Một quyển sách
đã truyền cảm hứng cho hơn 350 triệu người
thoái xuất khỏi Đảng Cộng Sản Trung Quốc

Chương 10: Sự sa ngã của các bên trong tham chiến (phần đầu)

Epoch Times 20/06/2012

Kết cục của tham chiến là “cùng hủy diệt”.

Hắn cần anh tham thì mới xong. Anh không tham, hắn chẳng làm nổi trò gì. —— Lời đề từ

Phần thứ nhất: Thách thức đạo đức từ sự “trỗi dậy kinh tế” của Trung Quốc

Nếu dùng phương pháp thống kê và nghiên cứu được thiết kế riêng cho nền kinh tế tự do phương Tây hiện đại để đo lường sự phát triển của Trung Quốc gần mười năm qua, kinh tế Trung Quốc dường như đang phát triển nhanh, thậm chí mang khí thế “trỗi dậy”. Nhưng nếu xuyên qua màn sương mù của những con số, mô thức phát triển kinh tế Trung Quốc rốt cuộc mang lại gì cho nhân loại, đã và sẽ sinh ra ảnh hưởng xã hội tầng diện toàn cầu như thế nào thì câu trả lời trực diện cho những vấn đề này có thể trong chớp mắt phá tan bữa tiệc kinh tế được ghép nên từ những con số hào nhoáng bề mặt.

Sự phát triển kinh tế phương Tây kiến lập trên nền tảng đạo đức

Sự phát triển và lý luận kinh tế phương Tây xưa nay luôn được kiến lập trên nền tảng đạo đức. Điều này không chỉ thể hiện ở chỗ, mỗi cuộc trao đổi từ nguyên thủy đến “hàng đổi hàng” (barter trade) đều đòi hỏi công bằng, đối đẳng; mà còn biểu hiện ở việc quản lý, điều tiết kinh tế vĩ mô đương đại đều nhấn mạnh tính minh bạch và tính công ích (social welfare effect). Có thể nói, từ thuế khóa, giám sát thị trường vốn, kiểm toán, cho đến luật chống độc quyền (antitrust) phản ánh “cạnh tranh công bằng”, chức năng chính của chính phủ dân chủ trong lĩnh vực kinh tế là bảo đảm mỗi người tham gia có cơ hội cạnh tranh công bằng, và được quy phạm bởi luật chơi được công nhận như nhau, tức lý thuyết “sân chơi bình đẳng” (level playing field). Lý niệm kinh tế kiểu này của phương Tây, như nhà kinh tế học nổi tiếng đương đại, đại biểu của “trường phái Áo” Hayek đã trình bày đầy đủ, tương phụ tương thành với sự tôn trọng nhân tính sau thời “Phục Hưng” (Renaissance) của phương Tây, đặc biệt là quan điểm cho rằng hoạt động kinh tế kết tinh những nguyên tắc mà phương Tây cận đại kiên thủ như “tự do” và “lựa chọn”.

Rất đáng suy ngẫm là: tính đạo đức của thể chế kinh tế dân chủ chú trọng sự công bằng, minh bạch, nhân tính hóa của quá trình, chứ không để tâm đến kết quả tổng hợp lấy GDP làm chủ đạo. Ngược lại, các nhà kinh tế học mà Hayek là đại biểu cho rằng thứ “phồn vinh” được chế tạo dựa vào “điều tiết trung ương” (central planning) và “chính phủ can dự” (government intervention) là nguy hiểm, chuyên chế, do đó là phi đạo đức. Tác phẩm tiêu biểu cho quan điểm này là danh tác kinh điển Hayek xuất bản năm 1944: “Con đường dẫn tới nô lệ” (The Road to Serfdom). Trong sách, ông trọng điểm mổ xẻ và phê phán nước Đức Quốc xã, kẻ tạo nên cái gọi là huy hoàng kinh tế và bày tỏ lo ngại sâu sắc về việc kinh tế toàn cầu sau chiến tranh đi tới nhất thể hóa và mang tính chuyên chế.

Nay, nhìn tổng quát kinh tế toàn cầu, người ta không thể không khâm phục tầm nhìn xa trông rộng của Hayek, cũng không thể không tiếc nuối vỗ tay than thở cho cục diện kinh tế thế giới, vốn lấy thị trường tự do làm định hướng và chủ thể rơi vào cạm bẫy chuyên chế hay “chủ nghĩa tư bản nhà nước” (state capitalism). Quả thực, từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 suýt đè bẹp nước Mỹ cho đến cuộc khủng hoảng nợ châu Âu vẫn đang lên men, có khả năng một đòn phá hủy “khu vực đồng euro”,  kinh tế Âu Mỹ khủng hoảng rình rập bốn phía, đã đi đến ngã tư đường; đến nỗi một trong những chủ đề của “Diễn đàn Kinh tế Davos” gần đây chính là “Kinh tế thị trường phương Tây phải chăng đã chết”. Đáng sợ hơn nữa là: giới chính trị – kinh tế phương Tây tuy phổ biến nhận thức được cuộc khủng hoảng này quan hệ đến sống còn của chính mình, nhưng về nguồn cơn của nó thì đến nay vẫn chưa sờ thấy cửa. Chẳng những tập thể “mất phương hướng” về căn nguyên và tính chất của khủng hoảng, có kẻ thậm chí còn sùng bái đến đỉnh cái gọi là “mô hình Trung Quốc”, cho rằng đó là con đường mới mở lối riêng.

Vai trò của kinh tế Trung Cộng trong kinh tế toàn cầu

Nền kinh tế Trung Quốc đã qua hơn ba mươi năm “cải cách mở cửa” có thật là tiên đan diệu dược giải quyết được vấn đề kinh tế thế giới không? Vấn đề của kinh tế phương Tây rốt cuộc nằm ở đâu? Là tự thân hay ngoại tại? Vì sao độ sâu của khủng hoảng, một mặt chỉ có thể so sánh với cuộc “Đại Suy thoái” thập niên 20 do sự non nớt của kiến trúc thượng tầng kinh tế phương Tây gây ra; mặt khác lại vừa khéo xuất hiện đúng vào hôm nay, khi kinh tế Trung Cộng và phương Tây hoàn toàn dung hợp, không phân biệt anh tôi? Kinh tế Trung Cộng rốt cuộc đóng vai trò gì trong kinh tế toàn cầu? Có gợi mở gì cho cục diện và sự phát triển của thế giới?

  1. “Cải cách mở cửa” là cọng rơm cứu mạng của chính quyền Trung Cộng đang treo trên sợi tóc

Sau Cách mạng Văn hóa, kinh tế Trung Quốc đầy thương tích; tỷ trọng GDP của nó trên toàn cầu cũng rơi xuống điểm thấp nhất trong lịch sử Trung Quốc, đến chính Trung Cộng cũng thừa nhận “kinh tế quốc dân ở bên bờ sụp đổ”. Trong tình thế ấy, đảng khôi Trung Cộng Đặng Tiểu Bình đề xuất “cải cách mở cửa” để cứu vớt chính quyền Trung Cộng đang lung lay sắp đổ. Trên thực tế, giữa hai lựa chọn: phát triển kinh tế và củng cố chính quyền. Trung Cộng sẽ chọn gì, thì việc Giang Trạch Dân dốc sức cả nước bức hại Pháp Luân Công đã đưa ra câu trả lời đầm đìa máu: những cái lợi to lớn cho quốc gia, chính phủ, tiết kiệm lượng lớn kinh phí y tế dân sinh, nâng cao trình độ sức khỏe nhân dân, nâng cao trình độ đạo đức Trung Hoa, thảy đều bị gạt bỏ hoàn toàn, kéo Trung Quốc xuống vực thẳm vạn trượng.

Sau khi mất tính chính danh cầm quyền, thành tích kinh tế trở thành cọng rơm cứu mạng duy nhất của Trung Cộng.

  1. Trung Quốc gia nhập WTO là khởi đầu của việc bắt cóc phương Tây

Nếu một nhà nghiên cứu có tâm phác họa chuỗi thời gian từ số liệu vĩ mô của kinh tế Trung Quốc hậu Cách mạng Văn hóa, một điểm ngoặt rõ rệt sẽ là năm 2001. Kinh tế Trung Quốc trước đó tựa như con la thồ nặng leo dốc, bị hàng loạt vấn đề: nợ tam giác, thuế quốc gia, thuế địa phương, chiến tranh thương mại với các nước phát triển và Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước, v.v đè cho nghẹt thở; còn kinh tế Trung Quốc gần mười năm nay nhìn bề ngoài thì như được thay bộ động cơ BMW. Người ta thường nói “không phá không lập”; sự phát triển kinh tế Trung Quốc gần mười năm lại cho người ta cảm giác luôn gào to “chỉ phá không lập”. Cùng với việc thể chế kinh tế toàn dân nguyên có bị phá vỡ, việc kiến lập một thể chế kinh tế tư hữu và pháp luật có trật tự, có hệ thống, toàn diện, tương tự tiến trình phát triển của các nước phát triển và sau khi “Liên Xô – Đông Âu giải thể” bị trì hoãn vô thời hạn, hoặc bị cố ý xử lý mơ hồ theo kiểu rỗng ruột, giản đơn, khái niệm hóa, khiến người ta bị thể chế, hay “không thể chế”, làm cho hoa mắt chóng mặt triệt để, mất đi lòng tin, sự nương tựa và thái độ nghiêm túc cơ bản đối với nó.

Phóng mắt nhìn quanh, dưới những khẩu hiệu rỗng tuếch không biết đang nói gì, làm cho có lệ, thậm chí tự mâu thuẫn (kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa?) như “cải cách mở cửa”, “kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc”, cái Trung Cộng đang tiến hành là một canh bạc vô thời hạn dùng kinh tế để duy trì nền thống trị độc tài của nó. Thử hỏi: “cải cách mở cửa” của Trung Cộng đã tiến hành hơn ba mươi năm, có một tấm thời gian biểu nào không? Từ “Thương Ưởng biến pháp” đến “Vương An Thạch cải cách” cho đến “Trương Cư Chính cải chế” trong lịch sử Trung Quốc, đến “cải cách Cromwell” và “Chính sách mới Roosevelt” của Âu Mỹ cho đến “cải cách y tế Obama” hôm nay, có cuộc cải cách nào như Trung Cộng cứ cải mãi không thôi? Cuộc cải cách không mục tiêu, không giám sát, không kế hoạch, thực chất là tấm bánh vẽ lớn treo trên trời để nhử khẩu vị của toàn thể dân chúng Trung Quốc và những nhân sĩ phương Tây bị che mắt, một bản “khế ước bảo mạng” để lay lắt tồn tại hệt như một tên tội phạm ba mươi năm nay ngày nào cũng giết người mà ngày nào cũng công bố một tờ cam kết “cải tà quy chính”. Từ tháng 10 năm 2001, bản khế ước ấy lại thêm một điều khoản mới, giúp Trung Cộng trong cuộc xung đột lý niệm giá trị tối hậu với thế giới tự do phương Tây có được một con bài tựa như “bùa hộ mệnh”. Tầm quan trọng của con bài này đối với những kẻ cầm quyền ở Trung Nam Hải là bất ngôn nhi dụ: mười năm sau, một buổi thịnh điển tại “Đại lễ đường Nhân dân” đã ghi lại niềm vui thầm kín trong lòng họ theo cách chỉ riêng Trung Cộng có. Đúng vậy, “nhập thế” (vào WTO) một từ thời thượng nay đã lỗi thời, đã mang sinh cơ đến cho Trung Cộng vốn không còn đường tiếp tục, nhưng lại chôn xuống mầm họa sâu xa cho nền kinh tế phương Tây đang phơi phới bấy giờ.

Do cải cách của Trung Cộng không đụng đến “cải cách chính trị”, mà sự bất tài của Giang Trạch Dân càng khiến kinh tế quốc dân tan nát rời rạc. Tất cả những điều này trực tiếp dẫn đến cuộc khủng hoảng toàn diện của Trung Cộng cuối thập niên 90 về ngân hàng, thuế khóa và các phương diện khác. Bấy giờ nợ xấu của bốn đại ngân hàng quốc hữu đều vượt quá một nửa, buộc Trung Cộng phải thông qua tấm chi phiếu khống,mở cửa “thị trường rộng lớn” của mình để trói mình vào kinh tế phương Tây mà vượt qua khủng hoảng. Mười năm trôi qua, giới chính trị – kinh tế phương Tây đột nhiên phát hiện: cái thị trường một tỷ người từng đầy sức cám dỗ chỉ là bọt ảo hư huyễn; sự bóc lột tài chính nặng nề cộng với đủ kiểu cưỡng đoạt khéo léo từ cải cách nhà ở, cải cách giáo dục đến cải cách y tế, đi kèm với xoá bỏ triệt để trách nhiệm của nhà nước trong việc cung cấp phúc lợi cơ bản cho công dân, khiến khẩu hiệu “kéo nội nhu” hô hào năm này qua năm khác thành chuyện Nghìn lẻ một đêm, huống hồ kích thích dân chúng mua những sản phẩm nước ngoài giá đắt.

