Chương 3: Các thủ đoạn tuyên truyền

 Mục lục:

1. Nắm chặt các bộ máy tuyên truyền để quảng bá Văn hóa đảng

1) Vận động chính trị và trong thời kỳ thông thường

(1) Tuyên truyền nhồi nhét trong các cuộc vận động chính trị
(2) Việc tuyên truyền nhồi nhét trong thời kỳ thông thường do Ban tuyên truyền Trung Cộng lên kế hoạch thực thi

2) Bộ máy tuyên truyền chủ yếu

(1) Báo chí
(2) Truyền thanh, truyền hình, Internet

3) Các thủ đoạn nhồi nhét thường dùng

(1) Che chắn rợp trời dậy đất khiến con người đoạn tuyệt triệt để với thế giới chân thực
(2) Không ngừng lặp lại, lời nói dối lặp lại một nghìn lần sẽ trở thành lời nói thật
(3) Ngụy tạo ý dân, lợi dụng quyền lực, phát động tấn công tâm lý
(4) Công khai bịa đặt, lừa bịp thế giới
(5) Vừa ăn cướp vừa la làng, vừa nói dối, vừa phản đối nói dối

4) Thủ đoạn nhồi nhét “tiến cùng thời gian”

2. Cưỡng chế người dân đọc sách của Marx, Engels, Lenin, Stalin, và Mao Trạch Đông

3. Lợi dụng các văn nhân của tà đảng để ca ngợi công lao của ác đảng

1) Dùng tác phẩm văn học để biện giải cho chính sách và lý luận của Trung Cộng

2) Nhồi nhét thế giới quan, lịch sử quan, nhân sinh quan của Trung Cộng

(1) Phê phán tín ngưỡng đối với Thần, nhồi nhét Vô Thần luận
(2) Bài trừ quan niệm truyền thống, nhồi nhét thù hận giai cấp
(3) Tô vẽ cho các bạo chúa, tiểu nhân, thổ phỉ và côn đồ trong lịch sử
(4) Hạ thấp nhân tính, ca ngợi Đảng tính

3) Một số đặc điểm của việc Trung Cộng lợi dụng văn học để tiến hành nhồi nhét

(1) Trộm dùng văn hóa dân tộc một cách toàn diện
(2) Lợi dụng thành thạo kỹ xảo văn học
(3) Dùng việc cấm sách để tăng cường sự đói khát về văn hóa
(4) Dùng sự lặp lại để tăng cường hiệu ứng nghiện

4) Từ “kẻ hắc thủ nhìn thấy được” cho đến “kẻ hắc thủ không nhìn thấy được”

4. Lợi dụng sách giáo khoa để nhồi nhét Văn hóa đảng

1) Lớp chính trị: Lừa gạt không thương tiếc

(1) Môn học nhiều, tiết học dài, độ che phủ rộng, yêu cầu nghiêm
(2) Tô vẽ cho Văn hóa đảng thành “đức dục”, “thường thức”, “nguyên lý”, “cơ sở”
(3) Chính trị thời sự – nội dung giáo dục mang đậm bản sắc của Trung Cộng nhất
(4) Nhồi nhét thù hận và oai lý (lý lẽ xiên vẹo), bồi dưỡng ra những thanh niên bất bình và sự lạnh nhạt về chính trị
(5) Tuyệt đối không buông lỏng đối với các lớp chính trị

2) Môn lịch sử: Lừa mình dối người

(1) Nắm giữ chính trị, lịch sử dường như chính là một môn nhánh của chính trị
(2) Che đậy, bóp méo, làm cho chân tướng lịch sử bị vỡ vụn

3) Môn ngữ văn: Niềm vui lừa gạt

(1) Việc tuyển chọn các bài văn
(2) Phương pháp giảng dạy của giáo viên
(3) Phương hướng thi cử
(4) Những xu thế gần đây

5. Lợi dụng các loại hình thức văn nghệ để nhồi nhét Văn hóa đảng

1) Lợi dụng điện ảnh nhồi nhét Văn hóa đảng

(1) “Điện ảnh là nghệ thuật trọng yếu nhất”
(2) Xu thế chủ đạo và đa dạng hóa

2) Lợi dụng các loại hình văn nghệ như kịch nói, ca múa, hát dân gian để nhồi nhét Văn hóa đảng

(1) Ký sinh nền văn hóa dân tộc
(2) Tám trăm triệu người, tám vở kịch mẫu
(3) Thói quen thẩm mỹ có tính chậm biến đổi
(4) Lợi dụng tác dụng “liên đới tình cảm”
(5) Tác dụng đặc biệt của tướng thanh, khúc nghệ, tiểu phẩm
(6) Trong các tác phẩm văn nghệ của Trung Cộng thấm đẫm sự kích động và tính tranh đấu mãnh liệt

Kết luận

========


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Văn hóa là một hình thức hành vi và tâm lý ổn định của một quần thể người, văn hóa thường thường cần phải trải qua quá trình lịch sử lâu dài mới hình thành. Nhưng sau khi Trung Cộng cướp được chính quyền, thì chỉ trong mấy chục năm lịch sử ngắn ngủi, đã đặt dấu ấn rõ rệt lên tư duy, ngôn ngữ và hình thức hành vi của người Trung Quốc, tạo ra thứ Văn hóa đảng phổ biến khắp mọi nơi, mọi ngóc ngách, mọi phương diện tại Trung Quốc. Làm thế nào nó làm được điều này? Đảng Cộng sản là thứ biến dị của lịch sử nhân loại, tư tưởng chỉ đạo của nó vi phạm bản tính của con người, nó không thể diễn hóa một cách tự nhiên từ bất kỳ nền văn hóa truyền thống nào. Nên cũng nói, nếu một người được nuôi dưỡng trưởng thành trong văn hóa truyền thống, thì không thể tự nhiên có những quan điểm biến dị mà Đảng Cộng sản tuyên truyền. Sự hình thành của Văn hóa đảng là kết quả của quá trình tuyên truyền nhồi nhét của Trung Cộng.

Kiểu nhồi nhét này là cưỡng chế, toàn diện và triệt để, cường độ cao, không ngừng nghỉ, nhưng lại gian xảo, ngụy thiện, che đậy kín đáo và không ngừng biến dạng, dựa vào bạo lực, dùng lợi ích làm mồi nhử, lợi dụng tất cả các công cụ có thể, tại tất cả các trường hợp có thể, dùng tất cả các phương pháp có thể dùng được.

Trung Cộng coi việc tuyên truyền nhồi nhét là con đường sống của mình, mấy chục năm nay nó còn phát triển hệ thống lý luận, chế độ phức tạp, kỹ thuật tinh vi và một lượng lớn “nhân tài”, lại được trợ giúp bởi những cuộc vận động chính trị theo chu kỳ. Các thủ đoạn chủ yếu bao gồm: Nắm thật chặt bộ máy tuyên truyền, quảng bá Văn hóa đảng, tuyên truyền lừa gạt, cưỡng chế nhân dân đọc sách của Marx, Engels, Lenin, Stalin và Mao, khống chế các văn nhân của tà đảng ca ngợi công đức của nó, thay đổi tiêu chuẩn [đánh giá] thiện ác của người Trung Quốc; dùng sách giáo khoa của học sinh để ca ngợi ác Đảng, khiến người ta từ tiểu học đến đại học đều bị chìm ngập trong Văn hóa đảng; lợi dụng nhiều hình thức văn hóa nghệ thuật như điện ảnh, kịch, ca múa, văn nghệ dân gian, đề cao theo hướng chính diện những nhân vật đại biểu cho Đảng, hạ thấp văn hóa truyền thống và các nhân vật truyền thống v.v.. Những cách nhồi nhét có hệ thống như vậy, tinh vi như vậy, tràn ngập ở khắp nơi như vậy, khiến nhiều khi con người không ý thức được tư tưởng của bản thân mình là bị nhồi nhét, bị tẩy não, không ý thức được ngôn ngữ, hành vi và tư duy của bản thân mình đều có quan hệ mật thiết với sự tuyên truyền nhồi nhét của Trung Cộng.

Ngẫm lại một cách hệ thống các thủ đoạn mà Trung Cộng tập hợp cũng giúp chúng ta nhận rõ quá trình kiến lập của Văn hóa đảng, đặc điểm bản chất và cơ chế nội tại có vỏ ngoài thiên biến vạn hóa của Văn hóa đảng, phân tích một cách sâu hơn những thủ đoạn nhồi nhét của Trung Cộng là một bước trọng yếu nhằm giải thể Văn hóa đảng.

1. Nắm chặt bộ máy tuyên truyền nhằm quảng bá Văn hóa đảng

Báng súng và quản bút là hai tuyến sinh mệnh lớn của Đảng Cộng sản, Lenin từng khái quát thủ đoạn đấu tranh này là “chủ nghĩa khủng bố” thêm vào “hình thái ý thức”. Trung Cộng kế thừa cái gen tà ác này của Đảng Cộng sản Liên Xô, dùng chữ “lừa” một cách còn thuần thục hơn. Năm 1951, Lưu Thiếu Kỳ [1] trong một lần nói chuyện thẳng thắn đã nói: “Đảng chúng ta từ khi sơ khai mới thành lập, thì chính là toàn đảng làm tuyên truyền… Sau này càng phải làm như vậy.” Bộ máy tuyên truyền của Trung Cộng đã phát huy tác dụng vô cùng trọng yếu trong việc Trung Cộng tiến hành tẩy não nhồi nhét đối với dân chúng Trung Quốc.

1)  Vận động chính trị và trong thời kỳ thông thường

(1) Truyên truyền nhồi nhét trong các cuộc vận động chính trị

Không ngừng phát động những cuộc vận động chính trị là một trong những sự khác biệt lớn nhất giữa chính quyền Trung Cộng và các chính quyền chính thường của nhân loại. Bởi vì cái mà Đảng Cộng sản gọi là “đảng tính” hoàn toàn đối lập với nhân tính. Chỉ cần hoàn cảnh nới lỏng, việc khống chế yếu bớt đi, tiếp xúc nhiều với xã hội bình thường bên ngoài, sẽ xuất hiện tình huống là khôi phục nhân tính trong đảng viên và quần chúng nhân dân, Trung Cộng sẽ phải đối mặt với việc “đảng tâm” (cái tâm hướng về đảng của nhân dân) tan rã, khó có thể duy trì được cục diện. Do vậy, đối với Trung Cộng, những cuộc vận động chính trị có tính chu kỳ sẽ trở thành điều tất nhiên.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Do vậy, việc Trung Cộng lợi dụng các cơ quan tuyên truyền để nhồi nhét văn hóa đảng có thể được phân thành hai loại tình huống là [nhồi nhét] trong thời kỳ vận động chính trị và trong những tình huống thông thường khác. Bất kể là ở tình huống nào, thì cấp lãnh đạo nòng cốt của Trung Cộng đều coi việc khống chế các cơ quan tuyên truyền (báo chí, truyền thanh, truyền hình v.v..) là “đại sự hàng đầu”, “Việc quan trọng trong những việc quan trọng”, chẳng qua là sách lược phương thức thao tác cụ thể khác nhau. Trong Đại Cách mạng Văn hóa, Bộ truyên truyền của Trung Cộng đã từng bị coi là “Điện Diêm Vương”, bị đả kích, trên phạm vi toàn quốc đã xuất hiện một lần cảnh tượng “vô chính phủ”, “thiên hạ đại loạn” trên bề mặt, nhưng tập đoàn nòng cốt nắm quyền thực chất của Trung Cộng không hề nới lỏng khống chế với bộ máy tuyên truyền trọng yếu (như “Nhân dân nhật báo”, “Báo Giải phóng quân” và tạp chí “Hồng Kỳ”).

Trong thời kỳ thông thường, Trung Cộng truyên truyền nhồi nhét tuần tự theo mô thức sau: lãnh đạo Đảng định ra phương hướng – cục chính trị ra nghị quyết – Bộ tuyên truyền quán triệt – cơ quan ngôn luận và ban ngành chức năng chấp hành. Nhưng vào thời kỳ nguy cơ, lãnh đạo đảng của Trung Cộng sẽ tránh theo trình tự thông thường, một tay khống chế truyền thông, còn một tay thì nắm chắc con dao đồ tể (hệ thống quân đội, cảnh sát, hệ thống đặc vụ), tiền trảm hậu tấu, tạo thành việc đã rồi, sau đó tất dùng đảng tính uy hiếp toàn đảng, thống nhất tư tưởng, thống nhất dư luận, như vậy đảng tính chiến thắng nhân tính hết lần này tới lần khác, từng bước từng bước tiêu diệt nhân tính, cho tới khi toàn thể đảng viên và toàn xã hội đều khuất phục trước ý chí biến thái của đảng.

Mao, Đặng, Giang [Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân] dù là ở các thời kỳ các nhau đều nhảy lên vũ đài trực tiếp “cầm dao” hoặc là truyền đạt ý kiến cho cơ quan ngôn luận báo chí đăng tải các bài viết, định hướng cho vận động chính trị. Sau cuộc vận động chống cánh hữu năm 1957 “dụ rắn ra khỏi hang” Mao Trạch Đông tự mình biên soạn xã luận cho “Nhân dân Nhật báo”, bắt đầu là chỉnh đốn nghiêm khắc với mấy triệu phần tử trí thức, “cuộc vận động chống cánh hữu” được Mao gọi là “dương mưu” này đã triệt để phá hủy tư tưởng độc lập và tự do ý chí của phần tử trí thức Trung Quốc. Bài xã luận “phải giương cao lá cờ chống nổi loạn” định tội cho cuộc vận động học sinh sinh viên yêu nước năm 1989 cũng là do Đặng Tiểu Bình, người nắm giữ thực quyền đương thời, trực tiếp chỉ thị xuất bản. Ngày 25 tháng 10 năm 1999, kẻ tà ác đầu sỏ của Trung Cộng là Giang Trạch Dân khi trả lời phỏng vấn của nhà báo người Pháp là Figaro, gọi Pháp Luân Công là X giáo [tà giáo], ngày hôm sau “Nhân dân nhật báo” liền đăng tải bài báo “‘Pháp Luân Công’ là X giáo”, kể từ đó những lời chửi rủa mất hết lý trí của Giang Trạch Dân đã vượt lên trên cả hiến pháp và pháp luật.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Những tuyên truyền nhồi nhét trong các cuộc vận động chính trị của Trung Cộng thông thường kèm theo những cuộc động viên chính trị điên cuồng và tấn công dư luận rợp trời dậy đất. Loại tấn công dư luận quy mô lớn này đã cắt đứt nguồn thông tin thông thường của con người, khiến mọi người căn bản không thể tiến hành phán đoán và suy xét một cách độc lập. Rất nhiều người do vậy mà tiếp thu sự “dẫn dắt” dư luận của Trung Cộng, còn cho rằng đó là kết quả của tư duy độc lập của mình. Mặc dù có một số ít người đầu não còn khá thanh tỉnh, nhưng khi đối diện với áp lực khổng lồ của bộ máy bạo lực và “quần chúng chuyên chính”, thông thường cũng chỉ có thể giữ im lặng.

Người Trung Quốc ngày nay đều sẽ cho rằng những cuộc vận động chính trị mấy chục năm trước của Trung Cộng thật hoang đường, nực cười. Nhưng từ góc độ nhồi nhét Văn hóa đảng mà nói, những cuộc vận động này đã mà đạt được mục đích của nó một cách rất “thành công”, đó là bởi trải qua thời gian tuyên truyền nhồi nhét rất lâu dài, người ta không có cách nào để phân biệt chính xác đâu là tư tưởng bình thường của bản thân, đâu là quan niệm mà Trung Cộng nhồi nhét. Người ta “cáo biệt cách mạng”, chỉ là cáo biệt hình thức bề mặt của cách mạng, còn nội hàm Văn hóa đảng của nó hầu như được lưu giữ nguyên vẹn. Ngày nay, mọi người tất nhiên không hát “Ngữ lục ca” hay nhảy “Điệu múa trung thành”, nhiệt tình với “trăm hoa đua nở, trăm phái tranh luận”, “văn công võ vệ”, nhưng thuyết vô Thần, thuyết duy vật, thuyết tiến hóa và triết học đấu tranh bị nhồi nhét trong các cuộc vận động chính trị của Trung Cộng lại được người Trung Quốc cho là học thuyết đúng đắn được toàn thế giới thừa nhận, là “chân lý” phổ biến trên thế giới, căn bản không cần chứng minh, kính Thiên kính Thần bị coi là “phong kiến mê tín”, văn hóa truyền thống bị rút đi nội hàm hoặc bị biến thành đồ trang sức, hoặc bị coi là công cụ kiếm tiền nhưng mọi người thực sự không hề cảm thấy có cái gì đó không ổn. Trung Cộng đã “cải tạo tư tưởng” rất thành công .

Mười năm Cách mạng Văn hóa khiến cho kinh tế quốc dân bị đẩy tới “bên bờ sụp đổ”, Trung Cộng buộc phải nhượng bộ về lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực văn hóa. Nhưng liên quan tới lĩnh vực hình thái ý thức về mục tiêu sinh tồn của tập đoàn Trung Cộng, nó xưa nay chưa hề nới lỏng. Đặng Tiểu Bình từng nói: “Về vấn đề này, chúng ta xưa nay chưa hề ‘nới’, đương nhiên cũng không nói tới ‘thu’.” Năm 2005, khi nói đến hai nước cộng sản nhỏ bé bị phong bế cấm vận như nồi áp suất là Cu Ba và Bắc Hàn, Hồ Cẩm Đào lại ngưỡng mộ không ngớt mà rằng họ “nhất quán về hình thái ý thức là chính xác”. Trong hình thế mới, một mặt Trung Cộng kế thừa phòng thủ nghiêm ngặt, vây bắt chặn đường, mặt khác đành phải “tiến bước cùng thời gian”, biến hóa thủ đoạn, sách lược tuyên truyền cũng trở nên tinh vi hơn, linh hoạt hơn, bịp bợm hơn. Mặc dù từ những năm 80 trở lại đây, Trung Cộng liên tiếp phát động một loạt các cuộc vận động như “chỉnh đốn Đảng”, “thanh trừ ô nhiễm tinh thần”, “phản đối giai cấp tư sản tự do hóa”, “phê phán cuộc vận động dân chủ ngày 4 tháng 6”, đàn áp Pháp Luân Công v.v.. nhưng mọi người lại không hề cảm thấy bản thân mình đã rơi vào trong những cuộc vận động chính trị đó, dường như đó là chuyện đã xảy ra rất lâu rồi. Trung Cộng nhồi nhét Văn hóa Đảng đã đạt tới trình độ khiến ngay cả người bị nhồi nhét cũng không ý thức được, vẫn can tâm tình nguyện, thậm chí đến mức mê không biết chán.

 

Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

(2) Việc tiêm nhiễm nhồi nhét trong thời kỳ thông thường do Ban tuyên truyền Trung Cộng lên kế hoạch thực thi

Trong tiếng Anh, từ “tuyên truyền” (propaganda) và tẩy não, lừa dối có liên hệ với nhau, hoàn toàn là một từ mang nghĩa xấu. Chỉ có trong từ điển của Phát-xít và Cộng sản, từ “tuyên truyền” mới mang nghĩa chính diện. Tìm kiếm khắp các thể hệ chính trị từ cổ chí kim, cũng chỉ trong thể hệ Phát-xít và Cộng sản mới có một góc nhỏ cho “bộ tuyên truyền” (Ban tuyên giáo). Sau “cải cách mở cửa” Trung Cộng xuất phát từ nhu cầu bảo vệ hình tượng quốc tế của mình, đã đổi tên Bộ tuyên truyền trong tiếng Anh thành “Bộ thông tin công chúng” (Publicity Department), nhưng tính chất của nó thì không hề thay đổi.  Ban tuyên truyền Trung ương trực thuộc cơ cấu của Trung ương Trung Cộng, là một cơ cấu chuyên khống chế giới truyền thông và tinh thần người dân Trung Quốc.

Mấy chục năm nay, Trung Cộng trước sau đều coi việc hoàn toàn khống chế hình thái ý thức là đại sự hàng đầu đối với sự tồn vong của đảng. Trung Cộng thông qua Bộ tuyên truyền Trung ương mà khống chế chặt chẽ, chỉ đạo dư luận Trung Quốc, quán triệt truyền đạt ý chí của “đảng”, thông qua bộ máy tuyên truyền quốc gia tiến hành tuyên truyền tẩy não lặp đi lặp lại đối với nhân dân, thống nhất tư tưởng của toàn dân phục vụ cho ý đồ của Trung ương Trung Cộng. Hơn hai nghìn đầu báo, gần một vạn tạp chí, hơn một nghìn đài phát thanh và truyền hình, mấy trăm nghìn điểm truy cập Internet của Trung Quốc đều do Ban tuyên truyền Trung ương và Bộ tuyên truyền các cấp quản lý.

Mọi người đều biết Bộ tuyên truyền Trung ương thực sự không có ý chí của riêng mình. Nó coi ý chí của Trung ương Trung Cộng là ý chí của mình, lấy sự sinh tồn của tập đoàn Trung Cộng làm mục tiêu, coi lợi ích của Đảng Cộng sản là lợi ích căn bản. Công việc của Bộ tuyên truyền Trung ương nói một cách đơn giản, là một mặt phong tỏa bóp nghẹt sự thật, mặt khác là ngụy tạo và thay thế sự thật.

Trước hết, chúng ta hãy xem Bộ tuyên truyền Trung ương phong tỏa bóp nghẹt sự thật như thế nào. Vào tháng 06 năm 2002, Bộ tuyên truyền Trung ương đã phát đi một lệnh cấm đối với các cơ quan truyền thông, tổng cộng liệt kê 35 điều “không được phép”, dưới đây chỉ là một bộ phận:

“Không được tự ý đưa tin về cải cách thuế phí tại nông thôn”, “đối với tình hình bệnh dịch lớn không được tiến hành khuyếch đại đưa tin truyền tải”, “không được tùy ý đưa tin về các sự kiện an ninh trọng đại”, “không được đưa tin về việc chủ doanh nghiệp tư nhân gia nhập đảng”, “không được đưa tin và truyền tải các sự kiện của Đảng ủy các cấp “, “không được đưa tin về khoảng cách chênh lệch giàu nghèo quá lớn”, “không được đưa tin về những vấn đề tồn tại của các công trình [được coi là mang đến] hy vọng [cho người dân]”, “không được dùng từ ‘phong sát’ (phong tỏa và dập tắt) trên các phương tiện truyền thông”, “không được nói dư luận về tin tức là lực lượng hoặc quyền lực thứ tư”[2], “không được xuất bản các ngôn luận sai lệch và quan điểm không chính xác”, “không được tập trung tiến hành báo cáo mang tính phê bình và phụ diện”, “không được tùy ý đưa tin về các lĩnh vực dân tộc, tôn giáo” v.v…

Ban tuyên truyền Trung ương của Trung Cộng mỗi năm phát đi hơn 100 tờ (lần) thông báo hoặc lệnh cấm đối với hãng truyền thông các tỉnh, thành, huyện. Ban tuyên truyền Trung ương ở các cấp tỉnh thành bình quân phát đi hơn 230 tờ (lần) thông báo, lệnh cấm, trong đó các tỉnh phát đi các lệnh cấm nhiều nhất gồm có Thượng Hải, Quảng Đông, Tứ Xuyên, Sơn Đông, Hà Nam, Hồ Nam, Hồ Bắc. Ban tuyên truyền Trung ương của những tỉnh thành này mỗi năm phát đi hơn 310 các loại lệnh cấm và thông báo cho cơ quan truyền thông địa phương mình. Có nghĩa là, các cơ quan truyền thông của các địa phương này bình quân mỗi ngày nhận được một lệnh cấm.

Nhằm tăng cường khống chế truyền thông, tổ điều phối thẩm duyệt tin tức của Ban tuyên truyền Trung ương giám sát phương hướng hoạt động của những hãng truyền thông chính tại trung ương và địa phương, và phải định kỳ báo cáo lên cấp trên. Từ Trung ương đến địa phương, Bộ tuyên truyền các cấp hoặc Cục thông tin đã thuê một lượng lớn “nhân viên thẩm duyệt tin tức” chuyên phụ trách giám sát  khống chế “vấn đề chính trị” trong những bài báo truyền thông, video và audio. Những ấn phẩm do Cục thông tin của Bộ tuyên truyền phụ trách thẩm duyệt chỉ tính riêng báo chí đã đạt tới hơn 100 loại.

Có thể có người nói, vì Trung Quốc lớn như vậy, ngoại trừ những chủ đề cấm kỵ này thì sự kiện có thể báo cáo vẫn còn khá nhiều. Nhưng Trung Cộng đã quen với việc “chụp mũ tóm gáy”, sáng ban hành chiều thay đổi, thất thường vô hạn độ, với những ngôn luận Đảng không thích đều có thể bị dán nhãn “sai lầm”. Chính bởi vì những lệnh cấm này dùng từ mơ hồ, không có quy định để có thể tuân theo (“không được tùy ý bình luận…”, “không được tâng bốc quá đà”…, “không được phát hành các ngôn luận sai trái và quan điểm không chính xác”), do vậy có tác dụng uy hiếp còn lớn hơn. Những người làm nghề truyền thông chỉ sợ dẫm phải mìn, do vậy tốt nhất là tự giới hạn mình, thà tả khuynh còn hơn hữu khuynh, mỗi người đều là nhân viên thẩm duyệt tin tức của chính mình. Những tin tức may mắn thông qua kiểm duyệt đã “chính xác về chính trị” thì hầu như không còn chút giá trị thông tin nào có thể đọc được cả.

Đồng thời Bộ tuyên truyền Trung ương cũng dốc hết sức lực để ngụy tạo một loại “sự thực” khác thông qua việc tạo cho người dân một cảm giác thỏa mãn và cảm giác an toàn hư ảo để bảo hộ cho sự ổn định của cái đảng kia. Những tuyên truyền giả tạo của Văn hóa đảng rợp trời rợp đất như hòa ái, chống tham nhũng, yêu nước, kinh tế gia đình, “năm nhất” [ba không], tam đại biểu, bát vinh bát nhục, học tập, tăng gia, thành tích, nâng cao, mốc lịch sử, tính tiên tiến, tiến nhanh lên phía trước, thắng lợi vĩ đại v.v.. hầu như cách ly dân chúng với hiện thực chân chính của Trung Quốc một cách toàn diện. Những hiện thực đang uy hiếp nghiêm trọng sự sinh tồn của dân tộc này như cảnh tượng bi thảm của công nhân thất nghiệp và nông dân tiến vào thành phố, cư dân thành thị bị cưỡng chế dỡ bỏ nhà, không còn nhà mà về, tham ô hủ bại, quan chức và thương nhân câu kết với nhau, cảnh sát và thổ phỉ móc ngoặc với nhau, môi trường sinh thái xuống cấp nghiêm trọng, tình trạng đạo đức trượt dốc tới chóng mặt, tình trạng nhân quyền không ngừng trở nên tồi tệ hơn v.v hoặc là bị chặn hoàn toàn ngoài tầm mắt của nhân dân, hoặc cố ý nói giảm nói tránh, gọi một cách mỹ miều là: “những vấn đề trong quá trình phát triển chỉ có thể giải quyết trong bước phát triển tiếp theo.”

Tự do thông tin là nguồn gốc của tự do tư tưởng và phán đoán độc lập. Các loại lệnh cấm và giới hạn của Ban tuyên truyền Trung ương đã dẫn đến việc thông tin bị Trung Cộng sàng lọc toàn bộ, dân chúng không có cách nào lấy được thông tin chân thực để có thể từ đó mà độc lập suy xét. Đồng thời mọi người không thể tránh khỏi việc liên tục hấp thụ các thông tin bị chìm ngập trong văn hóa Đảng của Trung Cộng, thuận theo cách nghĩ của văn hóa Đảng mà phản đối và phê phán. Dần dần mọi người sẽ quen với kiểu nhồi nhét này, căn bản không tin rằng bản thân mình đã bị Văn hóa đảng tẩy não.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

2) Bộ máy tuyên truyền chủ yếu

Nhận được thông tin chân thực là điều kiện tất yếu để duy trì sự sinh tồn của nhân loại. Thời cổ xưa, người ta thông qua truyền tai truyền miệng là đủ nắm vững những thông tin cần thiết để ứng phó với cuộc sống. Thuận theo sự phát triển phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, quy mô và thước đo các hoạt động của nhân loại cũng không ngừng lớn lên, thế giới ngày càng trở thành “thôn địa cầu” (global village), sự việc phát sinh cách xa vạn dặm cũng có thể tạo ra ảnh hưởng rất to lớn đối với cuộc sống, sản xuất của một cá nhân, lúc này việc truyền tai truyền miệng không đủ nữa, truyền thông đại chúng do đó mà sinh ra.

Sự xuất hiện của truyền thông đại chúng, đã cải biến từ căn bản môi trường thông tin của nhân loại. Thông qua truyền thông, các cá thể phân tán càng có thêm liên hệ chặt chẽ với xã hội, những việc mà con người quan tâm ngày càng nhiều, thế giới tinh thần của cá nhân cũng trở nên phong phú phức tạp hơn. Nhân loại ngày nay, ở một mức độ rất lớn, đều dựa vào những tin tức thu được từ truyền thông để phán đoán môi trường bên ngoài, từ đó mà lựa chọn điều lợi tránh điều hại.

Bởi vì truyền thông đóng vai trò trọng yếu trong sinh hoạt xã hội, ở các nước dân chủ phương Tây, truyền thông được coi là độc lập với lập pháp, tư pháp, hành chính, là loại quyền lực thứ tư, các nhà báo được coi là các vị “vua không vương miện”, có sức ảnh hưởng xã hội rất to lớn.

Trung Cộng quen với việc công kích “tính giả tạo trong tự do thông tin ở các nước tư bản chủ nghĩa”, rất nhiều người Trung Quốc chưa hề suy nghĩ đã lặp lại lời của Trung Cộng. Kỳ thực, tự do thông tin thực sự không có nghĩa là bất kỳ cơ quan truyền thông mang đặc trưng nào đó đều không có tính khuynh hướng, mà có nghĩa là Pháp luật bảo đảm cho các hãng truyền thông có khuynh hướng khác nhau được tự do cạnh tranh, cũng bảo vệ cho các hãng truyền thông do cá nhân hoặc đoàn thể sáng lập. Dưới chế độ như vậy, nhiều hãng truyền thông cùng tồn tại và bổ sung cho nhau, khiến con người có cơ hội tổng hợp những quan điểm khác nhau để có thể đưa ra phán đoán và lựa chọn của riêng mình. Nếu có người không hài lòng với tất cả các cơ quan truyền thông hiện có, vậy thì họ có thể thành lập một hãng truyền thông trung lập, khách quan khác theo pháp luật. Ngược lại, các hãng truyền thông của Trung Quốc toàn bộ thuộc về “giới quan chức làm”, “một mình độc chiếm, chớ hòng phân chia”. Đài truyền hình Trung Ương Trung Cộng có thể phát sóng tại Mỹ nhưng đài truyền hình của Mỹ lại không thể phát sóng tại Trung Quốc.

