình vận hành bình thường của chính quyền Trung Cộng, người bình thường dễ lẫn lộn nó với những từ ngữ hành chính được chính phủ sử dụng thông thường khi thực hiện chức năng quản lý. Ngôn ngữ đảng trung tầng bao gồm những từ ngữ được phân tích kỹ ở phần trước như “tuyên truyền, quán triệt, chấp hành, đấu tranh, chiến sỹ thi đua, đại biểu, tinh thần hội nghị, đường lối, nhận thức, lãnh đạo, cấp trên, hiệu triệu, phấn đấu, ủy ban, báo cáo tư tưởng, tự kiểm điểm, phê bình và tự phê bình”. Ngôn ngữ đảng tầng thâm sâu không có đặc trưng về hình thái, rất có thể chỉ là tiếng lóng, nhưng vì nó phơi bày rõ tính cực đoan, tàn bạo, vô liêm sỉ, bản chất lưu manh của Trung Cộng, nên trong tình huống bình thường nó chỉ lưu truyền trong nội bộ thành phần nòng cốt của Trung Cộng. Loại ngôn ngữ đảng này kiểu như câu nói của Lưu Thiếu Kỳ: “Nịnh nọt, ton hót thì không tốt, nhưng vì công tác cách mạng thì lại tốt và nên làm,” câu nói của Đặng Tiểu Bình: “Học sinh mà không nghe lời thì cho một phát súng là xong,” câu nói của Giang Trạch Dân: “Pháp Luân Công giảng Chân – Thiện – Nhẫn, cho nên có thể thẳng tay mà đàn áp,” v.v.. Đáng lưu ý là, có lúc Trung Cộng để cho ngôn ngữ đảng tầng thâm sâu biểu hiện ra trên bề mặt để biểu đạt mục đích đặc biệt nào đó. Ví dụ Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình có một số câu như: “Tôi là lưu manh thì tôi còn sợ ai,” kiểu bộc bạch như vậy đã kích động sự sùng bái bạo lực của rất nhiều người. Vị tướng trung ương đảng Chu Thành Hổ với luận điệu: “Không tiếc hy sinh Tây An để tất cả các thành phố ở phía Đông đều phải quyết chiến một cuộc chiến tranh hạt nhân với nước Mỹ, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trì Hạo Điền với phát ngôn “dẹp sạch nước Mỹ”, với ý đồ giả vờ “vô tình” tiết lộ cho thế giới, thăm dò phản ứng của nước kia, đồng thời tuyên bố rõ ràng với đối phương rằng nó là một kẻ sẵn sàng liều chết, nhằm gây cú sốc tâm lý cho đối phương.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Quá trình một người bình thường bị Văn hóa đảng khống chế là một quá trình từ nông cạn đến thâm sâu. Ban đầu bị ngôn ngữ đảng bề mặt lừa gạt (sự kích động trong thời kỳ cách mạng, sự ngây thơ, trong sáng của lớp thiếu niên nhi đồng, tinh thần sục sôi nhiệt huyết của lớp thanh niên, tiến thêm một bước nữa là thái độ phản cảm với ngôn ngữ đảng bề mặt (nhưng lại không dám nói ra), rồi khi quen thuộc với nó đến mức thành tự nhiên như ngựa quen đường cũ, người ta lặp lại một cách máy móc ngôn ngữ đảng trung tầng, và trở thành một phần tử của tổ chức tà giáo Trung Cộng. Tiến sâu hơn, người ta phát hiện ra những “lợi ích” của việc dựa vào Văn hóa đảng, thấm nhuần hàm nghĩa chân thực của ngôn ngữ đảng tầng thâm sâu (ích kỷ, cực đoan duy hộ lợi ích và sinh tồn của đảng), từ đó hoàn toàn trói buộc bản thân vào đảng, vinh thì cùng hưởng, nhục thì cùng chịu.

Con người hiện nay phần đông đều vô cùng phản cảm với ngôn ngữ đảng bề mặt, nhưng họ lại nhận thức không rõ thực chất việc dùng ngôn ngữ đảng trung tầng chính là để duy hộ sự thống trị độc tài của Trung Cộng, còn đối với ngôn ngữ đảng tầng thâm sâu thì họ không biết hoặc không dám tin rằng những từ ngữ cực đoan, ích kỷ, tàn bạo, vô liêm sỉ này mới là bản chất thực sự của Trung Cộng. Xét một cách tương đối, ngôn ngữ đảng bề mặt có tính lừa gạt yếu, tính lừa gạt của ngôn ngữ đảng trung tầng rất mạnh. Ngôn ngữ đảng tầng thâm sâu không che đậy sự tà ác của đảng, nên không thể xuất hiện trên các văn kiện và các kênh truyền thông chính thức, không thể quảng bá rộng cho người ta biết. Mặt khác, mức độ tà ác của Trung Cộng vượt khỏi sức tưởng tượng của người bình thường, nên để hiểu được ngôn ngữ đảng tầng thâm sâu cũng cần phải có dũng khí lớn và trí tuệ sáng suốt.

Cần nói rõ rằng, mặc dù Trung Quốc hiện nay hầu như không còn ai tin vào ngôn ngữ đảng bề mặt nữa, nhưng trong tuyên truyền thì Trung Cộng không thể tách khỏi ngôn ngữ đảng bề mặt, vì Trung Cộng cần nó để lừa gạt người ngoại quốc, và tung hỏa mù trong nội bộ Trung Cộng để lừa gạt lẫn nhau, đồng thời lừa gạt lương tâm của các đảng viên.

3) Tính trừu tượng và tính ngụy biện của ngôn ngữ đảng

Lời nói của người bình thường luôn luôn cụ thể, có cảm xúc, dễ hiểu và dễ nắm bắt. Cổ nhân Trung Quốc chú trọng “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, “tự thiên tử dĩ chí vu thứ dân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản” (từ Thiên tử cho đến thường dân, tất cả đều lấy việc tu thân làm căn bản). Một người bất kể có khát vọng lớn đến đâu, thì đều phải bắt đầu từ những việc cơ bản nhất như làm việc tỉ mỉ trước sau như một, hiếu kính phụ mẫu, yêu thương huynh đệ. Tín ngưỡng và hệ thống đạo đức chính thống luôn luôn dùng ngôn ngữ rõ ràng, dễ hiểu để biểu đạt, ví dụ những tiêu chuẩn như “không được giết người”, “không được trộm cướp”, “không được lấy giả làm thật, hãm hại người khác” trong “10 điều răn của Chúa”, vô cùng cụ thể và không cần trình độ giáo dục cao, ai ai cũng có thể hiểu và thực hành theo.

