Trăm năm mộng tỉnh (20): Bí mật và thành tựu của việc rèn luyện Đảng tính
Tác giả: Kính Tạ Ân
[ChanhKien.org]
(4) Dựa vào sự ủng hộ của cộng sản quốc tế, xác lập mục tiêu khó khăn cướp đoạt chính quyền, làm gia tăng độc tố Đảng
ĐCSTQ thời đầu do Lê-nin thành lập dưới danh nghĩa chi bộ của Quốc tế cộng sản (Đệ tam quốc tế). Dưới sự chỉ đạo của Liên Xô, ĐCSTQ khi thành lập đã xác định mục tiêu đầu tiên là cướp đoạt chính quyền quốc gia, mục đích cuối cùng của nó là thực hiện chủ nghĩa cộng sản. Tuy nhiên, việc thực hiện mục tiêu này là vô cùng khó khăn. So với Liên Xô, năm đó cựu Sa Hoàng đã chọn cách chủ động không đối kháng vì để hạn chế số người dân bị sát hại. Chính quyền mới của chủ nghĩa tư bản mặc dù đã được thành lập, nhưng chưa trải qua sự mài dũa và hoàn thiện, còn chưa ổn định, lúc này Lê-nin và Bôn-Sê-Vích nắm bắt cơ hội phát động một cuộc chính biến khác, nhanh chóng đoạt lấy chính quyền quốc gia. Vì vậy, quá trình đoạt lấy chính quyền khá nhanh, cũng khá may mắn và dễ dàng. Nhưng việc ĐCSTQ đoạt chính quyền quốc gia tất nhiên vô cùng khó khăn. Bởi vì nó đối đầu với Trung Hoa Dân Quốc, một chính phủ mang lý tưởng chính trị hiện đại dựa trên chủ nghĩa Tam dân, hơn nữa đã tích lũy được tài chính và có được sức mạnh quân sự qua nhiều năm chiến tranh chinh phạt quân phiệt (1). Trên thực tế, ĐCSTQ phải mất 28 năm để đánh bại Quốc Dân Đảng và giành được chính quyền quốc gia.
Vậy ĐCSTQ đạt được mục tiêu “Giành lấy chính quyền quốc gia” bằng cách nào? Nó đặc biệt chú trọng việc tăng cường xây dựng tổ chức Đảng của mình, và sau đó sử dụng tổ chức Đảng này để chỉ huy toàn bộ quân đội và chính quyền địa phương. Bởi vì trong quá trình giành chính quyền, thủ đoạn chính mà ĐCSTQ dùng là “Đảng tự mình xây dựng”, nên đã “gia tăng” mạnh mẽ độc tố của Đảng. Để giành chính quyền, thể chế cộng sản dốc toàn lực gia tăng độc tố của bản thân, thể hiện ở ba phương diện:
Phương diện thứ nhất: gia tăng độc tố về phương thức đánh giá
Trong thời kỳ tổ chức cộng sản vừa mới xuất hiện, phương thức cơ bản để đánh giá đúng sai giữa các đảng viên cộng sản là đánh giá lẫn nhau, lấy lý tưởng của bản thân làm thước đo. Bởi vì mỗi người đánh giá người khác dựa trên tâm lý và sự hiểu biết cá nhân đối với lý tưởng, vậy nên phương pháp đánh giá này về cơ bản mang hình thức “lương tri cá nhân của đảng viên”.
Phương pháp đánh giá dựa trên “lương tri cá nhân của đảng viên” này đã bị ĐCSTQ loại bỏ đi trong quá trình xây dựng Đảng nhằm giành lấy chính quyền. Bởi vì thuận theo việc xây dựng Đảng trường kỳ, ĐCSTQ đã hình thành các tổ chức Đảng bao trùm tất cả, mỗi đảng viên đều cần tuân thủ nguyên tắc “thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên” để phục tùng các quyết định của tổ chức Đảng. Từ đó trở đi, phương thức đánh giá của nội bộ Đảng chuyển từ đánh giá lẫn nhau sang đánh giá một chiều, trở thành cấp trên đánh giá cấp dưới, chuyển thành tổ chức đánh giá đảng viên, đảng viên chịu trách nhiệm thi hành. Điều này hiển nhiên gia tăng đáng kể năng lực chấp hành của Đảng Cộng Sản.
