CHƯƠNG 7: GDP CỦA GIANG TRẠCH DÂN
【Epoch Times 08/06/2012】 Trong suốt sáu mươi năm trị vì, năm nào Khang Hy Đại Đế cũng có chính sách giảm miễn thuế quốc gia, cứu trợ dân bị nạn. Tổng cộng đã miễn giảm tiền lương thực cho thiên hạ 545 lần, quy đổi ra bạc trắng lên tới 150 triệu lạng, tương đương 5 đến 7 lần nguồn thu tài chính hàng năm của quốc gia lúc đó (20-30 triệu lạng). — Lời đề từ
Kể từ khi lên nắm quyền năm 1989, các chính sách kinh tế thời Giang Trạch Dân đã đảo ngược 180 độ hướng đi cải cách kinh tế mà Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) khởi xướng từ thập niên 1980. Thập niên 80, sức sản xuất ở nông thôn được giải phóng, trở thành thời kỳ hoàng kim của nông nghiệp; nhưng đến thập niên 90 lại xuất hiện cuộc khủng hoảng “tam nông” với “nông dân thực khổ, nông thôn thực nghèo, nông nghiệp thực nguy hiểm”. Thập niên 80 sản sinh ra các xí nghiệp hương trấn, chính phủ khuyến khích hỗ trợ phát triển doanh nghiệp tư nhân; đến thập niên 90, trọng tâm cải cách chuyển sang thành thị, đè nén các xí nghiệp hương trấn ở nông thôn. Còn cải cách doanh nghiệp nhà nước trải qua nhiều khúc quanh, cuối cùng hình thành cục diện các doanh nghiệp nhà nước lớn độc quyền các ngành trụ cột bao gồm cả ngành ngân hàng, trong khi doanh nghiệp tư nhân dù về vốn hay môi trường chính sách đều không thể sánh được với doanh nghiệp nhà nước, chỉ ở vị thế “nàng dâu nhỏ”. Sau cải cách chế độ phân chia thuế năm 1994, 1995, chính quyền địa phương ra sức đẩy mạnh “tài chính đất đai” để tăng thu nhập, càng kích thích thêm phong trào chiếm đất và kinh tế bất động sản. Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO năm 2001, đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc tăng mạnh liên tục qua các năm, Trung Quốc dựa vào “ưu thế” nhân quyền thấp trở thành trung tâm sản xuất hàng hóa cấp thấp toàn cầu; đồng thời sinh ra hiện tượng kỳ quái là tăng trưởng kinh tế phụ thuộc nghiêm trọng vào đầu tư cao và ngoại thương cao, trong khi thị trường nội địa tương đối co hẹp.
Tất cả những điều này đều hình thành trong thời Giang tại vị, nhưng không hề thay đổi khi Giang rời chức. Nguyên nhân thứ nhất là sau khi từ chức Tổng Bí thư ĐCSTQ năm 2002, Giang vẫn giữ chức Chủ tịch Quân ủy đến năm 2004. Từ 2002 đến nay, tuy Hồ Cẩm Đào là Tổng Bí thư, nhưng trong mỗi khóa Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị gồm chín người, phần lớn vẫn là nhân vật hệ phái Giang. Những người này cùng các tập đoàn phụ thuộc nắm chắc các vị trí quan trọng trong đảng, chính quyền, quân đội, địa phương, tiếp tục kéo dài đường lối chính trị – kinh tế thời Giang tại vị. Nguyên nhân thứ hai là chính sách kinh tế thời Giang đã trực tiếp sản sinh ra một tầng lớp lợi ích lớn, họ được hưởng lợi từ độc quyền doanh nghiệp nhà nước, từ phong trào chiếm đất và kinh tế bất động sản, cũng như từ đầu tư nước ngoài. Đương nhiên họ không muốn thay đổi hiện trạng phát triển như vậy.
Không chỉ thế, do điểm xuất phát của chính sách kinh tế thời Giang là bảo vệ lợi ích của một số rất ít người, thủ đoạn của nó bất chấp công lý cơ bản của xã hội, bất chấp lợi ích lâu dài của con cháu, tiêu hao tài nguyên Trung Quốc một cách phá hoại. Trong việc theo đuổi lợi ích vật chất đã từ bỏ nhân tính và lương tri cơ bản nhất, vì sự phồn vinh bề ngoài ngắn hạn mà phá hủy nền tảng đạo đức xã hội. Đến khi Hồ Cẩm Đào lên nắm quyền, mô hình phát triển không bền vững và đầy rủi ro này biểu hiện thành các cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội bùng phát khắp nơi, buộc chính phủ kế nhiệm phải bận rộn đối phó bị động với khủng hoảng mà không đủ sức thay đổi hiện trạng. Cho đến ngày nay, kinh tế Trung Quốc vẫn bất lực kế thừa cái khung sườn để lại từ thời Giang.
