Một quyển sách
đã truyền cảm hứng cho hơn 350 triệu người
thoái xuất khỏi Đảng Cộng Sản Trung Quốc

Trăm năm mộng tỉnh (14): Hậu quả nguy hại căn bản nhất: Khiến người Trung Quốc đánh mất cơ duyên đã chờ đợi từ ngàn xưa, nghe không hiểu lời giảng Pháp của Sáng Thế Chủ

Tác giả: Kính Tạ Ân

(IV) Hậu quả nguy hại căn bản nhất: Khiến người Trung Quốc đánh mất cơ duyên đã chờ đợi từ ngàn xưa, nghe không hiểu lời giảng Pháp của Sáng Thế Chủ

Do sự an bài của các vị Thần từ hằng xa xưa, trong văn hóa truyền thống Trung Hoa từ xưa đến nay luôn tồn tại việc theo đuổi đối với “Đạo”. Vậy “Đạo” là gì? Trong Đạo gia, Nho gia và Phật gia đều có những cách giải thích khác nhau. Tóm lại, đó là quy luật căn bản nhất của vũ trụ, là chân lý tối thượng cần theo đuổi của đời người, là sự chỉ dẫn cơ bản nhất có thể khiến sinh mệnh đạt được sự thăng hoa và đề cao.

Trong cuốn “Trung Dung” của Nho gia có nói: “Đạo dã giả bất khả tu du ly dã; khả ly phi đạo dã” (Diễn nghĩa: Đạo là cái không thể xa rời dù chỉ trong chốc lát; nếu có thể xa rời được, thì đã không phải là Đạo nữa rồi). “Lão Tử” của Đạo gia nói: “Có một thứ được hình thành trong sự hỗn độn, được sinh ra trước trời đất; cô độc, trống rỗng; đứng một mình bất biến; đi khắp nơi mà không mỏi. Có thể làm mẹ thiên hạ. Ta không biết tên nó là gì, ta gọi nó là Đạo”; “Cho nên gọi là: Đạo lớn, Trời lớn, Đất lớn, Vương cũng lớn”. Còn Phật gia nói về việc đời người tại sao phải khổ và làm thế nào để giải thoát, đã tổng kết quy nạp chúng thành bốn đạo lý là “Khổ, Tập, Diệt, Đạo”.

Nói chung, “Đạo” là sâu sắc nhất, quan trọng nhất, cũng là điều căn bản nhất. Về phương diện biểu đạt ngôn ngữ, một cách biểu đạt khác trong văn hóa Trung Hoa đối với “Đạo” – một điều vừa cao thâm vừa huyền bí, là “Pháp”. Cho dù trong ngôn ngữ của Đạo gia, Phật gia hay thậm chí là Nho gia, “Đạo” và “Pháp” thường biểu đạt hàm nghĩa tương cận.

Về mặt ứng dụng và học tập, cổ nhân Trung Quốc phân chia thành các tầng diện như Đạo, Thuật, Khí. “Hệ Từ” trong “Chu Dịch” chép rằng: “Hình nhi thượng giả vị chi Đạo, Hình nhi hạ giả vị chi khí”, tạm hiểu là: Điều vượt trên hình tướng gọi là Đạo, điều ở dưới hình tướng gọi là khí. Ở phương diện y học, thông thường được gọi là “y thuật”, nhưng đằng sau y thuật có y đạo, và các loại công cụ chính là “khí” (thiết bị, dụng cụ). Ở phương diện tế lễ, cổ nhân nói rằng “Biên đậu chi sự tắc hữu ty tồn”, tạm hiểu là những sự việc trong phương diện lễ nghi đều có người phụ trách. Chung, đỉnh, biên, đậu v.v. đều là “khí cụ” dùng trong việc tế lễ, và đằng sau chúng còn có “Đạo” cúng tế, Đạo vì nước vì dân.