Trên thực tế, cái Trung Cộng thực sự coi trọng không phải cơ hội hợp tác công bằng, trao đổi có không với phương Tây, mà là nguồn vốn, kỹ thuật có thể truyền máu cho nó, cùng phần chia từ việc cùng tư bản lũng đoạn quốc tế nô dịch người dân trong nước.

Đầu năm 2012, “Ủy ban Kinh tế – An ninh Mỹ – Trung” trực thuộc Quốc hội Mỹ công bố báo cáo mới nhất về kinh tế Trung Quốc. Quan điểm trong văn bản phản ánh ở mức độ lớn sự tổng kết của giới trí nang chủ lưu phương Tây về mười năm “nhập thế” của Trung Cộng: trong quá trình này, tính cạnh tranh tự do của kinh tế Trung Quốc chẳng những không tăng như dự kiến, ngược lại còn giảm mạnh. Điều này thể hiện ở chỗ: tuy tổng số doanh nghiệp quốc doanh lớn từ khoảng năm nghìn giảm xuống chỉ còn ba trăm, nhưng khối quốc doanh tính theo quỹ lương chỉ thuê 8% lực lượng lao động, lại khôi phục về mức 50% trong tỷ trọng GDP; còn doanh nghiệp tư nhân, từng tăng trưởng rõ rệt thời Đặng Tiểu Bình, thuê lượng lớn lao động thì co rút dưới đòn đánh của thiếu vốn, gánh thuế nặng nề cùng đủ loại chi phí ẩn do quản chế chính sách mang lại. Đến đây, toan tính do cựu Tổng thống Mỹ Clinton đề xuất thông qua “Trung Quốc nhập thế” để nuôi dưỡng kinh tế tư doanh của nó và cuối cùng thực hiện tự do hóa thị trường, thậm chí thể chế chính trị tuyên cáo thất bại triệt để.

Cùng lúc đó, “New York Times” trong bản điều tra tin tức có sức ảnh hưởng nhất gần một năm của mình đã phanh phui sự bóc lột và bức hại kinh người bên trong nhà máy “Foxconn” đặt tại Thành Đô, Tứ Xuyên, nơi độc quyền toàn cầu sản xuất iPhone và iPad của Apple. Nhân vật chính của câu chuyện, một sinh viên tốt nghiệp chưa lâu, mỗi tuần làm việc 6 ngày, vậy mà vào ngày nghỉ, đang hẹn bạn gái cùng xem kịch vẫn bị gọi đi tăng ca. Chức trách công việc của cậu là giám sát công nhân dùng giấy nhôm mài bóng màn hình điện thoại Apple trong phân xưởng đầy bụi nhôm. Bi kịch xảy ra: khi cô bạn gái đứng chờ trước cửa rạp nghe lại được tin tức về người yêu mình, thì phân xưởng mài, nơi chỉ số bụi vượt chuẩn nghiêm trọng đã phát nổ, còn người yêu cô đang rên rỉ trên giường bệnh, chịu đựng những khoảnh khắc cuối cùng của quãng đời ngắn ngủi. Công chúng Mỹ xôn xao trước bản báo cáo: phút chốc, công ty Apple, trên thương trường nhờ lợi nhuận điện thoại thông minh mà như mặt trời giữa trưa, trên thị trường chứng khoán rực rỡ hào quang, trở thành kẻ thù chung bị nghìn người chỉ mặt. Thế nhưng, cùng lúc ấy, tại nơi xảy ra câu chuyện lại là một mảng im lìm. Có lẽ, thần kinh của dân chúng nơi đó đã bị “mười ba cú nhảy liên tiếp” cũng xảy ra tại “Foxconn” trước đó châm chích đến tê dại rồi. Càng chấn động lòng người hơn: trong toàn bộ quá trình này, chính quyền Trung Cộng ở đâu? Đã có biểu thị gì?

Việc Trung Cộng gia nhập nhất thể hóa kinh tế quốc tế đã phá hoại pháp tắc thương mại quốc tế công bằng sẵn có, khiến sự can dự thậm chí thao túng của nhà nước thành tất nhiên, làm xấu đi môi trường sinh thái của kinh tế thị trường. Học thuyết kinh tế tự do phương Tây từ Adam Smith thế kỷ 18 đã dựng nên lý thuyết thương mại quốc tế lấy “lợi thế so sánh” làm nền tảng. Khác biệt lớn nhất giữa lý thuyết này và “học thuyết trọng thương” thịnh hành trước đó là: cái trước nhấn mạnh nguyên tắc cùng có lợi và trao đổi có không trên tiền đề phát huy ưu thế tự thân của mỗi đối tác thương mại, thúc đẩy kinh tế toàn cầu phát triển; còn cái sau sở dĩ bị vứt bỏ cũng chính vì nó bó hẹp trong sự tích lũy tài phú dị dạng, hẹp hòi, không bền vững, bằng cách duy trì xuất siêu, hy sinh lợi ích của các đối tác thương mại khác. Thái độ tích cực của phương Tây đối với việc Trung Cộng nhập WTO ban đầu đến từ ảo tưởng về sức ràng buộc của pháp tắc thương mại quốc tế đối với Trung Cộng, và sự thèm khát “thị trường rộng lớn” hư huyễn của Trung Quốc. Còn Trung Cộng sau khi nhập WTO chẳng những tiếp tục thông qua sự can dự trần trụi của nhà nước để bảo hộ các thị trường cốt lõi như tài chính, năng lượng, viễn thông, mà còn thông qua thao túng tỷ giá nhân dân tệ, các hình thức trợ cấp nhà nước trá hình như “hoàn thuế xuất khẩu” mà đại hưng “chủ nghĩa trọng thương” để giành vốn liếng mặc cả với phương Tây, giảm nhẹ áp lực của cộng đồng quốc tế đối với sự bức hại nhân quyền của nó, và ăn mòn, lôi kéo chính khách, học giả, truyền thông phương Tây đứng ra chống lưng cho nền thống trị độc tài của nó.

Các nước dân chủ chủ yếu phương Tây, trong bối cảnh Liên Xô – Đông Âu giải thể, gió dân chủ tự do thành chủ lưu toàn cầu, đã lơi lỏng cảnh giác với pháo đài cuối cùng của thống trị cực quyền, Trung Cộng; chẳng những mặc nó lớn mạnh, còn vì nhu cầu lợi ích ngắn hạn hoặc đảng phái của mình mà truyền máu cho nó, khiến Trung Cộng, thứ rác lịch sử từ lâu đã thành xác sống hôm nay, 20 năm sau biến cố 89, vẫn nô dịch, khống chế một phần năm dân số thế giới, trở thành hậu đài tổng của mọi tổ chức và chính quyền cực quyền, khủng bố, phản nhân loại trên toàn cầu, cấu thành mối đe dọa lớn nhất đối với hòa bình thế giới và các lực lượng tự do. Bề ngoài mà nhìn, Trung Cộng thông qua việc cung cấp sản phẩm giá rẻ cho các doanh nghiệp như Walmart đã tiết kiệm cho người tiêu dùng Mỹ mấy nghìn tỷ đô la (năm 2011 phía Trung Quốc ước tính 600 tỷ đô la Mỹ; giới học thuật phương Tây ước con số thực tế có thể cao hơn), và giúp Cục Dự trữ Liên bang Mỹ có đủ không gian hoàn thành nhiệm vụ vốn bất khả thi, vừa giữ lãi suất thấp để thúc phát triển, vừa giữ lạm phát thấp để ổn vật giá dân sinh; nhưng cái giá mà Mỹ và cả phương Tây phải trả trong quá trình này là thảm khốc, thậm chí mang tính tự sát.

Ngoài ra, phương Tây ngây thơ hy vọng thông qua việc Trung Cộng gia nhập vòng tuần hoàn kinh tế quốc tế mà tăng tốc tư hữu hóa, thị trường hóa kinh tế của nó, cuối cùng kéo theo dân chủ hóa. Nhưng hiện thực phản ánh từ các sự kiện gần đây như “vạn người kháng thuế ở Hồ Châu”【1】và “ông chủ Ôn Châu bỏ trốn”【2】lại là: doanh nghiệp tư nhân, khối phát triển nhanh nhất, lợi nhuận cao nhất, sức sống mạnh nhất, thuê nhiều người nhất trong kinh tế Trung Quốc, lại bị vắt ép và làm khó ở những phương diện thể hiện rõ nhất sự nâng đỡ của chính phủ như thuế khóa, cho vay. Cùng lúc đó, doanh nghiệp quốc doanh giương biển “công ty niêm yết” nhận không từ nhà nước lượng lớn đất đai, khoản vay lãi thấp, cùng đặc quyền thuế thấp, cổ tức thấp nhờ tùy tiện làm sổ sách kế toán giả. Theo ước tính, tổng giá trị tài sản của 121 doanh nghiệp quốc doanh lớn nhất Trung Quốc từ 360 tỷ đô la Mỹ năm 2002 tăng vọt lên 2.900 tỷ đô la Mỹ năm 2010; trong đó giai đoạn tăng nhanh nhất vừa khéo là 2008–2009,lúc khủng hoảng tài chính thế giới hoành hành, cũng chính là thời gian thực thi “kế hoạch cứu thị 4 nghìn tỷ”. Còn trong tổng số khoản vay cao tới 1,4 nghìn tỷ đô la Mỹ mà các ngân hàng quốc hữu Trung Quốc cho vay năm 2009, 85% chảy về doanh nghiệp quốc doanh.

“Mô hình Bắc Kinh” mà Trung Cộng đề xướng, bề ngoài chỉ là kế thừa y bát của “chủ nghĩa tư bản nhà nước”, đi con đường cũ của Đức, Nhật, Hàn; nhưng bản chất thì khác. Do đặc tính độc tài và chuyên chế ngoan cố của chính quyền Trung Cộng, cái “nhà nước” mà nó đại diện có khác biệt rất lớn với hàm nghĩa mà phương Tây hiểu, hay theo nghĩa thông thường. Ví như, trong số các “lãnh đạo” Trung Cộng hiện có, 17 người đồng thời kiêm nhiệm ông chủ các đại doanh nghiệp “cấp quốc gia”; còn trong Ủy viên Trung ương Trung Cộng, 27 người là lãnh tụ giới thương mại. Hiện thực chuyên chính một đảng của Trung Cộng trao cho những “ông chủ mũ đỏ” này quyền lực và tài nguyên gần như vô hạn, nhưng đồng thời lại gần như tước đoạt mọi sức ràng buộc công khai của xã hội, hay của “nhà nước” chân chính, đối với những con người ấy — khiến “mô hình Bắc Kinh” thành biến thể mới nhất, cũng cực đoan nhất của “chủ nghĩa tư bản quyền quý”.

Nhà báo nổi tiếng phương Tây, chuyên gia vấn đề Trung Quốc Richard McGregor khi mô tả những “quyền quý đỏ” này chỉ ra: các tổng giám đốc của hơn 50 công ty lớn nhất Trung Quốc, bên cạnh chiếc máy đầu cuối Bloomberg và tấm ảnh gia đình đặt trên bàn làm việc, luôn có một chiếc điện thoại màu đỏ nối thẳng Trung Nam Hải. Có lẽ, con đường quan lộ của Lý Tiểu Bằng, con trai cựu Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng, kẻ nổi danh vì trợ giúp trấn áp “Lục Tứ”, cung cấp cho người ngoài lời chú giải sống động để hiểu câu nói này của McGregor. Ngày 3 tháng 6 năm 2008, 20 năm sau thảm án “Lục Tứ” (nguyên văn ghi vậy), Tân Hoa Xã phát tin tuyên bố Lý Tiểu Bằng “từ nhiệm” chức Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Bí thư Đảng tổ Công ty cổ phần Điện lực Quốc tế Hoa Năng để nhậm chức Phó Tỉnh trưởng tỉnh Sơn Tây. Thời điểm công bố bản bổ nhiệm này có mang ý vị chế giễu toàn thể dân chúng Trung Quốc một cách chọn lọc hay không, chúng ta không thể biết; nhưng một cuộc chuyển đổi từ ông chủ doanh nghiệp sang quan chức công quyền cấp cao, vốn trong thể chế bầu cử bình thường của phương Tây ít nhất cần hai năm (tỷ lệ thành công bất định), lại được công nhận và thực thi tức khắc chỉ qua một bản điện tín Tân Hoa Xã hoặc “văn kiện dấu đỏ” trong đảng, khiến người ta có nhận thức tự nhiên, trực cảm về độ chân thực hay hàm lượng vàng của những danh từ ngoại lai từ kinh tế thị trường phương Tây đang tràn ngập Trung Quốc như “công ty cổ phần hữu hạn”, “chủ tịch hội đồng quản trị”, “người quản lý mua lại”.