Nhưng, ngôn ngữ đảng Trung Cộng lại mơ hồ, trừu tượng khác thường. Tính trừu tượng cao của ngôn ngữ đảng khiến cho Trung Cộng dễ thay đổi, đùa cợt, ngụy biện, lừa gạt người dân trong nước và thế giới. Trung Cộng cưỡng ép nhồi nhét những từ ngữ của đảng vào đầu những người trí thức và người dân thường, khiến người ta thà tin vào thứ ngôn ngữ rườm rà, khó hiểu của Trung Cộng chứ không tin vào sự phán đoán thông thường của bản thân.

Trước “cải cách ruộng đất”, vùng nông thôn phía Bắc Trung Quốc có mối quan hệ gia tộc vô cùng khăng khít, hài hòa, hoàn toàn không có kiểu đấu tranh giai cấp một sống hai chết, giữa địa chủ và người làm thuê là mối quan hệ hợp tác, hỗ trợ. Nhưng sau khi Đảng Cộng sản đến, ngoài việc kích động, xúi giục lũ lưu manh địa phương tạo phản, nó còn tiêm nhiễm vào người nông dân sự hận thù giai cấp. Đa số mọi người mặc dù cả đời chưa từng gặp phải “địa chủ ác bá” như Trung Cộng miêu tả, nhưng Trung Cộng lại ngụy biện rằng, cướp bóc và áp bức nhân dân lao động là “bản chất giai cấp” của “giai cấp địa chủ”, vì vậy trải nghiệm mang tính “cá biệt” của những người nông dân không thể làm thay đổi kết luận mang tính “khoa học” của  “chủ nghĩa Marx Lenin”, “tư tưởng Mao Trạch Đông”. Một mặt mọi người sợ hãi và lãng quên, mặt khác không thể bác bỏ được cách nói trừu tượng của Trung Cộng về “bản chất giai cấp”, nên dần dần người ta bắt đầu thực sự tin tưởng có tồn tại một giai cấp địa chủ, giai cấp này áp bức bóc lột những người dân nghèo khổ, muốn sống tốt thì hoặc là tiêu diệt bọn họ, hoặc là phải khiến cho họ sống dưới nền chuyên chính vô sản “chỉ được thật thà, không được nói bừa làm bừa”.

Hiện tượng này vô cùng điển hình. Sở dĩ sự dối trá của Trung Cộng có thể thuận lợi thông suốt không trở ngại là do tính trừu tượng và tính ngụy biện của ngôn ngữ đảng. Trong lịch sử Trung Cộng trải qua nhiều cuộc vận động chính trị, đều đã từng xuất hiện hiện tượng này – không tin tưởng những tình cảm, luân lý tự nhiên như tình thân, tình bằng hữu, thậm chí không tin tưởng trải nghiệm của bản thân mình, mà đi tin tưởng những lý luận cực đoan trái ngược với cái tình cái lý thông thường của Đảng Cộng sản. Cũng vì thế mà gây ra biết bao thảm cảnh cha con phản bội lẫn nhau, vợ chồng thù hận lẫn nhau trong thời Cách mạng Văn hóa.

Theo thống kê tại cuốn “Từ điển tần suất Hán ngữ hiện đại”, xét về tần suất sử dụng, từ ‘chủ nghĩa” xếp ở vị trí thứ 37 trên tổng số các từ vựng Hán ngữ hiện đại (bao gồm thực từ và hư từ), và xếp thứ 4 trong số tất cả danh từ (chỉ đứng sau từ “nhân” và hai từ chỉ phương vị “trên”, “trong”). “Chủ nghĩa” xuất hiện 253 lần trong báo cáo đại hội thứ 12 của Trung Cộng, 250 lần trong đại hội thứ 13, 216 lần trong đại hội thứ 14, 253 lần trong đại hội thứ 15, 155 lần trong đại hội thứ 16. Trong các văn kiện, báo chí, sách giáo khoa thường gặp của Trung Cộng, những từ có từ đầu là “chủ nghĩa” gồm có chủ nghĩa Marx Lenin, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa phong kiến, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa bá quyền, chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa chủ quan, chủ nghĩa mệnh lệnh, chủ nghĩa gia tộc, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa mạo hiểm, chủ nghĩa đào tẩu, chủ nghĩa bế quan, chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa tập thể, chủ nghĩa anh hùng, chủ nghĩa quan liêu, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa một cuốn sách (cho rằng mỗi nhà văn cần phải sáng tác một cuốn sách để đời), chủ nghĩa một cốc nước (cho rằng việc đáp ứng nhu cầu giới tính của người phụ nữ cũng bình thường như uống một cốc nước), v.v.. Cho đến nay, có lẽ không ai có thể làm rõ những từ này rốt cuộc là có ý nghĩa gì, nhưng trong các cuộc vận động chính trị của Trung Cộng, cái mũ “chủ nghĩa XX” đã từng đẩy hàng nghìn hàng vạn người vào chỗ chết.

Tính trừu tượng của ngôn ngữ đảng thuận tiện cho Trung Cộng tùy ý giải thích từ ngữ dựa theo nhu cầu chính trị của nó. Nếu từ ngữ sử dụng quá cụ thể, thẳng thắn, mọi người đều có thể đọc hiểu, thì Trung Cộng không dễ dàng mà lừa gạt được. Trừu tượng một chút, mọi người đều thấy mơ hồ, thì Trung Cộng có thể tùy ý giải thích. “Xã hội chủ nghĩa” thời của Mao Trạch Đông là “tiếp tục cách mạng dưới điều kiện chuyên chính giai cấp vô sản”, thời Đặng Tiểu Bình lên thì lại nói rằng nghèo khổ không phải “xã hội chủ nghĩa”, thời của Giang thì có thể cho nhà tư bản gia nhập đảng, rốt cuộc cái gì là “chủ nghĩa xã hội”? Nói trắng ra – phàm là thứ mà Đảng Cộng sản làm thì đều là “chủ nghĩa xã hội”.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Những từ ngữ trừu tượng như “giai cấp”, “đường lối”, “nhận thức”, “cánh tả”, “cánh hữu”, “tiến bộ”, “phản động”, “chế độ công hữu” (người dân chỉ được sở hữu trên lý thuyết, chỉ Trung Cộng  thực sự được sở hữu), “chủ nghĩa xã hội”, “đặc sắc Trung Quốc” đã tạo nên một tấm màn đen bùng nhùng, mà tập đoàn quyền lực Trung Cộng nấp ở đằng sau tấm màn đó, vì lợi ích và sự sống còn của tập đoàn, một mặt trong nội bộ nó cấu xé lẫn nhau một cách vô liêm sỉ, mặt khác nó vẫn phạm tội trắng trợn đối với người dân.