Từ góc độ độc tính mà xét, thì phương thức đánh giá này đã xóa bỏ triệt để “lương tri cá nhân của đảng viên”. Từ đó, khi đối diện với các quyết định của tổ chức Đảng, mỗi cá nhân cần phải chấp hành, nhiều nhất chỉ có thể giữ nguyên ý kiến. Vì vậy bản chất của sự thay đổi này là: thông qua một trình tự nhất định, mà vứt bỏ lương tri của con người. Đây chính là sự gia tăng độc tố.
Phương diện thứ hai: gia tăng độc tố trong việc đánh giá các yếu tố nòng cốt của con người và sự việc
Trong một đoàn thể, quần thể được hình thành một cách tự phát, nếu như dựa trên việc đánh giá lẫn nhau theo lương tri của mỗi cá nhân đảng viên, một cách tự nhiên người ta sẽ quan sát phẩm chất cá nhân mỗi đảng viên. Thông thường, người có nhân phẩm càng tốt, càng có uy danh sẽ trở thành trung tâm của tổ chức, đạt được địa vị càng cao. Lúc này, các yếu tố chủ yếu dùng để đánh giá đúng sai là những lý niệm truyền thống như thiện đức, nhâm phẩm,…. Nhưng Đảng cộng sản vì muốn cướp đoạt chính quyền mà ngày càng gia cường độc tố của nó trong quá trình xây dựng Đảng, Đảng dựa vào ý kiến phát biểu của mỗi thành viên của tổ chức Đảng để ra quyết định, hơn nữa các cương lĩnh, tôn chỉ, tinh thần, tư tưởng chỉ đạo của tổ chức Đảng cộng sản được ban hành một cách minh xác từ trên xuống dưới, vì vậy những ai càng kiên định đối với niềm tin và nguyên tắc của chủ nghĩa cộng sản, những ai càng có năng lực thực hiện lý tưởng chủ nghĩa cộng sản, thì người đó có thể được hưởng lợi nhiều hơn, địa vị của họ càng trở nên trung tâm hơn, càng được tôn sùng hơn.
Lúc này, nhân tố căn bản quyết định ai trong tổ chức Đảng có địa vị cao nhất không phải là phẩm chất cá nhân, mà là dựa vào mức độ kiên định và sự hiểu biết sâu sắc của họ đối với niềm tin và nguyên tắc của chủ nghĩa cộng sản. Cho dù vào một lúc nào đó có thể vừa khớp là một người có phẩm chất trung hậu hoặc thiện lương được đặt vào địa vị cao nhất, vị trí nòng cốt, nhưng nguyên nhân thật sự quyết định người này có được xếp vào vị trí nòng cốt hay không cũng không phải là do người này có phẩm chất trung hậu hoặc thiện lương, mà là do thái độ của người này kiên định với chủ nghĩa cộng sản.
Từ góc độ độc tính mà xét, trong quá trình đánh giá con người và sự việc, nó đã vứt bỏ tiêu chuẩn đo lường truyền thống là “nhân phẩm” của con người, thay vào đó nó chú trọng tiêu chuẩn đo lường “liệu bạn có trung thành với chủ nghĩa cộng sản không”. Đây chính là sự gia tăng độc tố.
Phương diện thứ ba: liên quan đến ranh giới cuối cùng, gia tăng độc tố về phương diện tiêu chuẩn cuối cùng
Ngôn ngữ biểu đạt thông thường của nhân loại đều được thiết lập dựa trên một số nguyên tắc không nói cũng hiểu, những chuẩn mực không nói cũng hiểu này bao gồm việc không thể vô cớ giết người, không thể tùy tiện hại người, v.v., thể hiện sâu sắc hơn quan điểm đúng sai của con người, tạo nên ranh giới hành vi mà người ta không nói cũng hiểu, và người ta căn bản đều theo đuổi nó.