Trong các ngành nghề khác nhau vào thời cổ đại, người ta trong quá trình học tập và làm theo các loại “thuật” (kỹ năng) do sư phụ truyền dạy, cố gắng hết sức để nâng cao bản thân, tận lực khiến bản thân có thể phù hợp với “Đạo” và thậm chí phù hợp với “Đại Đạo” ở tầng thứ cao hơn. Nếu một người có thể phù hợp với Đại Đạo, thì người đó không chỉ có thể đạt được sự đề cao ở phương diện kỹ thuật, mà đồng thời họ cũng có thể giải quyết được vấn đề căn bản trong việc thăng hoa sinh mệnh của tự thân. Một ví dụ khá điển hình là y học. Một bác sĩ bình thường chỉ biết chữa bệnh cho những người đang mắc bệnh, trong khi bác sĩ giỏi lại có thể ngăn ngừa bệnh tật trước khi phát bệnh, còn một bác sĩ vĩ đại chân chính có thể chữa bệnh cho cả quốc gia, thậm chí có thể tu đạo trường sinh. Điều này không chỉ đúng trong y học, mà các ngành các nghề khác cũng đều như vậy.

Nhờ vào truyền thống này, văn hóa Trung Hoa xưa nay đều có vô số các bậc “chí sĩ đầy lòng nhân ái” ra sức tầm Đạo, thậm chí không tiếc xả bỏ thân mệnh vì điều này. Những nhân vật nổi tiếng nhất trong Phật giáo ví như Huệ Khả của Nam triều (thuộc thời Nam – Bắc triều) và Huệ Năng của Đường triều, ngoài ra, còn rất nhiều nhân vật khác nữa. Những Đạo sĩ nổi tiếng nhất trong Đạo gia mà mọi người đều biết, ví như Trương Đạo Lăng thời nhà Hán, Lã Động Tân triều đại nhà Đường và nhiều người khác nữa.

Ngay cả trong Nho giáo, cũng có Đổng Trọng Thư thời nhà Hán ba năm không dòm ngó đến cảnh sắc trong sân vườn, Nhan Chân Khanh thời nhà Đường, Văn Thiên Tường vào cuối thời nhà Tống thà chết chứ không đầu hàng, và còn nhiều người khác nữa.

Trong Nho gia, vô số các bậc chí sĩ đầy lòng nhân ái tha thiết ước mơ, hy vọng đạt được cảnh giới cao thâm như được mô tả trong “Kinh Dịch – Văn Ngôn – Quẻ Càn” : “Dữ thiên địa hợp kỳ đức. Dữ nhật nguyệt hợp kỳ minh. Dữ tứ thời hợp kỳ tự. Dữ quỷ thần hợp kỳ cát hung”, tạm dịch là: “Làm sao để đức hạnh của bản thân phù hợp với thiên địa, để quang minh như nhật nguyệt, để trật tự như bốn mùa, để thông việc cát hung như quỷ thần…”

Kỳ thực, quẻ “Càn” trong “Chu Dịch” ở đây chính là chỉ vũ trụ. Cảnh giới này cũng là một trong những cảnh giới cao thâm mà những người tu luyện trong Đạo gia muốn đạt tới. Nói chung, việc theo đuổi “Đạo” và “Pháp” đã tồn tại trong văn hóa Trung Hoa từ thời xa xưa, và truyền thống này vô cùng sâu dày. “Đạo” là điều mà những bậc chí sĩ đầy lòng nhân ái trong văn hóa Trung Hoa đã mong đợi và chờ đợi từ lâu.

Bắt đầu từ năm 1992, nhà sáng lập Pháp Luân Công là Đại sư Lý Hồng Chí đã hồng truyền Pháp Luân Đại Pháp ở Trung Quốc. Trong quyển sách Pháp Luân Công, Sư phụ Lý Hồng Chí đã giảng rằng:

“Vũ trụ cũng như người, ngoài cấu thành vật chất ra, thì còn tồn tại đặc tính của nó, nói khái quát chính là ba chữ, gọi là “Chân-Thiện-Nhẫn”. Tu luyện của Đạo gia chủ yếu là ngộ ở chữ “Chân”, nói lời Chân, làm việc Chân, phản bổn quy chân, cuối cùng đạt tới làm Chân Nhân. Tu luyện của Phật gia trọng điểm đặt ở chữ “Thiện”, sinh ra tâm Đại Từ Bi, phổ độ chúng sinh. Pháp môn của chúng ta là đồng thời tu “Chân-Thiện-Nhẫn”, trực tiếp dựa trên đặc tính căn bản của vũ trụ mà tu luyện, cuối cùng đạt tới đồng hoá với vũ trụ”.