4) Tính tiếp thu và tính sáng tạo của ngôn ngữ đảng

Ngôn ngữ đảng còn có tính tiếp thu và tính sáng tạo. Tính tiếp thu chỉ sở trường của Trung Cộng trong việc tổng hợp ngôn ngữ bình thường biến thành của mình, thậm chí dùng lời chỉ trích của người khác để đánh bóng tên tuổi của mình. Trung Cộng còn vô liêm sỉ đến mức chiếm đoạt tất cả thành quả văn minh trong lịch sử nhân loại làm thành tích cho bản thân. Những từ vốn mang ý nghĩa tốt đẹp như “ái quốc”, “sự phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa”, “lấy đức trị quốc” bị Trung Cộng ”đạo văn” trong thời gian dài, hiện nay chúng ta hầu như không thể sử dụng những từ này một cách bình thường mà không cảm thấy phản cảm.

Tính sáng tạo nghĩa là sau khi hình thành tư duy Văn hóa đảng thì có thể sáng tạo ra từ mới, thể hiện “sức sống đi cùng thời đại của chính quyền Trung Cộng”. Trung Cộng có tổ chức nghiêm ngặt và sự khống chế nghiêm ngặt đối với xã hội. Một khi cơ quan đầu não của chính quyền tà ác này – nhà lãnh đạo hoặc trung ương đảng – đã quyết định phương châm chính sách gì, thì những cơ quan cấp dưới của chính quyền sẽ giống như tay chân của nó, hoàn toàn chấp hành chính sách mà nó đưa ra, trong quá trình thực hiện sẽ sinh ra một lượng lớn ngôn ngữ đảng.

Trong những năm gần đây những từ sáng tạo mới của Trung Cộng chủ yếu bao gồm: Văn hóa đảng + từ dùng trong văn hóa truyền thống, ví dụ “đức trị”, “xã hội hài hòa”; Văn hóa đảng + thuật ngữ khoa học kỹ thuật, ví dụ “công trình XX” (công trình hy vọng, công trình an cư, công trình cung cấp rau xanh, công trình cung cấp lương thực, công trình tái tuyển dụng, công trình 211 (100 công trình trường cao đẳng và học viện khoa học hướng tới thế kỷ 21), năm công trình; Văn hóa đảng + thuật ngữ Tây phương, ví dụ “ý thức xx” (ý thức chính đảng (niềm tự hào và trách nhiệm đối với chính đảng), ý thức thủ đô (niềm tự hào và trách nhiệm của người dân thủ đô), v.v..

Hậu quả của tính tiếp thu và tính sáng tạo của ngôn ngữ đảng là: Sau khi một loạt ngôn ngữ đảng bị đào thải rồi, thì một loạt ngôn ngữ đảng mới lại nhanh chóng được tạo ra; trong quá trình sử dụng, ngôn ngữ đảng bị pha trộn, biến dạng làm xuất hiện một số lượng khổng lồ các biến thể của nó, nội hàm Văn hóa đảng của những từ mới này khiến cho người ta khó mà phân biệt được.

6. Hậu quả của việc phổ biến ngôn ngữ đảng

1) Hiện thực mất nước do văn hóa và ngôn ngữ

Trong lịch sử nhân loại, kẻ ngoại lai đến xâm lược chỉ chiếm lĩnh đất đai, chứ không thể thuần phục được cả một dân tộc, chỉ cần người dân còn giữ được tinh thần dân tộc thì sẽ không dễ dàng bị khuất phục. Trong lời dẫn của bài này có nói, ngôn ngữ tạo nên diện mạo tinh thần mang bản sắc của dân tộc. Vì vậy kẻ xâm lược ngoài việc chiếm hữu đất đai, còn phải phá hủy văn hóa truyền thống dân tộc, để hủy hoại tinh thần của dân tộc đó; mà hủy hoại ngôn ngữ – công cụ tải thể của nền văn hóa, chính là một trong những phương pháp hữu hiệu nhất để hủy diệt văn hóa dân tộc, tinh thần dân tộc. Ví dụ trong cuộc chiến Phổ – Pháp năm 1870, nước Phổ sau khi chiếm nước Pháp, liền mưu toan bắt phải dạy tiếng Đức ở các trường học nằm trong khu vực chiếm đóng, không cho dùng tiếng Pháp. Trung Cộng dùng nhiều cách để hủy hoại văn hóa truyền thống Trung Hoa, một trong những cách đó là làm biến dị và thay thế ngôn ngữ.

Ngược lại với thứ ngôn ngữ chú trọng “bồi dưỡng đạo đức, hoàn thiện phẩm cách, giáo dục nhân tính” của văn hóa truyền thống, ngôn ngữ của Trung Cộng là để phục vụ cho lợi ích của tập đoàn này, giả dối là linh hồn của ngôn ngữ Trung Cộng. Ngôn ngữ của Trung Cộng không chỉ giả dối mà còn méo mó, lệch lạc. Chúng dùng một bộ từ vựng thật thật giả giả, biến đổi ngầm, nhằm đạt mục đích làm biến dị tư tưởng của con người. Chúng dùng một hệ thống ngôn ngữ kiểu treo đầu dê bán thịt chó, thay đổi hoàn toàn chiều hướng phát triển của lịch sử dân tộc, cuối cùng hủy diệt truyền thống và tinh thần dân tộc Trung Hoa được Thần truyền lại mà người dân không hay biết. Văn hóa chính thống của Trung Hoa đã hoàn toàn biến mất, và bị thay thế bằng Văn hóa đảng. Dân tộc Trung Hoa từ đó đã tách khỏi mối quan hệ hài hòa với vũ trụ, bị đặt sai vị trí trên thế giới, đối lập với tôn chỉ của nhân loại, toàn bộ phương thức sinh tồn và hướng phát triển của dân tộc Trung Hoa đã đi ngược lại với quỹ đạo mà tạo hóa đã sắp đặt.