Nhưng việc xây dựng Đảng của ĐCSTQ đã phá vỡ thông lệ này. Mục tiêu mà ĐCSTQ xác định là cần cướp đoạt chính quyền quốc gia và thực hiện chủ nghĩa cộng sản, hai mục tiêu này đều rất khó khăn, đều cần dốc toàn lực thực hiện; hơn nữa nó nhấn mạnh “Chủ nghĩa cộng sản là chốn trở về cuối cùng của nhân loại”. Vì vậy, khi đánh giá đúng sai đối với mỗi sự việc, về phương diện tiêu chuẩn đo lường dần dần hình thành đặc điểm “không từ một thủ đoạn nào, dùng bất cứ thủ đoạn nào”. Chỉ cần có thể duy trì quyền lực của Đảng cộng sản, có thể giúp Đảng cộng sản giành được chính quyền, thì đó chính là điều tốt, liền lấy đó làm tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá tốt xấu đúng sai.
Dựa trên nguyên tắc đó, Đảng cộng sản liên tục gây náo loạn khắp nơi ở Trung Quốc để cướp đoạt chính quyền, ở nông thôn thì phát động bạo động nông dân, ở thành thị thì phát động bãi công, bãi khóa, đình công, bạo động, v.v. Cho dù trong thời kỳ Chính phủ Nhân dân Trung ương đang tập trung vào cuộc chiến tranh kháng Nhật cũng vậy. Mà trong tất cả các cuộc bạo động và phản loạn này, đặc biệt là trong thời kỳ chiến tranh chống Nhật của dân tộc, nó đều ở sau lưng quấy rối, trong lịch sử đó là hành vi ác điển hình. Đảng cộng sản đã vứt bỏ tiêu chuẩn đúng sai truyền thống, hoàn toàn lấy lợi ích của Đảng này làm tiêu chuẩn duy nhất và cao nhất để phân biệt đúng sai, ngoài tiêu chuẩn này ra thì không còn tiêu chuẩn đo lường hoặc ranh giới nào khác, đây chính là sự gia tăng độc tố.
(5) Xây dựng đảng thông qua việc cướp đoạt trong thời gian dài, bày trò kêu gọi lương tri nhân loại, thống nhất chiến tuyến
Thứ nhất, khả năng khống chế tâm lý của đảng viên.
Cái gọi là khống chế tâm lý, chính là khống chế sự phán đoán đúng sai của đảng viên, dẫn dắt đảng viên, nói thiện thành ác nhằm đả kích, hoặc là nói ác thành thiện nhằm tăng sự kiên định. Trong công tác xây dựng Đảng hơn 20 năm, Đảng cộng sản lấy việc cướp đoạt chính quyền làm trung tâm, từ đó ngày càng có khả năng khống chế tâm lý.
Lấy ví dụ, trong thời kỳ kháng chiến chống Nhật, Đảng cộng sản trồng cây thuốc phiện ở Thiểm Bắc, rồi sản xuất nha phiến, bán sang khu vực do Chính phủ Quốc Dân Đảng thống trị để lấy tiền tiêu. Về vấn đề này, Đảng cộng sản làm thế nào để khống chế tâm lý đây? Nha phiến là chất gây hại rất nghiêm trọng đối với nhân dân trong lịch sử cận đại Trung Quốc, giao dịch nha phiến cũng là mồi dẫn trực tiếp của hiệp ước không bình đẳng thời mạt Thanh. Vì vậy, chỉ cần là người Trung Quốc có chút lòng yêu nước đều sẽ phản đối việc kiếm tiền bằng cách sản xuất nha phiến để bán vào lãnh thổ của tổ quốc. Nói chung, tất cả những người có lương tri đều sẽ không đồng ý việc kiếm tiền bằng cách bán thuốc phiện. Thế nhưng, Đảng cộng sản lại lừa gạt đảng viên của nó, nói rằng “Chủ nghĩa cộng sản là sự nghiệp vĩ đại của nhân loại”, vậy nên chỉ cần có lợi cho việc Đảng cộng sản đoạt chính quyền, thì tất cả hành vi, thậm chí là việc bán nha phiến cho người Trung Quốc cũng là hành vi đúng đắn. Đây là phương diện tiêu chuẩn đánh giá, là kết quả của sự gia tăng độc tố.