Trong mười năm Trung Quốc “nhập thế”, Bắc Kinh khoét kẽ hở, giở trò vô lại không mở cửa thị trường, để doanh nghiệp quốc doanh do “Thái tử đảng” nắm giữ vơ vét lợi nhuận khổng lồ; dùng “bóc lột tài chính” làm suy yếu mang tính hủy diệt sức mua thực tế của dân gian; ra sức nâng đỡ doanh nghiệp quốc doanh “đảng sản”; chế tạo kinh tế bong bóng như bất động sản, đường sắt cao tốc để vơ tiền; thông qua vốn ngoại, doanh nghiệp ngoại, ngoại thương mà trói chặt kinh tế Trung Quốc vào kinh tế phương Tây, một vinh cùng vinh, một tổn cùng tổn.

  1. Khủng hoảng kinh tế phương Tây là khủng hoảng đạo đức do Trung Cộng xuất khẩu

Trường phái Áo bắt đầu từ cuốn “Nguyên lý Kinh tế học” do Menger công bố năm 1871; sau đó, trong giới kinh tế học chủ lưu phương Tây trước chủ nghĩa Keynes, trường phái này với Hayek và von Mises là đại biểu chiếm địa vị chủ đạo. Quan điểm chính của trường phái Áo kiến lập trên chức năng không thể thay thế của cơ chế thị trường tự do đối với tổng thể kinh tế trong việc thu thập, truyền bá và đánh giá thông tin. Điều này thể hiện ở ba cơ chế sau:

(1) Quyết sách của doanh nghiệp ở giai đoạn khởi nghiệp (entrepreneurship) đặc biệt quan trọng trong toàn bộ vận hành thị trường;

(2) Cùng với sự thai nghén dần của cơ chế thị trường và sự trưởng thành của phân công chuyên môn, thị trường vốn trở thành chủ thể trong quyết sách thị trường;

(3) Sự can dự của nhà nước vào thị trường vốn làm tăng mạnh địa vị chiến lược của nó, thúc đẩy sự xuất hiện của các đại tập đoàn ngân hàng và khiến chính sách tiền tệ mang tính lạm phát thành tất nhiên.

Suy ngẫm về nguyên nhân cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhất của phương Tây kể từ “Đại Suy thoái” bắt đầu từ 2007, người ta không khỏi khâm phục tác dụng tiên tri của các quan điểm trường phái Áo nói trên. Trên thực tế, đối với trào lưu và thể chế “chủ nghĩa tư bản nhà nước” đang lan tràn toàn cầu đương đại, quan điểm của trường phái Áo càng vang như sấm bên tai: sự xuất hiện của các đại tập đoàn ngân hàng trong giới tài chính và chính sách mang tính lạm phát nảy sinh sau đó đã vi phạm nghiêm trọng yêu cầu căn bản về sự ổn định và lý tính của thị trường từ các chủ thể lợi ích kinh tế chính như nhà khởi nghiệp; chấn động nảy sinh từ đó gây ra sự rối loạn rộng khắp trong hệ thống giá cả. Vài sự thực cơ bản dưới đây có thể giúp bạn đọc hiểu rõ đầy đủ các quan điểm trên để lý giải biến đổi kết cấu của các nền kinh tế phương Tây mà Mỹ là đại biểu:

  1. Từ 1973 đến 1985, tỷ trọng lợi nhuận tổng thể của giới tài chính trong toàn ngành công nghiệp Mỹ không vượt quá 16%. Con số này năm 1986 đạt 19%; thập niên 90 đạt mức cao mới sau chiến tranh, dao động giữa 21% và 30%. Bước vào thế kỷ 21 thì luôn ở khoảng 41%. Ngoài ra, tỷ trọng của giới tài chính trong GDP Mỹ năm 1960 chỉ 4%, nhưng năm 2007 đạt 8%.
  2. “Kế hoạch cứu thị” của chính phủ Mỹ tương tự kế hoạch kích thích bốn nghìn tỷ của Trung Quốc, thuộc can dự nhà nước nghiêm trọng; còn các kế hoạch nới lỏng định lượng mỗi lần cao tới 600 tỷ đô la Mỹ sau đó, cùng chính sách lãi suất thấp dài hạn bắt đầu từ Greenspan, đều mang tính lạm phát.
  3. Cục Dự trữ Liên bang, Phố Wall, “hai Fannie – Freddie” cùng các cơ cấu cho vay ngân hàng trở thành đòn bẩy chính điều tiết thị trường và quyết sách, vi phạm lợi ích của các chủ thể thị trường như chủ doanh nghiệp tư nhân nhỏ và cơ cấu nghiên cứu phát triển.
  4. Các cuộc khủng hoảng tài chính càn quét Mỹ và châu Âu đều do sự mất cân bằng giá cả như “bong bóng tài sản”, bao gồm nhà đất mà các chính sách nói trên gây ra.

Ảnh hưởng của chủ nghĩa tư bản nhà nước không giới hạn ở phản ứng lượng hóa đối với thị trường hay kinh tế, mà càng thể hiện ở tác dụng ăn mòn mang tính hủy diệt đối với cả hệ thống đạo đức xã hội. Từ phân tích nguyên nhân cơn sóng thần tài chính Mỹ, có mấy phương diện cụ thể sau:

Trước hết, mô thức kiếm tiền “lợi nhuận tư hữu hóa, thua lỗ công cộng hóa” của các ngân hàng Phố Wall khiến chúng sa đọa thành đơn vị ký sinh xã hội tương tự doanh nghiệp quốc doanh Trung Quốc. Từ khoản đầu tư của “Công ty Đầu tư Trung Quốc (CIC)” vào Morgan Stanley cùng các hiệp định hợp tác mà hai gã khổng lồ Goldman Sachs và Morgan lần lượt ký với chính quyền thành phố Bắc Kinh và Hàng Châu, có thể thấy được phần nào manh mối.

Thứ hai, Phố Wall từ thập niên chín mươi ra sức bành trướng các sản phẩm phái sinh tài chính mang tính cờ bạc, phi phòng hộ, làm gia tăng mạnh chấn động thị trường, tổn hại lợi ích nhà đầu tư phổ thông. Mà do kinh tế Trung Quốc bị trói cùng Phố Wall, thậm chí cả kinh tế Mỹ, lượng lớn ngoại hối Trung Quốc kiếm được nhờ thao túng tỷ giá, lao động rẻ mạt cùng môi trường lao công phi nhân đạo lại cuồn cuộn chảy ngược về Mỹ, cung cấp thổ nhưỡng vốn cho kiểu đầu cơ ấy. Đáng ngẫm là sự cất cánh của thị trường sản phẩm phái sinh vừa khéo trùng hợp kinh người với việc Trung Quốc gia nhập WTO.【3】Nếu lấy tháng 6 năm 2001 làm cơ số 100 quan sát tỷ lệ tổng giá trị sản phẩm phái sinh toàn cầu trên tài phú, tỷ lệ này từ đó trong vỏn vẹn 6 năm leo một mạch lên 520 vào tháng 6 năm 2007; trong khi tỷ lệ ba năm trước đó chỉ là 75, và trong ba năm sau thì thăng trầm trồi sụt. Lẽ nào đây chỉ đơn thuần là trùng hợp?

Thứ ba, có người quy cơn sóng thần tài chính mà Mỹ vừa trải qua là ác quả của việc trục “Washington + Phố Wall” cấu kết bè lũ, móc ngoặc lẫn nhau, thao túng thị trường, phân tích từ góc độ trường phái Áo kinh điển cũng không phải vô lý. Nếu đối chiếu với “văn hóa doanh nghiệp quốc doanh” của Trung Quốc, dường như tính tương đồng càng rõ rệt. Phố Wall phái các đại diện xuất thân Goldman Sachs của mình như Rubin, Paulson ra nhậm chức đại viên tài chính, phế bỏ đạo luật Glass–Steagall, được định ra thời “Đại Suy thoái” để tránh khủng hoảng tái diễn, khiến các ngân hàng đầu tư Phố Wall thành cỗ máy đánh bạc nuốt không ngừng tiền của nhà đầu tư và người nộp thuế; điều này với các “ương xí” (doanh nghiệp trung ương) bị gọi là “quái thú” về bản chất giống nhau biết bao.

Thứ tư, cũng là điểm quan trọng nhất: tuy trường phái Áo chỉ rõ thứ “chủ nghĩa tư bản nhà nước” tràn lan toàn cầu này, vì dùng ý chí nhà nước trái nhân tính thay thế tinh thần doanh nhân tràn đầy sức sống mà chà đạp quyền tự do và lựa chọn thiêng liêng của cá nhân, nhưng việc Trung Cộng gia nhập cuộc chơi này trong thế kỷ 21 khiến nó gặp phải cuộc khủng hoảng đạo đức chưa từng có.

Ảnh hưởng mà cuộc khủng hoảng này mang lại là đa phương vị. Lợi nhuận của máy tính “Apple” và “chuỗi nhảy lầu Foxconn” chỉ là một phương diện trong đó, thậm chí không phải phương diện chủ yếu nhất. Có người nói cuộc khủng hoảng này đánh dấu sự sụp đổ của hệ thống đạo đức phương Tây, do đó cuộc khủng hoảng nợ xuyên suốt Âu Mỹ mà nó gây ra là cột mốc của ảnh hưởng ấy. Rõ ràng, ảnh hưởng kinh tế có thể lượng hóa; tổn thất này tuy to lớn, nhưng như thị trường nhà đất có lên có xuống, về lâu dài rốt cuộc có thể cứu vãn; còn ảnh hưởng thực sự mà cuộc khủng hoảng đạo đức lan khắp phương Tây này mang lại, có lẽ đúng như định nghĩa của đạo đức, thuộc phạm trù tinh thần thấm dần từng chút, đại diện cho sự sa đọa hay ăn mòn tầng sâu của cả phương Tây.

  1. Nhận thức đúng Trung Cộng và thực chất kinh tế của nó là con đường duy nhất giải quyết khủng hoảng

Phàm ai có chút hứng thú với kinh tế học đều biết người đặt nền móng cho môn học này là đại sư kinh tế học Anh thế kỷ 18 Adam Smith, và cuốn “Quốc phú luận” (Của cải của các quốc gia), kết tinh sở học cả đời ông, mãi mãi là khôi bảo của thánh điện kinh tế học, mang ý nghĩa hiện thực không gì sánh nổi. Nhưng ít ai biết Adam Smith cả đời có hai đại tác: cuốn kia là “Lý thuyết về Tình cảm Đạo đức” (The Theory of Moral Sentiments) công bố sau khi ông qua đời (thực tế xuất bản khi ông còn sống, người dịch giữ theo nguyên văn).

Lịch sử luôn tương đồng đến kinh ngạc. Khi người ta hỏi James Wilson, người qua đời ngày 2 tháng 3 năm nay, được xã luận “Wall Street Journal” tôn vinh là “nhà khoa học xã hội vĩ đại nhất nước Mỹ trăm năm qua” rằng,  cả đời ông đề cao nhất tác phẩm nào của mình, Wilson không chút do dự đáp: “Là ‘Cảm quan Đạo đức’ (The Moral Sense)”, cuốn sách mãi 1993 mới xuất bản. Trong sách, tác giả bày tỏ rõ: tuy nhân tính có nhiều khiếm khuyết, nhưng đặc chất căn bản của nó vẫn là “tìm thấy một thứ dục vọng khen ngợi người khác và được người khác khen ngợi, theo đuổi giao dịch công bằng cũng theo đuổi làm việc tốt, theo đuổi lợi ích cũng theo đuổi vinh dự”.