Nguồn gốc của ngôn ngữ và văn hóa Trung Quốc là gì, đa số người Trung Quốc ngày nay đều không biết, họ cứ tưởng rằng người Trung Quốc từ xưa đến nay vẫn nói như vậy. Hệ thống ngôn ngữ đảng đã bóp nghẹt tinh thần và sức sống dân tộc, khiến người ta càng thêm bị ràng buộc mạnh mẽ vào hệ thống phản nhân loại này.

Trong lịch sử người Trung Quốc vẫn luôn kiêu hãnh tự hào vì khả năng đồng hóa của văn hóa Trung Quốc. Văn hóa Trung Quốc không chỉ khiến cho các nước phải ngưỡng mộ, tôn thờ trong thời kỳ hòa bình, mà ngay cả khi Trung Quốc bại trận hay mất nước thì khả năng đồng hóa các nền văn hóa khác của nó vẫn rất mạnh mẽ. Triều đình Nguyên Mông và Mãn Thanh đã bị khuất phục bởi sự bác đại tinh thâm của văn hóa Trung Hoa, cam tâm tình nguyện đầu hàng trước sức mạnh thần kỳ ấy, chấp nhận phổ biến những tinh hoa của dân tộc Trung Hoa.

Qua phân tích tổng hợp số lượng lớn từ ngữ, chúng ta không thể không đối diện với một hiện thực quan trọng: Lịch sử không thể khuất phục của văn hóa Trung Hoa đã bị thay đổi. Văn hóa Trung Hoa đã bị Trung Cộng thay thế bằng chủ nghĩa Marx Lenin tà ác từ phương tây đưa đến, trên phương diện văn hóa và ngôn ngữ thì chúng ta đã bị mất nước từ lâu rồi.

2) Ngôn ngữ đảng cưỡng chế thay đổi cuộc sống của người dân Trung Quốc

Ngôn ngữ đảng là bộ phận ngôn ngữ được người Trung Quốc hiện nay sử dụng nhiều nhất, có tính hành động và tính chi phối mạnh nhất. Tính chi phối của ngôn ngữ đảng biểu hiện chủ yếu ở: thứ nhất, ngôn ngữ đảng có tần suất sử dụng cao; thứ hai, ngôn ngữ đảng có uy quyền cao.

Theo thống kê “Từ điển tần suất Hán ngữ hiện đại”, thứ tự về tần suất sử dụng của một số từ ngữ đảng điển hình trong toàn bộ từ vựng Hán ngữ hiện đại (bao gồm cả những hư từ như “của”, “và”) như sau: “Cách mạng” 71, “đồng chí” 83, “giai cấp” 149, “kẻ thù” 153, “đấu tranh” 209, “giải phóng” 285, “lãnh đạo” 312, “giai cấp vô sản” 372, “đường lối” 561, “đại biểu” 570, “chiến đấu” 602, “phản động” 617. Ngoài ra, từ “đảng” là một từ không thường dùng trong xã hội truyền thống, nhưng sau khi Trung Cộng thành lập, tần suất sử dụng của từ “đảng” nhanh chóng nhảy lên vị trí 119, “Đảng Cộng sản” vị trí 331, đây gần như là danh từ có tần suất sử dụng cao nhất, có thể thấy rõ ràng rằng hiện nay Trung Cộng đang đứng ở địa vị độc đảng độc tài ở Trung Quốc.

Quyền uy cao của ngôn ngữ đảng thể hiện ở việc nó lấy bạo lực Trung Cộng làm hậu thuẫn, nó chiếm lĩnh những lĩnh vực ngôn ngữ có sức ảnh hưởng nhất như chính trị, kinh tế, tư pháp, giáo dục, tin tức. Những thể loại ngôn ngữ của xã hội chính thống liên quan đến luân thường đạo lý, ăn ở đi lại, tình yêu đôi lứa không hoàn toàn biến mất nhưng chỉ nằm ở vị trí ngoài rìa và dễ bị chi phối. Cho dù người ta có muốn hay không, trong các hoàn cảnh chính thức, công khai thì đều bị bắt sử dụng ngôn ngữ đảng. Ngôn ngữ đảng và hậu quả mà ngôn ngữ đảng mang lại (lý luận của Trung Cộng được “học tập”, “lĩnh hội”, chính sách của Trung Cộng được “quán triệt”, “chấp hành”, v.v..) đã cưỡng chế thay đổi cuộc sống của người Trung Quốc, đem đến cho người dân Trung Quốc những tai họa nghiêm trọng.

3) Ngôn ngữ đảng – cái nhìn phiến diện của người Trung Quốc ngày nay

Ngôn ngữ là công cụ tư tưởng, tư tưởng của con người thể hiện ở sự kết hợp của từ và câu. Ngôn ngữ đảng đã cải biến cách nhìn nhận về thế giới của con người, nó thể hiện cái nhìn phiến diện của người Trung Quốc ngày nay.

(1) Ngôn ngữ đảng khiến cho người ta duy hộ ác đảng Trung Cộng một cách không tự biết

Ngôn ngữ đảng, dù là ngôn ngữ do Trung Cộng tạo ra, hay là ngôn ngữ bị Trung Cộng cải tạo, mục đích tồn tại của chúng đều là để duy trì, bảo vệ nền thống trị của ác đảng Trung Cộng. Vì sử dụng những tư liệu ngôn ngữ đã bị Trung Cộng bóp méo nên người dân không thể nhìn thấy được hình ảnh chân thực của thế giới, mà chỉ có thể nhìn thấy hình ảnh của thế giới mà Trung Cộng muốn mọi người nhìn thấy.

Những từ vựng mà Trung Cộng sáng tác ra, đã mô tả lại lịch sử của nó. Nếu một người dùng những từ ngữ này để suy xét về lịch sử Trung Cộng thì chỉ có thể tìm ra những kết luận mà Trung Cộng muốn cho anh ta biết. Hãy xem bảng dưới đây (Bảng 5):