Hơn nữa, đây là nghị quyết được hình thành thông qua tổ chức Đảng, loại quy trình tổ chức này đã củng cố sự gia tăng độc tố của tiêu chuẩn đánh giá. Là một cá nhân, cho dù trong nội tâm có sự nghi hoặc, nhưng khi cân nhắc đến việc bản thân rốt cuộc là đảng viên, tổ chức Đảng dù sao đã ban hành nghị quyết rồi, vậy thì cũng nên vứt bỏ sự bất đồng chính kiến của mình. Do ảnh hưởng bởi việc tuyên thệ với ma quỷ trước đó, không lâu sau những ý kiến bất đồng ấy cũng dần bị lãng quên.
Vả lại trong khi thực hiện, những vị trí cốt cán, nắm giữ quyền lực lớn nhất trong tổ chức Đảng sẽ được đảm nhiệm bởi những người trung thành nhất với Đảng cộng sản, cũng chính là những người kiên định nhất với phương châm “Chỉ cần có lợi cho chủ nghĩa cộng sản, thì điều đó là tốt nhất”. Bởi vì những người này nắm giữ quyền lực trong nội bộ Đảng cộng sản, vì vậy nếu có ai đó không tích cực trong việc chấp hành thì còn có thể bị tổ chức Đảng phê bình, thậm chí bị hành quyết. Vì vậy, khi thực hiện thì càng củng cố thêm tiêu chuẩn đánh giá, phương thức đánh giá, và vai trò quan trọng của nó.
Ba phương diện gia tăng độc tố của ĐCSTQ này, kỳ thực tương hỗ lẫn nhau, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, quyết định tư duy của các đảng viên, có thể khiến đảng viên của nó tin rằng “việc bán nha phiến là đúng đắn”. Cho dù thỉnh thoảng có chút nghi hoặc, họ cũng sẽ ngừng suy nghĩ về nó, kỳ thực đó là tác dụng sau khi gia tăng độc tố Đảng tính, khiến đảng viên không dám tiếp tục hoài nghi. Điều này đạt được kết quả là khống chế tâm lý của các thành viên trong Đảng.
Thứ hai, bản thân đảng viên của nó cũng có khả năng đối kháng và đùa giỡn với lương tri nhân loại.
Công cuộc gia tăng độc tố của ĐCSTQ, trong nội bộ được gọi là “Kiến thiết tự thân tổ chức ĐCSTQ, gọi tắt là ‘kiến thiết Đảng’. ĐCSTQ xem việc kiến thiết Đảng là một công tác độc lập, vô cùng quan trọng, từ đó đạt được hiệu quả là tăng cường Đảng tính của đảng viên và các thành viên. Đảng tính của đảng viên cộng sản được tăng cường đến một trình độ cực kỳ mạnh mẽ, đủ để đối kháng với lương tri của nhân loại. Như đã nói ở trên, nó khiến đảng viên cho rằng “bán nha phiến là việc làm đúng đắn”; cho dù đôi khi có chút hoài nghi cũng sẽ thôi không nghĩ nữa, không dám tiếp tục hoài nghi nữa. Đây chính là “đủ để đối kháng với lương tri nhân loại”. Hơn nữa, nó đã có thể khiến các đảng viên của nó coi lương tri đạo đức như một thứ đồ chơi, đồ dùng để bỡn cợt, thể hiện có thể tùy ý tiếp nhận hoặc vứt bỏ, đùa giỡn với lương tri con người.
Tiếp tục lấy ví dụ về thái độ của ĐCSTQ và đảng viên của nó đối với việc mua bán nha phiến. Khi ĐCSTQ tin rằng dựa vào nha phiến để đổi lấy nguồn kinh tế thì lương tri cần có của đảng viên dần mất đi. Họ thậm chí còn làm đến mức độ vừa trồng nha phiến đồng thời trong các tài liệu nôi bộ lại vừa che giấu chính mình, vì vậy họ dùng các thuật ngữ như “xà phòng”, “đặc công” …, để thay cho từ nha phiến. Biết rõ đây là việc xấu mà còn làm, nhưng lại lo sợ người khác biết, đây chính là “Khi cần đảng viên của nó từ bỏ lương tri, thì chính nó cũng phải từ bỏ lương tri”.