Kỳ thực, “Đặc tính Chân – Thiện – Nhẫn của vũ trụ” mà Sư phụ Lý Hồng Chí giảng chính là “Đạo”, “Pháp”, là “Đức của Trời đất”, là “Đạo chí cao vô thượng” mà văn hóa truyền thống Trung Quốc không ngừng tìm kiếm và theo đuổi. Cũng chính là chân lý cuối cùng (tối cao) mà rất nhiều chí sĩ đầy lòng nhân ái của dân tộc Trung Hoa hằng mơ ước.

Điều này thật trân quý biết bao! Mặc dù dân tộc Trung Hoa đã luôn tìm cầu qua nhiều thế hệ, nhưng từ xưa đến nay chưa có ai trực tiếp giải thích được nội dung cốt lõi của Đạo và Pháp này. Ví dụ, về nội dung của “Đạo”, Lão Tử nói: “Ngô bất tri kỳ danh, tự chi viết Đạo” (Ta không biết tên nó là gì, ta gọi nó là Đạo). Đức Phật Thích Ca Mâu Ni vào những năm cuối đời cũng từng nói: “Cả một đời ta chưa từng giảng Pháp nào cả”. Cũng chính là các bậc Thánh nhân qua các đời cũng đều chưa từng nói ra “Pháp” rốt cuộc là gì. Nhưng ngày nay, Sư phụ Lý Hồng Chí đã dùng ngôn ngữ nông cạn, rõ ràng nhất, trực tiếp nhất để nói rõ với nhân loại rằng:

“Đặc tính của vũ trụ chính là ‘Chân, Thiện, Nhẫn’”. (Giải đáp thắc mắc trong buổi giảng pháp ở Quảng Châu)

“Đại Pháp là trí huệ của Sáng Thế Chủ. Ông là căn bản của khai thiên tịch địa, của tạo hoá vũ trụ, nội hàm từ cực nhỏ đến cực lớn, có triển hiện khác nhau tại các tầng thứ thiên thể khác nhau”. (Luận ngữ, Chuyển Pháp Luân)’;

“Muốn làm một người tốt, trong không gian này có tồn tại yêu cầu, chính là “nhân – nghĩa – lễ – trí – tín”, v.v.. v.v.. Chúng cũng đều là từ Chân-Thiện-Nhẫn phân hóa ra, rất nhiều, cũng không chỉ những cái đó.” (“Giảng Pháp tại Pháp hội Thụy Sĩ”)

Điều mà các bậc tiên hiền qua các thời đại của dân tộc Trung Hoa tận sức theo đuổi, điều mà nhân loại từ xưa đến nay hằng chờ đợi, hiện nay đã đến rồi! Kỳ thực, đây chính là sự an bài của lịch sử. Ngày này đã đến!