Sự khống chế tư tưởng chặt chẽ của Trung Cộng đồng nghĩa với việc các hãng truyền thông chính thường không thể truyền bá các thông tin chân thực. Dưới sự thống trị của Đảng Cộng sản, các cơ quan thông tin đại chúng như báo chí, truyền thanh, truyền hình, mạng Internet v.v.. tất nhiên đã sa vào thế “miệng lưỡi của đảng” và là công cụ để nhồi nhét Văn hóa đảng.

(1) Báo chí

Căn cứ vào một cuốn sách thống kê do Đài Bắc xuất bản năm 1999 – “Điều tra nghiên cứu về báo chí thời Trung Cộng còn là đảng ngầm”, trước năm 1949, Trung Cộng, kẻ dốc toàn lực lật đổ chính quyền hợp pháp đương thời, đã lợi dụng hoàn cảnh dư luận tương đối nới lỏng dưới sự thống trị của Quốc Dân đảng, ngoài việc tổ chức phương tiện truyền thông ở cái gọi là “khu giải phóng” ra, nó còn lập ra hoặc thao túng hơn hơn 1.000 loại báo chí ở những vùng thống trị của Quốc Dân đảng. Trung Cộng đã lợi dụng những báo chí này cổ động “dân chủ”, tô vẽ cho bản thân, đả kích Quốc Dân đảng, từ đó lập được “kỳ công” cướp chính quyền.

Nhưng sau khi cướp được chính quyền, trong một đêm tất cả các hãng truyền thông đã cộng sản hóa vào tay đảng, lúc này nếu dám đòi “đảng” cho tự do thông tin, đáp án tiêu chuẩn của “đảng” là: “Không tồn tại tự do thông tin vượt trên giai cấp.” Trữ An Bình, một nhân sĩ dân chủ nổi tiếng đã từng dự đoán: “Dưới thời Quốc Dân đảng thống trị, ‘tự do’ vẫn là vấn đề ‘nhiều’, – ‘ít’, còn nếu như Đảng Cộng sản chấp chính, thì cái tự do này sẽ biến thành vấn đề ‘có’ – ‘không’.” Kỳ thực, ngay cả “vấn đề dân chủ có hay không” cũng không tồn tại, Mao Trạch Đông đã thẳng thắn nói không tránh né: “Chính là phải ‘tước đoạt quyền phát ngôn của phái phản động, chỉ để nhân dân có quyền phát ngôn’.” Ai là nhân dân, ai là phái phản động? Chỉ Mao nói mới được tính.

“Dư luận đồng loạt”, “nguyên tắc đảng tính của việc đưa tin tức”, “chính trị gia làm báo”, “công tác văn hóa phục vụ cho nhiệm vụ chính trị”… dưới sự chỉ đạo của những khẩu hiệu này, tất cả báo chí ấn phẩm đều phải ngoan ngoãn trở thành [bộ máy] phát ngôn cho Trung Cộng. “Đảng” muốn chống cánh hữu, báo chí sẽ nói: “Phe cánh hữu muốn làm phản, những người bần nông và trung nông chúng ta không đáp ứng”; “đảng” muốn “nhảy vọt”, báo chí sẽ nói: “Đạt sản lượng 150 tấn một héc-ta”; đảng muốn “tiếp tục cách mạng dưới sự chuyên chính của giai cấp vô sản”, báo chí sẽ nói: “Đây là đại kế trăm năm, đại kế nghìn năm bảo đảm cho giang sơn Xã hội Chủ nghĩa thiên thu vạn đại vĩnh viễn không biến sắc”; “đảng” muốn bức hại Pháp Luân Công, báo chí sẽ nói: “Tôn sùng khoa học, phản đối mê tín.” Dù hiện nay người ta đều nói rằng trên tờ “Nhân dân nhật báo” – cơ quan ngôn luận của Trung Cộng chỉ có ngày tháng là chân thực, nhưng sức mạnh của truyền thông là khổng lồ, hơn nữa ngoài “tiếng nói của Đảng” ra, căn bản không có bất cứ nguồn tin tức độc lập nào, do vậy mọi người đành phải coi các kênh truyền thông lớn nhỏ đủ loại bị Trung Cộng khống chế là nguồn tin tức đáng tin cậy, khác biệt chỉ là mức độ lừa gạt ít nhiều mà thôi.

Từ những năm 80 trở lại đây, phỏng theo kinh nghiệm của Đài Loan trong việc dỡ bỏ đảng cấm, báo cấm, cuối cùng kiến lập chế độ dân chủ, một lớp những người theo ngành truyền thông có lương tri đã bỏ ra rất nhiều nỗ lực gian khổ nhằm tranh thủ tự do thông tin. Ngày nay Trung Cộng tiến hành “Chủ nghĩa tư bản quyền quý”, các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế đã thị trường hóa một cách cao độ, nhưng việc xuất bản thông tin vẫn bị chính quyền nắm chặt trong tay. Một số hãng truyền thông mưu đồ thoát khỏi địa vị “phát ngôn” đều khó thoát khỏi vận mệnh bị “chỉnh đốn”. Xa thì có “Báo kinh tế thế giới” trước sự kiện “Ngày 4 tháng 6”, gần thì có tuần san “Băng điểm”. Vì để tránh né sự phẫn nộ của nhân dân, Trung Cộng hiện giờ đã học cách mềm mỏng, đối với các báo chí có ảnh hưởng lớn, nó không cưỡng chế ngừng xuất bản như trước đây, mà thay người “có thể tin cậy về chính trị” vào vị trí tổng biên tập, biên tập viên v.v. Báo chí vẫn được gọi tên cũ nhưng linh hồn đã chết, còn đại chúng vẫn bị lừa gạt.

Mắt tai mũi miệng của con người, đầu dây thần kinh hoạt động bình thường giúp con người có thể có phản ứng chính xác đối với hoàn cảnh bên ngoài. Nếu như có người mà cơ quan cảm giác có vấn đề, rõ ràng lửa đốt bỏng da, vậy mà không những không cảm thấy đau, ngược lại còn cảm thấy vui thích, người này ắt đã rơi vào hoàn cảnh rất nguy hiểm. Những năm 60 khi nạn đói xảy ra, đi tới đâu cũng thấy người đang chết đói, thậm chí một vài nơi còn xuất hiện thảm kịch người ăn thịt người, nhưng báo vẫn thi nhau khoác lác là nông nghiệp đã đạt sản lượng cao, dần dần dẫn dụ con người rằng ăn quá nhiều sẽ không tốt cho sức khỏe. Mùa xuân năm 2006, sau khi một trận bão cát rất mạnh qua đi, vậy mà truyền hình vẫn nói chuyện say sưa rằng “ngành rửa xe đã đạt được bội thu”, ngụ ý nói rằng bão cát có thể kích thích kinh tế tăng trưởng. Miệng lưỡi của Trung Cộng trong hoàn cảnh thiên tai nhân họa và lòng dân trào dâng oán hận vẫn khoét “đường lối chỉ đạo dư luận chính xác”, đã đến bước phát ngôn tùy tiện.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

(2) Truyền thanh, truyền hình, mạng Internet

Ngoại việc thâu tóm báo chí, Trung Cộng cũng rất xem trọng những loại hình truyền thông mới nổi. Đài truyền thanh, đài truyền hình, mạng Internet, những loại hình truyền thông mới nổi này đều nằm trong lòng bàn tay của Trung Cộng. Theo số liệu được “Báo xuất bản tin tức Trung Quốc” công bố hồi tháng 05 năm 2003: Năm 2002, Trung Quốc có tất cả 306 đài truyền thanh, 260 đài truyền hình, 1.300 đài phát thanh và truyền hình. Tỉ lệ mà truyền thanh có thể phủ sóng là 93,21%, tỉ lệ truyền hình có thể che phủ là 94,54%. Theo điều tra, gần 90% các cư dân thành thị từ độ tuổi 15 đến 64 tuổi đều xem ti vi mỗi ngày. Tác dụng về phương diện tuyên truyền nhồi nhét Văn hóa đảng, phải nói là truyền thanh và truyền hình đã khởi tác dụng vượt xa báo chí tạp chí, mặc dù còn chưa thể thay thế hoàn toàn.

Ngày nay những người trên 40 tuổi chắc sẽ không quên tiếng loa phát thanh công suất lớn phát đi những “chỉ thị tối cao” và bài luận chính trị dài sôi nổi khắp các thành thị làng quê thời Cách mạng Văn hóa. Sau Cách mạng Văn hóa, giọng điệu của các phát thanh viên đã vặn nhỏ xuống nhưng “giác ngộ chính trị” lại không hề giảm sút, chỉ là dùng kỹ thuật tinh vi hơn và phương thức gần gũi với nhân tính hơn để tuyên truyền nhồi nhét Văn hóa đảng.

Truyền hình là một phương thức quảng bá giàu hình tượng, sinh động trực quan, truyền tải được một lượng lớn thông tin, tạo cảm giác như có mặt tại hiện trường rất mạnh mẽ, ảnh hưởng vô cùng sâu sắc với khán giả. Từ sau năm 1979, ngành truyền hình Trung Quốc bắt đầu phát triển mạnh. Trung Cộng đã thâu tóm chặt chẽ loại truyền thông này, kỹ thuật tuyên truyền nhồi nhét Văn hóa đảng cũng thuận theo sự tiến bộ của kỹ thuật truyền hình mà không ngừng tăng lên như nước nổi tới đâu bèo nổi tới đó.

Đại bộ phận các tiết mục truyền thanh truyền hình đều truyền tải nội hàm Văn hóa đảng theo những phương thức khác nhau. Ví dụ như truyền hình, ngày 01 tháng 01 năm 1978 bắt đầu phát sóng chương trình “tiếp sóng tin tức”, đây là trận địa trọng yếu nhất để Trung Cộng tuyên truyền lừa gạt. Chương trình kéo dài nửa giờ này suốt mấy chục năm nay vẫn y như khuôn mẫu sau: 25 phút đầu lúc nào cũng là triệu tập long trọng, gặp mặt thân thiết, lĩnh hội sâu sắc, quán triệt thực thi, lộ trình vinh quang, thành tựu vĩ đại, có người nói chỉ có tin tức quốc tế 5 phút cuối là còn xem được, nhưng kỳ thực cũng đã bị Trung Cộng cắt xén, bóp méo, cố tình dẫn dụ quần chúng về hướng sai lệch.

Tiết mục chuyên đề (như ‘Phỏng vấn tiêu điểm’), tiết mục đàm thoại (như ‘Lời thật nói thật’), kịch truyền hình (như ‘Chọn lựa sinh tử’), tiết mục văn nghệ tổng hợp (như ‘Liên hoan dạ hội đầu xuân’) v.v.. không tiết mục nào không được thiết kế kỳ công, vừa muốn lấy lòng đại chúng, vừa muốn đảng hài lòng – được lòng đại chúng là thủ đoạn, khiến đảng hài lòng là mục đích. Tiết mục “Phỏng vấn tiêu điểm” của Đài truyền hình Trung ương đã từng dựa vào việc “dám nói” để gặt hái uy tín nhanh chóng, nhưng một vị khán giả đã bóc mẽ nó trong một câu: “Cái gì là ‘Phỏng vấn tiêu điểm’, những sự kiện được phát sóng thời đầu sáng lập được coi như là pháo cao xạ bắn muỗi, thời nay phát sóng đều là kính hiển vi tìm vi khuẩn. Từ việc không tiết lộ những vụ án lớn, tới những vụ án lớn cũng chỉ là việc lớn hóa nhỏ, sơ sài đại khái.” Nhân viên làm việc trong Đài truyền hình Trung ương tự mình trào phúng rằng: “Tôi là một con chó của đảng, ngồi ở cổng lớn của đảng. Đảng bảo cắn ai thì cắn người ấy, bảo cắn bao nhiêu phát thì cắn bấy nhiêu phát.” Phim truyền hình thì càng là đất diễn của nó: chống tham nhũng, cải cách, đạo đức, cổ trang, nói trắng ra những gì biểu đạt đều là yêu đảng nhiệt tình, hiểu đảng, tin đảng, tha thứ cho đảng. Tất cả các vở “kịch truyền hình chống tham nhũng” đều tuân theo một công thức, chính là những người giữ chức phó, cấp dưới, mặc dù đã tạo ra một số tổn thất nhất định cho sự nghiệp của “đảng”, ảnh hưởng đến “quan hệ giữa đảng và quần chúng”, “quan hệ giữa cán bộ và quần chúng”, nhưng vào thời khắc then chốt, hóa thân của “đảng”- người giữ chức trưởng, thượng cấp của viên tham quan, sẽ giống như những “cứu tinh bất ngờ” bị phê phán trong mỹ học hý kịch phương Tây, bất ngờ dũng cảm bước ra, trừng phạt tham quan, hóa giải mâu thuẫn, vãn hồi lại thể diện cho “đảng”. Trong hiện thực cuộc sống mọi người đều biết, hủ bại tuyệt không chỉ là những người giữ chức phó hoặc tham quan cấp thấp, nếu như nói những quan viên cấp thấp là những con tằm ăn rỗi đối với ngân sách, thì những quan to, thái tử “đảng” mới là những kẻ nuốt chửng ngân sách. Mặc dù vậy những viên quan thanh liêm hiện ra sinh động trên màn hình TV mới khiến khán giả chìm đắm say sưa trong sự kỳ vọng vào “người cán bộ tốt của đảng.”


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

“Liên hoan dạ hội đầu xuân” bắt đầu từ năm 1983 là một tác phẩm tổng hợp dùng hình thức văn nghệ để nhồi nhét Văn hóa đảng của Trung Cộng. Từ ca khúc, tấu nói, tiểu phẩm đến lời giới thiệu của người dẫn chương trình, điện chúc cảm động, lãnh sự quán tổ chức cho lưu học sinh đón năm mới, toàn bộ đều là đang cố hết sức làm lẫn lộn khái niệm đảng và quốc gia, đảng và dân tộc, lại lợi dụng tình thân, cảm tình dân tộc, tình cảm yêu nước của con người để củng cố sự khống chế của Trung Cộng đối với tâm linh của họ. Dù là tiểu phẩm mang khẩu ngữ Đông Bắc hay Tây Bắc thì ngoài việc trực tiếp bôi nhọ “kẻ thù của đảng”, nó còn dối mình dối người mà miêu tả những con người bình thường có thể tìm kiếm niềm vui trong khổ nạn, nhằm đánh lạc hướng sự chú ý của người xem ra khỏi những nguyên nhân chính trị xã hội dẫn đến những khổ nạn trong đời họ; hoặc là dùng những mánh khóe rẻ tiền để miêu tả tất cả mọi người thành những người có nhân cách thô tục giống nhau, dường như từ trước đến nay đều như vậy, toàn thế giới đều như vậy,  từ đó che đậy hiện thực xã hội là dưới sự thống trị của Trung Cộng đạo đức đang trượt trên dốc lớn. Năm 2004, tại Trung Quốc Đại Lục tổng cộng phát sinh 74.000 vụ đấu tranh biểu tình. Ở Hán Nguyên, tỉnh Tứ Xuyên nông dân bạo động xảy ra trên quy mô lớn gây ra đổ máu, sự kiện cả thôn mắc bệnh AIDS nhìn thấy mà đau lòng, thượng nguồn sông Hoàng Hà bị cạn nước, nước sông Hoài ô nhiễm nghiêm trọng khiến nước sông mất đi công dụng nước, tai nạn sập hầm mỏ liên tiếp xảy ra, thiên tai không ngừng. Ngay trong hoàn cảnh như vậy mà chương trình đón xuân năm 2005 lại mệnh danh là “Thịnh thế đại liên hoan”, đúng là ứng với một câu nói đang lưu hành: “Tiến hành lừa dối đến cùng!”

Các điểm truy cập Internet quá nhiều, rất bất lợi cho việc tuyên truyền nhồi nhét Văn hóa đảng dưới hình thức “chủ động xuất kích”, do vậy sách lược chủ yếu của chính quyền Trung Cộng đối với Internet là “phong tỏa”, không để những ngôn luận bị Trung Cộng cấm được lưu truyền. Cách thức chủ yếu của hệ thống khống chế của Trung Cộng bao gồm: phong tỏa các trang web nước ngoài, đóng cửa các trang web trong nước, bắt giữ chủ các trang web, lọc thư điện tử, bố trí cảnh sát mạng, điệp viên mạng v.v.. Về phương diện này thì vụ việc nổi tiếng nhất là một dự án được gọi là “Công trình Kim Thuẫn” đã được thông qua năm 1998, theo kế hoạch công trình sẽ được hoàn thành toàn bộ vào năm 2006, đợt đầu đã đầu tư 800 triệu Đô la Mỹ. Công trình này trên danh nghĩa là tự động hóa hệ thống công an, thực ra là bao gồm một hệ thống các mắt xích dùng để phong tỏa giám sát mọi phương hướng, là một hệ thống công trình liên quan tới rất nhiều bộ phận như kỹ thuật, hành chính, công an, quốc phòng, tuyên truyền v.v..


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Mạng lưới thông tin thế giới bùng nổ tạo ra cảm giác sai lầm cho rất nhiều người Trung Quốc về “tự do ngôn luận.” Trên thực tế, thứ mà mọi người thấy được đều là thứ mà Trung Cộng để họ thấy được; thứ mà Trung Cộng không muốn để mọi người thấy, họ nhất định không thể thấy được. Lời dối trá có thể lưu thông tự do, còn chân tướng sự việc thì lại bị cực lực che đậy, đây chính là tình huống chân thực của mạng thông tin Trung Quốc.

3) Các thủ đoạn nhồi nhét thường dùng

(1) Che chắn rợp trời dậy đất khiến con người đoạn tuyệt triệt để với thế giới chân thực

Nhân vật chính Sở Môn trong bộ phim Mỹ “Chân Nhân hoạt kịch” [còn được dịch là “Thế giới của Sở Môn”] sống trong một thế giới hư ảo được xây dựng rất tinh vi, thế giới này là một hoàn cảnh của một câu chuyện lâm ly cảm động, mà kịch tính của câu chuyện lâm ly cảm động này chính là 24 giờ sinh hoạt của Sở Môn. Thế giới hư ảo trong vở kịch bao gồm tất cả những nhân tố của thế giới chân thực, mà Sở Môn từ khi sinh ra đã sống trong thế giới này, do vậy tới tận khi trưởng thành, anh chưa bao giờ đưa ra hoài nghi nào về tính chân thực của thế giới này.

Trong thuật ngữ của chính trị học, kiểu chính quyền tiến hành khống chế toàn diện đối với xã hội này của Trung Cộng được gọi là “chính quyền dạng thức toàn quyền”. Điều kiện tiên quyết để có thể duy trì kiểu chính quyền này là nhất định phải có một môi trường thông tin giả dối có lợi cho chính quyền đó. Trung Cộng rất thông thạo con đường này. Bao năm qua nó đã sáng tạo và duy trì một môi trường thông tin giả dối không nơi nào bị bỏ sót. Trong hoàn cảnh này, con người bị ngăn cách triệt để với thế giới chân thực, mất đi hệ thống tham chiếu để phán đoán thật giả, thiện ác. Có thể nói người Trung Quốc dưới sự thống trị của Trung Cộng đều sinh sống trong thế giới hư ảo như nhân vật Sở Môn.

Nhằm đạt được mục đích chính trị của mình, Trung Cộng cũng có thể cấp tốc tạo ra một môi trường thông tin giả trong thời gian ngắn. Từ sau ngày 20 tháng 07 năm 1999, Trung Cộng đã khởi động bộ máy tuyên truyền để vu khống, bôi nhọ Pháp Luân Công, trong vòng nửa năm ngắn ngủi, những bản báo cáo vu khống hãm hại và các bài viết phê phán Pháp Luân Công đăng trên các trang báo trong và ngoài nước của Trung Cộng đã lên tới hơn 300.000 bài. Các phương tiện tuyên truyền khác cũng mở máy hết công suất, trừ khi bạn bịt mắt bịt tai lại, nếu không, bạn tuyệt đối không thể thoát khỏi tuyên truyền tẩy não của Trung Cộng qua truyền thanh, truyền hình, sân khấu, lớp học, những buổi hội nghị, báo tường, biểu ngữ, v.v..


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

(2) Không ngừng lặp lại, lời nói dối lặp lại một nghìn lần sẽ trở thành lời nói thật

Goebbels, bộ trưởng tuyên truyền của Đức Quốc Xã có một câu danh ngôn: “Lời nói dối được lặp lại một nghìn lần sẽ trở thành chân lý.” Trung Cộng là tín đồ trung thành của câu nói này. “Đấu tranh giai cấp phải giảng từ năm này qua năm khác, tháng này qua tháng khác, ngày này qua ngày khác” “Ba bài văn cũ, ngày ngày đều đọc”. Thời Cách mạng Văn hóa “báo nhỏ sao chép báo lớn, báo lớn sao chép từ Lương Hiệu” [3]. Hiện nay có “đường kính thống nhất”, “chuyển phát thông cáo Tân Hoa Xã”. Những lời dối trá của Trung Cộng qua hàng nghìn lần lặp lại, đã trở thành những quan niệm thâm căn cố đế trong đầu óc mọi người, vậy mà họ vẫn cho rằng những quan niệm ấy do mình tự nghĩ ra

Tuyên truyền và lặp đi lặp lại thường dẫn đến sự phản cảm và bị chế nhạo. Nhưng Trung Cộng không hề sợ mọi người thấy phản cảm hay chế nhạo. Nó tiếp tục sử dụng thủ đoạn nhồi nhét sơ cấp này, khiến mọi người sản sinh tâm lý “mánh khóe của Trung Cộng, chẳng qua cũng chỉ là như vậy, hà tất chuyện bé xé ra to, không thèm chấp với nó”. Những người dám chế nhạo Trung Cộng chắc chắn tự cho rằng mình lão luyện thông thái, không cả tin, có chủ kiến. Nhưng những từ ngữ, khái niệm, biểu ngữ khẩu hiệu và phương thức tư duy của Trung Cộng được lặp đi lặp lại nhiều lần, bị ép nhập mạnh mẽ vào tiềm thức con người, thay thế tình cảm và phán đoán tự phát của con người. Chỉ cần bạn vẫn suy nghĩ bằng những từ vựng và khái niệm này thì kết luận rút ra được chỉ có thể là kết luận mà “đảng” cho phép bạn đúc rút ra. Chỉ cần bạn gọi nhân sỹ dân vận thành “phần tử dân vận”, bạn sẽ quyết không còn thiện cảm với họ; chỉ cần bạn vẫn đang dùng các loại từ như “giải phóng”, “Trung Quốc mới”, thì bạn sẽ luôn có chút cảm giác mang ơn mang nghĩa với Trung Cộng; chỉ cần bạn gọi Trung Cộng bằng cái tên vô cùng thân thiết là “đảng”, thì bạn đã công nhận ác đảng này chiếm cứ Trung Quốc là điều tất nhiên, hợp lý hợp pháp; chỉ cần bạn vẫn còn gọi Cách mạng Văn hóa là “Hạo kiếp” (kiếp nạn lớn) thì bạn vẫn đang tiếp nhận ám thị của Trung Cộng, tin rằng tai họa Cách mạng Văn hóa là do một loại lực lượng thần bí siêu nhiên nào đó gây ra mà xem nhẹ việc Cách mạng Văn hóa và chính sách tàn bạo của Trung Cộng có mối liên hệ tất yếu; chỉ cần bạn vẫn đang gọi các công nhân thất nghiệp là “công nhân tạm nghỉ việc”, thì chính là bạn tự nguyện phối hợp với sách lược tuyên truyền của Trung Cộng, ám thị rằng trong chế độ Xã hội chủ nghĩa chỉ có tạm nghỉ việc, công nhân trong chế độ Tư bản chủ nghĩa mới thất nghiệp, thất nghiệp luôn có liên hệ chặt chẽ với phá sản, lang thang, đói kém, tự sát, còn tạm nghỉ thì chắc chắn là sẽ có ngày đi làm lại.

Hãy nghe những lời người Trung Quốc nói, hãy xem ngôn ngữ tôn thờ đảng của những “nhà yêu nước trẻ tuổi tức giận” trên các diễn đàn tiếng Trung trên mạng có ở khắp mọi nơi thì sẽ biết được việc tuyên truyền lặp lại của Trung Cộng hữu hiệu tới mức nào.

(3) Ngụy tạo ý dân, lợi dụng quyền lực, phát động tấn công tâm lý

Sau khi Trung Cộng tước bỏ tiếng nói của nhân dân, nó tự tuyên truyền rằng mình là đại biểu cho đại đa số ý kiến của nhân dân, từ đó khống chế độ tuyên truyền cao độ, lợi dụng tâm lý đám đông của nhân dân, cưỡng ép nhân dân tiếp thụ những lý luận lệch lạc và những lời dối trá của nó. Trong cuộc vận động chống cánh hữu năm 1957, trên tạp chí báo chí đều tràn ngập tiêu đề: “Giai cấp công nhân đã lên tiếng”, “Các đảng phái dân chủ toàn quốc đều đứng về phía Đảng Cộng sản cùng trừng phạt cánh hữu”, “Chỉ huy và chiến sĩ toàn quân phẫn nộ lên án”, “Cánh hữu thiểu số đã rơi vào trùng trùng bao vây của quần chúng dân chủ”, “Cánh hữu chỉ là một nhóm nhỏ cặn bã, tuyệt đại đa số trí thức đồng tâm đồng lòng với đảng”… Chỉ trong phút chốc những phần tử cánh hữu đã cảm thấy mình bị quần chúng nhân dân bao vây như “biển lớn nghìn trùng”, “chỉ có thể hết sức thành thực tuân thủ, không được nói càn làm bừa”. Mỗi lần Trung Cộng phát động những cuộc vận động chính trị thì đều phát động đảng, chính trị, quân đội, công đoàn, đoàn thanh niên, liên hiệp phụ nữ, các đảng phái dân chủ, các nhân sĩ không đảng phái, giới tôn giáo, giới giáo dục, giới khoa học kỹ thuật, giới văn nghệ, giới pháp luật, “đồng bào các dân tộc và kiều bào hải ngoại”, “đồng bào Đài Loan, Hồng Kông, Ma Cao”, thậm chí đến cả công nhân, nông dân phổ thông (kỳ thực là người đại diện của Trung Cộng đều được cài vào nội bộ những đoàn thể này), “vạch trần”, “lên án”, “tố cáo”, ngụy tạo ra giả tướng toàn dân nhiệt liệt đồng tình. Những người có kiến giải độc lập thì bị dồn vào nhóm tâm lý yếu thế của “phái thiểu số”, dẫu có ý kiến bất đồng thì cũng không dám lên tiếng, thậm chí còn không dám tin vào chính bản thân mình. Cái gọi là “một triệu chữ ký” được Trung Cộng vận động trong cuộc bức hại Pháp Luân Công, cũng cùng một giuộc với “ngụy tạo đại đa số”, “ngụy tạo dân ý” trong quá khứ.

Ngoài việc “ngụy tạo ý dân”, chiến tranh tâm lý của Trung Cộng còn bao gồm thủ đoạn “mượn thế uy quyền”. Nhân dân trăm họ hoặc nhiều hoặc ít đều có tâm lý “sùng bái uy quyền”,  lời của các “chuyên gia”, “giáo sư”, “học giả” so với lời của tiểu dân ở ngoài đường ngoài chợ hẳn là có sức nặng hơn nhiều, cũng có vẻ khách quan hơn, trung lập hơn so với lời của cán bộ Trung Cộng. Nhưng dưới sự thống trị của Trung Cộng thì không hề có sự tồn tại của các chuyên gia trung lập, khách quan, dù có thì cũng không thể chen chân vào phương tiện truyền thông của Trung Cộng. Những “nhà lý luận”, “nhà khoa học” mũ mão chỉnh tề bước lên màn ảnh, dùng ngôn ngữ học thuật để tạo ra cái vỏ bọc đường hoàng đĩnh đạc cho những nội dung mà “đảng” muốn tuyên truyền. Quần chúng nhân dân xem mà không hiểu cái vở hát bè mà “đảng” và “chuyên gia” cùng diễn nên đã trở thành vật hy sinh cho việc tuyên truyền Văn hóa đảng.

(4) Công khai bịa đặt, lừa bịp thế giới

Bịa đặt công khai, chiêu này có thể coi là chiêu kinh điển của Trung Cộng, từ Mao Trạch Đông đến Giang Trạch Dân, từ Đường Gia Tuyền đến Lý Triệu Tinh, từ Trương Văn Khang đến Tần Cương [4], Trung Cộng coi chiêu này như vật báu, dùng đi dùng lại biết bao lần.

Mao Trạch Đông nói rằng: “Tần Thủy Hoàng đáng kể gì? Ông ta chỉ giết có 460 nho sĩ, còn chúng ta thì thủ tiêu đến 46 ngàn tên trí thức. Có người cho chúng ta là kẻ độc tài thống trị, giống như Tần Thủy Hoàng, chúng ta thừa nhận tất cả. Nó phù hợp với thực tế. Tiếc thay họ nói thế còn chưa đủ, cho nên chúng ta cần phải gia tăng để bổ sung.” Cái “khí khái” kiểu “ta là lưu manh ta sợ gì ai” này quả thực đã trấn áp rất nhiều người. Những người lương thiện thường cho rằng, một người dám nói thẳng thắng khí khái, thì hành động nhất định là phải quang minh lỗi lạc. Do vậy, trong “Hùng văn tứ quyển” của Mao, cho dù những đoạn văn “lưu manh vô lại kiểu đàn bà chửi đổng” này có rất nhiều, nhưng mọi người lại rút ra kết luận là: Đây là biểu hiện của “Nhà cách mạng giai cấp vô sản với tâm hồn lỗi lạc” và “khí khái anh dũng”.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Giang Trạch Dân ỷ vào thân phận nguyên thủ một quốc gia đã vu khống Pháp Luân Công trước giới truyền thông quốc tế. Những phóng viên Tây phương chưa từng biết tới những thủ đoạn đen tối và mặt dày của Trung Cộng sao có thể tưởng tượng được lãnh tụ của một quốc gia lại có thể phát ngôn bừa bãi giữa thanh thiên bạch nhật như vậy?