TIẾT 1: CHÍNH SÁCH “BẢO BÁT” (GIỮ MỨC TĂNG TRƯỞNG 8%)
Năm 2008, dưới tác động của khủng hoảng tài chính, ngày 5/11 ĐCSTQ đưa ra kế hoạch kích thích tài chính và tiền tệ trị giá 4 nghìn tỷ nhân dân tệ, đồng thời bắt đầu nhanh chóng thực hiện quy hoạch chấn hưng mười ngành công nghiệp: thép, ô tô, đóng tàu, hóa dầu, dệt may, công nghiệp nhẹ, kim loại màu, chế tạo thiết bị, điện tử thông tin và logistics.
Ở phương Tây, do biểu hiện “xuất sắc” của kinh tế Trung Quốc năm 2009, một thời lời khen ngợi tràn ngập; thậm chí có người phương Tây còn nảy sinh sự ngưỡng mộ đối với chế độ chuyên chế toàn trị của ĐCSTQ. Tờ Sydney Morning Herald của Úc ngày 16/11/2010 đăng bài viết tựa đề “Mô hình Trung Quốc mới nổi vừa có lợi vừa có hại đối với các nước khác” viết:
“Sự trỗi dậy của Trung Quốc đã đạt được thắng lợi huy hoàng đến mức giờ đây bị thử thách không phải là thể chế của Bắc Kinh, mà là thể chế của chúng ta. Trung Quốc trở thành mô hình thay thế mạnh mẽ và một thách thức, thậm chí khiến các nước phương Tây cùng quan niệm tự mãn của chúng ta về dân chủ tự do trở nên lu mờ.”
Nhưng, sự tăng trưởng đổi lấy từ kế hoạch kích thích tài chính và tiền tệ khổng lồ lại có cái giá phải trả cả ngắn hạn lẫn dài hạn.
Cuối năm 2008, chính phủ Trung Quốc đưa ra kế hoạch kích thích 4 nghìn tỷ nhân dân tệ trong hai năm, đi kèm là việc hạ lãi suất tần suất cao và tăng thanh khoản hệ thống ngân hàng. Năm 2009 các khoản vay mới đạt 9,59 nghìn tỷ nhân dân tệ, năm 2010 các khoản vay mới đạt 7,58 nghìn tỷ nhân dân tệ. Đồng thời, do bất động sản có hiệu ứng kéo và lan tỏa đối với phát triển kinh tế, cuối năm 2008 Quốc vụ viện ĐCSTQ lại nhấn mạnh ngành bất động sản là ngành trụ cột quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Trước khi khủng hoảng tài chính xảy ra, kinh tế Trung Quốc vốn đã tồn tại vấn đề dư thừa năng lực sản xuất, phần lớn lượng vốn khổng lồ này đã theo lẽ tự nhiên thông qua doanh nghiệp nhà nước đổ vào ngành bất động sản, liên tục có doanh nghiệp nhà nước lên báo trở thành “địa vương” (vua đất), gây ra bong bóng bất động sản ngày càng phình to.
Đồng thời, do ngân sách tài chính và vốn tín dụng chủ yếu chảy vào chính quyền các cấp và các doanh nghiệp nhà nước lớn, cùng các doanh nghiệp có dự án nhà nước, các công trình hạ tầng đường sắt, đường bộ, sân bay vốn đã dư thừa năng lực trở thành hướng đầu tư chủ yếu. Số vốn này rất có thể trở thành mối nguy nợ xấu, nợ khó đòi của ngân hàng quốc doanh. Đồng thời, do không có tổ chức tài chính dân gian hợp pháp tồn tại, các doanh nghiệp vừa và nhỏ tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp bất động sản tư nhân chỉ có thể vay vốn qua các “tiệm tiền ngầm” với lãi suất cắt cổ, thậm chí lợi dụng đủ loại hiệp nghị đầu tư trá hình để vay nặng lãi từ các doanh nghiệp nhà nước lớn dư dả vốn, mức lãi suất năm cao tới 30%, 40% thậm chí 100%. Mà số vốn này hoàn toàn không nằm trong hệ thống ngân hàng bình thường, không thể thực hiện giám sát tài chính hiệu quả, khiến năng lực điều tiết vĩ mô của chính phủ trung ương mất hiệu lực; quản lý rủi ro cho vay của hệ thống ngân hàng bị rối loạn, rủi ro nợ xấu tăng mạnh. Trong khi đó, khủng hoảng lạm phát do phát hành tiền tệ quá mức mang lại một lần nữa trở thành thanh kiếm Damocles treo lơ lửng.
NỖI SỢ VỀ TÍNH CHÍNH ĐÁNG CỦA CHÍNH QUYỀN
Khi đưa ra kế hoạch kích thích tài chính – tiền tệ, chính phủ Trung Quốc chưa hẳn không thấy được tổn hại mà nó sẽ gây ra cho hệ thống kinh tế Trung Quốc. Việc không tiếc cái giá phải trả, dùng lượng vốn khổng lồ để kích thích kinh tế phản ánh một tâm lý sợ hãi cực độ trước nguy cơ kinh tế suy thoái.
Để hiểu tâm lý sợ hãi này, để hiểu nguồn gốc chính sách “bảo bát” của ĐCSTQ, không thể không nói đến vấn đề tính chính đáng cầm quyền của ĐCSTQ.