Ngôn ngữ đảng Thực chất Phân tích
Khởi nghĩa (Khởi nghĩa Nam Xương, Khởi nghĩa Thu Thâu) Phiến loạn, bạo động Khởi nghĩa là chỉ cuộc kháng nghị vì mục đích chính nghĩa. Cái gọi là “khởi nghĩa” của Trung Cộng là phiến loạn, bạo động, lật đổ chính quyền hợp pháp đương thời
Trường chinh, Bắc Thượng  kháng Nhật Trốn chạy, rút lui Sau năm 1931, khi đang diễn ra cuộc chiến chống quân xâm lược Nhật Bản, Trung Cộng đã phát động cuộc phiến loạn tại Giang Tây, tiến hành “ly khai vũ trang”, sau khi bị bao vây tiêu diệt đã tháo chạy tán loạn về phía Tây Nam. Cuộc Bắc Thượng sau đó vốn là muốn tháo chạy sang Nga, nên đành phải trụ lại Diên An, sau khi quân Nhật xâm lược toàn Trung Quốc, Đảng Cộng sản thừa cơ phát triển lớn mạnh, cuối cùng mang tai họa đến cho cả nước.
Chỉnh đốn tác phong Tẩy não Diên An, khủng bố Diên An “Chỉnh” là tư tưởng được chỉnh đốn, quản lý, quy phạm. Từ “chỉnh đốn tác phong” ám chỉ với mọi người rằng: “đảng đang quản đảng”, Trung Cộng đang “gia tăng kiến thiết của mình”. Đang nỗ lực biến “tác phong của đảng” thành chính thống. Thực ra “chỉnh đốn tác phong” nghĩa là Trung Cộng tăng cường tẩy não các cán bộ đảng viên, là cuộc tổng diễn tập cho những cuộc vận động chính trị về sau của Trung Cộng.
Giải phóng Trung Cộng cướp chính quyền “Giải phóng” chỉ sự phá bỏ mọi trói buộc, giành được tự do. Sau khi Trung Cộng thành lập chính quyền, cả nước Trung Quốc biến thành một nhà tù lớn, nhân dân cả nước đều sống trong sự nô dịch.
Đi về địa phương Đi đày Chỉ khác nhau một vài chữ, nhưng có thể thấy được sự giảo hoạt của Trung Cộng trong việc che giấu hành vi ác độc của mình
Ba năm thiên tai Nạn đói lớn ba năm Nạn đói ba năm là một tai họa do con người gây nên bởi chính sách mông muội của Trung Cộng.
Đại Cách mạng Văn hóa Đại phá hoại văn hóa, đại tẩy não toàn dân, đại thanh trừng chính trị Văn hóa truyền thống tin tưởng mệnh của vua do trời định, “cách mạng” chỉ “sự thay đổi thiên mệnh”, như “Cuộc cách mạng Thang Vũ, thuận ý trời mà hợp ý dân” trong “Dịch Cách”. Trung Cộng đã bóp méo ý nghĩa của từ “cách mạng”, vốn để chỉ “hành động bạo lực lật đổ giai cấp thống trị”, bóp méo nó trở thành một từ mang ý nghĩa tán dương. Từ “Đại Cách mạng Văn hóa” đã che giấu đi bản chất của cuộc vận động, có tính lừa gạt nhất là với thế hệ trẻ và người nước ngoài.
Lên rừng xuống biển Lao động cải tạo trá hình dành cho phần tử trí thức trẻ Từ “lên rừng xuống biển” khiến cho người ta liên tưởng đến sự lãng mạn, ấm áp, đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cho một số thanh niên thời đó có cảm giác hoài niệm về khoảng thời gian đó.
Cải cách mở cửa Nới lỏng quản lý kinh tế, quản lý chính trị để duy trì chính quyền Bế quan tỏa cảng, suy thoái kinh tế là do Trung Cộng gây ra. “Cải cách mở cửa” chẳng qua chỉ là phục hồi lại một phần phương thức hoạt động kinh tế trước khi Trung Cộng cướp chính quyền. Không hề có sự nới lỏng về mặt chính trị.
Bạo loạn phản cách mạng, sóng gió chính trị Vận động dân chủ năm 1989 Ban đầu Trung Cộng gọi cuộc vận động dân chủ năm 1989 là “bạo loạn”, sau đó bắt đầu sử dụng từ “sóng gió chính trị” với ý đồ khiến mọi người hiểu nhầm rằng Trung Cộng cũng chỉ là nạn nhân của “sóng gió”.

Những năm gần đây, Trung Cộng lại tạo ra một lượng lớn những từ mang ẩn ý chính trị, để tô son trát phấn, che đậy khuyết điểm cho sự thống trị của nó. Ví dụ gọi thất nghiệp là “đợi việc”, “nghỉ việc”, “về hưu nội bộ”. “Đợi việc” ám chỉ là sẽ có việc trong tương lai, “nghỉ việc” tức là trước đây đã từng có công việc, chỉ là hiện nay không có việc. Dưới sự thống trị của Trung Cộng, những người dân nghèo khổ bị gọi là “nhóm người hèn kém”, ám chỉ tình cảnh nghèo khổ của họ là do nguyên nhân ở tự thân họ.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Những ngôn ngữ đảng mang “ẩn ý chính trị” của Trung Cộng có một vài loại hình chủ yếu như sau:

Đổi trắng thay đen, ví dụ như “khởi nghĩa”, “giải phóng”.

Đảng không tách rời với nước, ví dụ “kiến quốc”, “ái quốc”, “thế lực phản động (chống người Hoa)”.

Hình thức khuấy nước đục (làm rối loạn tư tưởng) như “10 năm tai họa”, “năm tháng hoang đường”, “sóng gió chính trị”. Đặc điểm của nó là dùng những từ trừu tượng để gọi tên sự kiện chính trị nào đó, khiến cho người ta không nhận ra vai trò gây tội ác của Trung Cộng trong đó.

Biến lời nói dối trở thành nói thật, như “trường chinh”, “cải cách mở cửa”. Đặc điểm của nó là chuyện xấu nói thành chuyện tốt, gọi “đống rác rưởi” được Trung Cộng vớt lên sau thời kỳ khủng hoảng là “công lao to lớn” của Trung Cộng hoặc là “chính sách sáng suốt” của lãnh đạo Trung Cộng.

Giương đông kích tây, như “bốn hiện đại hóa”, “phát triển là con đường tất yếu”. “Bốn hiện đại hóa” bao gồm công nghiệp, nông nghiệp, quốc phòng, khoa học kỹ thuật, nhưng không nhắc đến “hiện đại hóa chính trị” (bản thân khái niệm “hiện đại hóa” cũng phải kiểm tra lại, nhưng ở đây chúng ta có thể chưa bàn đến); trình độ văn minh xã hội và phúc lợi của người dân là do nhiều nhân tố quyết định, Trung Cộng chỉ nhấn mạnh đến phát triển kinh tế một cách phiến diện, mà che giấu hiện thực rằng: chính trị hủ bại, đạo đức suy đồi, môi trường ô nhiễm do sự thống trị độc tài mang lại mới là nguyên nhân khiến cho cuộc sống của người dân ngày càng tồi tệ hơn.