Rõ ràng, nếu lấy đoạn lời này của Wilson để đo lường nền kinh tế Trung Quốc bề ngoài hào nhoáng, khó tránh cho người ta cảm giác trống đánh xuôi kèn thổi ngược. Có lẽ, chính sự khuyết thiếu, thậm chí khủng hoảng đạo đức của kinh tế Trung Quốc và cả thể chế đã tạo nên cảnh “đảng tiến dân lùi”, giàu nghèo bất quân hôm nay của nó.

Adam Smith và James Wilson rõ ràng đều không phải thành viên “trường phái kinh tế học Áo”, nhưng họ cũng như Hayek, lời khuyên răn dành cho người đời nhất trí, sáng rõ, căn bản và quan trọng đến thế. Thử nghĩ: nếu khi cho vay dưới chuẩn nhà đất Mỹ thịnh hành khắp Phố Wall, những người liên quan có thể tuân theo lời cảnh tỉnh của Wilson về “dục vọng theo đuổi giao dịch công bằng cũng theo đuổi làm việc tốt, theo đuổi lợi ích cũng theo đuổi vinh dự”, thì cuộc khủng hoảng sau đó còn có thể sâu nặng đến mức kéo kinh tế Mỹ tới bờ sụp đổ không?

Phần thứ hai: Sự sa ngã đạo đức của thương nhân nước ngoài tại Trung Quốc

Khi Đặng Tiểu Bình tiến hành cải cách mở cửa thập niên tám mươi, tư bản phương Tây giữ thái độ hết sức thận trọng với việc vào thị trường Trung Quốc. Sự thiếu hiểu biết về Trung Quốc đương nhiên là một nguyên nhân chính: môi trường đầu tư Trung Quốc rốt cuộc ra sao, quan hệ lao động – tư bản khống chế thế nào, xã hội có ổn định không, chính phủ có đáng tin không, sự tước đoạt nhân quyền của Trung Cộng cùng phân kỳ hệ tư tưởng Trung – Tây, v.v. và v.v., khiến các công ty lớn phương Tây thận trọng dè dặt. Các công ty Hồng Kông – Ma Cao và Đông Nam Á, nhất là công ty người Hoa, đi đầu lội nước. Đợi họ vớt được từng thùng từng thùng vàng, các công ty phương Tây không nhịn nổi nữa: họ ném mọi e ngại ra sau gáy, nhảy lên đoàn tàu phát triển kinh tế Trung Quốc. Đạo đức doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội của công ty, trước vàng ròng hay tờ giấy xanh (đô la Mỹ), đã trở nên nhợt nhạt bất lực, thậm chí sạch bách chẳng còn.

Nhiều thương nhân nước ngoài quả thực đã đào được “vàng” ở Trung Quốc. Nhưng vì thế, họ cũng mất đi “đức”. Cái giá này khá nặng nề, dù các thương nhân nước ngoài chưa chắc lập tức ý thức được. Sự trượt dốc đạo đức của thương nhân nước ngoài xảy ra dần dần từng bước một, cho nên có những thương nhân đến nay vẫn chưa ý thức được sự biến đổi ấy. Sự sa ngã đạo đức của thương nhân nước ngoài tại Trung Quốc thể hiện ở mọi mặt: từ “hủ bại truyền thống” như hối lộ trần trụi bằng mỹ nữ, tiền bạc, đến “hủ bại độc đáo sáng tạo” như khảo sát “du lịch”, cho người nhà xuất ngoại hoặc du học, tài trợ ưu đãi, v.v.; từ khuyết thiếu đạo đức kiểu “nhắm mắt làm ngơ” như nô dịch lao công, ô nhiễm môi trường, đến công khai “trợ Trụ vi ngược” như trợ giúp Trung Cộng phong tỏa mạng, bức hại nhân quyền, v.v.

Nói khách quan, Giang Trạch Dân không hề định ra một kế hoạch chu mật “ăn mòn làm sa đọa doanh nghiệp phương Tây”; theo năng lực của ông ta, ông ta cũng chưa chắc thực sự đề xuất nổi phương lược trị quốc như thế. Ông ta chỉ tiếp nối chiêu số “dĩ ác trị quốc” của mình, nắm lấy và lợi dụng nhược điểm lớn nhất trong nhân tính của thương nhân: tham. Thông qua phương thức nhượng lợi cho vốn ngoại, ông ta biến Trung Quốc thành một khối nam châm khổng lồ, hút chặt vốn ngoại vào thị trường Trung Quốc. Đồng thời, sự bại hoại đạo đức mang tính chế độ hóa, hệ thống hóa, toàn dân hóa mà ông ta gây ra ở Trung Quốc đã biến Trung Quốc thành một thùng thuốc nhuộm lớn. Bất kể doanh nghiệp phương Tây vốn màu gì, hễ bước vào thùng thuốc nhuộm này của Trung Cộng, lập tức “gần mực thì đen”. Đây quả là điều thương nhân nước ngoài không lường trước khi vào Trung Quốc.

Nhanh chóng thích ứng “đặc sắc Trung Cộng”: quan – thương câu kết

Khi vốn ngoại quyết định vào Trung Quốc, các thương nhân tinh khôn trước tiên tiến hành loạt nghiên cứu về Trung Quốc, rất nhanh nắm được “đặc sắc Trung Quốc”: là một doanh nghiệp vốn ngoại, muốn đứng vững ở Trung Quốc, ắt phải có “ô dù” chính trị nhất định. Cái “ô dù” này có thể mở cho họ nhiều cánh cửa khó mở theo con đường bình thường, dàn xếp đủ loại quan hệ phức tạp từ trung ương đến địa phương, thậm chí định ra chế độ chính sách có lợi cho thương nhân nước ngoài.

Việc dựng “ô dù” này, ngoài trực tiếp hối lộ quan chức chính quyền Trung Quốc liên quan, cũng không ít trường hợp đi “đường vòng cứu nước” qua thân thích của các quan chức ấy. Từ thời Giang Trạch Dân đến thời Hồ Cẩm Đào, con cái nhiều quan chức cao cấp được giáo dục ở phương Tây. Các công ty và ngân hàng phương Tây tuyển dụng không ít những “Thái tử đảng” kiểu này, tăng hệ số thành công khi họ vào thị trường Trung Quốc. Các công ty tài chính lớn phương Tây càng mong các “Thái tử đảng”, dưới bóng che của cha chú, giúp công ty giành được các dự án bảo lãnh phát hành cho công ty quốc hữu niêm yết tại New York hay Hồng Kông. Chỉ nêu vài ví dụ:

Phùng Thiệu Đông (Wilson Feng), con rể Ủy viên trưởng Nhân Đại Ngô Bang Quốc: từng làm Chủ tịch khu vực Trung Quốc của Merrill Lynch. Năm 2006, Merrill Lynch giành được dự án bảo lãnh phát hành cho Ngân hàng Công thương niêm yết tại Hồng Kông, trở thành đợt phát hành cổ phiếu lần đầu (IPO) lớn nhất lịch sử, vai trò của Phùng Thiệu Đông không thể xem nhẹ.

Chu Vân Lai, con trai Chu Dung Cơ: Tổng giám đốc Công ty Tài chính Quốc tế Trung Quốc (CICC). Công ty này là ngân hàng đầu tư liên doanh Trung – ngoại đầu tiên của Trung Quốc: Ngân hàng Kiến thiết Trung Quốc chiếm cổ phần lớn, Morgan Stanley chiếm 34%, Công ty Đầu tư Chính phủ Singapore chiếm 7,35%. CICC dưới sự chủ trì của Chu Vân Lai đã thành nhà môi giới hạt nhân cho doanh nghiệp Trung Quốc phát hành cổ phiếu ra hải ngoại. Có tin nói thu nhập năm của Chu Vân Lai năm 2006 là mười triệu đô la Mỹ, năm 2007 tăng lên mười bảy triệu đô la Mỹ.

Nhậm Khắc Anh, con gái nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông Nhậm Trọng Di, con dâu cố cựu Tổng Bí thư Triệu Tử Dương: tốt nghiệp Học viện Quản trị Kinh doanh Đại học Princeton. Làm việc bảy năm tại ngân hàng đầu tư vốn Mỹ Bear Stearns, thăng đến Giám đốc điều hành cấp cao; tháng 8 năm 2001 chuyển sang làm Trưởng bộ phận nghiệp vụ Trung Quốc của Salomon Smith Barney (nay gọi là Citigroup Global Markets), lập công hãn mã cho tập đoàn Citigroup.

Tăng Chi Kiệt (Jeffrey Zeng), con trai Phó Thủ tướng Tăng Bồi Viêm: tốt nghiệp Đại học Nagasaki Nhật Bản, thạc sĩ quản lý Đại học Stanford, từng làm việc tại Mitsubishi Corporation và CITIC Pacific Hồng Kông.

Đương nhiên, chỉ những tập đoàn doanh nghiệp và công ty tài chính hàng đầu thế giới mới có tài lực hùng hậu để khóa chặt con cái quan chức cao cấp Trung Cộng làm người mở đường cho mình; doanh nghiệp cấp khác thì lùi mà cầu bậc thấp hơn: kết minh với quan chức địa phương hoặc quan đương nhiệm trong hệ thống công thương – tài chính. Ở đây chỉ lấy Bạc Hy Lai làm ví dụ. Bạc Hy Lai, bấy giờ là Thị trưởng Đại Liên, đã hạ thấp điều kiện, cung cấp ba năm miễn thuế và đất đai rẻ mạt, thu hút nhiều doanh nghiệp ngoại vào định cư tại khu khai phát Đại Liên, bao gồm các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường như Daiseikinzoku (Đại Thanh Kim Loại) Nhật Bản, doanh nghiệp van Kitamura, v.v. Các ông chủ ngoại này qua lại mật thiết với Bạc Hy Lai cùng quan chức cao cấp địa phương, vắt kiệt tối đa mồ hôi xương máu công nhân, kiếm bộn tiền. Bạc Hy Lai và đồng bọn thì “hộ giá hộ tống” cho các ông chủ ngoại. Để giám sát công nhân bất mãn, Bạc hạ lệnh lắp mấy trăm camera tại khu Ngũ Thái Thành trong khu khai phát; ông ta nói đùa với phóng viên: ai đứng tè chân tường cũng thấy hết… Công nhân của công ty TNHH Star Seiki (Tư Đại Tinh Mật), doanh nghiệp độc vốn Nhật sản xuất máy in, vì bất mãn đãi ngộ và bị sa thải vô cớ đã đình công một tuần; cảnh sát cùng công đoàn quan lập dưới quyền khống chế của Bạc đứng về phía thương nhân nước ngoài, vừa rắn vừa mềm, vừa đánh vừa lừa, cuối cùng phân hóa làm tan rã lực lượng duy quyền của công nhân. Một công ty Mabuchi Motor sản xuất mô-tơ siêu nhỏ quy định thời gian hạn chế công nhân đi vệ sinh, còn theo biểu hiện của công nhân mà cưỡng chế đội lên đầu họ năm loại mũ màu khác nhau. Nhiều công nhân không được đi vệ sinh kịp thời nên mắc viêm thận. Nữ công nhân một doanh nghiệp nhỏ khác thường bị giám đốc Nhật yêu cầu hầu rượu lên giường, không nghe theo liền bị đuổi việc… Khi được hỏi vì sao không kiện, họ nói: kiện ở đâu bây giờ, ông chủ đều thuê vợ Bạc Hy Lai (Cốc Khai Lai) làm cố vấn pháp lý thường niên, chúng tôi kiện thì thắng nổi sao?【4】

Môi trường chính trị – kinh tế “đặc sắc Trung Quốc” này cộng với quan niệm đạo đức tự thân ngày càng trượt dốc của Trung Quốc, khiến Trung Quốc thành mảnh đất màu mỡ sinh sôi “hủ bại Tây”. “Nhà quản lý Trung Quốc trực tuyến” đưa tin: theo thống kê chưa đầy đủ, các vụ án hủ bại vốn ngoại từ năm 2000 tăng thẳng đứng; riêng năm 2003, các vụ án hủ bại liên quan tình nghi hối lộ của công ty nước ngoài đạt hơn 1.500 vụ, tăng 20% so với năm trước.【5】Tờ “Pháp chế Tảo báo” thì năm 2006 đưa tin: một báo cáo điều tra của tập đoàn Anbound cho thấy, “trong gần 10 năm, các vụ hối lộ thương mại của doanh nghiệp xuyên quốc gia tại Trung Quốc luôn không ngừng gia tăng; Trung Quốc chỉ trong 10 năm đã điều tra ra hơn 500 nghìn vụ án hủ bại xuyên quốc gia, trong đó 64% liên quan thương mại quốc tế và thương nhân nước ngoài.”【6】

Hủ bại truyền thống

Phương pháp truyền thống thương nhân nước ngoài hối lộ quan chức Trung Cộng chủ yếu là hối lộ tiền bạc và hối lộ tình dục.