Gần ba mươi năm hành xử ngược đời sau năm 1949 đã khiến ĐCSTQ phá sản về ý thức hệ, kinh tế quốc dân đứng bên bờ vực sụp đổ, và mất đi tính chính đáng cầm quyền. Đặng Tiểu Bình từng nói với ông Chu Truyền Củ, người Mỹ gốc Hoa, năm 1980 rằng: “Đảng Cộng sản chúng ta đã phạm tội với nhân dân!” “Chúng ta phải trả nợ cho nhân dân Trung Quốc”. Tuy nhiên, sau khi ý thức hệ phá sản, ĐCSTQ với tội nghiệp quá sâu nặng không thể có được dũng khí đạo đức để thực sự thay đổi đường lối, mà chỉ trong khi vẫn kiên trì áp lực chính trị để duy trì quyền lực chuyên chế, sau Cách mạng Văn hóa đã bắt đầu một loạt cải lương về chính trị, kinh tế, pháp chế để tự cứu mình, cố gắng dùng cách phát triển kinh tế để đổi lấy sự phục tùng chính trị của dân chúng, từ đó duy trì chế độ độc đảng. Đây chính là điều người ta gọi là chiến lược “chính đáng bằng thành tích” của ĐCSTQ.
Năm 1978, Hội nghị Trung ương 3 khóa 11 của ĐCSTQ chính thức tuyên bố phương châm cải cách mở cửa, bắt đầu cải cách thể chế kinh tế, dùng phương pháp quá độ ở mức độ nhất định sang thể chế kinh tế thị trường để cởi trói cho nền kinh tế Trung Quốc vốn bị bóp méo bởi thể chế kinh tế kế hoạch. Nhưng cùng với việc Giang Trạch Dân lên nắm quyền năm 1989, công cuộc cải lương tự cứu của ĐCSTQ đã bị ông ta chôn vùi hoàn toàn. Cải cách thể chế kinh tế hoàn toàn dừng lại, cải cách chính trị chưa kịp khởi động cũng biến mất tăm từ đó.
VÒNG LUẨN QUẨN TRONG BẾ TẮC CẦM QUYỀN
Giang Trạch Dân lên nắm quyền vội vã, không có nền tảng quyền lực, đã đi đúng theo lời dạy của Hitler, lấy việc thả lỏng tham nhũng làm chiến lược, dùng “phạm tội chung” để xây dựng và ràng buộc nền tảng quyền lực của mình: biến cải cách kinh tế thị trường “phát triển là đạo lý cứng” thành mô hình kinh tế “quan thương chủ nghĩa” (quan chức làm thương nhân), dùng cách biến quan thành thương để nhanh chóng hình thành các tập đoàn lợi ích nhằm được nhóm quan tham ủng hộ, mà quan chức các cấp cũng đều thiếu lý tưởng, không còn công lý gì để nói, nhanh chóng tạo ra “kỳ quan” phình to về quyền lực và bùng nổ về tiền bạc của thể chế tham nhũng họ Giang. Cứ như vậy, khối u tham nhũng này ngày càng trầm trọng, nhanh chóng lan tràn khắp mọi ngóc ngách xã hội Trung Quốc.
Đồng thời, sự sinh ra và lan tràn của thể chế tham nhũng họ Giang tất yếu càng làm sâu sắc thêm cuộc khủng hoảng tính chính đáng cầm quyền của ĐCSTQ; không muốn và không thể sửa sai mà lại muốn chuyên chế độc tài, kiên trì áp lực chính trị, ổn định cực đoan, cũng trở thành lựa chọn tự nhiên trong vòng luẩn quẩn; “ổn định lấn át tất cả” của Đặng Tiểu Bình cũng bị thay thế bằng “dập tắt mọi nhân tố bất ổn chính trị từ trong trứng nước” của Giang Trạch Dân. Trong quá trình này, mọi bất đồng chính kiến (bao gồm các nhóm và cá nhân bị Giang Trạch Dân và ĐCSTQ cho là có khả năng trở thành lực lượng thách thức trong tương lai) đều bị bức hại tàn khốc vô tình, thể chế chính trị bị bóp méo dị dạng, sự tôn nghiêm của pháp luật bị chà đạp không thương tiếc, quyền lực chuyên chế không bị kiểm soát không ngừng mở rộng, còn tiêu hao một lượng lớn không cần thiết quốc lực.
Cứ như vậy, tăng trưởng kinh tế cao liên tục của Trung Quốc không chỉ trở thành con bài duy nhất cho tính chính đáng cầm quyền của ĐCSTQ, mà còn trở thành nền tảng vật chất của thể chế tham nhũng họ Giang. Chỉ có tăng trưởng kinh tế liên tục mới có thể tạo điều kiện, tạo thuận lợi cho tham nhũng thể chế tiếp diễn; chỉ có tăng trưởng kinh tế liên tục mới có thể cung cấp vốn cũng như cái cớ cho việc ổn định cực đoan. Hơn nữa, phương thức vận hành “qua sông rút cầu, gặp gì vặt nấy” của các tập đoàn lợi ích lấy quyền lực tham nhũng làm trung tâm, cùng với gánh nặng kinh tế của việc ổn định cực đoan, đã tạo ra yêu cầu cứng nhắc đối với kinh tế Trung Quốc; một khi tăng trưởng kinh tế không duy trì được trên 8%, đầu tiên chịu tác động là kinh tế thực, kinh tế suy thoái nghiêm trọng, thất nghiệp tăng vọt, tính chính đáng cầm quyền không được bảo đảm. Đây chính là nguồn gốc thực sự của chính sách “bảo bát” cứng nhắc.