Ngày 09 tháng 03 năm 2006, hành vi man rợ mổ cướp nội tạng sống của học viên Pháp Luân Công ở trại tập trung Tô Gia Đồn, Thẩm Dương bị phơi bày. Ngày 28 tháng 03, Trung Cộng đã bố trí cử phát ngôn viên Bộ ngoại giao là Tần Cương thề thốt phủ nhận những lời buộc tội tại cuộc họp báo. Thậm chí y còn “mời” giới truyền thông tới điều tra. “Thủ thuật che mắt” này tuy không thật cao minh nhưng vẫn có thể mê hoặc một số người. Các điều tra viên của “Ủy ban điều tra toàn diện sự thật về việc Pháp Luân Công bị bức hại ở Trung Quốc Đại Lục” lập tức hành động, họ tới Lãnh sự quán Trung Quốc ở Úc, Đức, Mỹ để xin visa, ba lần xin visa, ba lần đều bị từ chối. Nhân viên công tác ở Tổng Lãnh sự quán Sydney đương nhiên là không tin lời dối trá của Tần Cương, họ nói với các điều tra viên: “Vậy các vị hãy đi lấy thư mời của Tần Cương trước đi đã!” Có thể thấy, ngay cả người của Trung Cộng cũng không thể tin vào mánh khóe lừa bịp gia truyền của Trung Cộng.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Với những Đảng viên của Trung Cộng công tác tại “mặt trận thông tin” thì bịa đặt là nghề của họ, nói dối mà mặt không hề biến sắc, tim không đập nhanh là tố chất nghề nghiệp cơ bản của họ. Những việc họ làm mỗi ngày khi khoác lên tấm áo choàng “nhân sĩ chuyên ngành” kỳ thực không hề khác biệt so với Mao Trạch Đông, Giang Trạch Dân, Tần Cương.

(5) Vừa ăn cướp vừa la làng, vừa nói dối, vừa phản đối nói dối

Người Trung Quốc ngày nay đã quá quen với những lời rập khuôn sáo rỗng của Đảng, nhưng lại không dễ phát hiện được những điểm phi lý và mâu thuẫn ẩn chứa trong đó. Mao Trạch Đông từng nói: “Chúng ta cần phải tin tưởng quần chúng, chúng ta cần phải tin đảng, đây là hai nguyên lý căn bản.” Nhưng nếu quần chúng đều không còn tin vào đảng thì chúng ta nên tin vào ai?

Lưu Thiếu Kỳ nói: “Báo cáo tin tức phải khách quan, chân thực, công chính,” nói thật hay có phải vậy không? Giới truyền thông của những nước dân chủ cũng theo đuổi những mục tiêu này. Nhưng y lại nói tiếp: “Đồng thời phải cân nhắc tới quan hệ lợi hại, xem liệu có lợi đối với nhân dân và sự nghiệp của giai cấp vô sản hay không.” Câu này nghĩa là gì? Khi quan hệ lợi hại và nguyên tắc chân thực nảy sinh xung đột thì thứ nào quan trọng hơn? Lại nói có lợi cho “sự nghiệp giai cấp vô sản” nhưng có hại cho nhân dân thì làm thế nào?

Tiếp theo y dẫn chứng: “Ví như, Stalin đã phạm rất nhiều sai lầm, giết nhầm một số người trong cuộc chiến chống phản động, điều này là có thật. Nhưng nếu đưa tin, thì đối với công cuộc đấu tranh trước mắt rất bất lợi, đây là vấn đề lập trường.”

Stalin đã giết chết bao nhiêu người? Theo thống kê chưa đầy đủ, từ năm 1929 đến năm 1953 tổng cộng có 19.500.000 công dân Liên bang Xô viết trở thành vật hy sinh trong cuộc đàn áp của Stalin (không bao gồm những năm chiến tranh), tương đương với 1/10 dân số của Liên bang Xô viết lúc bấy giờ.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Chỉ vì lợi ích của một đảng Trung Cộng mà mạng sống của hai mươi triệu người có thể bị coi nhẹ, đây chính là cái “khách quan, chân thực, công chính” mà Lưu Thiếu Kỳ nói đến. Đương nhiên, điều này là phù hợp với lập trường nhất quán của Lưu. Đầu những năm 40, y từng nói: “Điều để phân biệt tốt xấu là phải xuất phát từ lợi ích của đảng, công tác của đảng, phóng đại, phỉnh nịnh là không tốt, nhưng nếu có lợi cho công tác thì lại là tốt, thì nên làm.”

Ngày nay bộ máy thông tin của Trung Cộng, vừa “phản đối thông tin giả”, vừa “kiểm soát chặt chẽ quan điểm chính trị”; vừa lặp đi lặp lại nhiều lần rằng “tất cả đều xuất phát từ thực tế”, vừa bắt giữ những nhà báo dám nói sự thật; vừa nói dối mang tính chế độ, vừa công kích “tính giả dối” về thông tin của các quốc gia tư bản chủ nghĩa. Muốn thấu hiểu bộ mặt thực của Trung Cộng thì không thể chỉ nghe nó nói, mà phải xem nó làm.

4) Thủ đoạn nhồi nhét “tiến cùng thời gian”

Sau Cách mạng Văn hóa, Trung Cộng phát động bộ máy tuyên truyền, nói rằng những tội ác tày trời mà đảng ra lệnh thực thi thành “sai sót” không thể tránh khỏi của một số lãnh đạo cá biệt, nhưng dẫu sao thì trò lưu manh ‘đảng ta luôn đúng’ đã không còn linh nghiệm. Cho nên Trung Cộng cũng đưa ra rất nhiều các thủ đoạn tuyên truyền tinh vi hơn, lừa bịp hơn tiến cùng với thời gian.

Lấy thật loạn giả. Nếu như nói trước năm 1949, sách lược tuyên truyền của Trung Cộng là “lấy giả loạn thật”, miêu tả tà thuyết không có cơ sở thành quy luật phát triển của lịch sử, vậy thì sau năm 1949 sách lược tuyên truyền của Trung Cộng được gọi là “biến giả thành thật” – Trung Cộng cưỡng chế gây mâu thuẫn giữa các giai tầng khắp nông thôn cho tới thành thị, cho nên triết học đấu tranh kia dường như đã phản ánh được hiện thực xã hội một cách “khách quan”. Sau khi cải cách mở cửa, sách lược của nó lại điều chỉnh thành “lấy thật loạn giả”, trộn lẫn sự thực vào những lời dối trá, hư hư thực thực, khiến con người căn bản không cách nào phán đoán rốt cuộc đâu là thật, đâu là giả.

Mắng nhỏ, giúp lớn. Điều này cũng giống như chống tham nhũng “đánh ruồi muỗi chứ không đánh hổ” vậy, hiện tại các phương tiện truyền thông của Trung Cộng cũng phơi bày một số việc không lành mạnh, tạo ra giả tướng về sự công chính của truyền thông và tự do ngôn luận. Nhưng với tấm màn che liên quan đến an nguy thống trị của Trung Cộng thì nó lại kiên quyết không hé mở. Một số cơ quan truyền thông dùng những tin tức phụ diện lặt vặt để giành được một chút lòng tin nhất định, khi Trung Cộng phát động vận động chính trị một lần nữa nó lại vung tay tàn nhẫn. Các tiết mục “Phỏng vấn tiêu điểm”, “Lời thật nói thật” của Đài truyền hình Trung ương hoặc là dựa vào việc dám đưa những tin tức phụ diện không động chạm đến lợi ích căn bản của Trung Cộng, hoặc là dựa vào phong cách khá mới mẻ để đạt được tín nhiệm của nhân dân, nhưng đối với những việc lớn “liên quan đến sinh tử tồn vong của đảng”, ví dụ như đối với việc Pháp Luân Công bị bức hại, thì bị Trung Cộng lôi ra vũ đài, lợi dụng chút lòng tin của nhân dân đã tích lũy được trước đây để bịa đặt vu khống, và họ đã bị đưa vào vai những kẻ côn đồ vô liêm sỉ trên phương diện dư luận.

Dựa vào một lượng lớn các kênh truyền thông đưa đầy rẫy những tin tức vụn vặt hạ lưu cấp thấp, khiến những tin tức chân thực bị chìm ngập trong bãi rác văn tự. Một nhà báo phương Tây đã từng tiến hành phỏng vấn ở Trung Quốc nói rằng: Mấy chục năm trước người ta không biết đến nhân sĩ dân vận Ngụy Kinh Sinh [5] là vì Trung Cộng đã xóa sạch tên ông trong các nguồn thông tin; con người hiện nay không biết tới Ngụy Kinh Sinh là vì sự gợi cảm hấp dẫn của các minh tinh trong làng giải trí. Trung Cộng nhất quán “chống xuất bản sai”, “không chống khiêu dâm”. Xem lướt qua “Cổng thông tin điện tử” của Trung Cộng, sẽ phát hiện ra rằng trong đó đầy rẫy là những thông tin khiêu dâm hạ lưu và những tin tức vặt vãnh vô vị của xã hội. Có học giả đã từng thống kê, các trang web ở nước ngoài, nếu như đăng tranh ảnh khiêu dâm thì chỉ có 10% bị chặn, nếu như tổ chức một trang web phản đối đảng thì khả năng là bị chặn là 60%; nếu như bàn luận về “Pháp Luân Công” sẽ có 75% là bị chặn; còn những trang web đăng “Cửu bình Đảng Cộng sản” thì khả năng bị chặn lên tới trên 90%. Ích kỷ, lạnh nhạt, ủy mị sướt mướt, những người mà trong đầu óc nhồi nhét đầy những thông tin rác rưởi không thể có những phán đoán lý tính đối với đại cục của xã hội, những người này có lợi nhất cho sự thống trị hiện tại của Trung Cộng, do vậy nó dốc sức tạo ra những cá nhân như vậy.

Xuất khẩu lời dối trá và tuyên truyền và tiêu thụ thứ đã xuất khẩu ở trong nước. Mao Trạch Đông từng nói,f đưa ra “thông tin tham khảo” chính là một loại vắc-xin đậu mùa, “tăng cường khả năng miễn dịch về chính trị của cán bộ và quần chúng.” Trung Cộng ngày nay không chỉ bằng lòng với việc tìm ra một số đoạn trích ít ỏi có lợi cho nó trong vô số những trang báo chí nước ngoài nữa. Nó vừa xuất khẩu những lời dối trá, đầu độc dân chúng các quốc gia khác, vừa trực tiếp mua chuộc hãng thông tấn hải ngoại (cả tiếng Trung và ngôn ngữ khác) và các tác giả giúp nó tô vẽ cho bản thân. Tên trùm đại ác của Trung Cộng là Giang Trạch Dân vì bức hại Pháp Luân Công, y đã bị kiện lên tòa án tại hơn 20 quốc gia, nhằm cứu vãn tàn cục trong hoàn cảnh bị vây tứ phía, y đã mua chuộc Kuhn, Giám đốc Điều hành của ngân hàng Hoa Kỳ đầu tư làm ăn tại Trung Quốc, người mà một chữ tiếng Trung bẻ đôi cũng không biết, hợp tác với một số đối tác khác xuất bản cuốn ” ‘Giang Truyền’ quan điểm của chúng tôi”. Về vấn đề Pháp Luân Công, hãng truyền thông và thông tấn xã của một vài quốc gia đã không chống lại được sự cám dỗ mà đổi giọng lặp đi lặp lại những lời dối trá của Tân Hoa Xã, Trung Cộng lại dùng những lời dối trá này để lừa bịp dân chúng trong nước.

Phân biệt đối xử: kẻ thì đánh, người thì lôi kéo. Sau năm 1989, Trung Cộng bắt đầu cố ý lôi kéo mua chuộc phần tử trí thức, công chức và quân đội. Ngoài việc tăng lương, ngấm ngầm đồng ý cho nhóm người này có được một số đặc quyền và thu nhập đen, còn cho họ quyền được biết thông tin nội bộ và quyền ngôn luận nhất định, từ đó lấy lòng họ và thu phục được sự trung thành của họ. Một chút quyền tự do hữu hạn ấy bị hạn chế nghiêm khắc trong một cái vòng tròn nhỏ (như phòng khách của học giả), tuyệt không cho phép tiến nhập vào truyền thông đại chúng. Những người này mang ấn tượng hư ảo rằng Trung Cộng đang dần nới lỏng khống chế ngôn luận, do vậy mà vui vẻ biện hộ cho Trung Cộng, Trung Cộng cũng vui vẻ để cho những lời biện hộ của họ tiến nhập vào truyền thông đại chúng, dẫn hướng quần chúng phổ thông đi lạc đường.

Sách lược tuyên truyền của Trung Cộng còn bao gồm: phát tán lời dối trá tới mức vô lý, nếu mọi người xuất phát từ kinh nghiệm và thường thức thì không thể nào tin được một chính quyền lại có thể vô sỉ và hoang đường đến như vậy, do vậy đành phải tạm tin cách nói của chúng; khi reo rắc những lời dối trá thấu trời nó lại càng chú trọng tới tiểu tiết, vì tiểu tiết có khả năng dẫn động nhân tâm nhất, xóa đi nghi vấn; mời những người nước ngoài không biết sự thật lên màn ảnh, dẫn dụ họ nói ra những lời mà Trung Cộng muốn họ nói ra; để chào hàng tốt hơn thì về kỹ thuật và hình thức phải “sáp nhập với thế giới”, phát sóng trực tiếp tại hiện trường, gọi điện thoại đường dây nóng, đưa tin theo chiều sâu, điều tra “dân ý”…đủ chiêu thức mới, những chiêu cần có đều đã dùng.

Trung Cộng có cơ cấu tuyên truyền lớn nhất thế giới. Những người làm việc trong những cơ cấu này, mặc dù lương tri chưa mất, muốn vì nước vì dân mà làm một số việc tốt, nhưng dưới sự khống chế nghiêm ngặt của Trung Cộng, họ hoàn toàn không thể làm theo ý mình. Chỉ cần “phương châm chính sách” của Trung ương Trung Cộng được ấn định, thì đội ngũ này sẽ phát huy hết khả năng, sản xuất hàng loạt những lời dối trá. Trung Cộng vận hành cả một bộ máy nói dối khổng lồ, suốt mấy chục năm nó tuyên truyền nhồi nhét vào đầu người Trung Quốc Thuyết vô Thần, Thuyết duy vật, triết học đấu tranh và đủ loại tà thuyết sai lệch. Những tà thuyết sai lệch muôn hình vạn trạng, chúng đã “ngấm vào máu, hòa vào hành động”, khi mỗi cá thể đều dùng chúng để suy xét vấn đề một cách vô thức, thì mùa bội thu của Văn hóa đảng đã đến.

2. Cưỡng chế người dân đọc sách của Marx, Engels, Lenin, Stalin, và Mao Trạch Đông

Tại những quốc gia dân chủ phương Tây, mặc dù với rất nhiều người bình thường thì Chủ nghĩa Cộng sản đồng nghĩa với “tà ác”, nhưng cũng như các loại sách khác, sách của Marx, Engels, Lenin, Stalin, và Mao Trạch Đông vẫn được tự do xuất bản, lưu thông và truyền đọc. Mặc dù học thuyết Bạo lực cách mạng của Marx, Lenin đa phần đều bị mọi người chán ghét, vứt bỏ nhưng các học giả vẫn tiến hành nghiên cứu những lý luận ấy như một trường phái xã hội học hay chính trị học. Các trường đại học khuyến khích sinh viên tự do suy nghĩ và sáng tác, giáo sư không bao giờ quy định là sinh viên nhất định phải tôn thờ điều gì. Trong xã hội, các đủ loại trường phái tư tưởng bất đồng từ bảo thủ cho đến cấp tiến đều tự do cạnh tranh, con người có nhiều sự lựa chọn, so sánh, tâm thái rộng mở, không dễ dàng mù quáng theo đuổi bất cứ thứ gì.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Marx, Engels, Lenin, Stalin, và Mao được người khác khoan dung, không có nghĩa là họ cũng sẽ khoan dung với người khác. Sau khi Đảng Cộng sản cướp đoạt chính quyền, nó đã ấn định rập khuôn lại hình thái ý thức, thực hành tà giáo chính trị – tôn giáo hợp nhất, lợi dụng bạo lực và những thủ đoạn của tổ chức nhằm cưỡng chế nhân dân đọc sách của Marx, Engels, Lenin, Stalin, và Mao nhằm tuyên truyền nhồi nhét giáo lý tà giáo. Mấy chục năm nay, trong thể hệ tư tưởng của Trung Cộng, tư tưởng của Marx là kinh điển của văn minh phương Tây, tư tưởng Mao Trạch Đông là “chủ nghĩa Marx cao nhất, sống động nhất”, tất cả các tư tưởng truyền thống chính thống hoặc là bị sửa đổi, hoặc là bị xuyên tạc, hoặc là bị cấm tuyệt đối. Hạt giống hoang đường của chủ nghĩa Marx-Lenin lại được lưu truyền, đầu độc biết bao thế hệ người Trung Quốc.

Vậy Trung Cộng đã cưỡng chế nhân dân đọc sách của Marx, Engels, Lenin, Stalin và Mao như thế nào?

Thứ nhất, nó lợi dụng thủ đoạn tổ chức, thông qua “sinh hoạt tổ chức”, “học tập chính trị” mà cưỡng ép đảng viên, đoàn viên học tập các tác phẩm của Marx, Engels, Lenin, Stalin, Mao, Đặng, Giang và các văn kiện của Trung Cộng. Những người đã từng tham gia tổ chức của Trung Cộng đều biết, “sinh hoạt tổ chức”, “học tập chính trị” định kỳ của Trung Cộng thì sét đánh cũng không thể thay đổi, những người tham gia những cuộc họp này được yêu cầu đọc các sách của Marx-Lenin và những tài liệu của Trung Cộng, thường bị yêu cầu phải viết thu hoạch sau học tập, nộp báo cáo tư tưởng.

Thứ hai, định kỳ chỉnh phong, chỉnh đốn Đảng, cưỡng ép đảng viên phải định kỳ học sách của Marx, Engels, Lenin, Stalin, Mao, Đặng, Giang và các văn kiện của Trung Cộng, nếu không sẽ phải đối mặt với việc bị chỉnh đốn hoặc xử phạt. Vận động chỉnh phong những năm 40, chống cánh hữu những năm 50, Cách mạng Văn hóa những năm 60, 70, chỉnh đốn tác phong Đảng, chỉnh đảng chỉnh phong đầu những năm 80, “thanh trừ ô nhiễm tinh thần”, “phản đối giai cấp tư sản tự do hóa” những năm 80, gần đây nhất là cuộc vận động “Bảo Tiên” (bảo trì giáo dục mang tính tiên tiến của đảng), cứ cách vài năm hoặc mười mấy năm, khi sức khống chế con người của Trung Cộng trở nên yếu đi, thì Trung Cộng lại tiến hành một đợt giáo dục “đảng tính”, xác nhận lại sự khống chế tư tưởng của “tổ chức đảng” đối với đảng viên.

Cuối năm 2004, sau khi cuốn “Cửu bình Cộng sản đảng” xuất bản, Trung Cộng ý thức được nguy cơ trước nay chưa từng có đối với sự thống trị của mình. Tháng 01 năm 2005, Trung ương Trung Cộng đã phát động “Cuộc vận động Bảo Tiên”, theo kế hoạch sẽ bắt đầu vào tháng 01 năm 2005, dùng thời gian khoảng một năm rưỡi để triển khai trong toàn đảng “Hoạt động bảo trì giáo dục mang tính tiên tiến của đảng viên cộng sản với nội dung tư tưởng chủ yếu là đưa ‘Tam đại biểu’ vào thực tiễn”. Đảng viên được yêu cầu học các loại văn kiện, ôn lại lời thề, đăng ký lại tên, viết báo cáo tư tưởng và tâm đắc học tập rất dài.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Mặc dù Đại hội tổng kết của Trung Ương Trung Cộng triệu tập vào ngày 29 tháng 06 năm 2006 đã thổi phồng rằng cuộc vận động Bảo Tiên có “chủ đề mới, có sức lãnh đạo, phương pháp thỏa đáng, công tác thiết thực,… giành được thành quả thực tiễn, thành quả về chế độ, thành quả về lý luận một cách rõ rệt”, nhưng cán bộ, đảng viên cực kỳ phản cảm với Bảo Tiên, đây hoàn toàn là một bí mật được công khai. Người ta âm thầm oán trách, than phiền, tiếng oán thán khắp nơi, mặt khác họ cũng không cách nào viết ra được những bài văn sáo rỗng ấy.

Cao giọng lặp đi lặp lại hình thái ý thức đó, mặc dù khiến con người chán ghét nhưng lại có thể có tác dụng một cách vô thức. Năm 1964, trong một buổi đàm thoại liên quan tới giáo dục, Mao Trạch Đông nói: “Thi cử có thể ghé đầu rỉ tai, thậm chí có thể mạo danh thay thế. Mạo danh thay thế cũng chẳng qua là chép một lượt bài của người khác, tôi không làm được, anh viết ra rồi thì tôi chép lại một lượt, cũng có thể có một số tâm đắc.” Trung Cộng đã nhắm rất chuẩn, sau khi “chép một lượt”, lặp lại một lượt, đảng viên và quần chúng sẽ có ấn tượng sâu sắc hơn với những lời dối trá. Những lời dối trá này lưu giữ trong ký ức của con người, vào một lúc nào đó, họ rất có thể sẽ lặp lại những lời dối trá và giọng điệu ấy một cách không vô thức, gián tiếp đầu độc người khác. Mặt khác, với những đảng viên mà nhân tính và lương tri vẫn chưa mất, cũng có thể đạt được mục đích làm nhục nhân cách của người đó. Nói dối một lần cũng là nói dối, thỏa hiệp một lần cũng là thỏa hiệp, qua một thời gian dài những người này đành phải vứt bỏ sự kiên định vào nhân cách của bản thân và bắt đầu hùa theo trào lưu. Đồng thời Trung Cộng làm như vậy cũng là đang cố ý nuôi dưỡng sự chán ghét của con người với chính trị. Khi có lợi cho nó thì Trung Cộng kích động mọi người nhiệt tình chính trị, cổ động rằng “phải quan tâm tới quốc gia đại sự”, phê phán các phần tử lạc hậu về chính trị, phê phán “phái tiêu dao” (những người không thích ràng buộc, gò bó). Hiện nay, Trung Cộng lại ám thị cho mọi người không nên tham gia chính trị, nếu không sẽ bị dán nhãn “làm chính trị”. Mỗi cuộc vận động chính trị đều làm giả tạo theo thể chế từ trên xuống dưới, chạy theo hình thức, khiến người Trung Quốc nảy sinh tâm lý “chính trị đen tối như vậy”, “ai muốn lội vào vũng nước bẩn đó kia chứ”, cho nên toàn dân hướng vào đồng tiền, con người trở nên ích kỷ, lạnh nhạt, xảo quyệt, hoài nghi tất cả, không tin rằng trên thế giới vẫn còn người tốt, đoàn thể nào bị Trung Cộng đàn áp cũng là do họ không hiểu triết lý phòng thân mà tự rước họa vào thân. Chính trong môi trường chán ghét chính trị được tạo ra một cách cố ý này, Trung Cộng lại một lần nữa giữ vững giang sơn, tiếp tục điên cuồng cướp đoạt tài sản của quốc dân và bức hại một cách hiểm độc những ai còn có lương tri và thiện niệm.

Thứ ba, số lượng sách của Marx, Engels, Lenin rất khổng lồ, các đảng viên có trình độ văn hóa không cao không thể đọc hết những cuốn sách đó. Cho nên chuyển từ đọc sách của Marx – Lenin chuyển sang đọc chủ nghĩa Marx đã được Trung Quốc hóa – tức là tư tưởng Mao Trạch Đông (Trong thời gian Mao nắm quyền 27 năm, Mao đã phát hành ước tính khoảng 5, 6 tỷ cuốn sách), từ đọc “Mao Tuyển”, “Mao Ngữ Lục”, “Lão Tam Thiên”, cái chủ nghĩa vốn dĩ hỗn tạp nay lại càng ngày càng trở thành những khẩu hiệu, biểu ngữ đơn giản thô bạo, vô lý, nực cười. “Đạo lý của chủ nghĩa Marx vô cùng phức tạp nhưng suy cho cùng đều là một câu: Tạo phản có lý.” Trong Cách mạng Văn hóa đã xuất hiện những cảnh tượng khôi hài như thế này: Nửa đêm canh ba, mọi người thất kinh tỉnh giấc vì tiếng kèn đồng, hóa ra là truyền đạt “chỉ thị tối cao”; khi mua hàng, người ta sẽ nói: “Cần phải đấu tố tư sản, phê bình chủ nghĩa Tu chính (chủ nghĩa xét lại)! Thịt này bao nhiêu tiền một cân?” Người bán hàng sẽ đáp lại: “‘Vì nhân dân phục vụ’, 1 hào 8”. Tới nay, tại rất nhiều địa phương của Trung Quốc vẫn có thể nhìn thấy những khẩu hiệu, biểu ngữ thời Mao quét trên tường. Những khẩu hiệu này đương nhiên không thể giải thích được hiện thực, nhưng từ Lâm Chiêu, Ngộ La Khắc cho tới Trương Chí Tân, những người khá chân thật đi theo Đảng Cộng sản xưa nay đều không có kết cục tốt đẹp, những ký ức này vẫn còn mới tinh nguyên với mọi người, chỉ cần nghĩ tới nó không rét mà đã run. Cho nên những người đã quen với các cuộc vận động không ai dám chân thật nữa, “ngoan ngoãn cho qua chuyện”, gió chiều nào che chiều ấy, giả điếc cầu toàn.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Thứ tư, cứ mỗi lần vận động chính trị Đảng Cộng sản lại cấm sách, hủy sách, đốt sách khiến đời sống tinh thần của nhân dân thiếu thốn cùng cực nên đành phải đọc một số lượng nhỏ sách mà Trung Cộng cho phép. Sau cuộc bùng nổ của Cách mạng Văn hóa, các xưởng in ở Trung Quốc đều bận rộn in Mao Ngữ Lục và Mao Tuyển, việc in ấn xuất bản bình thường đều phải dừng lại. Trong mấy năm đầu Cách mạng Văn hóa, ngành xuất bản Trung Quốc dường như chỉ là một khoảng trống. Một lượng lớn sách bị coi là rác rưởi “phong kiến, tư bản, tu chính”, thiêu hủy tứ cựu, thư viện đóng cửa, hiệu sách cũng chỉ bán sách của lãnh tụ. Lúc đó rất nhiều gia đình, ngoại trừ “Hồng bảo thư” (Sách đỏ quý giá) của đảng thì hầu như không còn loại sách vở nào khác. Rất nhiều tù nhân lương tâm, thanh niên trí thức, những người cánh hữu bị đi đày (hoặc cách chức) đều từng phải đọc đi đọc lại cuốn “Mao Tuyển” mười mấy lần, thậm chí mấy chục lần.

Thứ năm, Trung Cộng cũng tiến hành thâu tóm kiểm soát trong lĩnh vực giáo dục và chính trị, sách giáo khoa từ tiểu học cho tới đại học đều tràn ngập những bài viết của Marx, Engels, Lenin, Stalin, Mao và ca ngợi công đức của những người này. Chỉ cần đi học thì không thể thoát được bị tẩy não và tuyên truyền nhồi nhét của Trung Cộng. Rất nhiều mục được yêu cầu học thuộc lòng. Thanh thiếu niên có trí nhớ rất tốt nhưng lại không có khả năng phân tích, từ nhỏ đã bị nhồi nhét một mớ lớn những thứ lý luận hoang đường của Đảng Cộng sản, trong đó có rất nhiều quan niệm và tập quán tư duy sẽ chi phối cả đời một con người.

Trải qua hơn một nửa thế kỷ lao tâm khổ tứ cai trị, Trung Cộng đã dùng rất nhiều sách của Marx, Engels, Lenin, Stalin, Mao, Đặng, Giang và của rất nhiều văn nhân khác nhằm giăng ra thiên la địa võng khắp Trung Quốc. Kết thành cái lưới này chính là những khái niệm, phán đoán và suy luận hòng mưu toan dùng phương thức của bản thân mình để giải thích Thiên, Địa, Nhân, xã hội nhân loại và tư tưởng con người, triệt để ngăn con người tiếp xúc với thế giới chân thực, triệt để thay thế nhận thức và phán đoán đã ăn sâu vào lòng người về tự nhiên, nhân tính và sự vật, cuối cùng tạo ra những người mất gốc, tà đảng Trung Cộng bảo sao nghe vậy. Ngày nay, tấm lưới lớn này mặc dù vô cùng mục nát, nhưng do tư duy của con người đã trở thành quán tính nhất định, tạm thời nó vẫn đang trói buộc, cầm tù tư duy của một số người. Cùng với việc truyền bá “Cửu bình” và phá trừ văn hóa đảng, con người cuối cùng cũng sẽ có thể chào đón một ngày mà cái lưới kia bị phá bỏ triệt để.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

3. Lợi dụng các văn nhân của tà đảng để ca ngợi công lao của ác đảng

Bài bình luận số 1 trong Cửu Bình đã chỉ ra rằng: “… tất cả các xã hội của chính quyền mà không cộng sản, không kể là chuyên chế hay cực quyền đến mấy, xã hội nào cũng đều có một bộ phận của những tổ chức tự phát triển và có các thành phần tự chủ… Vậy mà các chính quyền của Đảng cộng sản đều tiêu diệt sạch những tổ chức tự phát và các thành phần tự chủ, để thay vào đó là kết cấu tập trung quyền lực triệt để, ngay từ trên xuống dưới.” Một trong những hậu quả do Đảng Cộng sản khống chế xã hội một cách hà khắc cực đoan tạo thành là sự biến mất của giai tầng phần tử trí thức độc lập. Trung Cộng tiêu diệt một bộ phận phần tử trí thức, những người khác thì bị gán vào đủ kiểu “đơn vị”. Thực tế đơn vị là hình thức tổ chức cơ bản mà Trung Cộng sử dụng để khống chế nhân dân ở thành thị trên mọi phương diện. Phần tử trí thức mất đi phương thức mưu sinh và không gian tự do ngôn luận bị chính quyền khống chế, đành phải phụ thuộc vào Trung Cộng, dưới áp lực khổng lồ và bị đẩy vào bước đường cùng, đại bộ phận trong số họ đành phải sử dụng tri thức chuyên môn của mình mà ca ngợi tà đảng trên mọi góc độ với mọi phương thức nhằm bảo toàn tính mạng và nuôi sống gia đình. Xã hội Trung Quốc vốn có truyền thống “Tôn Sư trọng Đạo”, chính quyền Trung Cộng lợi dụng sự tín nhiệm và tôn trọng của dân chúng với những người làm công tác văn hóa, gián tiếp nhồi nhét Văn hóa đảng vào trong dân chúng thông qua tác phẩm và ngôn luận của các văn nhân, thay đổi tiêu chuẩn thiện ác của người Trung Quốc. Việc kiến lập và duy trì một giai tầng “phần tử ngụy tri thức”, vừa khiến Trung Cộng thoát khỏi bị phán xét sự trong sạch và ước chế của dư luận, vừa giúp nó có thể ngụy tạo ra “thành quả nghiên cứu” và “dư luận xã hội” có vẻ công bằng mọi lúc mọi nơi, biện hộ cho sự thống trị của tà đảng.