Tuy nhiên, trong các trường hợp khác như tuyên truyền đối ngoại, ĐCSTQ và đảng viên của nó vẫn có thể lặp đi lặp lại sự nguy hại của nha phiến đối với người Trung Quốc, những bài phát biểu cho thấy thái độ căm hận của nó đối với nha phiến, lại còn nói một cách công khai. Đây chính là “Khi không cần tiêu diệt thì tạm thời bảo lưu”. Đảng cộng sản có thể làm được việc khiến đảng viên đánh mất lương tri của mình, đạt được đến bước căn cứ theo nhu cầu của Đảng mà tùy thời biến mất, tùy thời tồn tại, tùy thời biểu hiện, thực chất chính là sự đùa giỡn của Đảng đối với nhân loại, với lương tri con người.
Thứ ba, lợi dụng đảng viên và những người đi theo nó để thống nhất chiến tuyến, thực thi chiến lược mặt trận thống nhất của nó.
Từ đó hình thành khả năng và sách lược “thống nhất chiến tuyến” của đảng viên cộng sản. Cái gọi là thống nhất chiến tuyến, chính là đảng viên phải dựa vào sự an bài thống nhất của Đảng cộng sản. Vào một thời kỳ nhất định, nó coi một số người nào đó như bạn bè, đến khi vật đổi sao dời thì lại dựa theo sự an bài thống nhất của Đảng cộng sản mà coi họ là địch, v.v. Thống nhất chiến tuyến của Đảng cộng sản là một chính sách xảo quyệt nhất, hung ác nhất, xem thường đạo đức nhất. Bản chất của nó chính là hành động do toàn thể Đảng cộng sản quyết định.
Khả năng thống nhất chiến tuyến của Đảng cộng sản khiến rất nhiều người không tưởng tượng nổi. Người của Đảng cộng sản, khi cần lôi kéo một nhóm người thì lời nói hợp tình hợp lý, kỳ thực đó là chiểu theo yêu cầu của Đảng mà nói. Mặc dù phù hợp với lương tri, nhưng bản chất của nó lại là vì cần phù hợp với nghị quyết của Đảng mà nói. Sau đó vào thời điểm khác, khi cần đả kích những người mà nó đã từng lôi kéo, thì lúc này lời nói và hành động của nó đều hết sức vô tình, thậm chí độc ác, hoàn toàn đánh mất lương tâm. Thực chất sự độc ác và đánh mất lương tri này cũng là căn cứ theo nghị quyết của Đảng mà hành động. Chính là do sự khống chế của Đảng cộng sản đối với đảng viên của nó đã đạt đến hiệu quả như ý: “Khi cần đảng viên đánh mất lương tri thì sẽ đánh mất, khi cần họ biểu hiện lương tri thì biểu hiện”, vì vậy mới có thể thực thi chính sách thống nhất chiến tuyến của nó.
Tổng kết: Lấy việc duy trì xây dựng Đảng làm động lực, sự tà ác của nó đã vượt mặt tổ tông Mác-Lê.
ĐCSTQ trong hơn 20 năm cướp đoạt chính quyền, một mặt thực hiện mục tiêu cướp đoạt chính quyền, mặt khác hết sức chú trọng việc xây dựng Đảng, coi việc xây dựng Đảng thành một hạng mục độc lập, là công tác cần liên tục duy trì. ĐCSTQ trong quá trình xây dựng Đảng, không chỉ nhìn hiệu quả công tác trên bề mặt, mà còn cần nhìn vào Đảng tính của đảng viên, lấy việc nâng cao Đảng tính là công tác trọng yếu. Bởi vậy ĐCSTQ mới có Đảng tính giống như sắt thép, Đảng tính giúp nó có thể chấp hành tất cả các loại chính sách có lợi cho việc cướp đoạt chính quyền của Đảng. Như thế, trải qua 28 năm lặp đi lặp lại xây dựng Đảng và ma luyện Đảng tính, sự độc ác của nó đã vượt qua cả Liên-xô, Quốc tế cộng sản cấp trên.