“TĂNG TRƯỞNG NHÂN TẠO” KHÔNG CÒN ĐƯỜNG LUI
Nhìn từ thực tế, từ ví dụ ĐCSTQ ứng phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 có thể thấy, tăng trưởng cao của kinh tế Trung Quốc không phải là hiện tượng tự phát dưới sự điều tiết thị trường do giải phóng bản tính con người trong quá trình chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch tập quyền trung ương sang kinh tế thị trường, mà là “tăng trưởng nhân tạo” do lực lượng hành chính chính phủ điều khiển trong một nền kinh tế vẫn tập trung cao độ quyền lực kinh tế.
“Tăng trưởng nhân tạo” như vậy trong lịch sử cũng không phải không có tiền lệ, tăng trưởng cao sau chiến tranh của Liên Xô cũ khá tương tự. Từ 1950-1984, thu nhập quốc dân và tổng giá trị sản lượng công nghiệp của Liên Xô cũ tăng lần lượt 9,9 lần và 14 lần, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh hơn các nước tư bản phát triển. Từ 1951-1980, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của thu nhập quốc dân và tổng giá trị sản lượng công nghiệp Liên Xô cũ lần lượt là 7,4% và 8,7%, rõ ràng cao hơn tốc độ phát triển 4,0% và 4,6% của các nước tư bản phát triển cùng thời kỳ. Đến năm 1985 tổng giá trị sản lượng công nghiệp Liên Xô đã đạt 80% của Mỹ. Về thực lực kinh tế, lúc này Liên Xô đã từ vị trí thứ năm thế giới, thứ tư châu Âu khi mới giành chính quyền, vươn lên vị trí thứ hai thế giới, thứ nhất châu Âu, trở thành siêu cường chỉ sau Mỹ. Thời Brezhnev, mức sống người dân được nâng cao đáng kể. Về cơ bản không có thất nghiệp, chính phủ cung cấp y tế và giáo dục miễn phí. Tiền thuê nhà rất rẻ, mỗi tháng chỉ vài rúp, đã bao gồm cả phí sưởi, điện thoại và nước. Rất nhiều người có thể đi nghỉ. Giá cả nói chung thấp. Nhưng tất cả những điều đó đều xây dựng trên nền tảng cưỡng chế chính trị, tích lũy siêu cao và tiêu hao tài nguyên cao độ.
Khác với Liên Xô cũ, chính phủ ĐCSTQ đã mở cửa thị trường hàng hóa, đồng thời đưa vào nhiều công cụ kinh tế thị trường như thị trường chứng khoán, cho phép ở mức độ nhất định kinh tế tư nhân, điều này thường tạo ra ảo giác cho các nhà quan sát phương Tây. Nhưng còn tệ hơn Liên Xô cũ là sau khi thả lỏng tham nhũng, kinh tế bị ép buộc phải vận hành ở tốc độ cao, điều này càng khiến hành vi của chính phủ mang tính ngắn hạn hơn.
Trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, nhiều chính phủ các nước đều thông qua chính sách tài khóa hoặc tiền tệ để điều tiết kinh tế, giảm thiểu tác động của suy thoái. Nhưng việc sử dụng các chính sách này đều có giới hạn nhất định, vì nhiều chính sách trong ngắn hạn có thể kích thích tăng trưởng kinh tế, nhưng đồng thời sẽ có tác dụng phụ tiêu cực lâu dài. Ví dụ phát hành lượng lớn tiền tệ, tuy có thể tạm thời tăng đầu tư và tiêu dùng, khiến kinh tế trong ngắn hạn không suy giảm, nhưng sẽ sinh ra thâm hụt chính phủ gia tăng, lạm phát và các vấn đề khó kiểm soát khác. Là phản ứng đợt đầu đối phó khủng hoảng, 4 nghìn tỷ nhân dân tệ của ĐCSTQ tháng 11/2008 và gần 800 tỷ USD tiền cứu trợ mà chính phủ Obama Mỹ ký ban hành tháng 2/2009 tương đương nhau về quy mô, nhưng tổng lượng kinh tế Trung Quốc chưa bằng một nửa Mỹ, mà Mỹ còn là nơi phát sinh khủng hoảng. Tính theo tỷ lệ tổng lượng kinh tế, cách làm này rõ ràng là uống thuốc độc giải khát, bất chấp sức khỏe của hệ thống kinh tế nước mình, nhưng dưới nhu cầu tham nhũng và ổn định, phản ứng như vậy lại có thể hiểu được.