”Định giấu giếm, che đậy, nhưng kết quả bị bại lộ” như “trỗi dậy trong hòa bình”. Một người đến thăm nhà bạn thì chắn chắn sẽ không nói rằng: “Không phải tôi đến cướp nhà anh đâu.” Biết bao đất nước có nền kinh tế phát triển nhưng cũng không có nước nào tự xưng mình là “trỗi dậy trong hòa bình”. Cách nói này của Trung Cộng lộ rõ dã tâm quân sự của nó đằng sau sự phát triển kinh tế.

Do sự độc quyền của Trung Cộng trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, nghiên cứu khoa học, tin tức, nên người Trung Quốc hiện nay khi bàn luận về một vấn đề nào đó rất khó để không sử dụng những từ vựng mà Trung Cộng tạo ra, mà những từ vựng này lại dẫn dắt người ta đến những kết luận tất yếu phải duy trì, bảo vệ sự thống trị của ác đảng Trung Cộng. Sự bao trùm của ngôn ngữ đảng đã ngăn cản tư duy và phát ngôn bình thường của người dân.

(2) Ngôn ngữ đảng khiến người ta không thể suy nghĩ bình thường

Ngôn ngữ đảng khiến người ta không thể suy nghĩ bình thường thể hiện ở rất nhiều phương diện, trong đó chủ yếu là phá hoại các quy tắc đạo đức cơ bản.

Người trong xã hội truyền thống tin tưởng rằng mọi người đều có lòng trắc ẩn, sự quan tâm, yêu mến giữa người với người là nguyên tắc làm người cơ bản. Vì mục đích cướp đoạt và củng cố quyền lực, Trung Cộng cần phải không ngừng kích động thù hận của người dân. Nhưng lòng nhân ái đối với đồng loại không thể trong một sớm một chiều mà nhổ bỏ được, thế nên Trung Cộng sáng tạo ra “kẻ thù giai cấp”, “năm loại phần tử xấu xa”, “phần tử X giáo” để biến những nhóm người mà chúng muốn loại bỏ trở thành xấu xa, khiến cho những người đảng viên khi bức hại những người này không chỉ không cảm thấy có tội, mà còn có “cảm giác tự hào” rằng “có lẽ phải thì không việc gì phải sợ”.

Dưới sự thống trị của Đảng Cộng sản, “bán đứng (phản bội)” bị thay thế bởi những từ ngữ mang ý tuyên dương trong Văn hóa đảng như “báo cáo tư tưởng”, “trao trái tim cho đảng”, “đại nghĩa diệt người thân”, “tố giác vạch trần”, “giúp chính phủ làm rõ tình hình”. “Bán đứng” không chỉ không bị lên án bởi lương tâm đạo đức, mà còn được chính quyền ca ngợi là “hành động chính nghĩa” xuất phát từ “tình cảm cách mạng cao thượng”, “lập trường cách mạng kiên định”, “tình cảm cách mạng của giai cấp vô sản”, “trung thành tận tụy với đảng”, nó xóa bỏ cảm giác khinh bỉ của người bình thường đối với những hành vi thấp hèn như “bán đứng”, “tiết lộ thông tin bí mật”, khuyến khích người ta quay lưng lại với những chuẩn tắc đạo đức cơ bản của xã hội nhân loại.

Ngôn ngữ đảng là một hệ thống có tính phong bế, bản thân hệ thống này là tà ác và biến dị. Trong môi trường Văn hóa đảng biến dị này, một số cách tư duy lố bịch lại trở thành rất bình thường. Ví dụ, “Thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm chân lý” được Trung Cộng hô hào gần 30 năm nay, người dân đã quá quen đến nỗi trở thành bình thường, coi nó là những quy tắc vàng, chính xác không còn nghi ngờ gì nữa. Nhưng suy nghĩ kỹ một chút, chúng ta sẽ phát hiện ra rằng, câu nói này nghe lố bịch như kiểu “vải vóc là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm thước đo”, “hàng hóa là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm cái cân”. Nếu nhất định phải làm theo những câu này, thì lẽ ra nói “chân lý là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm thực tiễn” còn hợp lý một chút. Có thể sẽ có người nói, anh đã hiểu sai ý của câu này rồi, ý của nó là như thế này, vào lúc đó nó có nghĩa là “lập lại trật tự”, “giải phóng tư tưởng”. Vấn đề chính là ở chỗ này. Phải đặt câu nói này vào trong hiện thực xã hội lố bịch do Trung Cộng tạo ra thì nó mới thể hiện ra sự “có lý”. Điều này lại càng cho thấy Văn hóa đảng là một hệ thống lố bịch và biến dị. Những ví dụ như thế có rất nhiều, chúng tôi sẽ không đề cập thêm nữa.

(3) Ngôn ngữ đảng khiến người ta khó có thể giao lưu với người ở xã hội bình thường

Sau khi mọi người tiếp thu ngôn ngữ đảng do Trung Cộng định nghĩa, thì không thể biểu đạt ý kiến của mình một cách rõ ràng cho những người sống bên ngoài Văn hóa đảng, cũng khó có thể nghe và hiểu được hàm nghĩa chân chính trong câu nói của những người sống bên ngoài Văn hóa đảng. Một ví dụ điển hình là cách hiểu về từ “nhân quyền” của người Trung Quốc và người Tây phương hoàn toàn khác nhau. Nhân quyền là quyền lợi cơ bản của người dân. Khi một người phương Tây bàn về bảo vệ nhân quyền thì điều họ quan tâm là quyền lợi của người dân không bị chính phủ xâm hại. Tương tự, khi một người phương Tây bàn về vấn đề nhân quyền với người Trung Quốc thì họ đứng về phía người dân Trung Quốc chứ không phải đứng về phía chính quyền Trung Cộng, lúc này một người bình thường nên cảm ơn anh ấy mới đúng. Nhưng qua sự tuyên truyền lâu dài của Trung Cộng, rất nhiều người Trung Cộng nhận thức rằng: “Đây nhất định là chủ nghĩa bá quyền Tây phương dùng nhân quyền làm cái cớ để xâm phạm vào chính trị trong nước,” “Chủ nghĩa đế quốc Mỹ mãi mãi muốn tiêu diệt chúng ta,” nghe thấy người Tây phương nói đến nhân quyền, những người này còn bất bình hơn cả quan chức Trung Cộng. Hậu quả là không chỉ làm tổn hại đến hình tượng của người Trung Quốc, quan trọng hơn còn khiến cho người Trung Quốc không thể tiếp nhận những thông tin bên ngoài một cách bình tĩnh, từ đó mà hủy hoại cơ hội phát triển của dân tộc, khiến cho cả một dân tộc bị cách ly với văn minh nhân loại.