Siemens được xem là gã khổng lồ chế tạo công trình được kính trọng nhất nước Đức, lớn nhất châu Âu. Ngày 15 tháng 11 năm 2006, Bộ Tư pháp Đức đột kích khám xét tổng bộ Siemens tại Munich, bao gồm văn phòng CEO Kleinfeld cùng nơi ở của một số nhân viên, bắt giữ vài nhân viên Siemens. Số tiền dính án mà bên kiểm sát Đức xác nhận đạt 200 triệu euro; còn kết quả kiểm toán nội bộ Siemens thì nói nguồn tiền khả nghi cao tới 420 triệu euro.

Mỹ cũng tiến hành điều tra Siemens. Báo cáo của Ủy ban Chứng khoán Mỹ (SEC) cho thấy: công ty Siemens từ 2001 đến 2007 đã hối lộ quan chức chính phủ nhiều nước ít nhất 4.283 lần, tổng số tiền khoảng 1,4 tỷ đô la Mỹ, trong đó một phần đáng kể dính đến các dự án tại Trung Quốc. Có 9 công ty Trung Quốc bị cuốn vào vụ án hối lộ Siemens; trong đó một công ty nhận tiền mặt cao tới 6 triệu euro, số còn lại từ vài chục nghìn đến vài triệu euro không đều.

Dưới áp lực của Mỹ và Đức, Siemens nộp cho các nước danh sách người nhận hối lộ; danh sách này cũng đồng thời được trình cho chính phủ Trung Quốc. Thế nhưng, chính phủ Trung Quốc sau khi nhận danh sách lại như lâm đại địch,  bởi danh sách bao gồm người nhà của hai Ủy viên Bộ Chính trị. Nếu đưa tin, có thể gây động đất ở Bắc Kinh. Vì vậy, Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị phụ trách tuyên truyền Lý Trường Xuân đích thân hạ lệnh: mọi cơ quan truyền thông được phép đưa tin về vụ bê bối Siemens hối lộ tại Trung Quốc, nhưng kiên quyết cấm nhắc đến những người phía Trung Quốc dính án nhận hối lộ của công ty Siemens.【7】

Bê bối hối lộ của Siemens còn bao gồm: từ 2003 đến 2007, công ty con thiết bị y tế trực thuộc hối lộ người trung gian 14,4 triệu đô la Mỹ để bán cho 5 bệnh viện quốc hữu Trung Quốc thiết bị y tế tổng trị giá cao tới 295 triệu đô la Mỹ; từ 2002 đến 2007, để giành 7 hợp đồng công trình tàu điện ngầm tổng trị giá hơn 1 tỷ đô la Mỹ cùng hai dự án đường truyền tải điện cao áp khu vực Hoa Nam tổng trị giá khoảng 838 triệu đô la Mỹ, đã cung cấp cho người trung gian khoảng 50 triệu đô la Mỹ kinh phí để đả thông các khâu. Chỉ theo những con số đã công bố này, không khó tính ra “tỷ suất lợi nhuận” của Siemens trong mấy thương vụ ấy cao đến mức nào.【8】

Cuối năm 2009, sự kiện hủ bại “Siemens” của China Mobile lại nổi lên mặt nước: nguyên Phó Tổng giám đốc China Mobile Trương Xuân Giang, Tổng giám đốc Ban Nhân lực China Mobile Thi Vạn Trung, người phụ trách cơ sở Tứ Xuyên Lý Hướng Đông lần lượt ngã ngựa. Trong đó, Thi Vạn Trung trong thời gian làm Chủ tịch công ty di động tỉnh An Huy đã lợi dụng thuận lợi chức vụ cung cấp nhiều “trợ giúp” cho nghiệp vụ viễn thông của Siemens. Siemens thì thông qua một công ty ngoài biên giới chi cho một công ty tư vấn An Huy khoản “phí tư vấn” cao tới 5 triệu đô la Mỹ. Mà người đăng ký công ty An Huy này là vợ Thi Vạn Trung, người khống chế thực tế là Thi Vạn Trung. Thi Vạn Trung chung thẩm bị tuyên án tử hình, hoãn thi hành hai năm.【8】

“Hối lộ Tây” ở Trung Quốc nhiều như lông trâu

Công ty Daimler (công ty mẹ của Mercedes-Benz): công ty này tháng 3 năm 2010 bị Bộ Tư pháp Mỹ cáo buộc hối lộ tại 22 quốc gia. Văn kiện tòa án công bố cho thấy: từ 2000 đến 2005, nhân viên công ty DaimlerChrysler Trung Quốc đã chi ít nhất 4,1739 triệu euro hối lộ quan chức chính phủ Trung Quốc.【9】

IBM Trung Quốc: Ủy ban Chứng khoán Mỹ cáo buộc IBM Trung Quốc ít nhất 114 vụ hối lộ, phạt hàng chục triệu đô la Mỹ. Từ 1998 đến 2009, IBM dưới các hình thức cung cấp du lịch xuyên quốc gia, giải trí, quà tặng và thù lao tiền mặt đã hối lộ một số quan chức Trung Quốc, Hàn Quốc, vi phạm “Luật Chống hối lộ ở nước ngoài” của Mỹ. Trong đó hai công ty con toàn vốn của IBM tại Trung Quốc, Công ty TNHH Đầu tư IBM (Trung Quốc) và Công ty TNHH Dịch vụ Toàn cầu IBM (Trung Quốc), có hai nhà quản lý chính khu vực Trung Quốc cùng hơn 100 nhân viên tham dự.【10】

Morgan Stanley: ngày 26 tháng 4 năm 2012, Garth Peterson,  cựu người phụ trách khu vực Trung Quốc của quỹ bất động sản Morgan Stanley, nhận tội tại Mỹ, thừa nhận mưu lợi hàng triệu đô la Mỹ hối lộ cho bản thân và một quan chức Trung Quốc. Peterson bị xử phạt gần 3,7 triệu đô la Mỹ và cấm hành nghề vĩnh viễn. Peterson gia nhập quỹ đầu tư bất động sản Morgan Stanley năm 2000, chủ yếu phụ trách nghiệp vụ thị trường Thượng Hải. Anh ta sở hữu tại Trung Quốc một mạng lưới quan hệ xã hội cực rộng, quan hệ mật thiết với con cái một số quan chức cao cấp Bắc Kinh và Thượng Hải.【11】

DPC (Diagnostic Products Corporation): tháng 5 năm 2005, Bộ Tư pháp Mỹ tiết lộ: công ty con Thiên Tân của DPC,  doanh nghiệp sản xuất thiết bị chẩn đoán lớn nhất toàn cầu, trong 11 năm từ 1991 đã hối lộ bác sĩ các bệnh viện quốc hữu Trung Quốc 1,623 triệu đô la Mỹ tiền mặt để đổi lấy việc các cơ sở này mua sản phẩm của DPC; DPC kiếm được từ đó 2 triệu đô la Mỹ. Doanh nghiệp này cuối cùng bị cơ quan hữu quan Mỹ xử phạt khoản tiền khổng lồ 4,79 triệu đô la Mỹ vì vi phạm “luật chống hối lộ thương mại”.

Coca-Cola: nhân sự liên quan thuộc bộ phận thị trường của Công ty TNHH Thực phẩm Đồ uống Thân Mỹ Thượng Hải (Thân Mỹ), nhà máy đóng chai và công ty tiêu thụ lớn nhất châu Á có Coca-Cola góp cổ phần,  bị tình nghi nhận hối lộ chục triệu nhân dân tệ. Bên đưa hối lộ là các nhà quảng cáo trong nước, v.v. Bộ phận thị trường của Thân Mỹ chủ yếu phụ trách đầu tư quảng cáo, bố trí hàng khuyến mại của Coca-Cola tại Trung Quốc, chi phí thị trường mỗi năm hàng trăm triệu tệ.【12】

RAE Systems: công ty thiết bị thăm dò dầu mỏ và khoáng sản RAE Systems, tổng bộ đặt tại bang California Mỹ, hối lộ quan chức Trung Quốc 1,7 triệu đô la Mỹ để đổi lấy đơn hàng thương mại với các cơ quan chính phủ Trung Quốc.【13】

Avery Dennison: công ty Avery Dennison, một trong 500 công ty mạnh nhất toàn cầu, nhà sản xuất vật liệu nhãn tự dính hàng đầu nước Mỹ, vì hối lộ quan chức địa phương Trung Quốc mà bị Ủy ban Chứng khoán Mỹ khởi tố, và bị xử phạt dân sự 200 nghìn đô la Mỹ. Từ 2004 đến nay, bộ phận màng phản quang an toàn của công ty Avery Dennison Trung Quốc thông qua tuyển dụng cựu nhân viên Viện Nghiên cứu Khoa học Quản lý Giao thông thuộc Bộ Công an tại thành phố Vô Tích mà giành được hai đơn hàng khổng lồ.【14】

Control Components Inc. (CCI) của Mỹ: ngày 31 tháng 7 năm 2009, công ty CCI Mỹ thừa nhận đã hối lộ khoảng 236 lần cho quan chức và người làm thuê của các doanh nghiệp quốc hữu và tư hữu tại 36 quốc gia, và chấp nhận khoản phạt cao tới 18,2 triệu đô la Mỹ. Theo văn kiện công khai trên trang mạng Bộ Tư pháp Mỹ, các doanh nghiệp phía Trung Quốc mà CCI hối lộ có nhiều quốc doanh hạng nặng như PetroChina, Công ty Vật tư Trang bị Dầu khí Trung Quốc, Công ty Điện khí Đông Phương, CNOOC, Hoa Nhuận Điện lực, v.v.【15】

Hối lộ cũng không chỉ chảy từ thương nhân nước ngoài sang quan chức và doanh nghiệp Trung Cộng, cũng có chiều ngược lại. Sự kiện “cửa gián điệp Rio Tinto” ầm ĩ năm 2009 là một ví dụ. Có chuyên gia ước tính: gián điệp kinh tế của Rio Tinto trong 6 năm qua, lợi dụng thông tin nội bộ của các doanh nghiệp thép Trung Quốc thu thập được, đã buộc doanh nghiệp thép Trung Quốc trả thêm cái giá hơn 700 tỷ nhân dân tệ về giá quặng sắt.【16】

Đồng thời, phiên tòa xử án Rio Tinto cũng tiết lộ một danh sách lên tới 20 doanh nghiệp Trung Quốc tình nghi hối lộ cựu nhân viên Rio Tinto. Cát Dân Cường, một trong ba nhân vật chính vụ án Rio Tinto (nhân viên phía Trung Quốc tại văn phòng đại diện Rio Tinto ở Thượng Hải), từng giúp Sinochem International (công ty niêm yết thuộc tập đoàn ương xí lớn Sinochem của Trung Quốc) mua quặng sắt. Để đền đáp, Sinochem International cung cấp cho Cát Dân Cường 2,12 triệu nhân dân tệ cùng 437 nghìn đô la Mỹ phí tư vấn. Còn Vương Dũng,  một trong ba nhân vật chính khác của vụ án (nhân viên phía Trung Quốc tại văn phòng đại diện Rio Tinto ở Thượng Hải), thì nhận từ doanh nghiệp thép tư nhân Nhật Chiếu 9 triệu đô la Mỹ cùng 3 triệu nhân dân tệ. Từ 2006 đến 2007, Vương Dũng và Đỗ Song Hoa, bấy giờ là Chủ tịch Nhật Chiếu Thép đã 14 lần cùng thời điểm ra vào Hồng Kông, Ma Cao và các nơi khác.【17】

“Cửa diễn viên AV” của PetroChina là một tuyệt tác đỉnh cao của hối lộ tình dục từ thương nhân nước ngoài. “Diễn viên AV” là cách Nhật Bản gọi nữ diễn viên phim khiêu dâm. Thủ đoạn hối lộ tình dục bằng diễn viên AV Nhật Bản mà thương nhân nước ngoài sử dụng trong vụ này là độc nhất toàn cầu, nên được gọi là “cửa diễn viên AV”.