Nói một cách nghiêm khắc, kiểu tăng trưởng cao cứng nhắc này không phải là tư duy cầm quyền nhất quán của ĐCSTQ. Đặng Tiểu Bình thúc đẩy cải cách mở cửa cũng chỉ là dùng tăng trưởng kinh tế đổi lấy tính chính đáng cầm quyền theo nghĩa thông thường, chưa đi đến mức cực đoan phải duy trì tăng trưởng cao hàng năm. Chính Giang Trạch Dân lên nắm quyền, một lần nữa phá vỡ giới hạn đạo đức, mở cửa xả van tham nhũng để đổi lấy sự ủng hộ của quan chức, từ đó đẩy kinh tế Trung Quốc vào thế không còn đường lui.
Và trong quá trình gọi là “phát triển” này, chính quyền họ Giang vì theo đuổi lợi ích vật chất mà bất chấp nhân tính và lương tri cơ bản nhất, vì sự phồn vinh bề ngoài ngắn hạn mà phá hủy nền tảng vật chất và nhân văn của xã hội, phô diễn mô hình “phát triển” man rợ trong thời đại văn minh.
TIẾT 2: NHÀ MÁY BÓC LỘT SỨC LAO ĐỘNG (BLOOD-SWEAT FACTORY)
Tăng trưởng kinh tế cao sau khi Giang lên nắm quyền chủ yếu dựa vào việc biến Trung Quốc thành công xưởng thế giới, bán phá giá sản phẩm sang thị trường Âu Mỹ.
NHÂN CÔNG GIÁ RẺ
Đáng tiếc, việc biến Trung Quốc thành công xưởng thế giới không dựa vào công nghệ và hiệu suất hàng đầu thế giới như nước Anh thời Cách mạng Công nghiệp hay Nhật Bản hiện đại, mà dựa vào nhân công giá rẻ. Trong tình huống này, cái gọi là “hướng về xuất khẩu” thực chất là lấy nhân công trong nước làm nguồn tài nguyên chủ yếu nhất để đổi lấy ngoại tệ mạnh trên thị trường quốc tế. Công xưởng thế giới này xuất khẩu sản phẩm trông có vẻ là giày dép, quần áo, đồ chơi, kể cả cái gọi là sản phẩm công nghệ, nhưng thực chất xuất khẩu là sức lao động Trung Quốc, dù công nhân vẫn ở tại Trung Quốc.
Tháng 2/2009, Ủy ban Lao động Quốc gia Mỹ công bố báo cáo dài 60 trang, phanh phui một “nhà máy bóc lột sức lao động” ở Đông Quản, Trung Quốc. Nhà máy này tên Meitai, sản xuất bàn phím và linh kiện khác cho các công ty như Microsoft, Lenovo, Dell, IBM và HP. Báo cáo mô tả cảnh ngộ của hai nghìn nữ công nhân trẻ tại nhà máy như sau: 【1】
Trước dây chuyền lắp ráp mỗi giờ chạy qua 500 bàn phím máy tính, công nhân ngồi trên ghế cứng 12 tiếng mỗi ngày, làm việc 7 ngày một tuần, mỗi tháng chỉ được nghỉ hai ngày. Mỗi 1,1 giây công nhân phải lắp một phím lên bàn phím, động tác này phải lặp lại 3.250 lần mỗi giờ, 35.750 lần mỗi ngày, 250.250 lần mỗi tuần, hơn 1 triệu lần mỗi tuần.
Mỗi lần lắp một phím, thu nhập công nhân nhận được là 1/50 xu Mỹ.
Công nhân không được nói chuyện, nghe nhạc, thậm chí ngẩng đầu lên. Họ phải “cắt móng tay định kỳ”, nếu không sẽ bị phạt tiền.
Công nhân phải chờ đến giờ nghỉ mới được đi vệ sinh. Bảo vệ nhà máy giám sát công nhân, công nhân không được để tay trong túi, khi rời nhà máy phải chịu khám xét thân thể.
Làm thêm giờ là bắt buộc, công nhân phải ở trong nhà máy 87 tiếng một tuần. Trong tiền lương theo giờ của công nhân có 19% bị nhà máy ăn chặn, tiền lương thực nhận trong tay chỉ là 41 xu Mỹ mỗi giờ.
Mười đến mười hai công nhân chen chúc trong một phòng ký túc xá, ngủ giường tầng sắt, chỉ có một tấm vải che chắn riêng tư. Công nhân tắm bằng xô nhựa nhỏ, muốn có nước nóng phải đi mấy tầng lầu.
Công nhân một tuần có bốn ngày không được rời nhà máy, thậm chí không được ra ngoài đi dạo. Trung Quốc cung cấp lượng lớn trợ cấp xuất khẩu. Năm 2008, thâm hụt thương mại sản phẩm công nghệ cao giữa Mỹ và Trung Quốc đạt 74 tỷ USD. Do lương thấp và chèn ép quyền lợi lao động ở Trung Quốc, 14 triệu cơ hội việc làm lắp ráp sản phẩm điện tử đã rời khỏi nước Mỹ, các công việc này có mức lương theo giờ từ 12,72 đến 14,41 USD.