Khi Đệ nhị Thế chiến kết thúc, trên thế giới phe chủ nghĩa cộng sản và phe chủ nghĩa tư bản hình thành thế đối kháng và phân chia thế lực lẫn nhau, vì vậy tình hình ở nước Đức và Triều Tiên là chia cắt thành Đông Đức và Tây Đức, Nam Triều Tiên và Bắc Triều Tiên, khi đó lực lượng chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản mỗi bên thống trị một phần lãnh thổ, chia để trị. Khi Đệ nhị Thế chiến vừa mới kết thúc, Liên Xô và Mỹ cũng dự định làm điều tương tự với Trung Quốc. Nhưng ĐCSTQ dựa vào thế lực quân sự, chính trị, tuyên truyền, tình báo …, được tích lũy trong thời gian dài, cuối cùng chiếm được toàn bộ Trung Quốc đại lục, khiến Quốc Dân Đảng phải chạy đến Đảo Đài Loan. Trong quá trình này, tuy rằng cũng nhờ vào lực lượng của Liên Xô – Quốc tế cộng sản cấp trên, nhưng ĐCSTQ hoàn toàn có thể tự mình đoạt chính quyền, hoàn toàn thao túng tình hình thế giới và Trung Hoa, và có khả năng đạt được mục tiêu của mình, điều này đã vượt mặt Quốc tế thứ ba. Có thể nói, trải qua hơn 28 năm được ma quỷ liên tục ma luyện, ĐCSTQ vốn dĩ là một đảng tà ác của chủ nghĩa Mác-Lênin, nhưng năng lực thực chất của nó đã vượt qua cả tổ tông Mác Lê.
(6) Chớp lấy thời cơ tôi luyện trong vỏ ốc, lấy đấu tranh chính trị làm nòng cốt để đạt được bản chất và năng lực độc ác hơn
Ngày 07 tháng 07 năm 1937, biến cố cầu Lư Câu bùng nổ, chiến tranh kháng Nhật của dân tộc Trung Hoa tiến vào thời kỳ kháng chiến toàn diện. Lúc này, Trung Cộng đã được bố trí vào Lục quân Tám quân cách mạng Trung Hoa Dân Quốc, nhưng không hề tích cực kháng Nhật. Đa số các cuộc chiến với quân Nhật chủ yếu là do quân đội của Quốc Dân Đảng đảm nhận, nhiều lần Đảng cộng sản tham gia chiến đấu đều vô cùng thảm bại, gian khổ. Công việc chính của Đảng cộng sản vào lúc này là: một mặt giương khẩu hiệu kháng Nhật nhằm vơ vét dân quân, phát triển quân đội, dự trữ quân lực; một mặt bắt đầu tiến hành một cuộc chỉnh phong ở Diên An. Trung Cộng đã nắm bắt cơ hội tiền tuyến đang quyết liệt, ở góc nhỏ hậu phương âm thầm tiến hành huấn luyện đấu đá nội bộ.
Ngoài ra, sau Đệ nhị Thế chiến, sự đối lập giữa hai phe chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới đã hình thành. Trung Quốc đứng về phe chủ nghĩa cộng sản của Liên Xô, nhưng không thuộc về anh cả. Trung Cộng thời kỳ đầu hoàn toàn đứng về phía Liên Xô; cho đến năm 1956, quan hệ Trung – Xô trở nên lãnh đạm; đến năm 1970, Trung Cộng liên kết với Mỹ quốc, đề phòng Liên Xô, tìm kiếm vị thế độc lập cho bản thân mình. Thế nhưng, cho dù quan hệ giữa Trung Quốc với hai nước Liên Xô và Mỹ có dao động, biến hóa thế nào, thì toàn thể bố cục thế giới vẫn phân hóa thành hai phe đại diện chính là Mỹ và Liên Xô, như gươm đã tuốt vỏ, hai phe coi nhau là đối thủ, mỗi bên tự dốc sức đối phó với bên kia. Trung Quốc dưới tình thế hai cực đối kháng, thừa cơ làm cuộc đấu tranh nội bộ “Lấy đấu tranh giai cấp làm chỉ đạo”, liên tục phát động các cuộc vận động chính trị hết lần này tới lần khác.