Phương thức Trung Cộng thu nạp văn nhân chủ yếu bao gồm: Trực tiếp thu hút họ gia nhập đảng và còn gia nhập chính quyền (chính phủ, đại hội đại biểu nhân dân, hiệp hội chính trị), như Quách Mạt Nhược đã từng đảm nhận vị trí Phó Thủ tướng Chính phủ, nhà lịch sử học Ngô Hàm từng đảm nhận vị trí Phó Chủ tịch Hiệp hội Chính trị thành phố Bắc Kinh, Phó Thị trưởng thành phố Bắc Kinh; đặt họ vào các đảng phái dân chủ; đặt họ vào các cơ cấu như Viện Nghiên cứu Khoa học (Viện Nghiên cứu Khoa học Xã hội), đại học hoặc các Viện Nghiên cứu Văn hóa Lịch sử, hoặc đưa họ vào Hiệp hội các tác gia, Hiệp hội kịch sân khấu, Hội liên hiệp Văn học Nghệ thuật và các ban ngành khác. Dịch giả Phó Lôi, người đã tự sát cùng vợ trong Cách mạng Văn hóa, là một trong những số ít người hành nghề tự do không thuộc vào bất kỳ “đơn vị” nào sau khi Trung Cộng giành chính quyền.

Nhằm tiện khống chế hình thái ý thức, vào những năm 50, Trung Cộng đã tiến hành chương trình “điều chỉnh các viện nghiên cứu” của các học viện cấp cao, hợp nhất rất nhiều khoa triết học của nhiều trường học với nhau. Những môn như chính trị học, xã hội học, tâm lý học, nhân loại học v.v.. được gọi là môn học của giai cấp tư sản, bị thủ tiêu triệt để, cho tới những năm 80 mới dần được khôi phục trở lại. Cơ cấu các trường đảng, viện nghiên cứu khoa học xã hội, các trường đại học, cao đẳng cồng kềnh từ Trung Ương đến địa phương, nhân viên nhiều như nấm, được treo biển “nghiên cứu khoa học”, dùng trăm phương nghìn kế nhằm biện chứng cho tính hợp pháp cho Trung Cộng.

Trải qua những bước như tổ chức và thu nạp cải tổ, cải tạo tư tưởng, khủng bố bằng bạo lực, dụ dỗ bằng lợi ích, đào thải những người bất đồng tư tưởng (Cuộc vận động “chống cánh hữu” đã lưu đày những phần tử trí thức dám lên tiếng trước bàn dân thiên hạ) v.v.. Trung Cộng đã nắm chặt phần tử tri thức trong lòng bàn tay, một số ít người chính trực và thanh tỉnh nhiều nhất cũng chỉ dám phẫn nộ mà không dám lên tiếng, những người nhu nhược sợ hãi đành phải thuận theo chiều gió. Những kẻ nịnh hót xảo quyệt lại chủ động xông pha, làm nanh vuốt và vây cánh cho ác đảng.

Trung Cộng cài đại diện và cổ động viên chủ chốt vào nội bộ giới triết học, giới sử học, giới văn học, giới khoa học, giới tôn giáo. Những người này thường ngày làm bộ làm tịch, bào chế ra hết bài văn này đến bài văn khác, hết “tác phẩm” này đến “tác phẩm” khác, biện chứng “chủ nghĩa Marx là khoa học chân chính”, “năm giai đoạn phát triển của xã hội là chân lý phổ biến”, “khoa học tự nhiên tự nó có mang tính giai cấp”, “tôn giáo là chân lý, Chủ nghĩa xã hội cũng là chân lý”, làm giàu thêm kho vũ khí cơ bản của Văn hóa đảng. Khi vận động xảy ra, những người này như cá gặp nước, theo sát xu thế nhằm biểu lộ lòng trung thành với “đảng”, dùng những thứ biên diễn giả tạo để ca ngợi công lao của ác đảng, đoạn chương thủ nghĩa, thêu dệt tội danh, công kích “kẻ thù” của Trung Cộng trên mạng một cách vô độ, bán đứng nhân cách để xin ít cơm thừa canh cặn từ ông chủ của đảng. “Lương Hiệu” trong Đại Cách mạng Văn hóa, sau cuộc dân vận năm 89 có Hà Tân, trong cuộc vận động đàn áp Pháp Luân Công có Hà Tộ Hưu, Vu Quang Viễn, Phan Gia Tranh đều thuộc loại này.

Đại biểu cho những văn nhân của ác Đảng, trước đây có Quách Mạt Nhược, sau này có Hà Tộ Hưu.

Nhà văn Quách Mạt Nhược với phong cách thuận theo chiều gió được Trung Cộng tôn xưng là “tiên phong văn hóa”, có khả năng biến hóa còn giỏi hơn cả tắc kè hoa. Trung Cộng bảo y kiểm điểm thì y kiểm điểm, bảo y phê phán Vũ Huấn, phê phán Hồ Thích, phê phán Hồ Phong [6], y liền phê phán hăng hái hơn bất kỳ ai, bảo y lật lại vụ án của nhân vật lịch sử nào y sẽ lật lại vụ án cho nhân vật lịch sử đó. Nhưng nguyên tắc lập trường không ngừng biến đổi của Trung Cộng khiến Quách Mạt Nhược cũng không thể thích nghi. Thời kỳ đầu của Cách mạng Văn hóa, Quách Mạt Nhược đánh hơi thấy được xu thế đã thay đổi, lập tức kiểm điểm nói: “Theo tiêu chuẩn ngày nay, những gì tôi viết trước đây, nghiêm khắc mà nói, đều nên đốt hết, không có chút giá trị nào. Nguyên nhân chủ yếu là gì? Chính là vì chưa nắm vững tư tưởng Mao Trạch Đông, chưa trang bị cho bản thân tư tưởng Mao Trạch Đông.”

“Viện sĩ chính trị” Hà Tộ Hưu, trong Cách mạng Văn hóa vì muốn tâng bốc Mao Trạch Đông và Đảng Cộng sản, đã đưa ra khái niệm “Mao Tử” và “Vô Tử”, năm 2001 lại đề ra “quy luật của cơ học lượng tử” phù hợp với tinh thần ‘Tam đại biểu’ của Giang Trạch Dân.” Chính tên thổ phỉ khoa học này đã trở thành “nguồn lý luận” chủ yếu mà Trung Cộng dùng để công kích Pháp Luân Công.

Chính tín, chân lý và thể hệ đạo đức chính thống của nhân loại đều có đặc điểm ổn định bất biến. Còn thứ đạo đức nhảy múa theo quyền lực thế tục không xứng đáng được gọi là đạo đức, chân lý không ngừng “biến đổi theo thời gian” xưa nay không hề có tư cách gọi là chân lý, niềm tin đối với một thứ không ngừng biến đổi căn bản không phải là niềm tin. Những văn nhân của tà đảng sáng nắng chiều mưa, nói một đằng làm một nẻo, tất nhiên sẽ phá hoại chút lòng tin cuối cùng còn sót lại của con người với nhân tính và phẩm chất đạo đức tốt đẹp, cổ vũ con người vứt bỏ hết thảy chuẩn tắc đạo đức, yêu ghét những gì mà Trung Cộng yêu ghét, coi việc duy hộ sự tồn vong của chính quyền Trung Cộng thành điều trọng yếu số một.

Chương 1 và chương 2 trong cuốn sách này cũng khá đủ để có thể vạch trần các văn nhân của tà đảng trong giới học thuật, giới tôn giáo, giới khoa học, trong mục này chúng tôi sẽ phân tích trọng điểm văn nhân của tà đảng đã ca ngợi công lao của ác đảng, cải tạo tiêu chuẩn thiện ác của người Trung Quốc như thế nào trong lĩnh vực văn học.

Nghĩa rộng của văn học bao gồm văn hiến và văn chương, cũng bao gồm những tác phẩm văn học theo nghĩa hẹp. Do ngôn ngữ trong hệ thống văn hóa nhân loại có tính trọng yếu đặc biệt, nên những nền văn hóa chính thống lớn đều vô cùng coi trọng ngôn ngữ và lai lịch văn học nghệ thuật..

Văn hóa Trung Quốc là kiểu văn hóa bán Thần. Cổ nhân tin rằng, văn chương bắt nguồn từ Thiên đạo chí cao vô thượng, do vậy mới nói “văn dĩ tải đạo” (văn dùng chở đạo); văn học có thể nâng cao đạo đức, tu dưỡng tính cách, do vậy mới nói “Tu từ lập kỳ thành” (tu sửa lời ăn tiếng nói tạo nên sự chân thành), “Thi giả trì dã, trì nhân tình chí”(Hiểu được thơ, hiểu được tâm ý).  Những mặc khách văn nhân các thời đại coi việc sáng tác văn học là “đại nghiệp dựng nước, đại sự bất hủ”, dùng tâm thái trang trọng thành kính mà sáng tác ra rất nhiều tác phẩm văn học xuất sắc, những tác phẩm này kỳ thực chính là sự phản ánh thế giới nội tâm thuần khiết, cao thượng của họ.

Trung Cộng là một tà giáo khống chế tư tưởng con người, sự coi trọng đối với hình thái ý thức của nó vượt xa tất cả những chính quyền từ xưa đến nay. Sau khi tà linh Trung Cộng xâm nhập, văn học không may đã trở thành công cụ đáng hổ thẹn của Trung Cộng dùng để chế tạo Văn hóa đảng, nhồi nhét Văn hóa đảng. Những văn nhân không có phẩm hạnh cúi đầu vâng mệnh Trung Cộng thì thăng tiến vùn vụt, những tác gia và thi nhân không muốn vứt bỏ sự tôn nghiêm của nhân cách bản thân thì dù tránh được bức hại, cũng bị tước bỏ cơ hội sáng tác hoặc phát biểu ý kiến, chỉ có thể lặng lẽ lụi tàn bên lề xã hội

Văn nghệ tư tưởng của Đảng Cộng sản do Marx và Engels khởi đầu, Lenin tiếp nối, Mao Trạch Đông hoàn thiện. Trong “Bài nói chuyện tại buổi toạ đàm văn nghệ tại Kiến An”, Mao Trạch Đông công khai tuyên bố: Đảng Cộng sản muốn văn nghệ trở thành một bộ phận cấu thành toàn bộ bộ máy cách mạng, trở thành một vũ khí mạnh mẽ để đoàn kết nhân dân, giáo dục nhân dân, công kích kẻ thù, tiêu diệt kẻ thù.” Bài thuyết giảng mang sát khí đằng đằng này chính là sự mở màn cho việc Trung Cộng lợi dụng văn nhân để kiến lập Văn hóa đảng, khống chế thế giới tinh thần của người Trung Quốc. Từ đó, “tiêu chuẩn chính trị là số 1, tiêu chuẩn văn học là số 2”, “văn học phục vụ đấu tranh giai cấp”, “toàn đảng làm văn nghệ, toàn dân làm văn nghệ”, “chủ đề đi trước” v.v.. trở thành nguyên tắc chỉ đạo sáng tác của những tác gia bị Trung Cộng lợi dụng.

1) Dùng tác phẩm văn học để biện giải cho chính sách và lý luận của Trung Cộng

Nhìn tổng quan lịch sử đương đại của Trung Quốc, không khó phát hiện rằng dường như mỗi lần Trung Cộng phát động vận động chính trị, nó đều bắt đầu từ việc phê phán một tác phẩm văn nghệ nào đó hoặc một bộ trào lưu tư tưởng văn nghệ nào đó.

Cuộc vận động Chỉnh Phong những năm 40 mở màn từ tác phẩm “Hoa Bách hợp dại” của Vương Thực Vị, một loạt các cuộc vận động cải tạo tư tưởng những năm 50 bắt đầu từ việc phê phán bộ phim “Vũ Huấn truyện”, “Nghiên cứu Hồng Lâu Mộng” và cái gọi là “Tập đoàn Hồ Phong”, Đại Cách mạng Văn hóa dùng vở kịch lịch sử cải biên “Hải Thụy bãi quan” của Ngô Hàm khai màn lễ tế, từ đó phê phán phim truyền hình “Hà Thương” chính là một bước trọng yếu trong việc chỉnh đốn tư tưởng sau cuộc đàn áp “Lục tứ”.

Về phương diện khác, các văn nhân dưới trướng của Trung Cộng nhẹ nhàng múa theo cây gậy chỉ huy của Trung Cộng, dùng tác phẩm văn nghệ hòng giải hòa, tâng bốc lý luận và chính sách của Trung Cộng, thỏa mãn những nhu cầu chính trị của Trung Cộng qua các thời kỳ khác nhau.

Nhằm thích ứng với nhu cầu “cải cách ruộng đất” (tước đoạt ruộng đất của địa chủ) và cuộc “vận động hợp tác hóa” (tước đoạt tất cả ruộng đất của nông dân), các văn nhân đã sáng tác những tác phẩm “Bạo Phong Sậu Ủy”, (Mưa bão đột ngột) “Tam Lý Loan” (Vùng vịnh ba dặm), “Sáng Nghiệp Sử” (Lịch sử khai nghiệp), giúp Trung Cộng che đậy hành vi giết người, trị người tàn khốc, trắng trợn cướp bóc, lục soát nhà trong những cuộc vận động chính trị; nhằm bôi nhọ Quốc Dân đảng, tô vẽ cho cuộc nội chiến do Trung Cộng phát động trở thành “chiến tranh giải phóng”, các văn nhân đã sáng tác ra “Lâm Hải Tuyết Nguyên” (Cánh rừng tuyết phủ), “Bảo vệ Diên An”, “Hồng Nham” (Nham thạch đỏ); Trung Cộng muốn làm đẹp cho cuộc “Kháng Mỹ viện triều”, các văn nhân liền viết “Ai là người đáng yêu nhất”; Trung Cộng muốn minh họa cho việc cải tạo “hòa bình” các nhà tư bản, các văn nhân liền sáng tác “Buổi sớm Thượng Hải”; Trung Cộng muốn tiêm nhiễm rằng nhân dân Trung Quốc “lựa chọn” Đảng Cộng sản, các văn nhân liền viết “Hồng kỳ phổ” (Cuốn sách màu đỏ), Trung Cộng cần dẫn dắt “phần tử trí thức giai cấp tiểu tư sản” trở thành “những người kiên định theo chủ nghĩa Marx”, các văn nhân liền sáng tác “Thanh xuân chi ca” (Bài ca thanh xuân);  Trung Cộng muốn ca ngợi “Đại nhảy vọt”, toàn quốc lại xuất ra hàng triệu bài dân ca giả dối.

Có người xem xong phim truyền hình về việc Trung Cộng bôi nhọ Pháp Luân Công bèn nói: “Xem xong phim này, tôi mới biết vì sao phải cấm Pháp Luân Công.” Lời đó hàm ý là không xem bộ phim này, anh ấy sẽ không biết vì sao phải cấm Pháp Luân Công. Văn nghệ của Trung Cộng bịa đặt ra căn cứ cho “tính chính đáng của chính sách”, có thể thấy rằng việc nhồi nhét dư luận trong cuộc vận động đàn áp mới nhất này đã khởi một tác dụng không thể thay thế. Kỳ thực, trong lịch sử khi Trung Cộng kích động tiêu diệt “giai cấp bóc lột”, nó cũng dùng thủ đoạn như vậy. Mặc dù người ta nhìn thấy địa chủ trong đời sống hàng ngày (kì thực chính là những người bình thường có đất đai) đa số là những người phúc hậu cần cù thật thà, nhiệt tình công tâm, nhưng qua sự nhồi nhét của Trung Cộng, cứ mỗi khi nhắc tới địa chủ, người ta liền nghĩ đến Chu Bái Bì, Lưu Văn Thái, Hoàng Thế Nhân, Nam Bá Thiên – những hình tượng địa chủ (độc ác) được bịa đặt thông qua các thủ đoạn văn nghệ, Trung Cộng đương thời tại khu nó chiếm đóng đã giáo dục binh sĩ thông qua việc dùng ca múa và kịch nói, rất nhiều chiến sĩ sau khi xem xong vở kịch “Bạch mao nữ” đã “dấy lên lòng căm thù giai cấp, cháy lên ngọn lửa báo thù” (Châu Dương Ngữ), được Trung Cộng “giáo dục” thành “chiến sĩ giai cấp vô sản có giác ngộ”.

2) Nhồi nhét thế giới quan, lịch sử quan, nhân sinh quan của Trung Cộng

(1) Phê phán tín ngưỡng đối với thần, nhồi nhét vô thần luận

Thuyết vô Thần là cơ sở tư tưởng của Trung Cộng, còn những nền văn hóa chính thống lớn đều tin vào sự tồn tại của Thần, rất nhiều tác phẩm văn học sâu sắc và kiệt xuất đều miêu tả Thần, ngợi ca Thần, truy cầu Thần, như thần thoại Hy Lạp La Mã, “Thần Khúc” [7] của Dante, “Thiên đường đã mất” [8] của Milton, “Hành trình vĩnh cửu” [9] của Bunyan, “Tây du ky” của Trung Quốc v.v.. Do vậy, Trung Cộng một mặt khống chế văn nhân viết các tác phẩm sùng bái vật chất, sùng bái bạo lực, mặt khác khống chế các học giả sửa đổi, cắt xén, xuyên tạc văn học Hữu Thần luận. Cho nên, tôn giáo trở thành “thuốc phiện tinh thần”, thiên đường địa ngục biến thành “phong kiến mê tín”, thần thoại truyền thuyết trở thành hình tượng phản ánh nỗi sợ hãi của con người trước sức mạnh tự nhiên trong thời xã hội nguyên thủy có sức sản xuất kém phát triển, Tôn Ngộ Không trong Tây Du Ký và Sa-tăng trong “Thiên đường đã mất” trở thành đại biểu của giai cấp Vô sản và những người bị bóc lột.

(2)  Bài trừ quan niệm truyền thống, nhồi nhét thù hận giai cấp

Thơ ca truyền thống chú trọng “Oán nhi bất nộ, bi nhi bất thương” (Oán mà không giận, bi mà không thương), ngay cả khi ai oán thương cảm cũng phải khống chế cảm xúc bản thân, khiến tâm trạng trở về trạng thái cân bằng và ngay chính. Trong văn học cổ điển Trung Quốc tràn ngập những tác phẩm miêu tả tình bạn tình thân tốt đẹp, trung hiếu tiết nghĩa. Triết gia cổ Hy Lạp Aristoteles [10] cho rằng bi kịch có tác dụng bộc bạch và tịnh hóa, nhà văn La Mã cổ là Horace [11] cho rằng công dụng của văn học chính là giáo dục và giải trí. Tác phẩm văn học các nước trên thế giới dù có viết tới thù hận thì cũng đa số đều viết từ góc độ trừ ác khuyến thiện, miêu tả và kích động thù hận là đặc điểm mà văn học truyền thống không thể dung hòa.

Nhưng theo lý giải của Trung Cộng: “Một vài giai cấp đã thắng lợi, một vài giai cấp bị tiêu diệt, đây chính là lịch sử”, “Đấu tranh giai cấp là động lực chân chính cho sự phát triển của lịch sử”, “Ai là kẻ địch của chúng ta? Ai là bạn bè của chúng ta? Vấn đề này là vấn đề quan trọng nhất của cách mạng.” Do vậy, nhồi nhét và kích động thù hận giai cấp đã trở thành nhiệm vụ trọng yếu hàng đầu của văn nghệ đảng của Trung Cộng. Thù hận, trong lịch sử nhân loại, lần đầu tiên trở thành một từ ngữ mang nghĩa chính diện.

“Trong đôi mắt to nóng bỏng, đen lay láy của cô hầu 18 tuổi này đang bùng cháy một lòng thù hận khắc cốt ghi tâm.” Đây là lời mở đầu của kịch bản điện ảnh “Đội hồng quân tóc dài”. Kịch bản này được cải biên thành kịch bản múa với cường độ bạo lực mạnh hơn, khuếch đại thù hận đạt đến đỉnh điểm. “Cô gái ngẩng đầu ưỡn ngực, hai mắt phóng ra ngọn lửa thù hận bừng bừng”, “họ nắm chặt hai nắm đấm, thổ lộ hết những phẫn hận trong lòng”, “trong tâm bùng cháy lên ngọn lửa thù hận giai cấp”, “thao luyện quân sự kết thúc trong tiếng bắn giết chứa đầy thù hận giai cấp”, “khổ đại thù thâm”, “huyết hải thâm thù”, “báo thù tuyết hận”,… những nhân vật chính của kịch múa đại đa số là những thiếu nữ xinh đẹp chưa tới 20 tuổi, nhưng lại được miêu tả thành những cỗ máy giết người không còn chút nhân tính như vậy.

Điều đáng sợ hơn là, trong khoảng thời gian tương đối dài, đời sống tinh thần của người Trung Quốc thiếu thốn cực độ, những nhân vật này là các thần tượng mà các nam nữ thiếu niên mô phỏng theo. Trong Cách mạng Văn hóa một học sinh trung học nữ có thể dùng dây lưng quật chết cô giáo của mình, “kẻ thù giai cấp” trên mảnh đất Quảng Đông rộng lớn bị mổ tim moi gan để ăn mà kẻ ăn thịt người không hề có cảm giác tội lỗi, họ đã tôn sùng thứ văn học thù hận cao độ.

(3) Tô vẽ cho các bạo chúa, tiểu nhân, thổ phỉ và côn đồ trong lịch sử


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Đảng Cộng sản muốn tô vẽ bản thân thành “sản vật tất yếu trong sự phát triển của lịch sử”, “sự lựa chọn tất yếu của nhân dân Trung Quốc”, cho nên cần sửa đổi lịch sử một cách toàn diện, tô vẽ cho các bạo chúa, tiểu nhân, thổ phỉ và côn đồ thành “động lực phát triển của lịch sử”. Cho nên những kẻ bị đánh giá là đại gian đại ác trong lịch sử Trung Quốc lại được Trung Cộng hết sức cung kính đưa lên bàn thờ Thần. Trụ vương nhà Thương bạo ngược, Tần Thủy Hoàng, Thương Ưởng [12] hà khắc, lạnh lùng đều trở thành đối tượng được Trung Cộng ca ngợi. Trung Cộng tôn thủ lĩnh chiến tranh nông dân thành tiên phong, tôn những kẻ tàn nhẫn hiếu sát, bạo ngược vô độ như Hoàng Sào, Trương Hiến Trung, Hồng Tú Toàn [13] trở thành hình tượng chính diện trong cung điện văn học của Trung Cộng. Tại đây chúng tôi chỉ đưa ra một ví dụ rất nhỏ.

Trương Hiến Trung, trùm thổ phỉ cuối đời Minh bản tính thích sát sinh, nhân khẩu của tỉnh Tứ Xuyên lúc đó gần như bị hắn tàn sát gần hết với đủ loại phương thức khác nhau, Thiên phủ chi quốc giàu có trù phú này đã biến thành địa ngục nhân gian.

Ngay trong lời mở đầu phần hạ quyển thứ nhất cuốn “Lý Tự Thành”, cuốn tiểu lịch sử dài kỳ đạt giải Văn học Mao Thuẫn năm 1982, giọng tao nhã của thể thơ điền viên đã viết rằng: “Cả vùng Cốc Thành không ngừng gặp chiến tranh loạn lạc, sau khi đoàn quân nông dân của Trương Hiến Trung chiếm cứ tại đây, dường như đã có chút không khí thái bình.”

Đương nhiên, việc tô vẽ cho các nhân vật lịch sử không phải mục đích. Sau khi tô vẽ xong những nhân vật lịch sử này, Trung Cộng sẽ công khai đường hoàng tô vẽ chính mình.

(4) Hạ thấp nhân tính, ca ngợi đảng tính

Đọc các tác phẩm lý luận văn nghệ của Trung Cộng sẽ phát hiện một hiện tượng kỳ lạ, chính là từ “nhân tính” bị dùng như là một từ mang nghĩa xấu. Một bộ tác phẩm nếu thể hiện “nhân tính” chính là một tác phẩm thất bại, thậm chí là phản động; ngược lại, một bộ tác phẩm thể hiện tính giai cấp (thù hận đối với kẻ thù giai cấp, hữu hảo với giai cấp anh em) đó lại là một tác phẩm hay, tiến bộ. Những tác phẩm thể hiện “tình yêu thương nhân loại” thông thường như tình phụ tử, tình mẫu tử, tình yêu, tình bè bạn, sự đồng cảm lại bị bài xích, còn những tác phẩm thể hiện đảng tính chiến thắng nhân tính, “giác ngộ giai cấp vô sản” lại được biểu dương.

Những nhân vật anh hùng được nhào nặn theo logic như vậy thông thường là “Cao”, “Đại”, “Toàn” (cao, lớn, toàn diện)(có một bộ tác phẩm mà trong đó nhân vật chính gọi là Cao Đại Toàn) – hình tượng cao lớn, trí dũng song toàn, siêu phàm, một lòng trung thành với đảng, thù hận kẻ địch tới tận xương tủy. Còn nhân vật phản diện thì sẽ có hình tượng dung tục, hung tàn, xảo trá. Những nhân vật chính diện phải mang họ Cao, Lương, nhân vật phản diện phải mang họ “Điêu” (gian xảo).

Có một tiểu thuyết ngắn, miêu tả cảnh một địa phương bị thiếu muối trầm trọng. Người mẹ trẻ muốn dùng dưa muối làm “đảng phí” giao nộp cho đảng nên đã lấy đi cọng đậu đũa ướp muối từ trong tay bé gái gầy guộc đến mức “cái cổ dài gánh một cái đầu trơ xương”, khiến cô bé òa khóc nức nở. Người mẹ đã đặt đảng lên trên gia đình và tình thân, do vậy đã nhận được sự khẳng định của văn học của đảng.

Hình tượng nữ giới trong các tác phẩm văn học của Trung Cộng thông thường không mang nét nữ tính đặc trưng mà mang khổ đại thâm thù, ý chí như thép. Tình yêu bị dán nhãn giai cấp tư sản, trong các tác phẩm văn học của Trung Cộng hoặc nó hoàn toàn vắng mặt, hoặc bị nhào nặn nhằm tôn lên sự “tráng lệ và vĩ đại” của “sự nghiệp cách mạng”. Nếu nhân vật chính nam (nữ) nảy sinh tình cảm, thì người kia thường phải hy sinh oanh liệt, vậy là nhân vật chính mang theo nguồn sức mạnh bi phẫn, tiếp tục dấn thân vào “làn sóng cuồn cuộn” của cách mạng. Nhân vật chính kết hôn vì tình yêu là điều đại kỵ trong văn học cách mạng, bởi vì một khi lập gia đình, những việc vụn vặt trong sinh hoạt hàng ngày sẽ “ăn mòn ý chí đấu tranh của nhà cách mạng”, Trung Cộng cũng sẽ không cách nào có thể “tiếp tục cách mạng”, “cách mạng không ngừng “.

Những văn nhân bị Trung Cộng lợi dụng đều tôn thờ nguyên tắc “chủ đề đi trước”, do vậy mỗi lần Trung Cộng có yêu cầu mới, những tác phẩm văn học hợp thời sẽ được sản xuất hàng loạt. Trên đây chỉ đưa ra một số ví dụ nho nhỏ.

3) Một số đặc điểm của việc Trung Cộng lợi dụng văn học để tiến hành nhồi nhét

Văn hóa đảng là một loại văn hóa phụ thể bám vào văn hóa Trung Quốc. Trung Cộng rất giỏi lợi dụng hình thức và nguyên tố của văn hóa truyền thống, văn hóa dân gian nhằm đạt được mục đích tăng cường hiệu quả tuyên truyền.

(1) Trộm dùng văn hóa dân tộc một cách toàn diện

Thái độ của Trung Cộng đối với văn hóa nhân loại xưa nay đều là “dùng cho ta”, chỉ cần có lợi cho sự thống trị của nó, nó sẽ vơ vét toàn bộ, quyết không nương tay, cũng không hối tiếc. Về phương diện văn học, thể thơ cũ, thơ bạch thoại, các loại dân ca, tiểu thuyết ngắn và vừa, tiểu thuyết dài, tiểu thuyết chương hồi, tản văn, nhạc kịch, v.v.. toàn bộ đều được dùng để truyền tải nội dung Văn hóa đảng, có thể gọi một cách đẹp đẽ là “bình cũ rượu mới”, “hình thức dân tộc, nội dung xã hội chủ nghĩa”.

Làm như vậy ắt hẳn có nguyên nhân. Tâm lý thẩm mỹ của con người mang tính ổn định nhất định. Thói quen thẩm mỹ hình thành qua thời gian lâu dài không dễ dàng thay đổi, như vậy nếu làm lại từ đầu, dùng bình mới đựng rượu mới chi bằng lợi dụng thói quen thẩm mỹ cố hữu của con người, lén lút cài nội dung Văn hóa đảng vào đó. Hình thức dân tộc truyền tải nội dung Văn hóa đảng này vừa mang tới cho con người cảm giác thân thuộc, lại vừa mang tới cho con người cảm giác mới lạ, đạt hiệu quả tối đa trong tuyên truyền của Trung Cộng. Cho nên, trong khi mọi người ngâm vịnh thơ, ngân nga làn điệu dân gian, đọc tiểu thuyết, xem kịch nói thì đã trở thành tù nhân của Văn hóa đảng một cách vô thức.