Một công nhân của Meitai nói về cảm giác trong nhà máy: “Tôi cảm thấy mình như đang thụ án trong tù… Nhà máy luôn đè đầu chúng tôi, không cho phép sai sót dù nhỏ nhất. Chúng tôi phải làm việc liên tục không ngừng, ăn cơm với tốc độ chớp nhoáng… Bảo vệ giám sát chúng tôi như cảnh sát canh tù nhân. Chúng tôi đơn giản là súc vật, không thể gọi là công nhân.”
Ông Charles Kernaghan, giám đốc Ủy ban Lao động Quốc gia Mỹ nói: “Cầu Chúa giúp chúng ta, quan hệ lao động ở Trung Quốc đã trở thành tiêu chuẩn thấp nhất mới trên toàn thế giới. Chiếc máy tính cá nhân giá 200 đô la và bàn phím giá 22,99 đô la trông có vẻ là món hời, nhưng cái giá phải trả của chúng cực kỳ khủng khiếp. Lương thấp và thiếu bảo vệ quyền công nhân của Trung Quốc khiến nước này bị ép xuống đáy trong cuộc đua kinh tế bóc lột sức lao động toàn cầu, nơi không có ai thắng cuộc.”
Hồ sơ về các nhà máy bóc lột sức lao động của các tập đoàn đa quốc gia tại Trung Quốc không hiếm gặp: Tháng 4/2008, tổ chức phi lợi nhuận nước ngoài Policy Matters Ohio phanh phui việc nhà máy liên doanh Tongshida của General Electric ở Hạ Môn “bị nghi sử dụng lao động trái pháp luật”, tiết lộ sự thật về nhà máy bóc lột lao động của General Electric, từng gây chấn động dư luận rộng rãi; tháng 11/2007, một đoàn điều tra gồm 7 trường đại học Hong Kong phanh phui nhà máy gia công của Dell vi phạm luật lao động, công nhân làm việc 16 tiếng mỗi ngày; trung tuần tháng 6/2006, tờ Mail on Sunday của Anh đưa tin iPod của Apple được sản xuất từ “nhà máy bóc lột sức lao động”, nhà máy gia công được nhắc đến là công ty Foxconn thuộc tập đoàn Hon Hai, đại gia gia công Đài Loan.
SẢN PHẨM LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC (NÔ CÔNG)
Nghiêm trọng hơn nữa là việc xuất khẩu sản phẩm lao động sản xuất trong nhà tù và trại lao động cải tạo.
Kể từ khi chính quyền Giang Trạch Dân bắt đầu đàn áp toàn diện và giam giữ bất hợp pháp những người tu luyện Pháp Luân Công từ năm 1999, hiện tượng hệ thống trại lao động cải tạo Trung Quốc cưỡng bức học viên Pháp Luân Công bị giam giữ bất hợp pháp sản xuất sản phẩm lao động nô dịch rất phổ biến. Trong các trại lao động cải tạo Trung Quốc, hơn 100.000 học viên Pháp Luân Công không chỉ bị giam giữ bất hợp pháp, chịu tra tấn kép về tinh thần và thể xác, mà còn đang bị trại lao động nô dịch, cưỡng bức sản xuất sản phẩm lao động nô dịch, lao động quá giờ lâu dài trong môi trường tồi tệ của trại lao động; không hoàn thành định mức bị tước đoạt giấc ngủ hoặc bị trừng phạt; từ chối làm sản phẩm lao động cưỡng bức bị tra tấn; để có được lao động giá rẻ, trại lao động thường tùy tiện kéo dài thời hạn giam giữ bất hợp pháp học viên Pháp Luân Công; gây tổn hại kép về thể xác và tinh thần cho học viên Pháp Luân Công. Tuy nhiên chính phủ Trung Quốc lại dùng chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp và miễn thuế sử dụng đất đô thị cho các doanh nghiệp thuộc sở hữu toàn phần của hệ thống nhà tù, trại lao động cải tạo để kích thích và khuyến khích sự tăng trưởng của loại hình sản xuất này và thu hút hợp tác vốn nước ngoài. Thậm chí có trại lao động cải tạo không tiếc dùng tiền hối lộ các trại lao động khác để chuyển học viên Pháp Luân Công về trại mình làm sản phẩm lao động cưỡng bức; một số quảng cáo mời gọi đầu tư của khu phát triển kinh tế ở một số tỉnh thành Trung Quốc thậm chí lấy nhân công giá rẻ tại khu vực nhà tù, trại lao động cải tạo để thu hút vốn nước ngoài.