Tuy nhiên, vì Trung Cộng đã phá hoại nghiêm trọng nền văn hóa truyền thống Trung Hoa, hơn nữa nó còn tạo ra một nền văn hóa đảng thuộc về Trung Cộng áp lên người dân Trung Quốc, tạo ra một môi trường mà văn hóa đảng Trung Cộng thấm nhuần mọi thứ, khiến cho người dân Trung Quốc rất khó nghe hiểu được Pháp Luân Đại Pháp rốt cuộc là gì. Mặc dù “Đặc tính vũ trụ” mà Pháp Luân Đại Pháp giảng kỳ thực rất dễ lý giải từ góc độ ngôn ngữ, đây chính là “Đạo”, “Pháp”, “Đại Đạo”, “Đại Pháp”, “Thiên Đạo” mà các bậc tiên hiền qua nhiều thế hệ của dân tộc Trung Hoa đã dốc sức theo đuổi…; tuy nhiên, do ý thức tư tưởng của người ta bị phong bế bởi văn hóa đảng, sau khi Sư phụ Lý Hồng Chí giảng Pháp vào năm 1992, hai năm sau vẫn có rất ít học viên có thể thực sự hiểu được Pháp Luân Công và Pháp Luân Đại Pháp rốt cuộc là gì. Các học viên chỉ cảm thấy rằng “Pháp Luân Công tốt” và vô cùng chấn động trước tác dụng kỳ diệu trong việc chữa bệnh khỏe người của Pháp Luân Công, nhưng lại không biết và cũng không thể nói ra được Đại Pháp này rốt cuộc là gì. Phải đến năm 1994, một số đệ tử mới dường như đột nhiên hiểu ra và nhận ra ý nghĩa của sinh mệnh con người, hiểu được rằng “Mục đích của tu luyện là để đồng hóa đặc tính Chân, Thiện, Nhẫn của vũ trụ”. Kể từ đó, số lượng người tập Pháp Luân Công mới bắt đầu tăng lên nhanh chóng.

Tình huống này trở nên rõ ràng hơn sau khi Pháp Luân Đại Pháp bị Trung Cộng đàn áp. Bởi vì Trung Cộng phá hoại văn hóa truyền thống, khiến nhiều người không hiểu tại sao các học viên Pháp Luân Công vẫn kiên trì tu luyện. Họ nói kiểu như, “Pháp Luân Công các bạn là tốt, nhưng tại sao nhất định phải kiên trì? Bạn không thể luyện các môn khí công khác sao? Tại sao cứ phải đối đầu với Trung Cộng như vậy? Chịu nhận bức hại như vậy, thật là không đáng!”. Thậm chí còn có rất nhiều người không hiểu, không lý giải được tại sao các học viên Pháp Luân Công phải giảng rõ sự thật. Câu hỏi thường gặp nhất chính là: “Pháp Luân Công là tốt, nhưng bạn không thể tập luyện ở nhà sao? Tại sao cứ phải ra ngoài nói với người khác?”. Cũng chính là nói, rất nhiều người Trung Quốc không hiểu rằng: Điều mà Pháp Luân Đại Pháp giảng và tu luyện là Đại Pháp căn bản của vũ trụ. Đây là căn bản cho sự tồn tại của vũ trụ, thậm chí là căn bản cho sự tồn tại của hết thảy sinh mệnh. Cá nhân nào đắc được Đại Pháp và có thể tu luyện Đại Pháp quả thật là điều may mắn lắm! Làm sao có thể từ bỏ đây?

Nhìn từ góc độ lịch sử, trong lịch sử Trung Hoa cũng đã có rất nhiều thời kỳ Phật Pháp từ bi phổ độ bị kẻ thống trị ngược đãi, gặp phải Pháp nạn. Vào thời điểm đó, vẫn có rất nhiều thế nhân vô cùng kính ngưỡng Phật Pháp; ngay cả trong thời khắc những người cai trị ra sức bức hại, họ vẫn hiểu được hành động của những tăng nhân kiên trì tu luyện và âm thầm trợ giúp họ bằng nhiều cách, một mặt giúp đỡ những người tu luyện vượt qua Pháp nạn, mặt khác giúp giảm thiểu ở mức thấp nhất những hậu quả xấu ác do hành vi sai trái của người cai trị mang lại. Tuy nhiên, khi Pháp Luân Đại Pháp bị Trung Cộng đàn áp, do Trung Cộng đã phá hủy hoàn toàn văn hóa truyền thống, rất nhiều người không biết Pháp Luân Đại Pháp là gì, vậy nên đứng trước bức hại mà mơ màng không hiểu gì cả; nhìn thấy ​​các loại bức hại mà đệ tử Pháp Luân Đại Pháp phải chịu đựng, lại không biết mình nên ủng hộ Đại Pháp. Nhiều người trên thế giới cũng vì tin vào sự vu khống và phỉ báng của Trung Cộng mà vô tình hùa theo nó, vu khống Thần Phật và phỉ báng Đại Pháp, do đó tự đặt mình vào hoàn cảnh nguy hiểm; đồng thời, họ cũng đã đánh mất và bỏ lỡ cơ hội được Đại Pháp cứu độ. Do vậy, các đệ tử Đại Pháp đã biết “Pháp Luân Đại Pháp là gì” nhất định phải giảng chân tướng cho con người thế gian bị lừa dối, để cho con người thế gian nhận ra rằng “Phật Pháp Chân Đạo đã giáng lâm”, điều này đối với con người mà nói là sự kiện vui mừng trọng đại nhất và căn bản nhất.