(2) Lợi dụng thành thạo kỹ xảo văn học

Mặc dù “đảng” hầu như là một từ phản nghĩa của văn hóa, hầu như tương đương với “võ hóa”, “thô bỉ, dã man hóa”, “phản văn hóa”, nhưng về một phương diện khác, “đảng” lại vô cùng giỏi lợi dụng văn hóa, “đảng” lợi dụng văn hóa để chống lại văn hóa.

Những văn nhân được Trung Cộng trọng dụng, để đạt được hiệu quả cao hơn trong  việc tuyên truyền văn học của đảng đã thực sự đã phải lao tâm khổ tứ. Các thủ pháp nghệ thuật văn học cổ điển phương Đông, phương Tây như tả thực, tương phản, tình tiết kịch tính, gánh nặng tâm lý, hô ứng, tình tiết gay cấn, miêu tả tâm lý, tính cách điển hình, ngôn ngữ cá tính hóa… dường như đều được sử dụng.

Bởi vì văn nghệ của Trung Cộng coi trọng việc “phổ cập”, chủ yếu nhắm vào quần chúng công nông văn hóa không cao, do vậy tác phẩm văn học sản xuất ra mặc dù trình độ có hạn, nhưng khá thành công trong việc đạt được mục đích nhồi nhét Văn hóa đảng.

(3) Dùng việc cấm sách để tăng cường sự đói khát về văn hóa

Đối với những người đói khát thì đồ ăn nào cũng đều là cao  lương mỹ vị. Trung Cộng biết rằng, thứ gọi là văn học mà những văn nhân bị lợi dụng bào chế ra, tuyệt đối không thể sánh được với những tác phẩm văn học chân chính, có trình độ cao, nổi tiếng thế giới. Mụ phù thủy xấu xí mang lòng đố kỵ vốn không thể khiến bản thân mình trở nên xinh đẹp, đành phải bày mưu tính kế hại chết công chúa Bạch Tuyết xinh đẹp. Sau khi Trung Cộng xây dựng chính quyền, nó đã lên kế hoạch hủy sách, cấm sách. Trong Cách mạng Văn hóa, phàm là những đồ vật liên quan tới cái đẹp đều bị dán nhãn là “giai cấp tư sản”, sự đói khát văn hóa của người Trung Quốc đã lên đến tột đỉnh. Khi khó mà nhẫn chịu được sự đói khát ấy, con người đành phải uống rượu độc để giải khát, vậy là Văn hóa đảng thừa cơ xâm nhập.

(4) Dùng sự lặp lại để tăng cường hiệu ứng nghiện

Con người không cần sống nhờ vào rượu; với người không uống rượu, mùi vị của rượu cũng không thấy vừa miệng chút nào. Nhưng vì sao có người lại quý rượu như sinh mệnh? Chính là do hiệu ứng nghiện. Suốt một thời gian dài chìm đắm trong một loại văn hóa, con người ta sẽ dưỡng thành một kiểu tâm lý mong đợi. Một tác phẩm chứa đầy những mong đợi này, cũng sẽ như gãi đúng chỗ ngứa, nó sẽ khiến con người nảy sinh cảm giác thỏa mãn. Cái gọi là mỹ cảm, trong tuyệt đại đa số các tình huống, chính là cảm giác thỏa mãn đối với cơn nghiện. Hiểu được điểm này sẽ không khó để minh bạch rằng, mỹ cảm đôi khi là phi lý tính, có thể tạo ra một cách nhân tạo, mà tâm lý thẩm mỹ của con người cũng có thể bị người khác thao túng lợi dụng.

Trung Cộng đã lợi dụng điểm này. Giáo lý của “đảng” được gói gọn trong một câu khẩu hiệu, một bài hát, một bức tranh, một ví dụ, một hình tượng, sau đó dùng mọi phương thức không ngừng lặp đi lặp lại tăng cường nó, tạo cho người Trung Quốc một loại “mỹ cảm” biến dị cứng nhắc. “Mao thi từ” (Lời thơ của Mao) được tung hô là “Thơ của Sơn Đại Vương”, “Mao văn thể” (thể văn của Mao) thô lỗ bất nhã, “Mao thể thư pháp” ngang ngược bá đạo được lặp đi lặp lại, mô phỏng, sùng bái, có người còn cho rằng chúng là đỉnh cao của nghệ thuật Trung Quốc thế kỷ 20. Ngày nay, thứ gọi là “Màu đỏ kinh điển” vẫn đang hoành hành tại Trung Quốc, sự thực này đã làm rõ, tâm lý ỷ lại của dân chúng vào thứ văn nghệ tà ác kia do Trung Cộng cố ý vun đắp suốt một thời gian dài vừa qua vẫn chưa hề mất đi tác dụng.

4) Từ “kẻ hắc thủ nhìn thấy được” cho đến “kẻ hắc thủ không nhìn thấy được”

Muốn nhìn thấu văn học đảng của Trung Cộng, cần phải giải quyết một vấn đề. Văn học đảng sau khi Trung Cộng kiến lập chính quyền, có thể dùng cuộc Cách mạng Văn hóa (CMVH) phân thành hai giai đoạn. Giai đoạn đầu từ năm 1949 tới CMVH; giai đoạn sau là từ khi CMVH kết thúc tới nay. Giai đoạn trước “đảng” lên đủ loại ‘dây cót’ , dốc hết sinh mệnh vào CMVH, chuyên quyền về văn nghệ, càng quấn càng chặt, vòng tròn càng vẽ càng nhỏ, là một quá trình “thu”. Nhưng sau CMVH, khẩu hiệu “văn học phục vụ đấu tranh giai cấp” bị vứt bỏ, thay vào đó là “đột phá vùng cấm”, “giải phóng tư tưởng”, khuôn phép trói buộc các tác gia sáng tác càng ngày càng ít, dường như là một quá trình “thả”. Văn đàn Trung Quốc hiện nay, với những tác gia mỹ nữ, “văn học lưu manh”, “sáng tác bằng nửa thân dưới”, hoa hòe hoa sói, đúng là “giải phóng” hết mức có thể, với tình hình như vậy, làm sao có thể lý giải được sự thao túng lợi dụng văn học của Trung Cộng?

Theo nhân khẩu học thông thường, 25 năm được coi là một thế hệ. Từ năm 1949 đến năm 1978 (Trung Cộng 11 lần tổ chức Đại hội toàn quốc, mỗi lần ba phiên họp toàn thể) tính tổng cộng là 29 năm. Những người sinh ra trước năm 1920, thì đến năm 1949 trước khi khi Trung Cộng chiếm được chính quyền khoảng trên 30 tuổi, người đã hình thành thế giới quan, đến năm 1978 cũng đã 60 tuổi hoặc già hơn, đã quá tuổi về hưu. Lúc đó những người đang hoạt động trong các ngành các nghề về cơ bản đều đã uống thuốc độc của Trung Cộng mà trưởng thành; nói cách khác, tới cuối những năm 1970, Văn hóa đảng về cơ bản đã được xác lập. Cho nên Trung Cộng thay đổi sách lược, rút lui một cách có chừng mực ra khỏi một vài lĩnh vực, từ một “kẻ hắc thủ có thể nhìn thấy” trước kia có mặt ở khắp mọi nơi thành một “kẻ hắc thủ không thể nhìn thấy” đứng sau hậu trường, về tổng thể Văn hóa đảng “thao túng trên vĩ mô” để rót ngược trở lại vào đầu óc dân chúng. (Đương nhiên, nếu cần thì hắc thủ có thể nhúng tay bất cứ lúc nào.)

Căn cứ xác lập của Văn hóa đảng chính là: không đợi “đảng” trực tiếp lãnh đạo, nền văn học đã trải qua “giải phóng tư tưởng”, được “thả” ra, nhưng vẫn hoàn toàn phù hợp với nhu cầu chính trị của Trung Cộng. Sau Cách mạng Văn hóa “nền văn học thương tích” và “văn học phản tỉnh” nổi tiếng, giống như khuôn đúc với chính sách của Trung Cộng trong việc giải thích Cách mạng Văn hóa – phạm sai lầm là Lâm Bưu và bè lũ bốn tên [14], “trào lưu tư tưởng cực tả”, “đảng” vẫn vĩ đại quang minh chính xác, không chỉ dũng cảm thừa nhận sai lầm mà còn giỏi sửa sai.

Truy đến tận gốc thì tìm ra được rằng, “đảng” chiểu theo Thuyết tiến hóa mà suy luận ra thời đại hoang dã vốn không tồn tại, dẫn dắt người ta đi đến kết luận rằng “sai lầm của đảng” là do “những độc hại cặn bã còn sót lại từ thời phong kiến”; sự lưu động của “dòng ý thức” [15] là nhằm tạo ra sự “thổ lộ cùng đảng” và nhìn đắng cay nhớ ngọt bùi; Cảnh tả thật chính là cuộc sống hèn mọn của người dân thấp cổ bé họng nơi đầu đường xó chợ, thay “đảng” bảo mọi người rằng: “nhân sinh chính là phiền não, vận mệnh không thể đoán trước”, do vậy không cần lại phải nói ra nói vào, bới lông tìm vết về “đảng”, thì mọi người sống chẳng dễ dàng gì, “sống quả thực không dễ dàng”, “sống được là tốt rồi”, “cần phải trân trọng cục diện vô cùng tốt đẹp không dễ gì có được này”. Những tác phẩm văn học coi châm biếm và trào phúng là sở trường thì thực tế là đang dùng rác rưởi của một ngôn ngữ khác mà phản đối rác rưởi trong ngôn ngữ của đảng, ám thị rằng nếu không cùng “đảng” thông đồng làm càn, thì chỉ có thể dùng việc đùa giỡn với đời để chứng minh giá trị của cá nhân; nền văn học khiêu dâm không thể khống chế của Trung Quốc với đủ các hiện tượng loạn tính tạo thành vấn đề đạo đức giới tính, lại khiến cho mọi người có giả tướng về tự do ngôn luận trong “thiên hạ của đảng”.

Đời sống văn hóa Trung Quốc ngày nay đã lộ ra bộ mặt cực đoan phức tạp. Chỉ khi thực sự nhận rõ bộ mặt thật của Trung Cộng mới có thể giải quyết nhanh gọn và không bị mê hoặc bởi các loại giả tướng. Trung Cộng vì muốn duy hộ sự sinh tồn của bản thân mà không từ thủ đoạn, cũng không có giới hạn. Nó có thể theo phương châm “Những gì kẻ địch ủng hộ thì chúng ta phản đối, những gì kẻ địch phản đối thì chúng ta ủng hộ”, nhưng nó cũng có thể phản đối điều kẻ địch phản đối, ủng hộ điều kẻ địch ủng hộ, chỉ cần “kẻ địch” không phản đối sự tồn tại của nó. Nó có thể ăn nói hùng hồn, nói lời thô tục tà ác, cũng có thể nói năng mềm mỏng, ngọt ngào, vừa có quan điểm cơ bản, vừa đa dạng hóa; vừa có “bốn điểm kiên định” vừa có “hai trăm phương châm”. “Mọi thứ đều biến đổi tùy theo thời gian, địa điểm, điều kiện”. Sau khi Lenin lên đến đỉnh cao quyền lực đã nói: “Kẻ chiến thắng không nên bị khiển trách.” Khi Stalin khiếp sợ bất an trút hơi thở cuối cùng, hắn lại nói: “Khi đối diện với kẻ địch mạnh, dẫu biết rõ rằng không thể công phá cũng phải hiên ngang tuốt lưỡi kiếm sắc bén. Dẫu ngã xuống, cũng phải trở thành một ngọn núi, một đỉnh cao,” tô vẽ bản thân thành một anh hùng trong bi kịch với động cơ cao thượng.

“Tôi phải có trách nhiệm với lịch sử… tôi thừa nhận, đối thủ có thể hùng mạnh hơn tôi rất nhiều, nhưng đối phương đã tuốt kiếm, lẽ nào tôi không thể không tuốt kiếm sao? Tôi muốn thử vận may một chút, cứ coi như thời đại của tôi đã kết thúc, nhưng cứ nhất định phải do tôi phải đặt dấu chấm hết sao?” (trích từ tác phẩm “Thanh kiếm sáng”)

“Sinh tồn là gì? Sinh tồn chính là sống không từ thủ đoạn. Anh có thể đê tiện, anh có thể vô sỉ, anh cũng có thể hạ lưu. Chỉ cần có thể sống được trong thế giới này là được….. ăn cỏ chưa hẳn đã là nhân từ, ăn thịt chưa hẳn đã là tàn nhẫn. Tôi là một con sói, sinh ra là một con sói, một con sói nanh vuốt sắc nhọn, máu tươi và chết chóc là mạch sống cho sinh mệnh của tôi.” (trích từ tác phẩm “Chó sói”)


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Văn học thời đại nào cũng đều phản ánh thời đại đó theo phương thức trực tiếp hoặc gián tiếp. Trong lời của hai đoạn tiểu thuyết bán chạy ở Trung Quốc Đại lục này, một đoạn giành được vị trí “anh hùng thất bại”, vị trí tuyên truyền chiến lược cuối cùng, còn một đoạn thì thể hiện quyền lực một cách trần trụi. Những hiện tượng này cho thấy văn học đảng không chỉ không rút lui ra khỏi vũ đài lịch sử, mà còn khuếch tán trong rất nhiều thể loại tác phẩm khác nhau, khiến người ta càng khó phân biệt, khó ngăn chặn hơn.

Suốt mấy chục năm bị nhồi nhét bởi các văn nhân do ác đảng khống chế, người Trung Quốc đã tiếp thụ những giá trị quan của Trung Cộng, thù hận trở thành cao thượng, sát nhân phóng hỏa trở thành chính nghĩa, bạo chúa tiểu nhân, thổ phỉ và côn đồ trở thành đối tượng được sùng bái, đảng tính tàn nhẫn đã thay thế bản tính lương thiện tương thân tương ái giữa người với người, kính Thiên tín Thần trở thành mê tín ngu muội… tiêu chuẩn thiện ác bị đảo lộn, văn học mất đi công dụng hun đúc tình cảm tư tưởng, trở thành tấm màn che cho Trung Cộng mặc sức tô vẽ bản thân, che đậy tội ác của nó. Xét về ý nghĩa, văn nhân của tà đảng, không còn nghi ngờ gì nữa, đã trở thành kẻ sát nhân đồng lõa đồng mưu với tà đảng.

4. Lợi dụng sách giáo khoa để nhồi nhét Văn hóa đảng

Việc phán đoán sự vật của một người chủ yếu được quyết định bởi hai nhân tố: một là thông tin mà người này nắm vững, hai là phương thức xử lý thông tin, tức là phương thức tư duy. Đối với người hiện đại, thông tin truyền thông là nguồn thông tin quan trọng nhất, giáo dục tại trường học là lực lượng chủ yếu nhất nhào nặn phương thức tư duy. Do vậy Trung Cộng muốn nhồi nhét Văn hóa đảng ắt phải coi trọng thông tin truyền thông và sách giáo khoa của học sinh. Vấn đề thứ nhất đã được nói ở mục 1, tại đây chủ yếu bàn về tác dụng nhồi nhét của sách giáo khoa của Trung Cộng.

Giáo dục của Trung Quốc trước năm 1949, bao gồm ba hình thức là quốc lập, tư thục và lớp học của giáo hội. Sau năm 1949, tất cả các trường học đều bị quốc hữu hóa, chính quyền Trung Cộng lúc đó đã thông qua “chế độ phụ trách Đảng ủy”, chế định pháp luật, mệnh lệnh hành chính và các loại phương thức khác nhằm nắm giữ quyền lực đối với trường học, “thuần phục” giáo viên, viên chức bằng phương thức thanh lọc tổ chức, cải tạo tư tưởng, dùng sách giáo khoa để tẩy não thanh thiếu niên mới trưởng thành. Mao Trạch Đông nói: “Một tờ giấy trắng không có áp lực gì, dễ viết ra những lời văn đẹp nhất, mới nhất, có thể vẽ những bức vẽ đẹp nhất, mới nhất.” Trung Cộng tô vẽ bừa bãi vào tâm hồn thanh thiếu niên, giáo dục đã trở thành trận địa trọng yếu để nhồi nhét Văn hóa đảng.

Giáo dục bắt đầu từ thứ gọi là “khu giải phóng”, Trung Cộng bắt đầu xây dựng giáo trình chính trị có hệ thống. Sau khi giành được chính quyền, Bộ giáo dục của Trung Cộng dần dần đặt ra quy định đối với giáo dục chính trị, cưỡng chế trường học các cấp thi hành. Những năm 50, các môn chính trị trong các trường cao đẳng, đại học bao gồm: “Cơ sở chủ nghĩa Marx – Lenin”, “Lịch sử phát triển xã hội”, “Lịch sử cách mạng Trung Quốc”, “Cơ sở kinh tế chính trị học” v.v.. Trong thời kỳ không có vận động cách mạng, những loại môn học này có thể chiếm từ một phần mười đến một phần năm tổng số thời lượng các bài giảng. Đến khi có vận động chính trị, thì kiểu giảng dạy rập khuôn này hiển nhiên không đạt yêu cầu. Trong các cuộc vận động Phản hữu (Chống cánh hữu), Tứ thanh (Thanh trừ bè lũ bốn bên) có đủ kiểu giáo dục chính trị muôn màu muôn vẻ như các cuộc vận động, học tập chính trị, nghe báo cáo, huấn luyện quân sự, học công học nông và đủ các loại hình giáo dục chính trị khác, cộng thêm những bài giảng trên lớp, hầu như chiếm tới hơn một nửa thời gian học trên lớp của học sinh. Nhiều như vậy nhưng Mao Trạch Đông vẫn cho rằng trước năm 1966 “phần tử trí thức giai cấp tư sản đã thống trị trong các ngôi trường của chúng ta”. Năm 1967, Trong “Thông tư liên quan tới Đại Cách mạng Văn hóa giai cấp vô sản tiểu học” của Trung ương Trung Cộng đã nêu rõ: “Học sinh tiểu học từ lớp 1 đến lớp 4 chỉ cần học Ngữ lục của Mao Chủ tịch, thêm học viết chữ, học hát những ca khúc cách mạng, học tập một số môn toán và khoa học thường thức. Các học sinh lớp 5, 6 học ‘Ngữ lục’, ‘Lão tam thiên’ và ‘3 đại kỷ luật 8 điều chú ý’ của Mao Chủ tịch, học tập ’16 điều’, học hát những ca khúc cách mạng.” Đây chỉ là một phần nhỏ trong vở hài kịch mang tên “cách mạng giáo dục”.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Cuộc vận động tăng cường tẩy não toàn dân trong hơn 10 năm này đã để lại hậu quả thảm khốc cho đạo đức xã hội và tâm lý dân tộc. Hiện nay chúng ta hãy xem xem, “thời kỳ bình thường” từ khi “cải cách mở cửa” tới nay, Trung Cộng đã nhồi nhét Văn hóa đảng vào đầu óc học sinh như thế nào.

1) Lớp chính trị: Lừa gạt không thương tiếc

(1) Môn học nhiều, tiết học dài, độ che phủ rộng, yêu cầu nghiêm

Thời cổ, trẻ em đi học, mở đầu đều học kiến thức thông thường như Lễ, Nhạc, Tiễn, Ngự, Thư, Số (lễ tiết, âm nhạc, bắn tên, cưỡi ngựa, thư pháp, toán học), tài liệu giảng dạy vốn đã bao hàm đạo lý làm người trong đó. Tại những nước phương Tây từ cận đại tới nay, trẻ em ngoài học những môn văn hóa còn học giáo dục công dân, nội dung học tập là quyền lợi và nghĩa vụ của công dân xã hội dân chủ. Nhưng Trung Cộng lại coi việc giáo dục thành công cụ đấu tranh giai cấp, mục đích của giáo dục không phải là để bồi dưỡng một cá nhân có nhân cách kiện toàn hay một công dân có lý trí và trách nhiệm, mà là để tạo ra những người kế tục “nghe lời đảng, đi theo đảng”. Mục đích giáo dục là khác nhau đã quyết định nội dung và phương pháp giáo dục cũng khác nhau.

Từ tiểu học đến đại học (đây là cách nói khái quát, kỳ thực việc nhồi nhét  bắt đầu từ nhà trẻ, một mạch cho tới tiến sĩ), học sinh của Trung Cộng luôn phải học ít nhất một môn chính trị, thời gian học thì dài, giáo trình thì nhiều, yêu cầu lại nghiêm ngặt, đúng là chuyện hiếm có tự cổ chí kim, trên phạm vi cả trong và ngoài nước.

Trong những giai đoạn khác nhau, môn học này có các tên gọi và điểm nặng nhẹ khác nhau. Tiểu học thì gọi là “Đạo đức tư tưởng”, trung học cơ sở gọi là “Chính trị tư tưởng”, “Lịch sử phát triển xã hội”, “Giáo dục lòng yêu nước”, trung học phổ thông gọi là “Tu dưỡng thanh thiếu niên”, ” Triết học thường thức”, “Kinh tế thường thức”, “Nhiệm vụ xu thế”, trong trường đại học gọi là “Triết học chủ nghĩa Marx”, “Lịch sử cách mạng”, “Kiến thiết Xã hội chủ nghĩa”, “Pháp luật thường thức” v.v.. Những môn học này dù có tên gọi khác nhau, nhưng tôn chỉ thì chỉ có một, đó chính là chứng minh “chỉ có Đảng Cộng sản mới có thể cứu Trung Quốc, chỉ có Chủ nghĩa xã hội mới có thể phát triển Trung Quốc”. Những môn học này ước tính chiếm khoảng gần 1/5 tổng thời gian học của học sinh.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Điều cần chỉ ra là, những môn học này không phải là những môn học tự chọn có hay không đều được, mà là những môn bắt buộc tuyệt đối, môn trọng tâm, được liệt vào danh mục thi bắt buộc tại các cấp. Trong một số kỳ thi lên lớp, những ai không đạt tiêu chuẩn chính trị tuyệt đối không thi đỗ.

(2) Tô vẽ cho Văn hóa đảng thành “đức dục”, “thường thức”, “nguyên lý”, “cơ sở”

Văn hóa Đảng là một trò hề lừa người nói không thành có, nhưng muốn mọi người tiếp thụ một cách không phản kháng, thì phải tô vẽ cho nó thành lẽ tất nhiên, từ cổ đã vậy, thiên hạ đều như vậy, “đặt vào bốn bể đều đúng, so với cổ kim đều thông suốt”. Cho nên, giáo dục thù hận giai cấp phản nhân tính được gọi là “giáo dục đạo đức”, những điều trái với nhận thức thông thường gọi là “thường thức”, lý luận lệch lạc được gọi là “nguyên lý”, nước không nguồn, cây không gốc được gọi là “cơ sở”, dường như nhân dân toàn thế giới đang học cùng một thứ. Những thanh thiếu niên không có một chút khả năng chống cự đã tiếp nhận toàn bộ thế giới quan, nhân sinh quan lệch lạc giả tạo này, từ đó trở nên nhỏ nhen và thù hận, tưởng rằng tất cả những người bình thường đều suy xét vấn đề như vậy, còn Trung Quốc cộng sản mới là hình mẫu của thế giới, động một chút là lên án những quan điểm khác mình là “phản động”, “cặn bã trôi nổi”, “không ngừng muốn tiêu diệt chúng ta”. Một học sinh học xong môn ‘Lịch sử phát triển xã hội’ đã hỏi thầy giáo rằng: “Nếu đã nói Chủ nghĩa xã hội tất nhiên sẽ thay thế Chủ nghĩa tư bản, vậy những nhà tư bản không thuận theo trào lưu lịch sử, họ thực sự hồ đồ, hay giả vờ hồ đồ?”

Lịch sử triết học tại đại học lấy Marx làm vạch ngăn, triết học trước Marx ở Phương Tây gọi là triết học cổ điển, không phải là chủ nghĩa duy vật máy móc thì cũng là chủ nghĩa duy tâm, đều là chưa phát hiện được chân lý; triết học sau Marx được gọi là triết học hiện đại, tất cả đều mang theo cái hơi thở suy tàn, thối nát của chủ nghĩa tư bản đang giãy chết. Truyền thống của Trung Quốc, nếu còn lại một chút thành phần hợp lý, thì cũng là manh nha của phép biện chứng hoặc chủ nghĩa duy vật, là “dự báo thiên tài” của tổ tiên. Các loại sách “tư liệu lịch sử triết học tham khảo” đã thuận theo kết luận này mà cắt xén lịch sử, lịch sử phong phú bị cắt xén thành lịch sử đấu tranh “hai tuyến đường”. Học thứ triết học như vậy, khiến con người cảm thấy dường như nếu “Trời không sinh ra Marx, vạn cổ như đêm dài”, khiến người ta băn khoăn rằng nếu Marx, Engels, Lenin, Stalin, Mao đã vất vả phát hiện ra chân lý, giải quyết ổn thỏa mọi chuyện, thì vì sao không đốt bỏ hết những cuốn sách khác.

(3) Chính trị thời sự – nội dung giáo dục mang bản sắc của Trung Cộng đậm nét nhất

Trung Cộng là một đảng lưu manh hoàn toàn vô nguyên tắc, lập trường nguyên tắc của nó không ngừng biến hóa, dù là những người giỏi bắt kịp hình thế, cũng không nhất định biết được nên giữ thái độ nào đối với một sự kiện mới diễn ra. Giáo dục “chính trị thời sự” đã giải quyết được vấn đề khó khăn này. Trong kỳ thi vào đại học và cao đẳng và một số kỳ thi lớn khác, đều có những câu hỏi thi theo một tỷ lệ nhất định (thông thường là 10%) liên quan tới nội dung chính trị thời sự, bắt buộc học sinh phải giải thích theo đáp án của chính quyền đương thời của Trung Cộng. Trong quyển đề thi vào cao đẳng năm 2000, có một câu trắc nghiệm lăng mạ Pháp Luân Công.

(4) Nhồi nhét thù hận và lý luận lệch lạc bồi dưỡng ra thế hệ thanh niên đầy thù hận và thờ ơ về chính trị

Nói thẳng ra nhân quyền là quyền lợi cơ bản của người dân. Nhưng qua nhiều năm nhồi nhét, từ “nhân quyền” này trong mắt của tuyệt đa số người Trung Quốc đã trở thành một từ mang nghĩa xấu, ít nhất cũng là một từ khả nghi. Nghe đến từ này, phản ứng đầu tiên của mọi người là “người nói ra lời này có lẽ có mục đích chính trị đen tối, có lẽ mình phải thận trọng.”

Trung Cộng biết rằng thanh thiếu niên là những người thiếu năng lực phân biệt nhất, do vậy giáo dục thù hận nhất quán phải “bắt đầu từ khi còn thơ bé”. Sau năm 1999, những nội dung nhồi nhét thù hận đối với Pháp Luân Công đã đường hoàng tiến nhập vào tài liệu giảng dạy của đại học, trung học, tiểu học. Trong bài giảng thứ tư của tài liệu giáo dục “Tư tưởng chính trị” cho học sinh trung học phổ thông năm thứ 3 (tương đương với lớp 12), phiên bản năm 2003 của Nhà xuất bản Giáo dục nhân dân, ngang nhiên in “nội dung giảng dạy” phỉ báng Pháp Luân Công. Trong tiết 12 (quyển thứ 10) của cuốn “Tư tưởng đạo đức” của học sinh tiểu học, do Nhà xuất bản Giáo dục nhân dân in lần thứ ba vào tháng 11 năm 2003, không chỉ mượn lời của Lưu Tư Ảnh (cô bé 12 tuổi trong “vụ tự thiêu giả mạo“) để khiến học sinh tiểu học tại Trung Quốc Đại lục bị kích động thù hận bởi trò lừa bịp “Tự thiêu tại Thiên An Môn”, mà còn khiến cho tất cả học sinh tiểu học coi việc thù hận và phỉ báng Pháp Luân Công là hành vi tư tưởng chính diện “đương nhiên đúng”. Rất nhiều các bậc phụ huynh dẫu không cho rằng chính sách bức hại của Trung Cộng là đúng, nhưng để bảo vệ sự thuần khiết của trẻ nhỏ đã không nói với đứa bé những chuyện liên quan đến Pháp Luân Công. Không ngờ ý tốt của cha mẹ vừa hay lại khiến những đứa trẻ không chút đề phòng đã rơi vào tuyên truyền phiến diện độc đoán của Trung Cộng.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Ngoài những đề mục trực tiếp nhồi nhét một lý luận nào đó được dẫn ra trên đây, trong các kỳ thi chính trị vẫn còn một loại câu hỏi, mà phải bóp méo tư duy của bản thân mới có thể đưa ra đáp án chính xác. Hèn chi có người nói “Phép biện chứng là một trò ảo thuật”. Sau thời gian dài huấn luyện, các học sinh đã học được cách “bóp méo” tư duy logic thông thường của mình, tiến nhập vào phương thức lý luận biến dị của người ra đề. Những học sinh được huấn luyện như vậy, hoặc sẽ hoàn toàn quen với cái phương thức lý luận tà ác này, trở thành “cây gậy đánh người của cánh tả”, “thanh niên bất bình”, hoặc sẽ triệt để vứt bỏ hết những nỗ lực lý giải những suy luận này, hài lòng với trạng thái “nhân cách phân liệt”. Những học sinh này có thể trả lời câu hỏi không chút hàm hồ, nhưng từ đó lại sinh ra sự chán ghét và thờ ơ sâu sắc đối với “triết học”, “nhân sinh quan”, “chính trị” v.v.. cuối cùng trở thành những cá nhân chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân mà không có chút ý thức cộng đồng.