Công ty TNHH Hóa dầu Tứ Xuyên của PetroChina (Tứ Xuyên Thạch Hóa) là một doanh nghiệp hóa dầu lớn, tích hợp lọc dầu và ethylene do PetroChina đầu tư 38 tỷ nhân dân tệ xây mới tại Bành Châu, Thành Đô. Việc đấu thầu hàng trăm máy sắc ký, thiết bị then chốt của dự án lại khiến người ta khó hiểu. Tháng 6 năm 2011, tổng thầu, Công ty TNHH Công trình Wison (Trung Quốc) (công ty Wison), chủ trì đấu thầu máy sắc ký. Hai nhà sản xuất Mỹ danh tiếng trong ngành trực tiếp tham gia thầu; còn công ty Shimadzu Nhật Bản, vốn nổi tiếng giá thấp chất kém thì đấu thầu qua Công ty TNHH Khoa mậu Hoa Nhĩ Đạt Bắc Kinh (công ty Hoa Nhĩ Đạt). Sản phẩm của Shimadzu, bất kể chất lượng hay hiệu năng, so với các nhà sản xuất Mỹ cùng ngành đều có khoảng cách rất lớn; công ty này cũng thiếu kinh nghiệm thành công trong các doanh nghiệp hóa dầu lớn, nhất là dự án ethylene lớn.

Nhưng rất nhanh, công ty Wison tuyên bố công ty Hoa Nhĩ Đạt trúng thầu với giá rất thấp. Sau đó, công ty Shimadzu và công ty Hoa Nhĩ Đạt đưa các quan chức của bên sử dụng và tổng thầu sang Nhật Bản, dùng các diễn viên AV Nhật phong tình kiều diễm cung cấp cho mấy quan chức này dịch vụ toàn phương vị. Hạ mỗ kẻ ham chén hiếu sắc về nước, trong lúc quá chén mấy lần huyên thuyên về sự kiều diễm phong tình của diễn viên AV Nhật; vị phó trưởng ban giám sát sản xuất này từng lim dim mắt say nói: “Chơi diễn viên AV Nhật rồi mới tính là đàn ông đích thực!”

“Trải nghiệm diễn viên AV” do Hoa Nhĩ Đạt dày công sắp đặt đã nhận được đền đáp hậu hĩnh: các quan chức phía Trung Quốc tham gia trải nghiệm, sau khi về nước rất nhanh đã thay mặt công ty mình ký với công ty Hoa Nhĩ Đạt và công ty Shimadzu một bản hiệp nghị thay đổi dự án, trong tình trạng giá cung ứng không đổi mà hạ mạnh cấu hình máy sắc ký trong hợp đồng đặt hàng.【18】

Nhiều vụ án hủ bại xảy ra tại Bộ Thương mại Trung Quốc và Tổng cục Công thương Quốc gia có lẽ minh chứng cách thương nhân nước ngoài đã thuận ứng sự hủ bại mang tính chế độ của Trung Quốc. Từ tháng 8 đến tháng 11 năm 2008, một chuỗi trục lợi trong phê duyệt đầu tư nước ngoài bị phanh phui: các khâu phê duyệt phụ trách đầu tư nước ngoài đều có quan chức dính án, trong đó có Quách Kinh Nghị, tuần thị viên cấp chính tư trưởng Ty Điều pháp Bộ Thương mại; Đặng Trạm, nguyên Phó Ty trưởng Ty Vốn ngoại Bộ Thương mại, Phó Hội trưởng Hiệp hội Doanh nghiệp Đầu tư Thương nhân Nước ngoài Trung Quốc; Đỗ Bảo Trung, Trưởng phòng Pháp luật Hành chính Ty Điều pháp; Lưu Vĩ, Phó Cục trưởng Cục Đăng ký Doanh nghiệp Đầu tư Thương nhân Nước ngoài Tổng cục Công thương Quốc gia. Quách Kinh Nghị công tác tại Ty Điều pháp Bộ Thương mại, chủ quản việc khởi thảo, sửa đổi, giải thích pháp luật pháp quy về vốn ngoại. Chuỗi trục lợi này vận hành khá hiệu quả: nhóm Quách Kinh Nghị thao tác thực vụ khá thuần thục, chỉ rõ cho các công ty liên quan con đường lách luật, và vận dụng quyền giải thích tư pháp cùng quyền tự do định đoạt trong tay, hoàn thành với nhiều công ty vốn ngoại lượng lớn “giao dịch” vòng qua phê duyệt chế độ.

“Hủ bại có sáng ý”

Thủ đoạn làm “hủ bại Tây” của doanh nghiệp ngoại nhiều đến hoa mắt. Hoạt động “chạy bộ (ngành) tiền vào” và “bôi trơn” của bản thân công ty xuyên quốc gia (hoặc phòng thương mại tại Hoa) cùng quy mô kinh tế của doanh nghiệp ngoại tại Trung Quốc ngày càng tăng mà có tăng không giảm. Doanh nghiệp ngoại cũng tương ứng tung ra đủ kiểu phương thức “hủ bại giàu sáng ý”: như mở cơ cấu liên nghị tại Quảng Châu, Hàng Châu, v.v  hội tụ hội nghị, nghỉ dưỡng, giải trí và mua sắm làm một miễn phí cung cấp dịch vụ và “quà lưu niệm” cho các ban ngành liên quan (người nhà quan chức). Có những doanh nghiệp ngoại danh tiếng đầu tư chi phí kinh người tại Trung Quốc, hợp tác với trường đại học hoặc cơ quan nghiên cứu trong nước mở lớp EMBA; học viên đến từ các đối tác hợp tác quan trọng của họ thường không cần học phí vẫn được tu nghiệp, thủ đoạn hối lộ kiểu này trông tương đối quang minh chính đại. Đương nhiên, doanh nghiệp ngoại nhiều hơn là lợi dụng ưu thế độc đáo thân ở hải ngoại: sắp xếp cho quan chức Trung Quốc ra nước ngoài công cán du ngoạn, sắp xếp con cái quan chức ra hải ngoại học tập làm việc, mở tài khoản ngoài biên giới cho quan chức những kiểu “hối lộ Tây” mới.

Về điều này, truyền thông Trung Quốc bình luận: “Các vụ án ‘hủ bại Tây’ muôn hình vạn trạng có một điểm chung lớn nhất: về thủ đoạn hối lộ đã đạt độ ‘bản địa hóa’ cao, và từ lâu thoát khỏi lối mòn phong bao đỏ và hối lộ tình dục, chuyển sang khai phá những con đường hối lộ ‘uyển chuyển’, cao nhã thể diện hơn như ‘khảo sát thương vụ’, ‘đào tạo hải ngoại’, ‘tài trợ con cái du học’.”【19】

Công ty Lucent Mỹ chính là một cao thủ lớn trong việc cung cấp kiểu hối lộ “cao nhã thể diện” này. Năm 2004, Lucent,  dưới áp lực của Ủy ban Chứng khoán Mỹ điều tra các bộ phận nghiệp vụ phân bố tại 23 quốc gia, phát hiện vấn đề hối lộ của công ty Lucent Technologies (Trung Quốc). Từ 2000 đến 2003, công ty Lucent (Trung Quốc) đã mời khoảng 1.000 quan chức chính phủ Trung Quốc và lãnh đạo cao cấp các nhà mạng viễn thông sang Mỹ du lịch, chi tiêu vượt 10 triệu đô la Mỹ. Chỉ trong 2002 và 2003, có 24 chuyến đi do Lucent tài trợ nhắm vào quan chức Trung Quốc, trong đó ít nhất 12 chuyến thuần túy là tham quan du ngoạn. Các chuyến “thăm viếng” nước Mỹ do Lucent sắp xếp lấy cớ “tham quan nhà máy, tiếp nhận đào tạo”; người tham gia đến chơi Hawaii, Las Vegas, Grand Canyon, Disneyland và New York, v.v. Trên thực tế, đến năm 2001 Lucent đã thuê ngoài phần lớn nghiệp vụ sản xuất, do đó không thể có nhà máy Mỹ nào cho khách tham quan.

Sau khi án phát, Lucent bị Bộ Tư pháp Mỹ và Ủy ban Chứng khoán Mỹ phạt nặng 2,5 triệu đô la Mỹ. Bốn lãnh đạo cao cấp của công ty Lucent (Trung Quốc), tổng giám đốc công ty, giám đốc vận hành, giám đốc cấp cao bộ phận bán hàng cùng một quản lý tài vụ bị sa thải, lý do là tình nghi vi phạm pháp quy liên bang cấm công ty Mỹ thực hành hối lộ ở hải ngoại. Sau đó, tỷ trọng doanh thu của Lucent Trung Quốc trong tổng doanh số công ty tụt xuống dưới 10%; trong khi ngay trước đó, năm 2003, doanh số của Lucent Trung Quốc còn đạt 900 triệu đô la Mỹ, chiếm 11% tổng doanh số công ty  là chi nhánh hải ngoại duy nhất ngoài tổng bộ Lucent Mỹ có đóng góp doanh thu đạt hai con số. Từ đó có thể thấy: “thành tích” mưu cầu bằng thủ đoạn hối lộ ảnh hưởng không nhỏ đến thu nhập công ty.

Một công ty khác trong 500 công ty mạnh nhất thế giới, từng 16 lần nhận danh hiệu “Mười công ty được ngưỡng mộ nhất nước Mỹ” của tạp chí “Fortune”, Merck Sharp & Dohme (tại Mỹ gọi là Merck), tháng 3 năm 2004 đã sa thải hơn 20 phó giám đốc phân khu và trình dược viên Trung Quốc, lý do là “mượn danh nghĩa quảng bá học thuật để thanh toán chi phí giải trí”. Một số nhân viên bị sa thải trong thư khiếu nại đã “tiết lộ bí mật”: khác với một số doanh nghiệp dược trong nước động một cái là thúc đẩy tiêu thụ thuốc bằng hình thức “chi hoa hồng cho bác sĩ”, “hội nghị quảng bá học thuật” gần như thành “vũ khí bí mật” cho thành công của các doanh nghiệp dược vốn ngoại tại Trung Quốc. “Quảng bá học thuật” của Merck bao gồm chi trả cho bệnh viện, bác sĩ hoặc khách sạn các khoản “phí địa điểm”, “phí tiệc tùng và điểm tâm”, “phí công tác”, “phí tài trợ”, cùng tặng đủ kiểu “quà cáp”, mục đích thực chất là ảnh hưởng hành vi mua sắm thuốc và kê đơn của các cơ sở y tế và bác sĩ ấy; điều này cũng như “chi hoa hồng tiền mặt”, đúng là hành vi bất chính bị “Luật Quản lý Dược phẩm” của Trung Quốc cùng “Điều lệ Thực thi” nghiêm cấm.【20】

Khuyết thiếu đạo đức

Khi thương nhân nước ngoài bắt đầu làm “hủ bại Tây” ở Trung Quốc, họ đã từ bỏ đạo đức doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội của mình, kéo theo sự bại hoại đạo đức tiến thêm một bước.

◎ Trăm phương nghìn kế trốn thuế

Cái Trung Cộng cung cấp cho doanh nghiệp ngoại chính là sự cám dỗ của lợi ích kinh tế. Kiếm lợi tối đa cũng thành mục đích hàng đầu của doanh nghiệp ngoại tại Trung Quốc. Điều này cũng không tránh khỏi khiến nhiều doanh nghiệp ngoại chọn trốn thuế ở Trung Quốc.

Cuối thập niên 1990, tổng ngạch trốn thuế của doanh nghiệp xuyên quốc gia một năm cao tới 30 tỷ nhân dân tệ. Con số này luôn tăng thẳng đứng. Tô Hiểu Lỗ, Trưởng phòng Công tác Chống tránh thuế Tổng cục Thuế Quốc gia, năm 2002 nói: trong nước đã phê chuẩn thành lập hơn 400 nghìn doanh nghiệp vốn ngoại, trong đó số lượng đáng kể doanh nghiệp ngoại thông qua đủ loại thủ đoạn tránh thuế mà chuyển lợi nhuận, gây thua lỗ diện rộng trên sổ sách, diện thua lỗ đạt trên 60%, kim ngạch thua lỗ hàng năm vượt 120 tỷ tệ.【21】

Nhiều công ty xuyên quốc gia có nhân tài chuyên nghiệp giúp công ty tìm lỗ hổng về luật thuế; có khi họ thậm chí bỏ giá lớn nhờ công ty tư vấn thuế chuyên môn để trốn thuế “hợp lý”. Đương nhiên, điều này cần trả chi phí đắt đỏ. Nhưng không nghi ngờ gì, với những công ty muốn đạt mục đích trốn tránh thuế, khoản chi phí cao là xứng đáng với cái họ thu về vượt xa cái bỏ ra.