Lời kết: Bài trừ ngôn ngữ đảng, nói ngôn ngữ bình thường

1) Làm thế nào phân biệt ngôn ngữ đảng

Muốn bài trừ ngôn ngữ đảng, thì trước tiên phải phân biệt được ngôn ngữ đảng. Nguyên tắc cơ bản để phân biệt ngôn ngữ đảng là: Nghĩ theo ngôn ngữ đảng thì nhất định sẽ đưa đến kết luận là phải duy hộ sự thống trị của Trung Cộng, đây chính là “ý nghĩa sâu xa” của ngôn ngữ đảng. Chúng ta lại tiếp tục bàn về một số cách đơn giản để phân biệt ngôn ngữ đảng.

Hỏi thêm một câu tại sao. Những năm gần đây “làm chính trị” đã trở thành một tội danh đáng sợ. Nhưng, chẳng phải Trung Cộng tự xưng là đảng chính trị sao? Chẳng phải nó kêu gọi mọi người đều phải tham gia tổ chức của nó, phải ủng hộ nó, hơn nữa phải quan tâm đến “quốc gia đại sự” hay sao? Hỏi như vậy thì chúng ta sẽ phát hiện ra, Trung Cộng chỉ cho phép nó làm chính trị chứ không cho người dân tham gia chính trị. Giống như cách nói “làm việc thật”. Tại sao “làm việc thật” cũng có thể trở thành cái cớ để quan chức Trung Cộng tự khoe khoang, khoác lác? Lẽ nào quan chức chính phủ lại không nên làm việc thật? Không làm việc thật thì chẳng nhẽ làm “việc giả” sao? Nói như vậy, chúng ta sẽ phát hiện, công việc thực sự của quan chức Trung Cộng là chỉnh đốn, khống chế tư tưởng của người dân, rồi làm một chút “thành tích”, “thể diện”, vì vậy đối với họ mà nói, làm được một hoặc hai “việc thật” đã rất đáng khoe khoang.

Thử hỏi xem ai nói: Do ai làm? Làm cho ai? Ví dụ khẩu hiệu “sự ổn định áp đảo tất cả”, chúng ta thử hỏi: Sự ổn định của ai áp đảo tất cả? Sự ổn định của bách tính trăm họ, hay là sự ổn định của đảng cộng sản? Khi chúng ta phát hiện ra đáp án là vế sau thì có thể hiểu rằng khẩu hiệu này cũng là do Trung Cộng hô hào để duy hộ sự thống trị của bản thân nó.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Chúng ta thường kết hợp với những từ nào. Ví dụ, “tuyên truyền” (chính sách của đảng), “quán triệt” (tinh thần trung ương), “chấp hành” (nghị quyết của đảng), “giương cao” (ngọn cờ vĩ đại…) v.v..

Xem xem từ đồng nghĩa, từ gần nghĩa, hoặc là từ trái nghĩa với từ đó là gì. Khi điền sơ yếu lý lịch, nếu một người không phải là đảng viên Trung Cộng, cũng không phải đoàn viên cộng sản, cũng không phải “đảng phái dân chủ” thì phải điền ở cột “thành phần chính trị” là “quần chúng”. Tại sao không điền là “người không thuộc đảng phái”? “Quần chúng” và “người không thuộc đảng phái” có ý nghĩa tương tự nhau đúng không? Sau khi so sánh, chúng tôi phát hiện rằng, “quần chúng” không phải là “người không thuộc đảng phái”. “Người không thuộc đảng phái” là thành phần vô đảng vô phái, còn “quần chúng” là người có nguyện vọng gia nhập đảng nhưng không đủ tư cách, “đảng” không cần anh, anh chỉ chịu sự “lãnh đạo”. Vì vậy, theo nghĩa này thì từ “quần chúng” cũng là từ của ngôn ngữ đảng. Những năm gần đây có một số nhà văn ở Trung Quốc đại lục khi nhắc đến Trung Cộng liền dùng từ “đảng cầm quyền”. Tại sao không gọi thẳng là “Đảng Cộng sản”? “Đảng cầm quyền” đối lập với sự tồn tại của “đảng không cầm quyền”, ở Trung Quốc hoàn toàn không có đảng không cầm quyền, mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản và “đảng phái dân chủ” là mối quan hệ giữa đảng độc tài và đảng “bình hoa”, chứ không phải là mối quan hệ giữa đảng cầm quyền và đảng không cầm quyền. Sử dụng từ “đảng cầm quyền” tạo nên hình ảnh giả tạo về một chính phủ Trung Cộng do dân bầu ra, nhằm mục đích che giấu nền thống trị độc tài của Trung Cộng. Tương tự, cách nói “nâng cao năng lực cầm quyền” cũng tạo cho người ta cảm giác rằng Trung Cộng đang thực hiện chức năng quản lý chính phủ bình thường. Thực ra, “nâng cao năng lực cầm quyền” được hiểu chính xác là củng cố quyền lực độc tài.

Thay đổi hoàn cảnh sẽ thấy. Thử tưởng tượng xem có thể xảy ra những tình huống như sau: Thị trưởng thành phố Los Angeles trong một cuộc hội nghị đã phát ngôn rằng: “Chúng ta phải lĩnh hội tinh thần bài phát biểu quan trọng của đồng chí XX tổng thư ký Đảng Cộng hòa Gia Châu về vấn đề XX”; cầu thủ bóng rổ nổi tiếng của NBA (Hội liên hợp bóng rổ ngành nghề Mỹ) khi trả lời phỏng vấn tiết mục “Đứa con phương Tây” trên truyền hình Mỹ đã trả lời rằng: “Chúng ta đạt được giải quán quân lần này, đầu tiên là nhờ công lao của lãnh đạo đảng dân chủ…”

Ngoài ra, so sánh theo chiều ngang hoặc là so sánh theo chiều dọc, hay là so sánh với xã hội truyền thống Trung Quốc hoặc so sánh với xã hội quốc tế, cũng là phương pháp hiệu quả để phân biệt ngôn ngữ đảng.