(5) Tuyệt đối không buông lỏng đối với các lớp chính trị

Những năm gần đây, Bộ giáo dục của Trung Cộng dần dần nới lỏng việc khống chế viết giáo án các môn học. Nhưng tuyệt đối không nới lỏng với những môn chính trị. Nghe nói, sau sự kiện ngày 4 tháng 6 năm 1989, mỗi lần thay đổi lớn về nội dung của những môn chính trị chung trong trường đại học và cao đẳng đều phải được Ủy ban Thường vụ Cục chính trị Trung ương Trung Cộng thảo luận, phê duyệt. “Tiêu chuẩn cho giáo trình tư tưởng chính trị của bậc phổ thông trung học” xuất bản vào mùa xuân năm 2004 đã viết:

“Những môn tư tưởng chính trị tại các trường phổ thông trung học tiến hành giáo dục quan điểm cơ bản của Chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Mao Trạch Đông, lý luận Đặng Tiểu Bình và tư tưởng quan trọng “Tam đại biểu”,….dẫn dắt học sinh….lĩnh ngộ quan điểm cơ bản và phương pháp của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, đề cao một cách thiết thực năng lực tham dự vào cuộc sống xã hội hiện đại, dần dần xây dựng nên lý tưởng chung về việc kiến thiết Chủ nghĩa xã hội mang bản sắc Trung Quốc, sơ bộ hình thành thế giới quan, nhân sinh quan, giá trị quan một cách chính xác, đặt định tố chất, cơ sở vì tư tưởng chính trị cho sự phát triển suốt cuộc đời.”

Xem ra, Trung Cộng thực sự muốn làm tới cùng.

2) Môn lịch sử: Lừa mình dối người

(1) Nắm giữ chính trị, lịch sử dường như là một môn nhánh của chính trị

Lịch sử chính là một tấm gương có thể đoán định hưng vong. Các quốc gia văn minh lớn trên thế giới đều bảo tồn một lượng lớn các tư liệu lịch sử, nhờ đó mọi người có thể thu được từ lịch sử những bài học phong phú bổ ích, là một tham chiếu quý báu cho việc lập thân xử thế và sự phát triển của dân tộc. Một dân tộc mà không hiểu rõ lịch sử của chính mình cũng giống như một người mất đi trí nhớ, hoàn cảnh đó đáng thương vô cùng.

Nhưng lịch sử của Trung Cộng lại không tốt đẹp gì, lịch sử chân thực là điều đại kỵ của Đảng Cộng sản. Nhằm chứng minh cho sự thống trị hợp pháp của mình, Trung Cộng ắt phải thao túng quyền giải thích lịch sử. Các học giả tay sai đã xuất ra đủ các chiêu bài, đưa lịch sử Trung Quốc vào “năm giai đoạn phát triển” giả tạo và rút ra kết luận là “lịch sử đã lựa chọn Đảng Cộng sản”. Đọc toàn bộ tài liệu giảng dạy về lịch sử Trung Quốc, ấn tượng mạnh là: chiến tranh nông dân là động lực phát triển của lịch sử, ngay từ khi xuất hiện Trần Thắng, Ngô Quảng [16], người dân Trung Quốc đã mỏi mắt trông ngóng sự xuất hiện của một chính đảng cách mạng nắm vững chân lý của lịch sử, có thể cứu họ thoát khỏi nước sôi lửa bỏng, sự trông mong này đã kéo dài 2.000 năm. Cuối cùng “Tiếng pháo của Cách mạng tháng 10 bùng nổ”, Đảng Cộng sản đã đến.

Chân tướng sự thực là, năm giai đoạn phát triển của lịch sử nhân loại chỉ thuần túy là hư cấu, hoàn toàn sai lệch so với lịch sử Trung Quốc. Nếu như nói, người Trung Quốc từ thời kỳ Chiến Quốc tiến nhập vào thời kỳ phong kiến, vậy nên giải thích thế nào về việc Tần Thủy Hoàng bỏ phong kiến lập quận huyện. Khổng tử nói “ta theo pháp chế của nhà Chu” bôn ba vất vả khắp sáu nước, muốn khôi phục chế độ Lễ Nhạc thời Tam Đại (Hạ, Thượng, Chu), vậy mà Trung Cộng lại coi ông là người phát ngôn của “giai cấp chủ nô lệ”. Nhưng, vì sao tư tưởng nho gia của Khổng Tử ngược lại lại trở thành tư tưởng chính thống của “thời đại phong kiến”? Bịa đặt nhiều thì giải thích càng rối. Thể hệ dối trá ấy có đầy những lỗ hổng, Trung Cộng chỉ hận là năm đó đã không đốt hết toàn bộ 25 bộ lịch sử của Trung Quốc. [17]

(2) Che đậy, thay đổi, đoạn chương thủ nghĩa, khiến lịch sử chân thực vỡ vụn thànhtừng mảnh

Nguyên tắc chỉ đạo cho việc biên soạn giáo trình lịch sử của Trung Cộng là những gì mà “quan niệm duy vật lịch sử” không thể giải thích thì không giảng; những tội ác việc xấu của Đảng Cộng sản toàn bộ không giảng; những thánh nhân quân tử, minh quân hiền tướng thì chọn người mà giảng, khi giảng thì nhất định phải nhấn mạnh, xoáy sâu vào “tính giới hạn về lịch sử”; “tội ác của giai cấp phản động”; “khởi nghĩa nông dân” phải giảng nhiều, xoáy sâu; “hành trình vinh quang” của Đảng cộng sản cũng phải giảng nhiều, xoáy sâu.

Sách lịch sử của Trung Cộng cũng nói về Mạnh Tử, giảng rằng: “Lao tâm giả trị nhân, Lao lực giả trị ư nhân” (Người lao tâm trị người khác, người lao lực bị người khác trị) nhằm thể hiện bản tính của “Giai cấp bóc lột”; khi nói về Quốc Dân đảng thì vu oan cho họ rằng “tiêu cực kháng Nhật, tích cực phản cộng”, xưa nay không dám nói rằng đảng thực sự kháng Nhật chính là chính phủ Quốc Dân đảng, bản thân Trung Cộng “một phần kháng Nhật, hai phần ứng phó Quốc Dân đảng, bảy phần phát triển làm bản thân lớn mạnh”; nói về Cơ Đốc giáo nó không nói tới lời dạy “yêu người như chính mình”, mà chỉ nhấn mạnh “chiến tranh tôn giáo” và “tôn giáo là công cụ của Chủ nghĩa thực dân”; nói về các quốc gia Chủ nghĩa tư bản thì nhấn mạnh “tính giả tạo về dân chủ của giai cấp tư sản” và “mâu thuẫn nội tại về khủng hoảng kinh tế không thể khắc phục”.

Những năm gần đây, ngày càng có nhiều thanh niên học sinh ý thức được việc Trung Cộng sửa đổi lịch sử, muốn tự mình tìm đọc và nghiên cứu để hiểu rõ chân tướng lịch sử, nhưng lịch sử quan bị Trung Cộng nhồi nhét từ trước đã chiếm vị trí chủ chốt, nên rất khó đột phá về căn bản. Về phương diện cận đại, hiện đại, Trung Cộng thao túng tư liệu lịch sử, phong tỏa ngôn luận. Hiện nay, từ sau khi Trung Cộng khởi nghiệp tại Trung Quốc Đại lục, dường như mọi người không có khả năng lý giải lịch sử chân chính một cách toàn diện. Do Trung Cộng sửa đổi lịch sử một cách hệ thống nên nếu muốn lý giải chân tướng lịch sử của Trung Quốc, thì không chỉ cần có khả năng nhìn thấu những lời dối trá trong những sự kiện cụ thể, mà quan trọng hơn là cần có khả năng vượt thoát khỏi cái khung lý luận của Trung Cộng, đứng tại đỉnh cao của toàn bộ lịch sử văn minh nhân loại mà nhìn nhận đối đãi với giai đoạn gần một thế kỷ mà tà linh Trung Cộng gây họa cho nhân gian. Về phương diện này, cuốn sách “Cửu bình Cộng sản Đảng” sẽ cung cấp cho chúng ta những tham chiếu rất tốt.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

3) Môn ngữ văn: Niềm vui lừa gạt

(1) Việc tuyển chọn các bài văn

Về phương diện nhồi nhét Văn hóa đảng cho học sinh, nếu như nói những môn chính trị diễn vai phản diện, thì các môn ngữ văn lại đóng vai chính diện. Những môn chính trị nhồi nhét một cách thô bạo như vũ bão, còn các môn ngữ văn lại rót vào một cách nhẹ nhàng như mưa xuân, tuy phương thức khác nhau, nhưng cùng chung một mục đích.

Những bài văn được lựa chọn trong sách giáo khoa ngữ văn của  trung học và tiểu học đều có học vấn khá cao. Những bài văn của lãnh đạo Trung Cộng hoặc những bài văn liên quan đến họ phải chiếm một tỉ lệ nhất định, những “nhân vật anh hùng” của Trung Cộng (Vương Nhị Tiểu, Lưu Hồ Lan, Giang Tả, Khâu Thiểu Vân, Đổng Tồn Thụy, Hoàng Kế Quang, năm tráng sĩ núi Lang Nha, v.v..) cũng không thể vắng mặt. Hòng giải thích lý luận đấu tranh giai cấp của Trung Cộng, môn ngữ văn phải triển hiện một cách chính diện về giai cấp bị bóc lột từ cổ đến kim, từ trong nước ra ngoài nước, rồi lại đưa hình tượng địa chủ, nhà tư bản (như Chu Bái Bì [18]) đã được khắc họa điểm xuyết vào trong đó. Còn những bài văn của các quốc gia phương Tây phải thể hiện được đặc điểm là “Cám bã Chủ nghĩa tư bản”. Nhạc công Janko [19], ông già Willy Wonka [20], “chú Jules của tôi” [21] hoặc là chết một cách thảm khốc, hoặc là có kết cục rất ảm đạm. Các danh tác trên thế giới cũng đành phải lựa chọn, nhưng phải chọn cái ăn nhịp với giáo điều của Trung Cộng. Bởi vì Mao dùng quan điểm đấu tranh giai cấp mà đọc “Hồng Lâu Mộng”, do vậy giáo án trung học phải dùng “Sư Hồ lô xử án hồ lô” [22], nhằm thể hiện giai cấp thống trị phong kiến ích kỷ tàn bạo, coi mạng người như cỏ rác.

Sách giáo khoa ngữ văn của trung học đa phần là văn chương của Mao Trạch Đông và Lỗ Tấn. Mao nói “phản đối chủ nghĩa tự do”, Lỗ Tấn nói lịch sử 5.000 năm, đâu đâu cũng thấy viết hai chữ “ăn thịt người”, phải “đánh đập kẻ sa cơ”, “muốn chơi đẹp thì phải làm từ từ”, rất nhiều phần trong những bài văn này phải học thuộc lòng.

(2) Phương pháp giảng dạy của giáo viên

Dù ý nghĩa của những bài văn này đơn thuần rõ ràng bao nhiêu đi chăng nữa thì bất kỳ văn bản nào cũng đều có thể đọc hiểu theo nhiều cách khác nhau. Nhằm ngăn chặn khả năng này, ngành giáo dục của Trung Cộng yêu cầu giáo viên ngữ văn rằng sau khi giảng giải từng chữ, từng từ, từng câu, từng đoạn, từng chương cần phải tiếp tục “làm nổi bật nội dung chính”, chỉ ra “tư tưởng trung tâm” của bài văn, ép buộc học sinh lặp đi lặp lại những lời Văn hóa đảng đó. Ví dụ phía trên có nhắc tới “nhạc công Janko” là bài văn của học sinh lớp 5, tư tưởng trung tâm của nó là “tội ác của chế độ bóc lột trong xã hội cũ”, giáo viên phải dẫn dắt học sinh hiểu rằng “lý tưởng của người lao động không thể thực hiện được, cho dù có tài năng, cũng phải mai một”, cần phải “dấy lên lòng căm hận của học sinh đối với chế độ bóc lột, đồng cảm với tư tưởng, tình cảm của nhân dân lao động”.

(3) Phương hướng thi cử

Thi lên lớp là cây gậy chỉ huy của giáo dục các cấp. Xu hướng ra đề trong kỳ thi có tác dụng dẫn hướng to lớn đối với giáo viên và học sinh. Cũng có nghĩa là trọng điểm dạy học bị dẫn dắt bởi đề thi, mà đề thi lại trực tiếp bị khống chế bởi chính sách của Trung Cộng. Ví dụ như đề thi văn vào trường cao đẳng đại học, đề bài toàn quốc năm 1958 là “Màn kích động nhân tâm trong Đại nhảy vọt”, đề bài tại Bắc Kinh năm 1977 là “Một năm chiến đấu của tôi”, đề bài tại Thượng Hải là “Những ngày tháng nắm vững cương lĩnh trị quốc”. Trong đề thi văn những năm gần đây thì những đề bài mang Văn hóa đảng trần trụi như vậy đã giảm đi, thay vào đó là Văn hóa đảng khá kín đáo, ví như cái gọi là “phép biện chứng”, “một chia thành hai”. Bộ phim “Hoa hồng có gai” năm 1990 lại khiến nhân dân ôn lại những từ tự biện hộ kinh điển của Trung Cộng: “chủ lưu là tốt”, “thành tích là chủ yếu”, “thành tích là chín ngón tay, sai sót là một ngón tay”, “vết đen trên mặt trời”. Còn “gần mực thì đen” và “gần mực chưa chắc đã đen” năm 1991, nghĩa bóng của nó là cải cách mở cửa hoàn toàn không vi phạm bốn nguyên tắc, dự báo rằng năm 1992 Đặng Tiểu Bình tuần du phương Nam sẽ khởi động lại cuộc cải cách kinh tế què quặt.

Thi lên lớp có tác dụng dẫn hướng tuyệt đối đối với giáo dục các cấp. Trung Cộng nắm quyền ra đề thi, chính là chi phối sự phân phối thời gian học tập và vận dụng trí lực của học sinh. Trung Cộng lấy những thứ nó ép buộc nhồi nhét là trọng điểm trong các kỳ thi, học sinh đành phải bỏ thời gian gấp mười mấy lần, thậm chí mấy chục lần cho việc học các môn khác để ghi nhớ nội dung Văn hóa đảng đó. Kết quả là, văn hóa Đảng giống như một con dao khắc thật sâu vào tâm hồn của học sinh.

(4) Những xu thế gần đây

Chẳng bao lâu sau, bài học nhân sinh đầu tiên của học sinh là “Mao chủ tịch vạn tuế”, “Tôi yêu Thiên An Môn Bắc Kinh, Thiên An Môn bay lên trời cao”. Hiện nay sách giáo khoa cũng đã “tiến bộ” nhiều, tới cuối sách lớp một của học sinh tiểu học mới gượng gạo đưa ra “cây đại thụ Đặng Tiểu Bình”. Câu thơ nổi tiếng của Đỗ Phủ “Dao liên tiểu nhi nữ,Vị giải ức trường an” (Ở xa thương cho con gái bé bỏng,Chưa hiểu nỗi nhớ Trường An), không [được hiểu] là  trực tiếp viết về nỗi nhớ con, ngược lại là nói đứa con nhỏ còn chưa biết nhớ đến cha mình, một góc độ mới mẻ, ý vị sâu sắc. Rất nhiều bài văn trong sách giáo khoa ngữ văn hiện nay đều bịa đặt thông qua kỹ xảo này. Học sinh tiểu học không cần phải hét lên “Bốn điều vĩ đại” nhưng lại phải cùng “thân quyến” hồi tưởng lại ân tình sâu nặng, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây, tưởng nhớ Mao chủ tịch từng phút từng giây”. Trước kia nó tự tâng bốc bản thân thành “trung tâm cách mạng thế giới”, hiện nay nó lại kể một câu chuyện như sau: “Lưu học sinh lang bạt tại hải ngoại gặp cảnh khốn cùng, muốn dùng chiếc áo khoác đổi lấy một mẩu bánh mì, ông chủ tiệm (người phương Tây) không chịu. Nhưng nhìn thấy lá cờ đỏ năm sao trên cổ người học sinh, ‘mắt ông chủ tiệm sáng lên’, nhất định phải đổi bánh mì lấy cờ đỏ. Lưu học sinh vô cùng trượng nghĩa, phủi áo bỏ đi, vậy là ông chủ tiệm nhận được một bài học sâu sắc.” Những bài giảng chính trị tuyên truyền “một Trung Quốc”, “không bài trừ việc sử dụng vũ lực”, những bài giảng ngữ văn lại giảng từ việc Đài Loan không có tuyết, cuối cùng dùng lời của giáo viên để đưa ra chủ đề “Những người bạn nhỏ ở đó (Bắc Kinh) đang đợi các em tới chơi cùng các bạn ấy.”

Sách giáo khoa ngữ văn của học sinh tiểu học xuất bản gần đây đã nhồi nhét một cách hệ thống “khăn quàng đỏ”, “ngày 01 tháng 10 – sinh nhật của mẹ tổ quốc”, dùng chuyện xưa để giảng về chính sách đối với Đài Loan, chính sách dân tộc, chính sách ngoại giao, chính sách kinh tế v.v.. của Trung Cộng, thiếu niên nhi đồng tư tưởng giản đơn đang hấp thụ một lượng lớn nội dung Văn hóa đảng một cách vô thức.

Các sách giáo khoa ngữ văn hiện nay đã thêm vào rất nhiều tác phẩm có hơi thở của thời đại, nhưng chúng ta nhất định phải thấy được, các giờ học ngữ văn vẫn cứ đảm nhận một tác dụng trọng yếu trong việc nhồi nhét Văn hóa đảng. Đó là bởi vì, thứ nhất, văn chương của giới lãnh đạo của đảng vẫn chiếm một phần nhất định của chương trình. Thứ hai, do đặt cạnh rất nhiều các bài văn nổi danh, nên Văn hóa đảng cũng tự nhiên có được địa vị như những danh tác nổi tiếng, cũng chính là được “kinh điển hóa”. Khi học sinh dùng những bài có văn hóa đảng này để học tập văn phạm và tu từ, thì đã coi nội dung là thứ tự nhiên, đương nhiên, thậm chí tất nhiên, chẳng mảy may phòng bị mà tiếp thu. Thứ ba, định hướng giáo dục vì thi cử hiện nay đã hướng toàn bộ sự chú ý của học sinh vào một lượng lớn những tiểu tiết vô vị, khiến học sinh vừa mất đi hứng thú với nội dung các bài văn, vừa mất đi năng lực tìm tòi nghiên cứu.

Đương nhiên, môn ngữ văn cùng với giáo trình nhiều môn học khác cùng phối hợp mà phát huy tác dụng, việc “từ bỏ chính trị hóa” về một mức độ nào đó của môn ngữ văn, cũng đã chứng tỏ khả năng dung nạp mạnh mẽ và tính lừa dối cao độ trong Văn hóa đảng từ một phương diện khác. Cũng giống như “nhân quyền đi vào hiến pháp”, Giang Trạch Dân đề xuất “lấy Đức trị quốc”, Hồ Cẩm Đào hô lớn “xã hội hài hòa”, không chừng một ngày nào đó, “kiên trì quảng bá Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo, những tinh hoa của dân tộc” cũng sẽ được viết vào cương lĩnh của đảng và hiến pháp, tiếp tục giải thích câu chữ “vĩ đại, quang minh, chính xác” và “thay đổi cùng thời gian” là như thế nào.

Những môn học khác dưới thể chế giáo dục của Trung Cộng như địa lý, âm nhạc, khoa học tự nhiên v.v.. cũng đều gánh vác sứ mệnh nhồi nhét Văn hóa đảng. Qua một vài ví dụ có thể thấy được toàn cảnh, tại đây sẽ không đàm luận chi tiết thêm nữa.

Điều cần phải nhấn mạnh và cần chỉ ra là, nguy cơ lớn nhất của giáo dục Văn hóa đảng không phải là nội dung cụ thể được nhồi nhét, mà là nó đã áp đặt lên học sinh một cái khung nhận thức để nhận thức thế giới, giải thích thế giới. Sau khi học sinh nhận thức được cốt lõi của cái khung nhận thức đó, đối với những tin tức không thể xử lý được trong cái khung đó, thì hoặc giữ thái độ bài xích cực đoan, thờ ơ, bàng quang với những hiện tượng mà cái khung đó không thể giải thích, hoặc tiến hành xử lý những thông tin này bằng phương thức tư duy lệch lạc mà Trung Cộng nhồi nhét, cuối cùng rút ra kết luận có lợi cho sự thống trị của Trung Cộng. Điều này giải thích tại sao người Trung Quốc ngày nay vừa rất có tư tưởng, giỏi biện luận, mặt khác lại cực đoan, hẹp hòi, cố chấp, bế quan tỏa cảng với những điều mình không thích, thỏa mãn “trạng thái vô tri có chọn lọc”.

Tự cổ Trung Quốc có câu “Vạn ban giai phẩm, duy hữu độc thư cao” (Mọi thứ đều thấp kém, chỉ đọc sách là cao quý), xã hội vô cùng coi trọng giáo dục phổ cập. Đối với con cái của đa số nông dân, ngoài việc nhập ngũ thì thi đại học là con đường duy nhất có thể thay đổi thân phận nông dân của mình. Nhưng Trung Cộng đã nắm giữ mọi nguồn tài nguyên của quốc gia, các em hoặc không được giáo dục, hoặc chỉ có thể được sự giáo dục bởi văn hóa Đảng. Mấy chục năm qua, Trung Cộng đã coi giáo dục, vốn là việc chung của toàn dân, thành cái phường buôn bán hàng lậu của riêng nhà mình, người Trung Quốc hết thế hệ này tới thế hệ khác đều bị ép phải nuốt quả đắng là giáo dục Văn hóa đảng.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

5. Lợi dụng các loại hình thức văn nghệ để nhồi nhét Văn hóa đảng

Đảng Cộng sản cho rằng văn nghệ là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, chỉ có thể phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị. Sau khi Trung Cộng cướp đoạt chính quyền, nó đã quốc hữu hóa các đoàn thể diễn xuất văn nghệ về mặt kinh tế, biến các nhân sĩ trong giới văn nghệ thành “người trong thể chế” về mặt tổ chức và còn tiến hành cải tạo tư tưởng đối với họ, khống chế nghiêm ngặt theo kiểu “chỉ tận tay, day tận mặt” về phương diện sáng tác, trong một thời gian ngắn nó đã biến mọi hình thức văn nghệ như điện ảnh, hý kịch, ca múa, khúc nghệ [23] v.v.. thành một bộ phận của bộ máy quốc gia và là công cụ nhồi nhét Văn hóa đảng.

1) Lợi dụng điện ảnh để nhồi nhét Văn hóa đảng

(1) “Điện ảnh là nghệ thuật trọng yếu nhất”

Điện ảnh nổi lên vào đầu thế kỉ 20, là một hình thức giải trí và nghệ thuật hoàn toàn mới, so với văn nghệ truyền thống nó có ưu thế rất lớn, đã nhanh chóng phổ biến trong xã hội. Đảng Cộng sản với khướu giác nhạy bén đã chú ý tới điện ảnh từ rất sớm. Lenin nói: “Điện ảnh là một trong những công cụ giáo dục quần chúng mạnh mẽ nhất”, “trong tất cả các hình thức nghệ thuật, đối với chúng ta điện ảnh là trọng yếu nhất.” Tháng 08 năm 1949, Bộ Tuyên truyền của Trung Cộng ra công văn “Quyết định liên quan đến việc tăng cường sự nghiệp điện ảnh”, chỉ ra rằng: “Nghệ thuật điện ảnh có tính quần chúng to lớn nhất và hiệu quả tuyên truyền rộng lớn nhất, nhất định phải tăng cường sự nghiệp này, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác tuyên truyền của đảng ta, cách mạng dân chủ mới cùng sự nghiệp kiến thiết có tiếng nói hơn trong phạm vi trong nước và trên trường quốc tế.” Năm 1951, cuộc vận động cải tạo tư tưởng đầu tiên sau khi Trung Cộng cướp chính quyền bắt đầu từ việc phê phán bộ phim “Truyện Võ Huấn”, Mao Trạch Đông cũng tự mình “cầm đao”, phê phán gay gắt phim “Truyện Võ Huấn”. Mao Trạch Đông mượn chuyện này ám thị cho những vị lãnh đạo đảng sau này của Trung Cộng rằng phải hết sức coi trọng loại hình nghệ thuật này. Vào năm 1953, cuộc “cải tạo Chủ nghĩa xã hội” trong ngành điện ảnh đã hoàn tất, hoàn thành trước cả việc cải tạo ngành công nghiệp khác của dân tộc. Nhờ sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô, Trung Cộng đã đưa việc sản xuất điện ảnh vào kế hoạch năm năm lần thứ nhất, tiến hành quản lý điện ảnh theo mệnh lệnh hành chính.

Trong quãng thời gian từ năm 1949 đến năm 1966, Trung Cộng tổng cộng đã quay hơn 700 bộ phim truyện, bịa đặt một cách toàn diện rằng: “Lịch sử đã lựa chọn Trung Cộng”, biện hộ cho chính sách của Trung Cộng trong từng thời kỳ, đẩy những nhân vật đại biểu của Đảng theo hướng chính diện, hạ thấp văn hóa truyền thống và các nhân vật truyền thống. Những tác phẩm đại biểu cho thời kỳ này có “Bạch Mao Nữ”, “Chiến sĩ thép”, “Nam chinh Bắc chiến”, “Khúc ca thanh xuân”, “Hồng kỳ phổ” (Lá cờ đỏ), “Địa lôi chiến” (Chiến tranh bom đạn), “Địa đạo chiến” (Cuộc chiến dưới địa đạo), “Lý Song Song”, “Hồng Nhật” (Mặt trời đỏ), “Tiểu binh Trương Ca”, “Nữ nhi anh hùng”, “Dã hỏa xuân phong đấu cổ thành” (Lửa dại gió xuân đấu cổ thành), “Chàng lính gác dưới ngọn đèn neon” v.v..

Trong những bộ phim này, những nhà lãnh đạo của Trung Cộng, những kẻ được Trung Cộng gọi là “Nhân vật anh hùng mô phạm”, thậm chí cả những đặc vụ của Trung Cộng mang tâm lý đen tối, hành vi hạ tiện cũng trở thành đối tượng được ca tụng. Hình thức truyền thông như điện ảnh khiến Trung Cộng có thể “giả tạo một cách chân thực”, nam nữ diễn viên thanh tú, bầu không khí và cảnh quay thơ mộng như họa như thơ, tình tiết được thiết kế như huyền thoại hay mang tính sử thi, đạt được tác dụng tối đa trong việc đề cao nhân vật đại biểu của đảng. Về mặt tâm lý mọi người cảm thấy hình tượng nhân vật trong các tác phẩm văn nghệ lại càng “thực chất”, mang tính phổ biến, có tư cách đại diện cho “đảng”, nhưng lại không ngờ được rằng điều họ thấy chỉ là chiếc mặt nạ giả của đảng mà thôi.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Trước năm 1949, điện ảnh chủ yếu là một loại hình nghệ thuật thành thị. Nhằm mở rộng phạm vi tuyên truyền của điện ảnh, Trung Cộng tiến hành phát hành phim điện ảnh theo phân khu hành chính, xây dựng một cách hệ thống đội chiếu phim lưu động, vươn những cái xúc tu tuyên truyền của mình tới tận vùng nông thôn và các cơ sở tại nhà máy hầm mỏ. Năm 1949, đội chiếu phim lưu động trên toàn quốc có 646 đơn vị, đến năm 1957 tăng lên đến 9.965 đơn vị, trong đó có 1.030 viện điện ảnh, 6.692 đội chiếu phim. Đội chiếu phim đã trình chiếu hơn 114.000 buổi vào năm 1954, số lượng khán giả đạt 110 triệu lượt người. Đội chiếu phim kiểu này vẫn hoạt động sôi nổi tới tận những năm 80, đã khởi tác dụng cực đại trong việc phổ cập Văn hóa đảng.

Sau khi Đại Cách mạng Văn hóa bắt đầu, trên 90% số phim của “17 năm” ( từ năm 1949 đến năm 1966) bị coi thành cỏ độc (có hại cho nhân dân và Chủ nghĩa xã hội), lĩnh vực văn nghệ bị biến thành thiên hạ của “tám vở kịch mẫu”. Năm 1979, phần lớn các phim của “17 năm” đã được giải cấm, năm đó toàn dân bình quân xem phim 28 lần, điện ảnh toàn quốc đạt hơn 29.3 tỷ lượt xem. Loại hiện tượng này kỳ thực đã phản ánh sách lược thống trị của Trung Cộng. Về mặt kinh tế thì tước đoạt của nhân dân đến mức chẳng còn gì, do vậy chỉ cần tình hình kinh tế hơi khá lên một chút, thì người ta đã cảm ơn mang đức đối với Trung Cộng rồi; trong lĩnh vực văn nghệ cũng tước đoạt của người ta đến mức chẳng còn gì, thì người ta đối các tác phẩm tuyên truyền Văn hóa đảng sẽ thấy ngọt như đường vậy.

Nghiên cứu về giới truyền thông phát hiện rằng, loại hình truyền thông nào càng kích thích tới giác quan của con người như thật thì càng thu được hiệu quả khá lớn. Điện ảnh là một loại hình nghệ thuật tổng hợp cả văn học, âm nhạc, mỹ thuật, biểu diễn v.v.. kích thích toàn diện giác quan của con người, là một hình thức tuyên truyền mạnh mẽ. Trong các bộ phim, Trung Cộng đã nhào nặn một lượng lớn những nhân vật đại diện cho đảng, giọng nói, nét mặt biểu cảm, ngôn ngữ cơ thể… của họ đã trở thành đối tượng mà mọi người, đặc biệt là thanh thiếu niên mô phỏng theo, ví như hình tượng Mao Trạch Đông “điềm tĩnh chỉ huy một cách chu toàn” trước tấm bản đồ, động tác diễn giảng của Lenin trong những bộ phim của Liên Xô v.v.. Rất nhiều từ vựng trong phim đã đi vào ngôn ngữ đời thường, như câu nói của Vương Thành trong phim “Nhi nữ anh hùng”: “Vì chiến thắng, hãy nã pháo vào ta,” vẫn lưu hành cho tới tận ngày nay. Điện ảnh đã thay đổi mô thức hành vi, tâm lý của con người theo cách thức “mưa dầm thấm lâu”, hiệu quả nó to lớn không thể lường hết.

Cấp độ chú trọng điện ảnh của Trung Cộng còn vượt qua cấp độ chú trọng tới văn học, hơn nữa thuận theo dòng chảy thời gian, dường như càng ngày càng như vậy. Sau năm 1989, Trung Cộng có xu hướng thu hẹp về hình thái ý thức, từ năm 1990 đến năm 1992, trên điện ảnh đã xuất hiện một cao trào “chủ đề chính” rất rõ ràng.