Trong cuộc bức hại Pháp Luân Đại Pháp, những người mà Trung Cộng chỉ đạo, lợi dụng và coi như công cụ đánh người cũng chính là đồng bào của người Trung Quốc. Với họ, ngoài thân phận là đảng viên và bị nhồi nhét lý thuyết cộng sản ra, thì họ cũng được cha mẹ sinh ra giống bao nhiêu người khác. Những gì họ đã làm dưới sự lừa dối và đe dọa của Trung Cộng là bức hại Đại Pháp vũ trụ “Chân, Thiện, Nhẫn”, làm việc đại ác nghịch thiên phản đạo tày trời, là tội nghiệt sâu dày nhất mà Trời, đất, con người, chư Thần tuyệt đối không thể dung thứ. Do đó, là những học viên đã hiểu “Pháp Luân Đại Pháp là gì”, họ phải nói với những kẻ bức hại “cần phải ngừng việc bức hại!”, và nói với họ quy luật “hành ác tất phải chịu ác báo” để ngăn chặn họ hành ác.

Tóm lại, nguy hại căn bản nhất mà lý luận cộng sản mang đến cho dân tộc Trung Hoa là khiến một số người ngày nay nghe không hiểu những bài giảng Pháp của Sư phụ Lý Hồng Chí. Bởi vì nghe không hiểu, từ đó không biết lợi hại thế nào, cho nên một số người trở thành công cụ đánh người của Trung Cộng trong cuộc bức hại; cũng có những người nhắm mắt làm ngơ trước cuộc đàn áp của Trung Cộng, về mặt khách quan đã trở thành đồng phạm trong cuộc đàn áp của Trung Cộng. Điều này đã mang đến tai ương cực lớn cho dân tộc Trung Hoa, cho chính bản thân và con cháu họ. Theo sự chuyển dời của thời gian, những tai họa này đang trong tiến trình được thực hiện từng bước.

(V) Hậu quả nguy hại trực tiếp nhất là khiến người Trung Quốc dưới sự giáo dục của Trung Cộng không thể đại diện cho văn hóa Trung Hoa

Nói đến văn hóa Trung Hoa, người ta thường lấy người dân ở Trung Nguyên đại lục và người dân ở các vùng đất lân cận làm đại biểu. Ban đầu, mọi người gọi khu vực Hà Nam và Sơn Tây ngày nay là “Trung Quốc”, hàm nghĩa của nó là “Trung tâm chi quốc” (đất nước nằm ở vị trí trung tâm). Vùng đất này đại biểu cho nền văn minh, vì vua chúa và nhân dân nơi đây đều thành kính kế thừa phép tắc văn minh được xác lập bởi các vị Thánh Vương như Phục Hy, Thần Nông và Hoàng Đế. Hoàng Đế, Nghiêu Đế, Thuấn Đế đều di tản những gia tộc hung hãn, háo đấu, đạo đức suy đồi, không chịu nhận sự giáo hóa tại thời đó đến những vùng đất hoang dã xa xôi.