Phương thức tránh thuế chủ yếu của doanh nghiệp ngoại xoay quanh giao dịch liên kết, trong đó một con đường chính là chuyển giá, chuyển lợi nhuận ra ngoài biên giới. Để đạt mục đích tránh thuế, nhiều doanh nghiệp ngoại chuyển lợi nhuận cho doanh nghiệp liên kết ngoài biên giới, phương thức thường dùng là “mua cao bán thấp”: khi mua nguyên liệu hoặc bán thành phẩm từ doanh nghiệp liên kết ngoài biên giới thì mua giá cao, rồi bán thành phẩm giá thấp cho doanh nghiệp liên kết hải ngoại, như vậy càng nhiều lợi nhuận chảy mất ra ngoài biên giới.

Gã khổng lồ hóa mỹ phẩm toàn cầu Procter & Gamble thì dùng phương thức vốn mỏng hóa (thin capitalization) một lần thực hiện tránh thuế 81,49 triệu tệ. Năm 2002, công ty con tại Hoa của P&G, Quảng Châu P&G, nhận từ một ngân hàng Quảng Đông khoản vay khổng lồ khoảng 2 tỷ tệ, rồi trích khoản tiền lớn cho các doanh nghiệp liên kết vay không lãi. Động thái này của P&G: một mặt có thể khấu trừ trước thuế phần chi lãi vay mà nó gánh, nộp ít thuế thu nhập; mặt khác, cấp khoản vay khổng lồ không lãi cho doanh nghiệp liên kết cũng né được khoản thuế trên thu nhập lãi phát sinh từ vay mượn bình thường. Nửa đầu năm 2003, Cục Thuế Quốc gia thành phố Quảng Châu theo luật điều chỉnh tăng thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp Quảng Châu P&G tổng cộng 596 triệu tệ, truy nộp thuế thu nhập doanh nghiệp 81,49 triệu tệ.【22】

◎ Phá hoại môi trường

Năm 2006, Nhân Dân Nhật báo thu thập từ trang mạng các cục bảo vệ môi trường địa phương danh sách các doanh nghiệp vốn ngoại vi phạm quy định về ô nhiễm môi trường: có 33 công ty xuyên quốc gia danh tiếng tại Hoa lọt danh sách,【23】nhiều công ty mẹ nằm trong “500 mạnh nhất thế giới”, bao gồm:

Công ty TNHH Pin Panasonic Thượng Hải: “thiết bị xử lý nước thải không bảo đảm vận hành bình thường khiến nước thải xả vượt chuẩn”;

Công ty Pepsi Trường Xuân: “xả nước thải chứa chất ô nhiễm vượt chuẩn”;

Công ty TNHH Nước uống Nestlé Thượng Hải: “thiết bị bảo vệ môi trường chưa nghiệm thu, công trình chính tự tiện đưa vào sản xuất”;

Công ty TNHH Chế tạo Sản phẩm Mài 3M Thượng Hải: “chưa làm thủ tục phê duyệt đánh giá tác động môi trường, tự tiện đưa vào sản xuất sử dụng”.

Một số doanh nghiệp xuyên quốc gia tại Hoa khác trong danh sách đã thành hộ ô nhiễm lớn của địa phương.

Tại Phúc Kiến, một công ty do công ty thiết bị nâng hạ Noell của Đức đầu tư, vì “chưa xây thiết bị xử lý ô nhiễm đã tự tiện đưa vào sản xuất, gây ô nhiễm nghiêm trọng”, bị liệt vào doanh nghiệp treo biển đốc của tỉnh Phúc Kiến;

Tại Chiết Giang, công ty trực thuộc tại Hoa của tập đoàn Purolite Anh bị liệt vào một trong các doanh nghiệp ô nhiễm trọng điểm cấp tỉnh Chiết Giang năm 2005. Purolite Anh là tập đoàn xuyên quốc gia quy mô lớn nhất thế giới chuyên sản xuất nhựa trao đổi ion;

Tại Hồ Nam, doanh nghiệp độc vốn trực thuộc Yamaha Motor Nhật Bản, vì “dây chuyền sản xuất mạ điện tồn tại ẩn họa an toàn môi trường trọng đại” mà thành một trong 20 “hộ ô nhiễm lớn” bị Chu Châu treo biển đốc.

Đa số kẻ vi phạm dùng “trùng hợp”, “sơ suất” và “bất ngờ” để giải thích. Nhưng nhân sĩ phía chính quyền nói: các công ty này trong yêu cầu đối với bên hợp tác trong nước, vi phạm bảo vệ môi trường thường đều là “không dung thứ” (zero tolerance). Hơn nữa một số công ty thường treo “trách nhiệm doanh nghiệp” trên miệng; nhiều doanh nghiệp vi phạm còn là thương hiệu nổi tiếng về bảo vệ môi trường. Điều này cho thấy các công ty ấy đã nới lỏng tiêu chuẩn môi trường ở Trung Quốc, mang đầy đủ “đặc sắc Trung Quốc”, chấp hành tiêu chuẩn môi trường thấp hơn công ty mẹ.【23】

◎ Đánh mất lương tri doanh nghiệp

Doanh nghiệp vốn ngoại buổi đầu vào Trung Quốc còn tuân giữ đạo đức doanh nghiệp nhất định, mang quan niệm giá trị của doanh nghiệp bản quốc đến Trung Quốc. Buổi đầu Đại lục cải cách mở cửa, trong giới làm thuê lưu truyền phép so sánh thế này: về sự tôn trọng công nhân, doanh nghiệp Âu Mỹ tốt nhất, doanh nghiệp vốn Nhật kế đó, doanh nghiệp Hồng Kông – Đài Loan kế nữa. Điều này cũng phản ánh đúng thái độ của từng khu vực đối với nhân quyền. Sách lược đối Hoa của Mỹ là trong quá trình khiến Trung Quốc hội nhập thế giới mà thay đổi Trung Quốc một cách thấm dần. Ở mức độ nhất định, các nước phương Tây cũng gửi gắm hy vọng doanh nghiệp của họ dùng quan niệm giá trị phương Tây ảnh hưởng và thay đổi Trung Quốc.

Nhưng cùng với sự kết hợp với “đặc sắc Trung Quốc”, doanh nghiệp vốn ngoại ngày càng chú trọng lợi nhuận công ty, còn trách nhiệm xã hội và lương tri của doanh nghiệp thì gạt bỏ. Từ sản xuất đến hậu cần, cả chuỗi sản nghiệp khổng lồ vì kiếm tiền mà không việc gì không làm. Cho nên những chuyện mà giới doanh nghiệp phương Tây coi là tuyệt đối không thể chấp nhận về lương tâm cứ không ngừng xảy ra ở Trung Quốc. Doanh nghiệp vốn ngoại hoặc đích thân làm, hoặc làm qua nhà thầu, nhà cung ứng Trung Quốc còn mình thì giả ngơ lấy cớ không biết. Những chuyện vốn không nên xảy ra nhưng thực sự đã và đang xảy ra trong doanh nghiệp vốn ngoại hoặc doanh nghiệp Trung Quốc liên quan bao gồm:

Sản phẩm nô công: các nhà tù và trại lao động cải tạo lớn nhỏ khắp Trung Quốc đều lập công ty riêng; phạm nhân trong môi trường làm việc tồi tệ bị cưỡng bức lao động sản xuất siêu cường độ, siêu thời gian. Loại sản phẩm này với giá bán rẻ mạt (chính quyền Trung Quốc không trả lương phạm nhân, nên giá thành sản phẩm nô công thấp xa sản phẩm doanh nghiệp chính quy) từ Trung Quốc bán sang Âu Mỹ.

Xem nhẹ quyền lợi công nhân: nhiều doanh nghiệp gia công sản xuất, để cạnh tranh mà hạ giá thành tối đa, thường xem nhẹ an toàn và sức khỏe công nhân, cưỡng ép công nhân tăng ca, v.v.

Sử dụng lao động trẻ em: để hạ giá thành, nhiều doanh nghiệp thuê lao động trẻ em.

Quấy rối tình dục thậm chí xâm hại tình dục: các vụ nữ công nhân bị quấy rối tình dục lớp lớp không dứt, thậm chí buộc phải chiều theo ông chủ hay cấp trên, nếu không có thể bị gây khó dễ hoặc sa thải.

Không sao kể xiết.

Trợ Trụ vi ngược

Ngoài việc ăn mòn làm sa đọa doanh nghiệp nước ngoài, Trung Cộng còn lấy thị trường Trung Quốc khổng lồ làm mồi nhử, ép một số doanh nghiệp vốn ngoại phục vụ lợi ích chính trị của Trung Cộng, thậm chí biến chúng thành đồng phạm trong bức hại nhân quyền đối nội của Trung Cộng. Một số doanh nghiệp ngoại danh tiếng đã bại trận trước cám dỗ kinh tế, trợ Trụ vi ngược, từ bỏ lương tâm và trách nhiệm doanh nghiệp của mình.

Ví dụ tồi tệ và vô sỉ nhất không gì bằng công ty hệ thống mạng Cisco đã nhắc ở phần trước: để vơ vét lợi nhuận tối đa tại Trung Quốc, nó lại chủ động nghiên cứu thiết kế cho Trung Cộng cách giám sát những người mà Trung Cộng coi là bất đồng chính kiến,【24】trong đó bao nhiêu người vì thế thân lâm vòng lao ngục của Trung Cộng mà mất mạng, ngày Trung Cộng giải thể, Cisco sẽ lấy mặt mũi nào nhìn người!

Sư Đào, phóng viên tờ “Đương đại Thương báo” Hồ Nam, Trung Quốc thì là vật hy sinh của việc Yahoo! cúi đầu trước Trung Cộng. Tháng 4 năm 2004, Sư Đào qua email Yahoo gửi cho truyền thông hải ngoại chỉ lệnh của Trung tuyên bộ về việc truyền thông Đại lục đưa tin “Lục Tứ” thế nào. Dưới áp lực Trung Cộng, Yahoo cung cấp địa chỉ IP và tài khoản email của Sư Đào cho Trung Cộng. Trung Cộng lấy đó làm chứng cứ bắt Sư Đào và kết án ông mười năm tù. Thông tin email mà Yahoo cung cấp cho Trung Cộng còn dẫn đến việc nhiều nhân sĩ bất đồng chính kiến khác bị bắt.

Phương châm của công ty Google là “Không làm ác” (Don’t Be Evil). Khi Trung Cộng yêu cầu nó phong tỏa trong kết quả tìm kiếm những thông tin không theo lập trường chính thức như các bài đưa tin tích cực về Đạt Lai Lạt Ma, Pháp Luân Công, Google ban đầu dựa trên lập trường “không làm ác” đã cự tuyệt yêu cầu của Trung Cộng, và khi bị Trung Cộng chặn trang thì dùng mạng động (Dynamic Web) đối kháng. Nhưng về sau, Google không nỡ cắt bỏ thị trường Trung Quốc khổng lồ, đã cúi đầu trước Trung Cộng: trang Trung Quốc của nó (google.cn) lọc bỏ những nội dung “nhạy cảm” của Trung Cộng. (Google trải qua giằng xé và cân nhắc đau đớn, cuối cùng đầu năm 2010 quyết định rút khỏi thị trường Trung Quốc, chứng minh với thế giới Google vẫn là doanh nghiệp còn đạo đức và chính khí nhất định.) Nhấn mạnh tôn trọng pháp luật nước sở tại, Microsoft trên công cụ tìm kiếm mạng của mình cũng tự động lọc bỏ những nội dung “nhạy cảm” khiến Trung Cộng lo ngại.

Ngày 15 tháng 2 năm 2006, Quốc hội Mỹ tổ chức điều trần về việc bốn đại công ty mạng Mỹ (Yahoo, Google, Microsoft, Cisco) trợ giúp Trung Cộng khai phát mạng Internet dưới sự khống chế của nó. Hạ nghị sĩ Tom Lantos, người sống sót qua cuộc thảm sát của Quốc xã, mái đầu bạc trắng, tại chỗ nghiêm giọng chất vấn đại diện bốn công ty: “Các người không thấy xấu hổ sao?”

Trung Quốc có phải lạc thổ của thương nhân nước ngoài?