2) Chú ý hiện tượng “bối cảnh hóa ngôn ngữ đảng”

Cùng với sự sụp đổ hình thái ý thức của Trung Cộng, Văn hóa đảng đã trở thành đối tượng để dân chúng Trung Quốc đưa ra làm trò cười, rất nhiều câu vè, truyện cười, trào phúng, châm biếm được sáng tác theo ngôn ngữ đảng đã trở thành chủ đề bàn luận của người dân trong những lúc rỗi rãi. Ví dụ người ta dùng những câu như “cách mạng không phải là mời khách thì là ăn cơm” (chế giễu câu nói của Mao Trạch Đông: “Cách mạng không phải là mời khách ăn cơm”, ý nói làm cách mạng không cần lịch thiệp, nhã nhặn mà là bạo lực), “cán bộ không ngại ăn uống vất vả, trăm chén nghìn cốc chỉ mong được nghỉ ngơi” để đả kích phong trào ăn uống của giới quan chức, những người dân ở tầng lớp thấp kém thì đả kích bằng những câu như “Suốt 30 năm cuộc sống vất vả, nghèo khổ, cảm giác như quay trở lại thời kỳ trước giải phóng”,“Chính phủ là Hoàng Thế Nhân, Chúng tôi là Dương Bạch Lao [5]” để thể hiện sự bất mãn với chính sách kinh tế của Trung Cộng.

Sau khi Văn hóa đảng được xác lập, ngôn ngữ đảng đã trở thành ngôn ngữ chuẩn mực. Hiện tượng sửa đổi ngôn ngữ đảng đề cập trên đây là sự chế giễu đối với ngôn ngữ đảng, nhưng cũng là thừa nhận ngôn ngữ đảng, coi ngôn ngữ đảng là “chuẩn mực”. Lúc này ngôn ngữ đảng từ chỗ sáng lùi về chỗ tối, từ ý thức đi vào tiềm thức của con người, nó vẫn phát huy vai trò của mình ở vị trí mà người ta khó phát hiện ra. Chúng tôi gọi hiện tượng này là hiện tượng “bối cảnh hóa ngôn ngữ đảng (đưa ngôn ngữ đảng làm nền cho chủ thể)”.

Ngôn ngữ đảng bị biến dạng thì vẫn là ngôn ngữ đảng, hơn nữa còn là thứ ngôn ngữ đảng ở tầng thâm sâu hơn. Bất cứ từ ngữ nào cũng mang theo những tín tức nhất định, ngôn ngữ đảng bị biến dạng trong những câu truyện cười, câu vè dân gian vẫn tiềm ẩn sức ảnh hưởng lớn đối với tư duy con người. Chúng ta phải hết sức tránh sử dụng những ngôn ngữ này.

Hiện nay ở Trung Quốc Đại lục, ngày càng có nhiều người công khai lên án, tố cáo Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong những lúc như vậy, mọi người nên sử dụng ngôn ngữ của người thường và tư duy của người thường để mạ lỵ ác đảng, chứ không phải là ở trong Văn hóa đảng, dùng ngôn ngữ đảng để mạ lỵ ác đảng.

Cần phải nhấn mạnh rằng, một số ngôn ngữ đảng vốn là ngôn ngữ của xã hội nhân loại bình thường, nhưng sau khi bị Đảng Cộng sản cải tạo, bị sử dụng nhiều lần trong môi trường Văn hóa đảng nên bị nhiễm màu sắc văn hóa đảng. Đây không có nghĩa là chúng ta từ nay về sau không thể sử dụng những ngôn ngữ này nữa. Ngược lại, chúng ta có thể, và hơn nữa phải dùng những từ này một cách đường đường chính chính với ý nghĩa bình thường, với ngữ cảnh bình thường, giống như trong “Cửu bình Cộng sản đảng” đã gọi Trung Cộng là “tà giáo”.

3) Tìm kiếm chân tướng, liễu giải chân tướng, truyền rộng chân tướng

Sở dĩ Đảng Cộng sản có thể xây dựng và mở rộng một hệ thống ngôn ngữ đảng lớn mạnh đến thế chỉ trong mấy chục năm ngắn ngủi là do dựa vào những thủ đoạn cưỡng chế bạo lực, phong tỏa tin tức và sự tuyên truyền rợp trời. Vì vậy, để phá bỏ ngôn ngữ đảng không chỉ cần dũng khí phi thường, cần ý thức trách nhiệm đạo đức để cự tuyệt với Văn hóa đảng, mà còn cần tiếp xúc nhiều với những thông tin chân thực được biểu đạt bằng ngôn ngữ nhân loại bình thường. Nếu người dân Trung Quốc không muốn tiếp tục sống trong dối trá, thì họ không thể không bắt đầu từ việc nỗ lực tìm kiếm chân tướng, liễu giải chân tướng, truyền rộng chân tướng.

Văn hóa Trung Hoa mới cần có ngôn ngữ mới, ngôn ngữ mới sẽ được sáng tạo bởi những con người được hồi sinh trên nền tảng đạo đức mới.


Bản tiếng Hán:

http://www.epochtimes.com/gb/6/10/31/n1504159.htm

Chú thích

[3] Thiên diễn luận là bản dịch Trung văn cuối thế kỷ XIX của cuốn sách Evolution and Ethics của Hussley về thuyết tiến hóa

[4] Hoa Quốc Phong, là người được chỉ định kế tục Mao Trạch Đông. Ông trở thành Phó Thủ tướng năm 1975, rồi quyền Thủ tướng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sau khi Chu Ân Lai mất tháng 01 năm 1976, ông trở thành Thủ tướng và Phó Chủ tịch thứ nhất của Đảng tháng 04 năm 1976, và Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc khi Mao chết, tháng 9 năm 1976. Khi Đặng Tiểu Bình dần nắm quyền kiểm soát Đảng Cộng sản Trung Quốc, Hoa Quốc Phong bị thay chức Thủ tướng bởi Triệu Tử Dương năm 1980, và chức Chủ tịch Đảng bởi Hồ Diệu Bang năm 1981.

[5] Hoàng Thế Nhân, Dương Bạch Lao: Tên hai nhân vật trong phim Bạch Mao Nữ nổi tiếng mấy chục năm trước của Trung Quốc. Dương Bạch Lao là nông dân nghèo làm thuê cho địa chủ Hoàng Thế Nhân, mà quanh năm chẳng đủ ăn, chẳng đủ tiền nộp tô, dẫn đến mắc nợ không thể trả nổi.

Ngày đăng: 27-12-2014