(2) Chủ đề chính và đa dạng hóa

Từ những năm 80 tới nay, thuận theo cuộc cải cách kinh tế của Trung Cộng, giới điện ảnh cũng được thử nghiệm cách quản lý và hình thức cạnh tranh kiểu xí nghiệp. Hiện nay những bộ phim nhựa sản xuất tại Trung Quốc được trình chiếu, ước chừng khoảng 25% những bộ phim nhựa được liệt vào “chủ đề chính”, 70% là phim giải trí, 5% là phim nghệ thuật. Nhưng hiệu quả tuyên truyền của điện ảnh không hề bị bào mòn, chỉ là nó đã sử dụng hình thức phức tạp tinh vi hơn.

Trước tiên, điện ảnh thuộc “chủ đề chính” vẫn đảm nhận chức năng trọng yếu là nhồi nhét Văn hóa đảng. Chính sách của Trung Cộng luôn đảm bảo cho điện ảnh trong dòng “chủ đề chính” được đầu tư mạnh tay, sản xuất nhiều, ban hành văn bản phát hành chính thức, yêu cầu tổ chức các cấp tới xem. Phim “Đại quyết chiến” được đầu tư mấy chục triệu nhân dân tệ, phạm vi quay phim liên quan tới 13 tỉnh, diễn viên quần chúng tham gia diễn xuất đạt tới hơn 150 nghìn lượt người, qua đây có thể thấy rõ Trung Cộng vô cùng coi trọng điện ảnh. Bộ Tuyên truyền, Ban tổ chức Trung ương, Bộ Giáo dục, Bộ Phát thanh Điện ảnh Truyền hình, Bộ Văn hóa, Tổng Công đoàn toàn quốc, Hội Liên hiệp Phụ nữ toàn quốc, Đoàn thanh niên Cộng sản Trung ương và nhiều đơn vị khác đã nhiều lần thông báo hợp tác, yêu cầu đơn vị các cấp tổ chức tới xem những bộ phim thuộc “chủ đề chính”. Số lượng khán giả của những bộ phim như “Đại lễ khai quốc”, “Tiêu Dụ Lộc”, “Mao Trạch Đông và con trai”… đều vô cùng lớn.

Thứ hai, điện ảnh thuộc “chủ đề chính” phát triển theo hướng khoa học kỹ thuật cao, kỹ xảo hóa, tinh tế hóa và tình cảm hóa. Sau những năm 80, do cải cách mở cửa, khả năng phân tích của người xem tăng lên, những lời dối trá lộ liễu của Trung Cộng không thể tiếp tục lưu hành. Những người trong ngành điện ảnh bị Trung Cộng lợi dụng đã phỏng đoán tâm lý khán giả, phát triển một bộ sách lược “chủ đề” phức tạp. Trong những bộ phim được gọi là phim theo “Đề tài lịch sử cách mạng”, đạo diễn đã cố ý tạo ra giả tướng cho phim tài liệu, nhào nặn lối trần thuật lịch sử áp đặt chủ quan lái theo một xu hướng thành lịch sử khách quan giả tạo. Phim chiến tranh chú trọng thể hiện những cảnh quay lớn, dùng những ảo tưởng chiến tranh giả tạo sống động để bóp nghẹt phán đoán lý tính của khán giả, khiến họ không phân biệt được đây là phim lịch sử hay phim tự sự nữa. “Lãnh tụ cách mạng” trong phim được nhào nặn thành những cá nhân bằng da bằng thịt, để thể hiện tình thân, tình yêu, tình bạn của họ nhằm rút ngắn khoảng cách với khán giả. “Kẻ thù của đảng” cũng không còn là hình mẫu bất tài vô dụng trong phim như trước, họ cũng được biểu hiện là những nhân vật có tài hoa nhất định và nhân cách cao thượng, nhưng trong cuộc đọ sức lịch sử lại đều bại dưới tay Trung Cộng, chính là nước cờ cao tay nhằm làm nổi bật những nhà lãnh đạo Trung Cộng.

Trong “Giang Trạch Dân một con người” có ghi lại một câu chuyện, có thể minh chứng cho sự tinh tế trong thủ pháp điện ảnh thuộc “chủ đề chính” của Trung Cộng. Giang Trạch Dân từng nhận lời mời xem bộ phim “Đại lễ khai quốc”. Một số cảnh trong phim khiến y vô cùng hiếu kỳ, vì xem ra có vẻ giống như phim tài liệu vô cùng quý giá. Giang Trạch Dân hỏi đạo diễn những cảnh ấy tìm ở đâu ra. Đạo diễn trả lời rằng, những cảnh đó về căn bản không phải tìm, mà là họ mới quay, sau khi qua xử lý kỹ thuật đặc biệt trông như phim tài liệu vậy. Giang rất hài lòng, sau khi xem xong kết luận rằng: “Thật với giả hòa trộn làm một – ngay cả tôi cũng bị lừa.”


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Giọng điệu tuyên truyền kinh điển của Trung Cộng là “vĩ đại, quang minh, chính xác”, hình tượng nhân vật phải “cao, đại, toàn”. Thuận theo những tội ác trong lịch sử của nó bị vạch trần ra ngày càng nhiều và lâm vào hết khó khăn hiện thực này tới khó khăn hiện thực khác, Trung Cộng ắt phải dùng những sách lược tuyên truyền khác nhau để biện hộ cho bản thân. Trong một vài bộ phim, những vị lãnh tụ của Trung Cộng được nhào nặn thành những nhân vật bi kịch có nhân cách cao thượng, nhưng đối mặt với tiến trình lịch sử vô tình nhưng là tất nhiên cũng đành phải lực bất tòng tâm, nhằm tìm kiếm sự tha thứ của khán giả đối với những tội ác mà chúng đã phạm trong lịch sử, đồng thời khiến khán giả cảm nhận được niềm vui của những người bình dị, từ đó mà an phận hơn với trật tự xã hội hiện tại.

Một thủ đoạn được sử dụng rộng rãi khác là “kích động tình cảm”. Đạo diễn của bộ phim “Đặng Tiểu Bình” tuyên bố rằng: “Chúng ta nhất định phải biến một loạt sáng tạo cách mạng quang minh vĩ đại của Đặng Tiểu Bình thành những làn sóng tình cảm to lớn, biến những chuyện lý tính thành tình cảm cảm tính!” Trong “Tiêu Dụ Lộc” và “Khổng Phồn Sâm” đều có những cảnh quay tang lễ mang tính quần chúng, dùng sự ai oán của dân chúng trên màn ảnh lan truyền tới khán giả, khiến khán giả phải cảm động khôn nguôi trước “đạo đức cao thượng” của nhân vật chính trong phim và tán đồng hình tượng của “đảng” mà họ đại biểu.

Thứ ba, phim giải trí cũng đảm nhận chức năng nhồi nhét Văn hóa đảng như vậy. Bình luận viên văn chương kỳ thứ năm của “Điện ảnh thông tấn” năm 1991 nói: “Là một loại hình sáng tác tinh thần, nó [chủ đề chính] không phải là khái niệm về lượng, không phải chỉ về mối quan hệ giữa số lượng tác phẩm nhiều hay số lượng tác phẩm ít, không phải chỉ ra mối quan hệ giữa đề tài này và đề tài kia, không chỉ không bài xích bất kỳ sáng tác nào, ngược lại yêu cầu thẩm thấu vào quá trình chỉ đạo sáng tác của tất cả các tác phẩm.”

Một vài bộ phim do khoác lên cái mác là phim giải trí, nên Văn hóa đảng trong đó ẩn giấu rất kỹ lưỡng, khi khán giả thưởng thức truyền kỳ lịch sử, các câu chuyện tình yêu, hoặc cảm thán trước các kỳ quan thị giác, cũng bị nhồi nhét quan niệm và hứng thú về Văn hóa đảng một cách vô thức. Bộ phim “Anh hùng” tiêu tốn 250 triệu nhân dân tệ, dùng ngôn ngữ điện ảnh hào nhoáng mỹ lệ, ca ngợi độc tài chuyên chế và sự chinh phạt bạo lực; hoàn cảnh bi thảm của người công nhân nghỉ việc trong bộ phim “Người mẹ xinh đẹp” được quy kết do nguyên nhân sinh lý (con trai của bà chủ bị điếc), gián tiếp che đậy sự thật là những chính sách bất cập của Trung Cộng gây ra tình cảnh thất nghiệp của công nhân tại thành thị trên diện rộng; nhiều hơn nữa những bộ phim biên đạo ra các câu chuyện đã thay Trung Cộng kích động tình cảm chủ nghĩa dân tộc trong nhân dân.

Thứ tư, Trung Cộng lợi dụng điện ảnh để hạ thấp văn hóa truyền thống và những nhân vật truyền thống. Trải qua thời gian dài bị tuyên truyền nhồi nhét Văn hóa đảng, tuyệt đại đa số người Trung Quốc đã không còn biết tới bộ mặt vốn có của văn hóa truyền thống và xã hội truyền thống. Kể từ những năm 80 trở lại đây, rất nhiều người làm điện ảnh mặc dù đã gắng hết sức phản kháng lại Văn hóa đảng, nhưng vì bản thân họ trưởng thành dưới sự thống trị của Đảng Cộng sản, do vậy họ chỉ biết dùng logic Văn hóa đảng để tưởng tượng ra diện mạo chân thực của xã hội truyền thống, do vậy xã hội truyền thống Trung Quốc trong rất nhiều bộ phim đều tập trung trên mình sự phong bế, áp bức, dã man, dường như chưa được khai hóa, tiến bộ như xã hội do Trung Cộng thống trị sau này. Kỳ thực, điều này cũng được suy luận từ logic của Thuyết tiến hóa, chính là dùng phương thức khác để lặp lại Văn hóa đảng.

Thứ năm, Văn hóa đảng không nơi nào không có mặt đã trở thành một nhân tố trong phong cách thẩm mỹ của điện ảnh, thấm đẫm trong tất cả các tác phẩm, lợi dụng tình cảm hoài niệm của khán giả để củng cố xiềng xích của Văn hóa đảng đối với tâm hồn con người.

So với những loại hình nghệ thuật khác, điện ảnh có đặc điểm của riêng mình. Ví như văn học, mỹ thuật, âm nhạc thể hiện điều gì, không thể hiện gì cũng đều có một không gian tự do rất lớn, nhưng điện ảnh lại cần thể hiện một cách toàn diện môi trường vật chất mà câu chuyện xảy ra. Do vậy bối cảnh và đạo cụ của những cảnh quay điện ảnh đều phải bố trí rất tỉ mỉ, khiến chúng có thể tái hiện lại hoàn cảnh điển hình của niên đại mà câu chuyện xảy ra. Ví như thể hiện hoàn cảnh thời Cách mạng Văn hóa phải có tượng của Mao, báo chữ lớn, trang phục quân đội màu xanh lục, sách đỏ, v.v.. Trung Quốc sau năm 1949 là thiên hạ một đảng của Đảng Cộng sản. Muốn thể hiện hoàn cảnh điển hình của thời kỳ này chỉ có thể sử dụng những vật phẩm, thanh âm và cảnh quay mang màu sắc Văn hóa đảng rất đậm nét. Những cảnh quay này thường gợi lên cảm xúc hoài niệm quá khứ của khán giả, khiến người xem cảm thấy mặc dù thời đại đó mang rất nhiều khuyết điểm, nhưng dù sao bản thân mình cũng đã từng bôn ba trong thời đại ấy, cũng giống như Puskin từng nói: “Những gì đã qua sẽ trở thành hồi ức tốt đẹp”, những ngày tháng đã qua cho dù thống khổ và lố bịch thế nào, nhưng khi ấy mọi người vẫn còn trẻ, giờ đây hồi tưởng lại khó tránh khỏi một loại cảm giác lãng mạn.

Ngày nay những bộ phim mang tính thuyết giáo thường gây phản cảm, do vậy phương thức “tiện tay mang theo” này đã trở thành một trong những hình thức chủ yếu giúp Trung Cộng nhồi nhét Văn hóa đảng một cách khách quan trong những tác phẩm điện ảnh. Nhân tố làm dấy khởi cảm xúc hoài niệm của con người thường là bối cảnh câu chuyện mà bộ phim muốn thể hiện; chỉ như vậy những tín tức mà những biểu tượng ấy mang theo mới có thể khiến mọi người không mang tâm lý đề phòng, tiến nhập vào đầu óc của khán giả không chút trở ngại.                 

Phim ảnh “Những năm tháng nhiệt tình sục sôi”, ca múa, văn học, thời trang, thậm chí quảng cáo (thôn Trung Quan tại Bắc Kinh đã từng có một biển quảng cáo lớn, phỏng theo phong cách tranh tuyên truyền cách mạng văn hóa), cuốn sách “Internet nhất định phải thực hiện”, du lịch (“du lịch màu đỏ”) v.v.. đều đang tham gia vào dàn hợp tấu “cảm xúc hoài niệm”, kỳ thực đều là đang giúp Trung Cộng củng cố xiềng xích Văn hóa đảng trong tâm hồn người Trung Quốc.

2) Lợi dụng các loại hình văn nghệ như kịch nói, ca múa, hát dân gian để nhồi nhét Văn hóa đảng

Rất nhiều hình thức tuyên truyền văn nghệ của Trung Cộng đều rập khuôn máy móc từ Liên Xô. Nhưng vì đối tượng nhồi nhét Văn hóa đảng là tất cả người Trung Quốc, nên Trung Cộng ắt phải lợi dụng tất cả những gì nguồn tài nguyên văn hóa dân tộc để thích ứng với khẩu vị của những nhóm người khác nhau, nhằm đạt được hiệu quả nhồi nhét tối đa. Ca múa, Kinh kịch, Thoại kịch, Bình kịch (thể loại kịch của người phía Bắc Trung Quốc), Dự kịch, Lã kịch, Việt kịch (kịch Quảng Đông), Tần khang, Ương Ca (ca múa dân tộc Hán), kịch Hoàng Mai, kịch Trống hoa, Nhị nhân truyền, trống lớn Kinh vận, bộ gõ Hà Bắc, Sơn Đông khoái thư, Tướng thanh, Bình Thư, không loại hình nào không bị Trung Cộng trộm dùng, Văn hóa đảng ký sinh vào những hình thức văn nghệ truyền thống này, lan truyền độc tố có thể nói vừa rộng vừa sâu. Tại đây chúng tôi chủ yếu nghiên cứu, thảo luận về vài vấn đề có liên quan.

(1) Ký sinh nền văn hóa dân tộc

Dù Trung Cộng đã mang lại cho dân tộc biết bao tai nạn như vậy nhưng sao lại có nhiều “bài hát dân ca” ca ngợi Đảng Cộng sản, Mao Trạch Đông như vậy? Điều này lẽ nào không phải thể hiện rằng Trung Cộng được lòng dân hay sao? Kỳ thực không phải vậy.

“Dầu mè, bắp cải, nếu ăn với đậu đũa thì sẽ bị chuột rút. Ba ngày không gặp mà nhớ tưởng như chết mất. Chao ôi hỡi ôi anh ba của tôi.”

Vào năm 1943, bài tình ca mấy trăm năm lưu truyền tại vùng cao nguyên Thiểm Tây này lại bị thay lời sửa thành “Đông phương hồng” (màu đỏ phương Đông), cây vừng, bắp cải, và cây đậu bị thay thế bằng phương Đông, thái dương và Mao Trạch Đông, từ đó được cất cao giọng hát tại Trung Quốc Đại lục, trở thành một trong những “Ca khúc chính” của Văn hóa đảng.

Những trường hợp theo kiểu “mượn xác hoàn hồn” như vậy nhiều không sao kể xiết, khá nổi tiếng là việc biến tiên cô Bạch Mao diệt ác khuyến thiện, giúp đỡ người nghèo thành Bạch Mao Nữ đại khổ thâm thù, diễn dịch thành chủ đề  “Xã hội cũ biến người thành quỷ, xã hội mới biến quỷ thành người”. Lời bài dân ca chị ba Lưu: “Rửa tay bờ ao cá cũng chết, bước tới núi xanh cây héo tàn” vốn là châm biếm những kẻ lòng dạ gian ác vong ân bội nghĩa, nay lại bị xuyên tạc thành: “Địa chủ họ Mạc nhà giàu có, tâm địa địa chủ hơn rắn độc. Rửa tay bờ ao cá cũng chết, bước tới núi xanh cây héo tàn”, biến chị ba Lưu thành người tiên phong trong đấu tranh giai cấp. Những vở “Kịch lịch sử tân biên” đủ màu sắc đã lợi dụng miệng của cổ nhân, tuyên truyền thế giới quan và lịch sử quan của Trung Cộng, như trong “Ép lên Lương Sơn”, Lâm Xung, “từ hận thù cá nhân Cao Cầu tới hận thù cả giai cấp bóc lột”: “phải xoay chuyển lại thế giới này, vậy thì phải súng đấu với súng, đao đấu với đao.”

Trải qua cuộc vận động 30 năm diệt chủng văn hóa, phá hoại toàn bộ nền văn hóa dân tộc đặc sắc, Trung Cộng lại tự xưng với nhân dân và thế giới rằng: nó đại diện cho văn hóa Trung Hoa chính thống, đồng thời không chút kiêng kỵ khi treo biển văn hóa truyền thống để chào bán những mặt hàng độc hại của Văn hóa đảng. Sở dĩ nó dám tự tung tự tác là vì thế giới còn chưa hiểu thấu Trung Quốc, nhân dân đa phần đã quên mất truyền thống của mình. Những phi thiên giả, Quan âm bồ tát giả và giai điệu, lời ca dân gian giả đã mất đi nội hàm kính Thần hướng thiện, cùng với tài xảo biện của các văn nhân tà đảng đã giải thích một cách dối trá, tô vẽ một đường viền đẹp đẽ cho sự thống trị hắc ám của tà đảng, đồng thời hủy hoại một cách kín đáo hơn, triệt để hơn chính tín của con người với Thần Phật, làm biến dị quan niệm đạo đức và phong vị nghệ thuật của con người.

(2) Tám trăm triệu người, tám vở kịch mẫu

Ca kịch truyền thống tiến hành giải thích một cách hình tượng những tư tưởng tình cảm tốt đẹp như “trung, hiếu, tiết, nghĩa”, đã góp phần to lớn trong việc duy trì tiêu chuẩn đạo đức xã hội. Từ thế kỷ 20 đến nay, những phần tử trí thức cấp tiến đã phê phán một cách vô lý thứ gọi là “lễ giáo phong kiến”, ca kịch truyền thống cũng gặp đại nạn bị sát phạt. Khi Lỗ Tấn bàn về cải cách ca kịch đã nói rằng: “[Cải cách] chẳng bao lâu cũng lại lắng xuống thôi, hý kịch vẫn cũ kỹ như vậy, thành lũy cũ vẫn cứng nhắc như vậy”. Nói một cách phiến diện nội dung và hình thức của ca kịch chính là một chỉnh thể, là bộ phận hữu cơ cấu tạo nên xã hội truyền thống, nếu sửa đổi bừa bãi thì không còn là ca kịch nữa.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Sau năm 1949, Trung Cộng “cải tạo cơ chế, cải tạo con người, cải tạo ca kịch”, giới ca kịch bị tàn phá tàn tạ. Những tài tử giai nhân, hoàng đế văn võ bá quan, nhân quả báo ứng bị phê phán, chỉ có những ca kịch đã cải biên, có thể đảm nhận chức năng nhồi nhét Văn hóa đảng của Trung Cộng mới được phép tồn tại. Kịch gia Ngô Tổ Quang bất bình chỉ ra: “Mấy vạn vở ca kịch cổ điển đã được biểu diễn một cách sống động phong phú nay chỉ còn lại thưa thớt vài vở ca kịch thoi thóp trên sân khấu”, “Đảng đừng nên lãnh đạo công tác văn nghệ quá sớm như vậy.” Những “vở kịch mẫu” được đưa ra vào thời Cách mạng Văn hóa là những tác phẩm đỉnh cao của Trung Cộng trong việc lợi dụng hình thức văn nghệ để nhồi nhét Văn hóa đảng.

Các vở kịch mẫu thường là kịch hiện đại: “Hồng đăng ký”, “Sa gia banh”, “Trí thủ uy hổ sơn”,  “Kỳ tập bạch hổ đoàn” (Tập kích đàn hổ trắng), “Hải Cảng” và kịch múa ba lê “Hồng sắc nương tử quân”, “Bạch Mao nữ”, cho đến hát đệm piano “Hồng đăng ký”, piano hợp tấu “Hoàng Hà”, nhạc giao hưởng “Sa gia banh”. Một vài vở kinh kịch và kịch múa này đã được sáng tác trước thời kỳ Cách mạng Văn hóa. Dưới sự chỉ huy trực tiếp của Giang Thanh, lấy “Ba nổi bật” là nguyên tắc chỉ đạo (Những nhân vật chính diện nổi bật trong tất cả các nhân vật, những nhân vật anh hùng nổi bật trong tất cả những nhân vật chính diện, những nhân vật anh hùng chủ yếu nổi bật trong những anh hùng nhân vật), cải tạo, đơn giản hóa những vở kịch ấy, khiến nó phù hợp hơn với nhu cầu hình thái ý thức của Trung Cộng. Trong Cách mạng Văn hóa, tuyệt đại đa số các tác phẩm phim ảnh và ca kịch bị coi là cỏ dại độc hại, cấm chiếu cấm diễn, những vở kịch mẫu và những vở kịch mẫu được quay thành phim dường như là hình thức văn nghệ hợp pháp duy nhất. Trong mười năm chúng được chiếu đi chiếu lại, phát sóng ép buộc nhân dân nghe nhìn. Ngày nay những người Trung Quốc hơn 40 tuổi, đều có những ký ức khắc cốt ghi tâm về những vở kịch mẫu này.

Từ khâu sáng tác tới khâu diễn xuất các vở kịch mẫu đều tập trung vào những nhân tài ưu tú nhất trong giới ca kịch thời bấy giờ, đều có những điểm đáng tán dương về mặt kỹ thuật. Nhưng những vở kịch mẫu lại bóp méo xuyên tạc lịch sử, tiêm nhiễm bạo lực, ca ngợi lòng thù hận, đạp đổ giá trị quan truyền thống, thần thánh hóa và thổi phồng những vị lãnh tụ và những kẻ được gọi là “nhân vật anh hùng” của Trung Cộng một cách không tiết chế, tất cả những điều này đều cho thấy rõ ràng rằng chúng phục vụ vì mục đích tà ác. Như vậy kỹ thuật đó càng hoàn mỹ, lại càng nguy hại.

Sau Cách mạng Văn hóa, những vở kịch mẫu này biến mất trên sân khấu suốt một khoảng thời gian. Nhưng 800 triệu người dân Trung Quốc quen nghe những vở kịch mẫu đã cung cấp đất diễn cho chúng hồi sinh. Tới tận ngày nay, một vài đoạn ca kịch trong những vở kịch mẫu vẫn được mọi người đàm luận say sưa, một số vở kịch mẫu được thổi phồng lên thành “kinh điển”, lại bước lên sân khấu một lần nữa, hoặc là được cải biên thành phim truyền hình trình chiếu công khai. Có thể thấy âm hồn của những vở kịch mẫu chưa hề tiêu tan, Văn hóa đảng vốn bị nhồi nhét từ những vở kịch mẫu cũng đã bắt rễ nẩy mầm trong lòng vài thế hệ người Trung Quốc.

Người thời nay có thể thấy rằng phương thức tuyên truyền qua những vở kịch mẫu vô cùng đơn giản và thô lậu, liếc mắt một cái là mọi người đều có thể nhìn thấu, nên sẽ không tạo thành ảnh hưởng quá lớn trong tâm lý mọi người. Nhưng Trung Cộng tuyên truyền theo kiểu liệu cơm gắp mắm. Cuộc sống và tư tưởng của người Trung Quốc trước những năm 80 tương đối đơn giản, có lẽ tuyệt đại đa số đều ý thức được rằng hình tượng như Dương Tử Vinh, A Khánh Tẩu, Lý Ngọc Hòa, Kha Tương v.v.. đã được nghệ thuật thổi phồng, nhưng hơn một nửa những nghệ sỹ đó lại không nghĩ được rằng, điều mà họ phản ánh, toàn bộ đều là điên đảo, xuyên tạc lịch sử.

Sau Cách mạng Văn hóa, nhân tài ca kịch và những người xem ca kịch lần lượt già đi. Thuận theo việc hình thức truyền thông mới và thói quen thẩm mỹ mới nổi, mà ca kịch dần dần bị cho ra rìa, Bộ Tuyên truyền của Trung Cộng cũng không còn coi trọng ca kịch như trước.

(3) Thói quen thẩm mỹ có tính chậm biến đổi

Gu thẩm mỹ có tính chậm tiến, tức là, để hình thành hoặc thay đổi một loại thói quen thẩm mỹ, thông thường khó khăn hơn nhiều so với việc hình thành hoặc thay đổi một lối tư duy lý tính. Do vậy, Trung Cộng lợi dụng hình thức văn nghệ để nhồi nhét Văn hóa đảng, dẫu rằng hiệu quả thu được có vẻ hơi chậm, không giống như giết người, làm vận động có thể lập tức tạo nên một bầu không khí khủng bố, cũng không giống tuyên truyền dư luận có thể nhanh chóng đạt được mục đích thống nhất tư tưởng; nhưng tuyên truyền văn nghệ có thể lôi kéo cảm tình của con người, bồi dưỡng nên một loại gu thẩm mỹ đặc thù, ăn sâu vào lòng người, mầm mống nguy hại của nó thâm sâu mà lâu dài.

Trước ngày 01 tháng 07 năm 2004, Trung Cộng đã đưa ra một loạt những buổi biểu diễn “Màu hồng kinh điển”, tiết mục bao gồm ca kịch “Hồng hồ xích vệ đội”, “kịch múa ba lê “Hồng sắc nương tử quân”, vở ca kịch “Chị Giang” cho đến những thể loại ca múa v.v.. nghe nói đều “rất được quần chúng hoan nghênh”, “phòng vé rất chạy”. Một khán giả được mời phỏng vấn nói: “Tác phẩm này đã từng bầu bạn với tôi trong suốt những năm tháng quan trọng nhất trong cuộc đời mình, tiếng hát “Hồng Hồ thủy lãng đả lãng” (Làn sóng xô nhau trên sông Hồng) đã bầu bạn cùng chúng tôi trải qua những ngày tháng ấy, vào ngày 01 tháng 07, một ngày đặc biệt vậy, xem lại vở kịch kinh điển này khiến tôi dường như trở về những năm tháng trước kia.”

Vị khán giả này có lẽ không hề nói dối. Nhưng, nghệ thuật và gu thẩm mỹ không hề tồn tại trong hư vô. Trong xã hội bị chính trị hóa cao độ như Cộng sản Trung Quốc, một lượng lớn ca khúc đều có mang theo màu sắc Văn hóa đảng mãnh liệt, nếu không thì khó có thể lý giải vì sao “đảng” lại nhiệt tình tổ chức những “cuộc thi ca hát” và “hội diễn văn nghệ” như vậy trong những ngày lễ và ngày kỷ niệm.

Người ngày xưa hễ mở miệng liền nói: “Không có Đảng Cộng sản thì không có Trung Quốc mới”, “Vùng trời trong khu giải phóng là khung trời rạng rỡ”, “Khói lửa cuồn cuộn ngút trời hát tên những vị anh hùng”, “Sóng trải rộng trên dòng sông lớn”, còn ngày nay là “Một ông lão vẽ một vòng tròn trên bờ biển phía Nam”, “Người dẫn đường tiếp bước đàn anh, dẫn dắt chúng ta bước vào thời đại mới”. Những bài hát như “Màu hồng phương Đông”, “Bài ca tổ quốc”, “Liên khúc trường chinh”, “Hát bài sơn ca dâng đảng”, “Ôi đảng, mẹ thân yêu ơi”, “Cuộc hành trình trên biển cả mênh mông trông cậy vào người cầm lái”, “Mao chủ tịch đến với nông trại chúng tôi”, “Mặt trời đỏ nhất, Mao chủ tịch thân yêu nhất”, “Lời của Mao Chủ tịch khắc ghi trong tim”… đại đa số đều vận dụng phong cách của những làn điệu dân ca, âm điệu du dương, dễ nhớ, khiến mọi người hát không biết chán. Lòng trung thành với lãnh tụ, tình yêu tha thiết đối với đảng đã âm thầm bị ép nhập vào tiềm ý thức con người khi họ ngâm nga những khúc hát ấy. Những ca khúc này khởi tác dụng nhồi nhét Văn hóa đảng không hề thua kém so với “Tứ quyển” (Mao tuyển).

Những người xuất ngoại, chỉ cần nghĩ tới việc thay đổi khẩu vị của mình cũng thấy thật khó khăn biết chừng nào, như vậy đủ để biết rằng thanh trừ tâm lý thẩm mỹ tà ác mà Đảng Cộng sản đã nuôi dưỡng khó khăn biết chừng nào.

(4) Lợi dụng tác dụng “liên đới tình cảm”

“Liên đới tình cảm”, nói một cách đơn giản, chính là “yêu ai yêu cả đường đi lối về”, bởi vì nếu như thích thưởng thức sự vật A, thì cũng sẽ thích thưởng thức những sự vật B, C, D có liên quan. Ngành quảng cáo thông thường mời các minh tinh trong làng giải trí đến quảng cáo cho thương hiệu của họ, những người hâm mộ vì sùng bái minh tinh này nên cũng thích những sản phẩm mà họ quảng cáo mà không cần lựa chọn, đây chính là hiệu quả của “liên đới tình cảm”

“Nước sông Hồng, con sóng xô nhau, quê hương ta bên bờ sông Hồng. Sáng sớm thuyền đi quăng lưới, tối cá đầy khoang. Bốn mùa vịt hoang với rễ sen, lúa vụ mùa thu thơm trải đầy ghe. Ai cũng nói thiên đường đẹp, sao sánh với làng cơm cá sông Hồng của ta! Nước sông Hồng, dài thật dài, mặt trời mọc chiếu ánh vàng kim. Ân tình của Đảng Cộng sản sâu hơn biển Đông, đời sống của ngư dân, mỗi năm càng thêm khởi sắc.”

Sông núi mỹ lệ, sản vật phong phú trên mảnh đất Trung Hoa, tuyệt không có quan hệ gì với Đảng Cộng sản, nếu có, chỉ là quan hệ bị phá hoại. Nhưng chỉ cần hát như vậy, hai việc không có chút quan hệ logic nào đã được cưỡng chế thành một mối quan hệ, bởi vì con người yêu phong cảnh thiên nhiên, sản vật của tổ quốc, nên dường như cũng lấp đầy trong mình ân tình với Đảng Cộng sản. Những ví dụ như vậy nhiều không kể xiết.