Về sau, thuận theo nền văn minh Trung Hoa ngày càng phổ cập, phạm vi địa lý của từ “Trung Quốc” cũng được mở rộng và dần dần nó được dùng để chỉ toàn bộ khu vực mà các vương triều Trung Nguyên cai trị. Do đó, trong khu vực thống trị của các vương triều Trung Nguyên, tất cả những nơi chịu ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo của truyền thống Trung Hoa đều được gọi là “Trung Quốc”, cũng được gọi là “Khai hóa chi địa” (mảnh đất khai hóa). Tuy nhiên, những vùng xa xôi hẻo lánh cá biệt bên trong đế quốc Trung Hoa vẫn chưa được khai hóa, vẫn duy trì lối sống man rợ và không chịu ảnh hưởng của văn hóa Nho – Đạo – Phật truyền thống, vẫn bị gọi là man di. Trên đất nước Trung Hoa rộng lớn, vùng đất man di và vùng đất khai hóa văn minh đan xen lẫn nhau, giữa chúng không có ranh giới rõ ràng và cố định.

Tuy nhiên, triều đình Trung Hoa – từ Hoàng Đế, Nghiêu Thuấn, Hạ Thương Chu… cho đến các triều đại Minh Thanh, đều lấy việc truyền thừa, hồng dương cái đạo chính thống và văn hóa truyền thống do các bậc Thánh Vương thời thượng cổ của Trung Hoa để lại làm căn bản, coi đó là vinh diệu và sự nghiệp của chính mình. Vì vậy, những triều đình này cùng với dân chúng chịu sự cai trị và giáo hóa của họ cũng đã trở thành đại diện của nền văn minh Trung Hoa. Triều đình, lãnh thổ và dân chúng của một phương này được gọi là “Lễ nghi chi bang”, “Thiên triều thượng quốc”, và nhận được sự kính trọng lớn lao trên toàn thế giới.

Đến cuối thời nhà Thanh, người dân trên mảnh đất Trung Quốc vẫn là đại biểu của nền văn hóa Trung Hoa, nhưng họ lại bị gọi là “Người bệnh Đông Á”. Nhưng khi nguyên cứu nguyên nhân của nó, không chỉ là vì Trung Quốc đã nhiều lần thất bại trong các cuộc chiến tranh với nước ngoài. “Người bệnh” được nhắc đến ở đây, trước hết là để châm biếm thực tế rằng một lượng lớn người dân Trung Quốc thời đó nghiện thuốc phiện, phơi ra bộ dạng của người bệnh, lại không thể tự mình thức tỉnh. Thứ hai, đây là sự châm biếm đối với chính phủ Trung Quốc vì đã hợp pháp hóa việc buôn bán thuốc phiện gây hại cho chính người dân nước này. Nói cách khác, cái tên “Người bệnh Đông Á” không chỉ châm biếm những thất bại liên tiếp của Trung Quốc trong chiến tranh, mà chủ yếu là chỉ chính quyền nhà Thanh khi đó quá mềm yếu, không thể duy trì sức khỏe thể chất và tinh thần cho người dân nước mình. Quốc gia suy yếu, dân chúng bệnh tật ốm yếu, nên bị gọi là “Ma bệnh”. Địa vị quốc tế của Trung Quốc và người dân Trung Quốc, từ việc được tôn trọng và ngưỡng mộ vào thời nhà Minh cho đến bị khinh miệt và bắt nạt vào cuối thời nhà Thanh, kỳ thực đều là do hành vi của triều đình và bộ phận người dân ở thời đó mang đến.