ĐCSTQ trong lịch sử có rất nhiều hiện tượng điên cuồng, khiến cho hậu thế không thể hiểu nổi. Cuộc chỉnh phong Diên An là một cuộc đại thanh tẩy nội bộ, giết hại vô số người. Sau khi đoạt được chính quyền vào năm 1949, cho tới năm 1976 Mao Trạch Đông qua đời, nó đã phát động rất nhiều cuộc vận động chính trị, không chỉ giết hại rất nhiều địa chủ, nhà tư bản, những người được Đảng cộng sản nhận định là kẻ địch, hơn nữa còn giết chết, bỏ đói rất nhiều người của Đảng cộng sản và cả “người nhà” luôn bám gót đi theo Đảng cộng sản. Trạng thái này kỳ thực chính là điên cuồng. Trong lịch sử từ xưa đến nay, một khi quốc gia, một chính quyền nào đó lâm vào trạng thái này thì rất dễ bị vong quốc, mất chính quyền. Nhưng ĐCSTQ trong quá trình này không hề mất quyền chấp chính. Nguyên nhân tại sao? Kỳ thực là vì sự an bài có hệ thống của ma quỷ.
Ví dụ trong thời kỳ kháng chiến chống Nhật, ĐCSTQ giữ thái độ rất tiêu cực, chỉ có Quốc Dân Đảng toàn lực kháng Nhật, không rảnh tay để xử lý ĐCSTQ. Đồng thời trước biến cố Tây An, Quốc Dân Đảng đã cấp cho quân đội Đảng cộng sản thân phận hợp pháp, cho nên nhất thời không dễ xử lý. Vì vậy vào lúc này, đấu tranh nội bộ trong Đảng cộng sản vô cùng điên cuồng, nhưng lại không bị Quốc Dân Đảng thừa cơ hội tiêu diệt. Một ví dụ khác, hai cuộc đại chiến thế giới cách nhau chỉ 20 năm, hơn nữa sức phá hoại cực lớn, thậm chí còn xuất hiện vũ khí hủy diệt bom nguyên tử, gây uy hiếp cực lớn cho văn minh nhân loại. Mỹ-Xô là hai phe cánh lớn toàn lực đối kháng nhau, nhưng trong lúc đối kháng, hai bên không hề dám hành động thiếu suy nghĩ, trong khi Trung Cộng ở trạng thái không ai dòm ngó tới. Trong tình huống này, Trung Cộng mặc dù đấu tranh nội bộ, các cuộc vận động hết sức điên cuồng, lại chẳng bị nước nào xuất binh tiêu diệt.
Nếu nói thống nhất chiến tuyến của Đảng cộng sản chủ yếu là rèn luyện khả năng đấu tranh đối ngoại, vậy thì các cuộc vận động chính trị, chỉnh đốn chính trị của nó lại bồi dưỡng phương pháp và năng lực thống trị nội bộ. Cụ thể là năng lực gì? Mao Trạch Đông trong thời kỳ “Phản Hữu” xác định rõ: “Chúng ta là làm dương mưu, không làm âm mưu”. Đây là kiểu dựa vào thủ đoạn chính trị và quyền thế chính trị từ đó gây điên đảo thị phi trong nội bộ nhân dân, công khai chơi trò lưu manh, để xem dân chúng có phục hay không. Đây là kiểu dựa vào trò lưu manh, từ đó đào thải ngược quan chức và dân chúng, khiến cho kẻ thống trị lưu manh có thể thống trị nhân dân càng thêm vững chắc hơn.
Thông qua các cuộc vận động chính trị và chỉnh phong chính trị này, ma quỷ đã khiến bản chất ác độc và thủ đoạn tà ác của Trung Cộng đạt đến cực hạn qua các cuộc đấu đá và kiểm soát nội bộ, đồng thời khắc sâu hơn sự sợ hãi trong lòng người dân Trung Quốc.
Thông qua các cuộc vận động chính trị, ma quỷ cũng khiến cho người Trung Quốc hình thành nên rất nhiều tư tưởng tà ác điên đảo thị phi, cưỡng chế người Trung Quốc phải tiếp nhận.
Ghi chú của người dịch:
(1) Thời đại quân phiệt là một giai đoạn trong lịch sử Trung Hoa Dân Quốc khi quyền kiểm soát đất nước bị phân chia giữa các bè cánh quân sự cũ thuộc Quân đội Bắc Dương và các phe phái địa phương khác từ năm 1916 đến năm 1928 (Wikipedia).
Từ khi cuốn sách