Mà phần lớn các sản phẩm này được xuất khẩu sang hơn 30 quốc gia và khu vực như Mỹ, Canada, Úc, Pháp, Đức, New Zealand và Đông Nam Á. Sản phẩm lao động cưỡng bức không chỉ là sự xâm phạm nhân quyền cơ bản của người bị lao động cải tạo, mà lợi nhuận khổng lồ từ sản phẩm lao động cưỡng bức mang lại còn kích thích hệ thống nhà tù, trại lao động cải tạo tiếp tục đặt định mức sản lượng cao hơn cho người bị lao động cải tạo, làm sâu sắc thêm sự nô dịch bóc lột sức lao động, đồng thời hệ thống trại lao động cải tạo lại dùng một phần vốn để xây dựng thêm cơ sở bức hại. Ngoài ra, do giá thành sản phẩm nô công khá thấp, các sản phẩm giá rẻ này rất có sức hấp dẫn và cạnh tranh trên thị trường quốc tế, khiến một số công ty nước ngoài vi phạm luật pháp nước mình và luật quốc tế (nhiều nước cấm nhập khẩu và tiêu thụ sản phẩm nô công), tham gia sản xuất liên doanh và giúp nhập khẩu, tiêu thụ sản phẩm nô công cưỡng bức.
Theo điều tra của Tổ chức Điều tra Quốc tế Bức hại Pháp Luân Công, các doanh nghiệp như “Công ty TNHH (Tập đoàn) Tam Thương Thượng Hải”, “Tổng công ty TNHH Thủ công nghệ Lợi Đắc Nhĩ Xương Ấp Sơn Đông”, “Công ty Cổ phần Sản phẩm tóc giả Thụy Bối Gia Hà Nam” v.v. cùng với trại lao động cải tạo hoặc trại tạm giam, đã cưỡng bức học viên Pháp Luân Công trong thời gian bị giam giữ sản xuất sản phẩm lao động cưỡng bức không công cho họ. Ép buộc học viên Pháp Luân Công lao động hơn 10 tiếng mỗi ngày, thậm chí có lúc lao động cường độ cao thâu đêm, và học viên Pháp Luân Công nào không đủ sức hoàn thành nhiệm vụ thì bị đánh đập và tra tấn tàn bạo. Sản phẩm lao động của mấy doanh nghiệp này ngoài việc tiêu thụ tại các thành phố lớn Trung Quốc, “Công ty TNHH (Tập đoàn) Tam Thương Thượng Hải” sản xuất dòng sản phẩm nội y cao cấp nhãn hiệu Tam Thương (Three Guns), sản phẩm được bán rộng rãi tới hơn 70 quốc gia và khu vực trên thế giới. Chăn bông “khâu tay” do “Tổng công ty Thủ công nghệ Lợi Đắc Nhĩ Xương Ấp Sơn Đông” sản xuất được bán sang Mỹ, Canada, Chile, Argentina, các nước Liên minh châu Âu Tây Âu, Ả Rập Saudi, Thổ Nhĩ Kỳ, Kuwait, UAE, Úc và Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và hơn 40 quốc gia, khu vực khác, kim ngạch xuất khẩu hàng năm đạt 10.000.000 USD. Sản phẩm của “Công ty Cổ phần Sản phẩm tóc giả Thụy Bối Gia Hà Nam” bán chạy tại Mỹ, Nhật, Hàn, Nga, châu Âu, châu Phi và hơn 10 quốc gia, khu vực khác cùng hơn 20 tỉnh thành trong nước.
Dưới đây là một phần lời chứng của các học viên Pháp Luân Công:
Ông Vu Minh (nam), nguyên phụ trách một doanh nghiệp may mặc tại thành phố Thẩm Dương, tỉnh Liêu Ninh, vì tu luyện Pháp Luân Công mà bị giam vào Trạm điều phối nhân viên lao động cải tạo Đoàn Hà tại quận Đại Hưng, Bắc Kinh. “Gần như mỗi ngày, tất cả những người bị lao động cải tạo đều phải thức khuya dậy sớm ra sức làm việc kiếm tiền cho cảnh sát, công việc phần lớn là làm ‘đũa dùng một lần vệ sinh tiện lợi’ dùng trong các quán ăn ven đường, đầu đũa bọc một lớp giấy mỏng để coi là ‘đạt tiêu chuẩn vệ sinh’. Một thùng đũa cảnh sát kiếm được 6 nhân dân tệ, mỗi người bị lao động cải tạo mỗi ngày hoàn thành gần 3 thùng, một đội hơn 160 người, mỗi ngày mỗi đội kiếm cho cảnh sát 2000 đến 3000 nhân dân tệ.” “Phòng bọc đũa nằm ngay trong ký túc xá của người bị lao động cải tạo, phòng nào cũng đầy rận. Vốn đã quá tải, đũa vứt đầy đất, thậm chí thường xuyên rơi vào thùng vệ sinh bên cạnh cũng không ai quan tâm, vớt lên tiếp tục bọc, vì tổng số đũa không được thiếu một chiếc nào, cảnh sát theo dõi rất kỹ. Khi bọc đũa chưa từng được rửa tay, rất lâu cũng không được tắm rửa.” “Trong số người bị lao động cải tạo có người nghiện ma túy và mại dâm, nhưng ở đây không quan tâm bạn có mắc bệnh viêm gan gì, bệnh lây qua đường tình dục gì hay không, không có khám bệnh chính quy, chỉ cần còn thở là phải làm việc cho cảnh sát, kể cả người bị ghẻ lở khắp người cũng phải làm, tay đầy mủ vẫn phải cầm đũa lấy đi lấy lại. Cảnh sát đeo dùi cui điện, còng tay, đi đi lại lại xung quanh giám sát, ai chưa hoàn thành việc kịp thời liền bị cảnh sát đánh mắng.”