Trong việc thu hút vốn ngoại, Trung Cộng đã bỏ không ít tâm tư, cung cấp nhiều chính sách ưu đãi. Đặc biệt Trung Quốc không giảng pháp trị mà giảng “nhân trị”,  tức ý kiến cá nhân của quan chức chủ quản quyết định; “trên có chính sách, dưới có đối sách”. Cho nên thương nhân nước ngoài phát hiện: chỉ cần dàn xếp được quan chức chủ quản, hệ thống “nhân trị” của Trung Quốc có thể cung cấp cho vốn ngoại dịch vụ hiệu suất siêu cao. Đây cũng là nguyên nhân nhiều vốn ngoại không tiếc trọng tư hối lộ quan chức Trung Quốc.

Nhưng, hệ thống không giảng pháp trị này cũng đồng thời quyết định: vận mệnh kinh tế của thương nhân nước ngoài bất kỳ thời kỳ nào cũng bị quan chức Trung Cộng nắm trong tay. Cuộc “đả hắc” ở Trùng Khánh, chủ yếu nhắm vào các doanh nghiệp tư nhân thành công, chụp cho họ cái mũ “xã hội đen” để thôn tính tài sản cho thấy: Trung Cộng bất cứ lúc nào cũng có thể “hôm nay khen anh là anh hùng, ngày mai biến anh thành tù nhân”. Doanh nghiệp phương Tây có lẽ còn chưa thấm thía điều này lắm, nhưng không ít thương nhân Đài Loan đã “gãy răng nuốt vào bụng” rồi. Bởi khi Trung Cộng cần thương nhân nước ngoài, nó có thể cung cấp đủ kiểu điều kiện ưu đãi; khi cần khống chế thương nhân nước ngoài, nó có thể lập tức trở mặt không nhận người, biến điều kiện ưu đãi thành điều kiện khắc nghiệt. Là vốn ngoại đã đầu tư lượng lớn tài sản cố định, đã dựng kênh tiêu thụ tại Trung Quốc, muốn toàn thân rút khỏi Trung Quốc đã không dễ; thêm toan tính và cân nhắc, đành phải khuất phục. Nhiều thương nhân Đài Loan ủng hộ Dân Tiến Đảng, nhưng từ khi vào thị trường Trung Quốc, bị Trung Cộng bóp cổ, liền quay ngoắt một trăm tám mươi độ, chuyển sang toàn diện ủng hộ Quốc Dân Đảng.

Đồng thời, thương nhân nước ngoài còn đối mặt rủi ro gánh chịu xung kích chính trị đối ngoại của Trung Quốc. Đầu năm 2008, Trung – Pháp trở mặt về vấn đề nhân quyền Tây Tạng; không ít chi nhánh tại Trung Quốc của Carrefour, tổng bộ đặt tại Pháp bị các “nhà ái quốc” Trung Quốc tấn công. Những “nhà ái quốc” này được Trung Cộng hun đúc, giáo dục, kích động, thậm chí tổ chức nên Carrefour cũng chỉ đành cười khổ trong lòng. Cùng với sự trỗi dậy của Trung Quốc, tuyên truyền phản phương Tây của Trung Cộng ngày càng thịnh; doanh nghiệp phương Tây có thể sẽ phải “trả hóa đơn” cho ngày càng nhiều sự kiện chính trị.

“Quyền lớn hơn pháp” của Trung Quốc và sự “vô pháp vô thiên” của quan chức Trung Cộng khiến doanh nghiệp ngoại thậm chí không bảo đảm nổi an toàn tính mạng của công dân nước mình hay nhân sĩ phương Tây. Công dân Anh Heywood bị vợ Bạc Hy Lai, Cốc Khai Lai đầu độc chết, đối ngoại tuyên bố “chết tự nhiên” do uống rượu quá độ, chính là một ví dụ.

Một khi thương nhân nước ngoài và thương nhân Trung Quốc động thủ so chiêu trong biên giới Trung Quốc, thương nhân nước ngoài chưa chắc là đối thủ của doanh nghiệp hay gian thương Trung Quốc. Tập đoàn hóa chất Đức Evonik là một trong những consortium hóa chất lớn nhất thế giới. Tờ “Handelsblatt” Đức đưa tin: Degussa cùng thương nhân họ Lưu người Trung Quốc mở tại Liêu Ninh Công ty TNHH Hóa chất Tam Chinh. Evonik mua lại Degussa xong liền sở hữu công ty liên doanh này: Evonik nắm 65% tài sản công ty, thương nhân họ Lưu nắm 35%. Tam Chinh năm 2005 còn vận hành tốt, nhưng sau đó cứ đi xuống, từ 2009 bắt đầu xuất hiện thâm hụt. Một năm trước, phía Đức kiểm tra nội bộ Tam Chinh, phát hiện Tam Chinh chẳng những có nhiều khoản chi không rõ đi đâu, mà quyết toán cuối năm cũng làm giả. Dù vậy, phía Trung Quốc vẫn đòi làm người phụ trách chính của Tam Chinh; phía Đức không đồng ý,  kết quả chuyện quái đản liên tiếp: tân giám đốc phía Đức phái sang bị đám đả thủ do đối tác Trung Quốc ngầm phái đến đánh đau trước cổng nhà máy, từ đó ra cửa phải nhờ vệ sĩ hộ giá. Bảy tháng sau, vị người Đức này không trụ nổi, rút về nước. Người kế nhiệm ông ta lên chưa lâu, phía Trung Quốc lại giở mặt: trong cuộc họp đập nát cả điện thoại lẫn máy tính của ông ta. Đến khi phía Trung Quốc còn đòi công ty thanh toán một khoản hối lộ cao tới 850 nghìn euro, phía Đức hết chịu nổi, quyết định chia tay với phía Trung Quốc. Tổn thất hiện tại của phía Đức cao tới 25 triệu euro.【25】

Ai đã ép các nhà tư bản nước ngoài “quýt Hoài hóa chấp”?

(Quýt trồng phía nam sông Hoài thì ngọt, dời sang phía bắc thì thành chấp đắng, ý nói môi trường làm biến chất con người.)

Doanh nhân các nước phương Tây ở bản thổ đều phải giảng thành tín; thế nhưng, hễ đến Trung Quốc, nhiều người liền biến thành kẻ hối lộ tinh khôn. Vấn đề này kỳ thực cũng giày vò sâu sắc các nhà đầu tư nước ngoài trên đất Trung Quốc. Vốn ngoại đến Trung Quốc, để được chính quyền Trung Quốc ưu ái, nhiều bên đều tỏ tư thế “bản địa hóa”. Cái “bản địa hóa” này vốn nghĩa là phục vụ tốt hơn dân chúng một phương; trên thực tế lại diễn biến thành học cách thích ứng chế độ hủ bại của Trung Cộng như người bản địa. Kết quả: không phải vốn ngoại thay đổi môi trường chế độ của Trung Quốc, mà là thương nhân nước ngoài thuận ứng môi trường chế độ hủ bại của Trung Quốc, cùng quan chức chính quyền Trung Quốc hình thành một kiểu “chính – thương kết hợp” mang “đặc sắc Trung Quốc”. Một số người nước ngoài lương tri chưa tắt từng viết trải nghiệm của mình thành sách, cần chỉ ra rằng: sau khi viết loại sách này, trên thực tế họ buộc phải rút khỏi chức trường nguyên có; giới thương nhân nước ngoài tại Trung Quốc không còn hoan nghênh họ nữa.

Ethan Gutmann, một đại lý thương vụ từng hoạt động vài năm trong giới thương mại Trung Quốc,  cảm thấy cần để giới thương mại, chính trị Mỹ hiểu vũng nước đục ngầu Trung Quốc này rốt cuộc có những gì, đã viết trải nghiệm tận thân của mình thành cuốn sách “Đánh mất Trung Quốc mới, Câu chuyện về thương mại, dục vọng và phản bội của người Mỹ” (Losing the New China — A Story of American Commerce, Desire and Betrayal). Ethan Gutmann thập niên 80 thế kỷ trước làm nghiên cứu viên chính sách đối ngoại tại Viện Brookings, trí đoàn nổi tiếng của Mỹ. Năm 1998, Ethan Gutmann đến Bắc Kinh, lần lượt làm việc tại một công ty sản xuất phim tài liệu truyền hình và một công ty quan hệ công chúng vốn ngoại chuyên phục vụ công ty Mỹ; bản thân ông hòa vào vòng sinh hoạt Bắc Kinh của những người nước ngoài tìm kiếm tài phú tại Trung Quốc. Ông trong sách chỉ ra: hành vi hủ bại của thương nhân nước ngoài tại Trung Quốc quả thực là “quýt Hoài hóa chấp”, là sự biến dị bất đắc dĩ khi thân ở trong môi trường thương mại xám xịt của Trung Quốc. Tác giả trong chương năm cuốn sách nói về quan sát và kinh nghiệm của mình: Đảng Cộng sản tự thay đầu đổi mặt, biến thành chính đảng của tư bản lũng đoạn nhà nước; để tránh thừa nhận những gì làm trong 30 năm qua đều là sai lầm, họ tự xưng là “chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc”. Là một kiều dân nước ngoài, tôi cho rằng câu này mang ý vị mỉa mai kép: trên thương trường, đặc sắc Trung Quốc đại diện cho tham nhũng hủ bại triệt để. Tác giả bày tỏ: điều đáng lo không phải các vụ hối lộ xảy ra ngẫu nhiên, mà là loại hành vi phi pháp này đã được công nhận là bộ phận cấu thành của hoạt động thương mại; muốn kinh doanh thành công tại Hoa ắt phải làm nhiều thỏa hiệp, những công ty Mỹ không mang đặc sắc Trung Quốc thì trong cạnh tranh thị trường Trung Quốc chú định phải chuốc lấy thất bại.

Bí quyết thành công của thương nhân nước ngoài tại Hoa mà Ethan tổng kết có ba: một là bám sát theo đảng, hai là mời khách tặng quà, ba là nịnh hót. Đây đương nhiên chẳng phải “bí quyết” gì quá bí mật.

Sự mua chuộc mà Trung Cộng thực hiện với thương nhân nước ngoài thể hiện thành: cám dỗ lợi ích, mua chuộc về kinh tế, mua chuộc về tâm lý, mua chuộc linh hồn. Thông qua nhượng lợi cho thương nhân nước ngoài, Trung Cộng từ kinh tế, từ lợi ích hút thương nhân nước ngoài vào Trung Quốc. Còn sự bại hoại đạo đức toàn diện của Trung Quốc thì ăn mòn tâm linh thương nhân nước ngoài, câu ra dục vọng tham lam trong nhân tính. Khi thương nhân nước ngoài dần đánh mất lương tri mà một lòng theo đuổi tiền bạc, về tâm lý họ đã chấp nhận hủ bại. Rồi tự mình từng bước làm hủ bại lớn, phá hoại môi trường, bóc lột lao công, thậm chí trợ Trụ vi ngược, thành đồng phạm phá hoại nhân quyền của Trung Cộng. Đến bước này, linh hồn họ đã bị Trung Cộng mua đi rồi. Một công ty “thân sĩ” phương Tây giảng đạo đức doanh nghiệp, chú trọng công bằng dân chủ, trong bất tri bất giác biến thành công ty “tiểu nhân” không giảng lương tri, không từ thủ đoạn, chỉ cầu lợi nhuận. Đây có phải sơ tâm của doanh nghiệp phương Tây khi sang Trung Quốc đầu tư? “Vốn ngoại vào Trung Quốc, thông qua phát triển kinh tế cuối cùng thúc đẩy tự do chính trị”,  “giấc mộng đẹp” này trên thực tế đã phá sản triệt để.

Sự kiện Bạc Hy Lai mùa xuân 2012 thu hút sự chú ý của cả thế giới về Trung Quốc. Trang bìa số ngày 7–13 tháng 5 năm 2012 của Bloomberg Businessweek là một lá quốc kỳ Trung Quốc, trên cờ viết ba dòng chữ lớn: “Dối trá, dối trá, dối trá” (Lies, Lies, Lies). Góc dưới bên phải trang bìa viết: “Sự sụp đổ của Bạc Hy Lai đã phơi bày thứ văn hóa (Trung Cộng) tham lam, bạo lực và lừa dối. Đây có phải nơi thích hợp để làm ăn?” Lời ấy chẳng sai.

Dịch từ: https://www.epochtimes.com/b5/12/6/18/n3615197.htm

Bản dịch có thể được chỉnh sửa trong tương lai để sát hơn với nguyên tác.

Ngày đăng: 6-08-2026