(5)Tác dụng đặc biệt của tướng thanh, khúc nghệ, tiểu phẩm

Trung Cộng phát động vận động chính trị không phải là bắt đầu từ việc nói lên sự thật, giảng đạo lý (bởi vì nếu có thể nói lên sự thật, giảng đạo lý, nó cũng không cần phát động những cuộc vận động chính trị), mà thông thường là tiến hành công kích con người trước, dùng sức tưởng tượng thô bỉ để tạo ra những câu chuyện yêu ma phù hợp với tâm lý đen tối của con người, từ đó đạt được mục đích kích động thù hận. Thực tiễn chứng minh rằng, cách vu cáo như vậy, vô cùng hữu hiệu, trăm lần như một.

Ví dụ vào thời Cách mạng Văn hóa, rất nhiều người căn bản không hiểu vì sao Lưu Thiếu Kỳ lại là kẻ phản bội, nội gian, kẻ phản bội giai cấp công nhân, cho nên Trung Cộng truyền bá lời bịa đặt, nói rằng vợ của Lưu là Vương Quang Mỹ làm đẹp da bằng cách tắm bằng sữa bò. Trong những năm tháng hàng hóa khan hiếm ấy, được uống sữa bò đã là khá lắm, còn người nhà Lưu Thiếu Kỳ lại tắm bằng sữa bò! Cho nên mọi người căn bản không cần biết vì sao Lưu Thiếu Kỳ lại là kẻ phản bội, nội gian, phản bội giai cấp công nhân, nhưng vẫn vô cùng căm hận, khinh bỉ y.

Cũng là đạo lý như vậy, khúc nghệ, tướng thanh, tiểu phẩm và những loại hình văn nghệ khác đã phát huy một tác dụng đặc biệt trong việc hạ thấp văn hóa truyền thống và nhân vật truyền thống, đả kích kẻ thù của Trung Cộng.

Vào những năm 50, rất nhiều những vở kịch tướng thanh đều nói về việc phá trừ “mê tín phong kiến”, rất nhiều quan niệm và phong tục trong văn hóa truyền thống đều bị châm biếm, chế giễu, ví như phong tục kết hôn, quan niệm âm dương, tín ngưỡng tôn giáo v.v.. Rất nhiều người đều nhớ rằng trong một vở kịch tướng thanh được lưu truyền rộng rãi, một bà lão thỉnh về một pho tượng Thần, chàng trai trẻ bên hàng xóm hỏi: “Bác mua mất bao nhiêu tiền”, bà lão giáo huấn cậu ta: “không nên dùng từ ‘mua’, phải dùng từ ‘thỉnh’, chàng trai trẻ bèn nói chữa: “Vậy bác dùng bao nhiêu tiền mới thỉnh về được”? Bà lão đau lòng thốt lên: “Ai da, đùa kiểu gì vậy, 8 hào!” Thiện nam tín nữ bị bôi nhọ thành chồng ngu vợ dốt chỉ biết đến công lợi dung tục.

Trong “Đêm hội liên hoan mùa xuân” năm 2001 của Đài truyền hình Trung Ương có một tiểu phẩm tên là “Mại quải”, đã gián tiếp phỉ báng Pháp Luân Công. Sau khi tiểu phẩm được biểu diễn, báo chí các nơi thi nhau phát biểu, bình luận, mượn cớ này đả kích Pháp Luân Công. Ví như bài viết trên trang “Kiểm tra nhật báo”: “Từ  tiểu phẩm ‘Mại quải’ trong đêm hội đã thấy được thủ đoạn của Pháp Luân Công”, tiết mục bình luận cuối xuân của “Vân Nam nhật báo” giữa chừng cũng đề cập đến “Mại quải”, nói “quất thẳng vào Pháp Luân Công một trận, diễn xuất rất đạt”, bài viết “Ám thị tâm lý từ ‘Mại Quải’ của Triệu Bản Sơn thấy được tâm lý ám thị” đã được truyền tải một lượng lớn trên mạng cũng nhúng tay vào phê phán Pháp Luân Công.

Thủ đoạn này nguy hại ở chỗ, nó không nói thẳng rằng sự vật hoặc quan điểm nào là sai, mà là khiến nó trở nên hoang đường, lố bịch, khiến con người căn bản không có cơ hội suy xét một cách lý trí về sự việc này là đúng hay sai. Lời biện bạch của người bị bôi nhọ, bị nhấn chìm trong tiếng cười vang dội của khán giả trong hội trường.

(6) Trong các tác phẩm văn nghệ của Trung Cộng thấm đẫm sự kích động và tính tranh đấu mãnh liệt

Khổng Tử từng nói: “Trịnh thanh dâm”, ý nói là: âm nhạc tại đất Trịnh này, ngoài việc khiến cảm xúc của con người trào dâng, nó còn là một loại nghệ thuật khoa trương giả dối, có ảnh hưởng tiêu cực tới đạo đức con người. Người Trung Quốc ngày xưa coi trọng tác dụng của văn nghệ đối với nhân tâm thế đạo, chú trọng tiết chế tình cảm và dục vọng một cách lý trí, dùng nghệ thuật giúp nhân tính trở nên hài hòa.

Lý luận tuyên truyền và những tác phẩm văn nghệ của Trung Cộng thấm đẫm sự kích động tình cảm và tính đấu tranh rất mãnh liệt: nguyên tắc của các vở kịch mẫu là “Ba nổi bật”, miêu tả nhân vật cần phải “cao, đại, toàn”, phong cách mà những ca khúc cách mạng thể hiện là “cao, nhanh, vang”, chưa hết, khi phổ nhạc còn phải thêm vào “khí phách hào hùng”, “không khí sục sôi”, “ý chí trào dâng”… Giống như người quen uống rượu mạnh không thể nào cảm nhận được hương vị của trà; tai nghe quen thứ âm nhạc chát chúa phát ra từ kim loại nặng thì rất khó thưởng thức ca khúc đàn cổ tao nhã, người đã quen với nghệ thuật của Trung Cộng cũng mất đi khẩu vị thông thường với nghệ thuật, cho rằng sự kích động và tính đấu tranh trong nghệ thuật của Trung Cộng mới là trạng thái bình thường của nhân loại, đâu ngờ rằng đó chính là biểu hiện ma tính của con người.

Một ví dụ khác là cách vận dụng màu sắc. Màu đỏ là màu của máu. Trong văn nghệ hoặc cuộc sống  truyền thống, màu đỏ chỉ có thể được dùng điểm xuyết, không thể dùng trên diện rộng, bởi vì nó sẽ khiến cho các màu khác không nổi bật lên được. Nhưng trên sân khấu nghệ thuật của Trung Cộng trang phục màu đỏ, phông nền màu đỏ, cờ đỏ, đèn lồng đỏ, đạo cụ đỏ, toàn bộ sân khấu là một màu đỏ. Kỳ thực, Trung Cộng đang kích động, dẫn dắt ma tính của con người, đang khiến con người thích ứng với trạng thái ma tính này.

Trạng thái không lý tính này là điều kiện tâm lý xã hội mà Trung Cộng có thể tồn tại. Mặc dù hiện nay Trung Cộng không nêu ra lý luận “cách mạng không ngừng”, nhưng bản chất của nó đã quyết định rằng nó hấp thu năng lượng trong đấu tranh, coi cách mạng là trạng thái thông thường của xã hội, coi vận động là cơm ăn, coi việc vật lộn với nghèo đói là cuộc sống, hễ gặp nguy hiểm, điều đầu tiên nó nghĩ đến là tạo ra một kẻ thù, rồi kích động người đấu tranh với kẻ thù giả tưởng này. Nếu như người Trung Quốc đều hòa bình, lý tính mà quyết định mình nên làm gì, không nên làm gì thì sẽ không có ai mù quáng chạy theo Trung Cộng, Trung Cộng cũng sẽ không còn đất diễn. Do đó có thể thấy, khiến khán giả nhiệt huyết sục sôi, kích động tình cảm trào dâng là một trong những chức năng quan trọng trong văn nghệ đảng. Trên đây đã phân tích một cách đơn giản một vài vấn đề được đề cập về việc Trung Cộng lợi dụng các loại hình văn nghệ để nhồi nhét Văn hóa đảng. Tin rằng mỗi độc giả đọc một mà hiểu mười, tự mình có thể đưa ra hàng loạt ví dụ.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

 ========

Kết luận

Tóm lại, Trung Cộng nhồi nhét Văn hóa đảng một cách cưỡng chế, mang tính chế độ, tính hệ thống, tính ngụy thiện v.v.. Chúng tôi xin phân tích một lần nữa ba đặc trưng chủ yếu trong thủ đoạn nhồi nhét của Trung Cộng.

Thứ nhất, Văn hóa đảng là một hệ thống tự mình thích ứng do Trung Cộng khống chế về tổng quan, do vậy thủ đoạn nhồi nhét của Trung Cộng cũng mang đặc trưng tự mình thích ứng. Trung Cộng chỉ cần nắm giữ chính quyền, thiết lập một điều kiện ban đầu cực đơn giản thì những công cụ được dùng để tuyên truyền Văn hóa đảng đã tự động sinh ra một cách đều đặn.

Năm 1964 Mao Trạch Đông đã từng nói: “Phải đuổi hết những người làm ca kịch, viết thơ, nhà văn, nhà viết kịch ra khỏi thành phố, đuổi hết tất cả … không đi thì không thể viết nổi thứ gì, ai không đi không cho ăn cơm, ai đi thì cho ăn”. Sách lý luận văn nghệ của Trung Cộng có thể nói là chồng chất đầy kho, không cuốn nào nói rõ triệt để được câu này: Ai không nghe lời không cho ăn cơm. Trung Cộng nắm giữ mọi tư liệu sinh hoạt và sản xuất, nắm giữ quyền sinh quyền sát trong tay đối với tất cả người Trung Quốc, tất cả mọi người đều phải cúi đầu vâng lệnh. Những phần tử trí thức và các nghệ thuật gia bị lừa dối trong các hiệp hội văn học và nghệ thuật, hiệp hội các tác gia, hiệp hội hý kịch, hiệp hội văn nghệ, hiệp hội mỹ thuật, hiệp hội âm nhạc, dưới cái mái hiên thấp cũng đành phải cúi đầu. Cho nên “đảng” không cần phải tự mình động thủ tạo ra Văn hóa đảng, đảng chỉ cần quyết định “kiên trì điều gì, phản đối điều gì”, các công cụ tuyên truyền Văn hóa đảng sẽ được ùn ùn tạo ra. Cũng như vậy, mỗi lần tình hình trong, ngoài nước phát sinh biến động khiến Trung Cộng buộc phải điều chỉnh chính sách, nó chỉ cần phát ra một mệnh lệnh đơn giản trong Bộ Tuyên truyền, Bộ Tuyên truyền sẽ có thể thực hiện ý đồ của cấp trên một cách “sáng tạo”. Những học viện truyền bá, học viện thông tin, học viện nghệ thuật trong các trường cao đẳng, đại học, học viện lại càng có thể sản xuất hàng loạt những “Tin tức học của Chủ nghĩa xã hội”, “Dư luận học Chủ nghĩa Marx-Lenin”, “văn nghệ học đặc sắc của Trung Quốc” v.v.. để biện hộ và trợ giúp Bộ Tuyên truyền.

Thứ hai, Trung Cộng dựa vào bạo lực, dùng lợi ích làm mồi nhử để nhồi nhét Văn hóa đảng. Đối với những người ngoan ngoãn nghe theo, thì Trung Cộng thường ban cho chút ân huệ, nhưng đối với những người có tư tưởng độc lập, không muốn nhất trí với “đảng”, chính sách của Trung Cộng lại là “đấu tranh tàn khốc, đả kích vô tình”. Dưới sự thống trị của Trung Cộng, từng giây từng phút con người đều có thể cảm nhận được sự uy hiếp cự đại của “cú đấm thép của giai cấp vô sản”, do vậy nếu tin vào cái lưỡi không xương của Trung Cộng sẽ phải gánh chịu áp lực tâm lý rất lớn. Ở một phương diện khác, nếu một người có thể tiếp thu chân tướng, nhất định sẽ muốn làm chút gì đó để thay đổi hiện trạng, nhưng thông thường lại không có dũng khí lớn như vậy, mâu thuẫn tâm lý này sẽ khiến họ vô cùng thống khổ. Với chút ân huệ được bố thí và uy quyền của Trung Cộng, vì cầu toàn và cân bằng tâm lý bản thân, mọi người đành rút lui sau khi biết chân tướng, chủ động phong tỏa bản thân trong cái bẫy lừa dối của Trung Cộng. Do vậy, rất nhiều khi không phải con người không nhìn thấu những lời giả dối của Trung Cộng, cũng không phải do không có cơ hội tìm hiểu chân tướng mà là không dám tiếp thu chân tướng, thà tin vào lời dối trá của Trung Cộng, phối hợp với Trung Cộng lừa dối lương tâm bản thân mình để đổi lấy một chút cảm giác an toàn đáng thương và chút yên ổn giả tạo của lương tâm.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Thứ ba, Văn hóa đảng là một loại văn hóa ký sinh, do vậy những thủ đoạn nhồi nhét của Trung Cộng cũng có một vài hình thức biểu hiện trên bề mặt của văn hóa dân tộc. Ở trên chúng ta đã tìm hiểu Văn hóa đảng đã ký sinh lên văn hóa dân tộc như thế nào, nó tăng cường tính lừa dối, tăng cường hiệu quả tuyên truyền. Một hiệu quả nữa của việc ký sinh là, khi tội ác của Trung Cộng bị phơi bày ngày càng nhiều, Trung Cộng có thể đổ hết trách nhiệm lên văn hóa truyền thống một cách dễ dàng, như thứ gọi là “tàn dư độc hại của xã hội phong kiến” đã trở thành trách nhiệm mà cách mạng văn hóa cần xử lý. Điều này cũng giống như là Trương Tam giết chết Lý Tứ, sau đó khoác áo của Lý Tứ đi phạm tội, kết quả người ta nhầm rằng kẻ làm việc xấu là Lý Tứ, cho nên quật mộ của Lý Tứ lên mà quất, nhưng lại để kẻ xấu thực sự nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật.

Chúng ta không thể không lấy làm tiếc mà công nhận rằng, công trình cự đại nhồi nhét Văn hóa đảng của Trung Cộng đã vô cùng thành công. Bởi vì, thứ nhất, sự nhồi nhét của Trung Cộng được hậu thuẫn bởi những thủ đoạn bạo lực, thứ mà nó gọi là cải tạo tư tưởng không chỉ đơn giản là cải tạo tư tưởng, rất nhiều lần, nó còn cải tạo cả thân xác của con người (đấu tố, cải tạo lao động, bỏ tù cho đến sát hại); thứ hai, Trung Cộng lũng đoạn tất cả các nguồn tài nguyên của xã hội, dưới sự thống trị của Trung Cộng, nếu muốn nổi trội hơn người, đạt được thành tựu, thì không thể không cúi đầu vâng lệnh Trung Cộng, do vậy những nhân tài ưu tú trong các ngành các nghề đa số là bị chiêu nạp để phục vụ cho sự thống trị của nó; thứ ba, trong thời gian mấy chục năm Trung Cộng đã tạo ra một môi trường phong bế (hiện nay là bán phong bế), mọi người không thể lấy được tin tức đầy đủ từ bên ngoài; thứ tư, “công tác chính trị tư tưởng” của nó không chỉ dừng lại trên sách vở mà còn đưa tất cả mọi người vào cái “lò luyện lớn của cách mạng”, sử dụng những cuộc vận động chính trị liên tiếp khiến mọi người lưu lại ấn tượng khắc cốt ghi tâm; thứ năm, Trung Cộng tạo ra một  xã hội hiện thực dựa vào những thứ lý luận của Marx-Lenin-Mao, ngược lại, lại khiến thứ lý luận đó có biểu hiện dường như chính xác. Ví dụ quan niệm đấu tranh được thiết lập qua mấy chục năm không ngừng đấu tranh tàn khốc, đấu tranh đã trở thành hiện thực trong cuộc sống của bách tính nhân dân tại Trung Quốc, do vậy triết học đấu tranh dường như cũng đúng.

Con người có thể là người, bởi vì có chuẩn tắc đạo đức, hành vi quy phạm và tư tưởng cảm tình của con người. Đảng Cộng sản cướp đoạt toàn bộ nguồn lực của quốc gia, dùng trăm phương nghìn kế bóp chết tính thuần khiết, lương thiện của con người, nhồi nhét tư tưởng tình cảm biến dị vào đầu óc con người. Nếu ví tư tưởng của con người như một cái bình, vậy thì tính chất của cái bình đó được quyết định bởi thứ nó chứa bên trong: rót vào mật ong thì nó là cái bình mật ong, rót vào thuốc độc thì nó là cái bình thuốc độc. Mỗi người Trung Quốc nên suy nghĩ một chút: về vấn đề trọng đại của đời người, điều quyết định sự lựa chọn của các bạn là bản tính của các bạn hay là cái quan niệm bị Trung Cộng nhồi nhét? Những quan niệm bị tà đảng nhồi nhét đó sẽ đưa các bạn đến tương lai ra sao?

Thường nói “quê cũ khó rời”. Một người sống tại một môi trường trong một thời gian lâu sẽ nảy sinh tình cảm quyến luyến với hoàn cảnh đó. Cũng vậy, những người chìm trong Văn hóa đảng một thời gian dài cũng sẽ sinh ra sự lệ thuộc về tinh thần vào thứ văn hóa này. Khi chúng tôi chỉ ra sự tà ác và giả dối của thứ văn hóa này, đồng thời bắt đầu thanh trừ nó có người thậm chí còn cảm thấy thất vọng hụt hẫng.

Nhưng, Văn hóa đảng là hoàn cảnh nhân văn mà Trung Cộng tồn tại. Hôm nay, khi chúng ta thấy rõ những tội ác tày trời mà Trung Cộng đã phạm đối với dân tộc Trung Hoa, thấy rằng Trung Cộng thực sự đang đưa cả dân tộc vào vực thẳm vạn kiếp không lối thoát, chúng ta không thể không giật mình thảng thốt và hỏi lương tri của mình: Nhược điểm nào khiến chúng ta dung thứ nhẫn chịu để Trung Cộng tàn sát bừa bãi tại Trung Quốc? Tình hình hiện nay còn cho phép chúng ta tiếp tục dung nhẫn nó hay không? Vấn đề này, đối với tương lai của dân tộc chúng ta, đối với tương lai của mỗi cá nhân chúng ta, đều vô cùng trọng yếu.

Hãy ngẫm lại về Văn hóa đảng, giải thể Văn hóa đảng, khi đó chúng ta mới có thể bước tới một ngày mai tươi sáng.


Bản tiếng Hán:

http://www.epochtimes.com/gb/6/10/5/n1476768.htm

http://www.epochtimes.com/gb/6/10/8/n1479726.htm

http://www.epochtimes.com/gb/6/10/10/n1481763.htm

Chú thích:

[1] Lưu Thiếu Kỳ từng là Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1959-1968), Phó Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc (1956-1966).

[2] Từ thời Trung cổ đã hình thành ba loại tập đoàn quyền lực gồm Lập pháp, Tư pháp và Hành pháp, tất nhiên dưới những tên gọi khác nhau tùy thời kỳ và khu vực, và cả ba nhóm này đều thuộc lĩnh vực trị quốc tức dưới quyền năng của chính quyền cai trị. Đến khi thế kỷ XX nâng cao vị thế của báo chí và truyền thông, người ta mới “phong cho” báo chí và truyền thông danh xưng quyền lực thứ tư.

[3] Lương Hiệu là bút danh một nhóm sáng tác được hợp thành từ các học giả của hai trường Đại học Bắc Kinh và Đại học Thanh Hoa, chuyên phê phán trong thời Cách mạng Văn hóa.

[4] Lý Triệu Tinh là Bộ trưởng ngoại giao Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa từ năm 2003 đến năm 2007

Tần Cương là nhà ngoại giao, hiện đang là Phái viên Đại sứ quán Trung Quốc tại Luân Đôn. Ông từng là người phát ngôn Bộ Ngoại giao Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa từ năm 2005 đến 2010.

[5] Ngụy Kinh Sinh là nhà hoạt động trong cuộc “Vận động Dân chủ ở Trung quốc”, nổi tiếng nhất về việc viết tài liệu “Hiện đại hóa thứ 5” trên “Bức tường Dân chủ” ở Bắc Kinh năm 1978. Ông nổi tiếng vì đã bị chính quyền Trung Quốc bắt và trải qua 15 năm trong nhà tù do tài liệu kể trên.

[6] Vũ Huấn là một người ăn mày và nhà hoạt động giáo dục danh tiếng thời nhà Thanh. Với việc đi ăn xin trong hơn 30 năm để góp tiền thành lập trường học dành cho những người nghèo túng, ông được coi như một đại anh hùng, các sử sách thời cận đại xưng tụng ông là “Khoáng thế kỳ nhân”

Hồ Thích là một nhà ngoại giao, nhà văn tiểu luận và nhà triết học Trung Quốc. Ngày nay ông được công nhận rộng rãi là người có những góp to lớn cho chủ nghĩa tự do và cải cách ngôn ngữ ở Trung Quốc.

[7] Thần khúc (La divina commedia) là trường ca của nhà thơ Ý thời Trung cổ Dante Alighieri (1265-1321), là một trong số những nhà thơ kiệt xuất nhất của nước Ý và thế giới. Tác phẩm được sáng tác trong thời gian Dante bị trục xuất khỏi quê hương Florence, từ khoảng năm 1308 đến khi ông mất năm 1321, được viết bằng tiếng Ý gồm 100 khổ thơ với 14.226 câu thơ, được chia làm ba phần, mỗi phần bao gồm 33 khổ thơ: Địa ngục (Inferno), Luyện ngục (Purgatorio) và Thiên đường (Paradiso). Tác phẩm được xếp vào hàng những bản trường ca vĩ đại nhất của nền văn học thế giới.

[8] Thiên đường đã mất (Paradise Lost) – là một thiên sử thi bằng thơ không vần (blank verse) của John Milton, dựa theo cốt truyện của Kinh Thánh, kể về lịch sử của con người đầu tiên – Adam.

[9] Hành trình vĩnh cửu (Pilgrim Progress) là một trong những tác phẩm Cơ đốc kinh điển của tác giả John Bunyan.

[10] Aristoteles (phiên âm trong tiếng Việt là Aritstốt) là một nhà triết học và bác học thời Hy Lạp cổ đại, học trò của Platon và thầy dạy của Alexandros Đại đế. Di bút của ông bao gồm nhiều lãnh vực như vật lý học, siêu hình học, thi văn, kịch nghệ, âm nhạc, luận lý học, tu từ học (rhetoric), ngôn ngữ học, chính trị học, đạo đức học, sinh học, và động vật học. Ông được xem là người đặt nền móng cho môn luận lý học. Ông cũng thiết lập một phương cách tiếp cận với triết học bắt đầu bằng quan sát và trải nghiệm trước khi đi tới tư duy trừu tượng. Cùng với Platon và Socrates, Aristoteles là một trong ba cột trụ của văn minh Hy Lạp cổ đại.

[11] Horace (tên đầy đủ bằng Latin: Quintus Horatius Flaccus) là nhà thơ của thế kỷ vàng trong văn học La Mã. Ông là hiện thân của sự khôn ngoan, hiểu biết mọi thứ và không ngạc nhiên trước bất cứ điều gì, tiếp nhận cả thành công cũng như thất bại một cách tĩnh lặng, biết từ chối cái không hợp với sức mình, biết vui với những niềm vui bình thường, coi khinh thói bon chen của người trần, bền bỉ trong việc tự hoàn thiện bản thân để đạt đến sự tĩnh lặng trong tâm hồn và tự do cho ý chí. Nguyên tắc “trung dung” của Horace đã trở thành lời có cánh, mang trong mình lời di huấn của văn minh cổ đại đối với Thời đại mới.

[12] Thương Ưởng (390 TCN-338 TCN), còn gọi là Vệ Ưởng, là nhà chính trị gia, pháp gia nổi tiếng, làm tướng quốc nước Tần mười năm. Thương Ưởng là vị tướng quốc tài năng, đại biểu xuất sắc của tư tưởng Pháp gia. Những cải cách của ông đã làm cho nước Tần trở nên lớn mạnh, mở đường cho việc thống nhất Trung Quốc của Tần Thủy Hoàng sau này. Tuy nhiên hình pháp của ông quá khắc nghiệt, ít dùng ân đức, nên không được lòng bọn quý tộc, dẫn tới việc chết thảm.

[13] Hồng Tú Toàn là lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa nông dân Thái Bình Thiên Quốc chống lại triều đình Mãn Thanh. Ông tự xưng là Thiên Vương, thành lập Thái Bình Thiên Quốc và từng chiếm lĩnh nhiều vùng đất rộng lớn ở miền nam Trung Quốc.

Hoàng Sào là thủ lĩnh của khởi nghĩa Hoàng Sào diễn ra trong khoảng thời gian từ 874 đến 884. Khởi nghĩa Hoàng Sào khiến nhà Đường suy yếu nghiêm trọng rồi sụp đổ trong vòng vài thập niên sau đó.

Trương Hiến Trung là lãnh tụ khởi nghĩa nông dân cuối đời nhà Minh, từng kiến lập chính quyền Đại Tây, đồng thời với Lý Tự Thành, người kiến lập chính quyền Đại Thuận.

[14] Bè lũ bốn tên: gồm vợ Mao Trạch Đông là Giang Thanh (1913-1991), viên chức Ban Tuyên giáo Thượng Hải Trương Xuân Kiều (1917-1991), nhà phê bình văn học Diệu Văn Nguyên (1931-), và cảnh vệ Thượng Hải Vương Hồng Văn (1935-1992). Họ thâu đoạt quyền hành thời Cách mạng Văn hoá (1966-1976) và lũng đoạn chính trị Trung Quốc đầu những năm thập kỷ 1970.

[15] Dòng ý thức là một thuật ngữ văn học chỉ một xu hướng sáng tạo văn học (chủ yếu là văn xuôi) khởi điểm từ đầu thế kỷ 20, tái hiện trực tiếp đời sống nội tâm, xúc cảm và liên tưởng ở con người. Thuật ngữ tiếng Anh “stream of consciousness” được nhà tâm lý học người Mỹ William James đưa ra trong cuốn The Principles of Psychology (Cơ sở tâm lý học) xuất bản năm 1890, khi cho rằng ý thức là một dòng chảy, một dòng sông mà ở đó những tư tưởng, cảm xúc, liên tưởng bất chợt luôn lấn át nhau và đan bện một cách kỳ quặc, “phi logic”. Ở một phương diện khác, có thể nói dòng ý thức là mức tới hạn, là dạng cực đoan của độc thoại nội tâm.

[16] Ngô Quảng là thủ lĩnh khởi nghĩa nông dân cuối thời nhà Tần trong lịch sử Trung Quốc. Ông là người trợ giúp đắc lực cho Trần Thắng châm ngòi cho cuộc chiến chống lại sự cai trị của nhà Tần, cuối cùng làm cho nhà Tần sụp đổ.

[17] 25 bộ sử Trung Quốc gồm: Sử ký, Hán thư, Hậu Hán thư, Tam Quốc chí, Tấn thư, Tống thư, Nam Tề thư, Lương thư, Trần thư, Nguỵ thư, Bắc Tề thư, Chu thư, Tuỳ thư, Nam sử, Bắc sử, Đường thư, Tân Đường thư, Ngũ Đại sử, Tân Ngũ Đại sử, Tống sử, Liêu sử, Kim sử, Nguyên sử, Minh sử, Tân Nguyên sử.

[18] Chu Bái Bì là ác bá địa chủ dưới ngòi bút của “tác giả nổi tiếng” Cao Ngọc Bảo trong tác phẩm ‘Tiếng gà gáy lúc nửa đêm’. Chu Bái Bì vì để đám người làm làm nhiều nghỉ ít, nửa đêm canh ba học tiếng gà gáy để bắt mọi người dậy làm việc (Trong văn bản khế ước bán thân quy định rõ ràng: gà gáy phải dậy làm việc), bởi vì trước đây không có đồng hồ hoặc công cụ tính thời gian, đám người làm rời giường từ khi gà gáy làm việc cho đến khi mặt trời lặn mới kết thúc công việc, Chu Bái Bì gáy lúc nửa đêm, làm cho những người làm này phải rời giường trước thời gian vì hắn làm việc một nắng hai sương.

[19] Janko là nhân vật chính trong truyện ngắn Janko muzykant (Janko – nhạc công, 1879) của nhà văn Ba Lan Henryk Sienkiewicz.

[20] Willy Wonka là nhân vật chính trong truyện “Charlie và nhà máy sôcôla” của nhà văn của Roald Dahl.

[21] Jules là nhân vật chính trong truyện ngắn “Chú tôi” (Mon oncle Jules) của một nhà văn Pháp của thế kỷ thứ XIX, ông Guy de Maupassant.

[22] Hồ lô tăng phán đoán hồ lô án – tên hồi bốn trong tác phẩm Hồng Lâu Mộng.

[23] “Khúc nghệ” là cách gọi chung của các loại nghệ thuật hát nói, được hình thành từ văn học truyền miệng và nghệ thuật hát nói dân gian cổ đại. Hình thức nghệ thuật chính là thông qua phương thức biểu diễn nói và hát phối hợp động tác để kể lại câu chuyện, bày tỏ tư tưởng và tình cảm, phản ánh đời sống xã hội. Hiện nay có hơn 300 loại nghệ thuật khúc nghệ đang phổ biến tại Trung Quốc, chủ yếu bao gồm tướng thanh, trống cái, hát vè, nhị nhân chuyển, đàn từ, song hoàng, v.v… Trong đó, hình thức nghệ thuật tướng thanh được người ta ưa chuộng nhất. Tướng thanh lấy ngôn ngữ làm phương thức biểu diễn chính, được phát triển trên cơ sở chuyện hài cổ đại và chuyện vui dân gian. Nghệ thuật tướng thanh hiện đại bắt nguồn từ khu vực Bắc Kinh và Thiên Tân khoảng 100 năm về trước.

Ngày đăng:24-11-2014
Copyright © 2008 www.9binh.com. All rights reserved.