Sau năm 1949, sau khi lý thuyết cộng sản thống trị Trung Quốc, những người được giáo dục ra đều là những chiến sĩ và người kế thừa của chủ nghĩa cộng sản. Chính là biểu hiện của toàn bộ chính quyền Trung Quốc đại lục và đội ngũ nhân viên công tác mà Trung Cộng cắt cử đến các nơi, tất cả họ đều là những chiến sĩ của chủ nghĩa cộng sản. Vì vậy, Trung Quốc và người dân Trung Quốc của lúc này đã trở thành đại diện của chính quyền đỏ. Xét cho cùng, Trung Quốc là một quốc gia có lịch sử lâu đời với văn minh kéo dài suốt 5000 năm, vì vậy trên trường quốc tế, văn hóa Trung Hoa vẫn được nhiều người ngưỡng mộ. Tuy nhiên, ở Trung Quốc đại lục, nơi chịu sự cai trị của Trung Cộng khi đó, văn hóa truyền thống bị coi là “Tứ cựu” cần phải bị xóa bỏ. Chỉ cần nó là đại biểu cho chính quyền đỏ, thì nó không thể đại diện cho văn hóa truyền thống. Vậy nên, trong tình huống này, người Trung Quốc lớn lên dưới nền giáo dục này không thể đại biểu cho văn hóa truyền thống Trung Quốc.

Sau năm 1980, thái độ của Trung Cộng đối với văn hóa truyền thống đã có sự thay đổi bề ngoài, bắt đầu lợi dụng văn hóa truyền thống như một công cụ để thể hiện “hình ảnh Trung Quốc”. Tuy nhiên, có ba phương diện khiến cho người dân Trung Quốc được giáo dục và lớn lên dưới sự cai trị của Trung Cộng dường như vẫn không thể đại diện cho văn hóa truyền thống Trung Hoa.

Phương diện thứ nhất, là vì các hình thức đấu tranh chính trị và xây dựng kinh tế của Trung Cộng trong mấy chục năm đã làm băng hoại nghiêm trọng các chuẩn mực đạo đức của người dân Trung Quốc, khiến cho khách du lịch đến từ Trung Quốc đại lục và những người lớn lên dưới sự giáo dục của Trung Cộng — Hành vi của họ khá là thô tục và thấp kém, thường không thể đại biểu cho “Lễ nghi chi bang” (đất nước lễ nghi) của truyền thống Trung Hoa, nền văn hóa sâu dày của dân tộc Trung Hoa. Nếu so sánh, có vẻ như trên thế giới những người có hành vi cử chỉ mang phong thái của truyền thống Trung Hoa nhiều hơn lại là người Đài Loan, người Nhật Bản, người Hàn Quốc, v.v. Điều này không chỉ được phản ánh trong du lịch, đi lại, mà còn thể hiện ở nhiều khía cạnh khác.

Phương diện thứ hai là bởi lý thuyết cộng sản coi chủ nghĩa Marx là tín ngưỡng cao nhất, còn văn hóa truyền thống Trung Quốc chỉ là sự bổ sung, vật trang trí và phụ thuộc. Đặc biệt, các nhân viên công chức do Trung Cộng bổ nhiệm rõ ràng đều coi mình là người đại diện thực sự của chủ nghĩa cộng sản, chứ không phải là đại diện thực sự của nền văn hóa truyền thống Trung Hoa từ xưa đến nay. Nói một cách tương đối, mức tôn trọng đối với văn hóa truyền thống Trung Hoa của người dân và chính phủ Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc còn vượt xa hơn nhiều so với Trung Cộng và Trung Quốc đại lục dưới sự thống trị của nó.

Phương diện thứ ba là vì Trung Quốc dưới sự thống trị của chính quyền dựa vào lý thuyết cộng sản đã coi văn hóa truyền thống Trung Hoa chân chính là kẻ địch của nó. Văn hóa truyền thống Trung Hoa chân chính nằm ở đâu? Nó nằm ở việc người dân Trung Hoa tự nguyện tuân thủ đạo đức truyền thống và theo đuổi tín ngưỡng “thiện ác hữu báo”. Tuy nhiên, đối với việc truy tầm văn hóa truyền thống một cách tự phát trên mảnh đất Trung Hoa, Trung Cộng luôn cố gắng hết sức hạn chế chúng trong phạm vi của chủ nghĩa vô thần và trong sự kiểm soát của các tổ chức của Trung Cộng. Đối với tất cả hiện tượng truy tầm mà vượt quá, hoặc bị Trung Cộng xem là có thể vượt quá phạm vi này, tất cả chúng đều được coi là “các nhân tố có thể mang đến sự bất ổn đối với sự thống trị của Trung Cộng” và bị phong sát một cách nghiêm ngặt. Như vậy chính là đã coi những điều này như kẻ địch mà đối đãi rồi.

Lấy nghệ thuật, một hình thức biểu đạt văn hóa quan trọng khác làm ví dụ. Văn hóa truyền thống Trung Hoa được kiến lập dựa trên nền tảng tín ngưỡng “thiện ác hữu báo”, nội hàm và hình thức biểu hiện trong văn hóa và nghệ thuật của nó phù hợp với nội hàm “Tu Đạo đề thăng”. Vậy thì, Trung Quốc dưới sự cai trị của Trung Cộng, cũng có các loại hình nghệ thuật như âm nhạc cổ điển, múa cổ điển, hý kịch cổ điển, v.v. Liệu những hình thức nghệ thuật này có phải là văn hóa truyền thống Trung Hoa chân chính hay không? Không. Bởi vì tất cả chúng đều phải phục vụ cho sự thống trị của chủ nghĩa Marx, nội dung thực chất của chúng chỉ có thể là ca ngợi triết học đấu tranh và chủ nghĩa vô thần, điều này hoàn toàn trái ngược với nội dung cốt lõi mà văn hóa truyền thống Trung Hoa muốn thể hiện. Từ góc độ biểu hiện nghệ thuật, chúng cũng không phù hợp với nội hàm tu Đạo đề thăng trong văn hóa truyền thống Trung Hoa. Nó thực chất chỉ là học đòi theo mà thôi [1], chẳng ra cái gì cả, nó là một mớ hỗn độn được trộn lẫn từ hình thức bề mặt của các loại nghệ thuật với nhau.

Tuy nhiên, Đoàn Nghệ thuật Biểu diễn Thần Vận được thành lập và phát triển ở nước ngoài sau năm 2006, bởi vì dựa trên nền tảng của tu luyện Pháp Luân Đại Pháp, hoàn toàn phù hợp với nội hàm tu Đạo đề thăng trong văn hóa truyền thống Trung Hoa, hơn nữa có nguồn gốc của văn hóa Thần truyền, là thể hiện chân thực của văn hóa truyền thống Trung Hoa. Hơn nữa, Đoàn Nghệ thuật Thần Vận không ngại gian khổ, làm việc tận tụy, coi việc khôi phục nền văn hóa truyền thống Trung Hoa chân chính là sứ mệnh của mình, vì vậy trình độ nghệ thuật của họ đã nhanh chóng đạt đến đẳng cấp hàng đầu thế giới, thậm chí là ưu tú nhất. Hiện nay, Đoàn Nghệ thuật Biểu diễn Thần Vận đã được công nhận rộng rãi trên khắp thế giới và đã trở thành diễn xuất mang tính đại diện của văn hóa Trung Hoa chân chính. Có điều Trung Cộng đã xác định rõ Thần Vận là kẻ thù của mình, nó đã lợi dụng cơ quan ngoại giao và các thủ đoạn đê hèn nhằm cản trở các buổi biểu diễn của Thần Vận ở các nơi trên thế giới. Trung Cộng không chỉ tuyên bố rõ ràng rằng điều mà nó đại biểu chính là chủ nghĩa Marx, mà còn coi văn hóa truyền thống Trung Hoa chân chính là kẻ thù của mình. Vậy Trung Cộng và những người được nó giáo dục ra há có thể trở thành đại diện của văn hóa truyền thống Trung Hoa sao?

(Còn tiếp)

Dịch từ: https://big5.zhengjian.org/node/291291

[1] “Hàm đan học bộ”: Xuất phát từ sách Trang Tử: Người nước Yên nghe nói dân Hàm Đan đi rất đẹp, bèn đến Hàm Đan để học. Nhưng học mãi không được, cuối cùng quên luôn cách đi của chính mình, phải bò về quê.

Ngày đăng: 23-12-2025