Ông Cung Thành Hỷ (nam), nguyên sinh viên năm cuối chuyên ngành Quản lý hành chính, Học viện Xương Bình thuộc Đại học Chính pháp Bắc Kinh, từng giữ chức Chủ tịch Hội sinh viên, lớp trưởng, vì tu luyện Pháp Luân Công mà bị trường đuổi học và bị bắt giam bức hại tại Trạm điều phối Bắc Kinh. “Tình trạng vệ sinh ở trạm điều phối cực kỳ tồi tệ, ví dụ mỗi ngày thời gian rửa mặt, đại tiện sáng tối chỉ có vài phút, thường vừa ngồi xổm xuống đã bị cảnh sát gọi ra xếp hàng; lâu ngày không cho tắm rửa, mãi đến khi phát hiện số đông người bị lao động cải tạo trên người đầy rận mới cho tắm một lần, mà lần đó cũng là dồn mấy chục người vào phòng tắm chỉ có một hai vòi nước tắm trong vài phút; mùa hè năm 2002, trạm điều phối bùng phát dịch viêm gan.” “Trạm điều phối để tận cùng vắt kiệt lợi ích từ người bị lao động cải tạo, đã đến mức gần như điên cuồng: nhiệm vụ bọc đũa quy định của chúng tôi là mỗi người mỗi ngày 7500 đến hơn 10000 chiếc, từ 6 giờ sáng thức dậy làm không ngừng đến 12 giờ đêm vẫn chưa xong, còn bị cán bộ quản giáo và tù nhân được giao nhiệm vụ quản lý đánh mắng. Trong hơn một tháng ở trạm điều phối, gần như ngày nào cũng vậy. Mấy học viên Pháp Luân Công lớn tuổi trong lớp như Đao Vạn Huy, Dương Cự Hải, Lý Học Lương, Trần Kinh Kiến, Giả Lâm vì mắt mờ, tay chân động tác đã đến giới hạn mà vẫn không hoàn thành nhiệm vụ, bị đội trưởng ép ra ngồi ngoài trời băng giá trên nền xi măng làm việc mấy tiếng đồng hồ, vẫn chưa xong thì không cho ngủ.”
CHẾ ĐỘ NÔ DỊCH HIỆN ĐẠI
Luật sư nhân quyền Cao Trí Thịnh từng đánh giá về lao động Trung Quốc: “Lao động Trung Quốc không chỉ là rẻ nhất toàn cầu, mà đồng thời cũng là nhóm người chịu khổ nạn sâu nặng nhất toàn cầu. Họ nhận được mức thù lao trên một đơn vị thời gian gần như thấp nhất toàn cầu, nhưng lượng lao động họ bỏ ra trên một đơn vị thời gian lại cũng là cao nhất toàn cầu. Đương nhiên còn một cái nhất toàn cầu nữa, đó là sự chịu đựng và nhẫn nại của họ đối với tai họa và bất công.”
Ở một quốc gia bình thường, mục tiêu hàng đầu của phát triển kinh tế chính là mức sống của người dân. Một chính phủ dân chủ, tuyệt đối không thể dung túng kiểu “phát triển” như vậy. Nói cách khác, bất kỳ quốc gia nào, chỉ cần dám từ bỏ tiêu chuẩn đạo đức, dám nô dịch chính người dân của mình, dám thụt lùi về xã hội man rợ, thì có thể tạo ra “kỳ tích” như vậy. Ví dụ để nước Mỹ quay về trước Nội chiến, mở rộng chế độ nô lệ đồn điền miền Nam ra toàn nước Mỹ, thì “kỳ tích” phát triển cũng được tạo ra. Điểm khác biệt của chế độ nô dịch Trung Quốc hiện đại so với 150 năm trước là máy móc vận hành tốc độ cao, thông tin liên lạc phát triển và kỹ thuật quản lý tiên tiến, khiến sự nô dịch này càng hiệu quả hơn.
Trước cáo buộc nô dịch lao động, ĐCSTQ luôn không thừa nhận. Vì nếu không có “ưu thế” nhân quyền thấp này, làm sao sản phẩm Trung Quốc có thể bán được trên thị trường thế giới, kinh tế Trung Quốc làm sao có thể phát triển, tính chính đáng cầm quyền và nguồn lực cầm quyền của ĐCSTQ từ đâu mà có?
TIẾT 3: Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
Ở đầu nguồn Trường Giang có một tấm bia, trên đó là dòng chữ đề của Giang Trạch Dân năm 2000. Khi dựng bia, nơi đó vẫn còn là nơi cỏ nước tươi tốt, đất phong thủy quý. Nhưng vài năm sau, xung quanh tấm bia này không còn nước, cũng không còn cỏ, mà biến thành một vùng hoang mạc. Đây chính là vận rủi mà chữ đề của Giang Trạch Dân mang lại, cũng là hậu quả của việc ĐCSTQ chỉ coi trọng phát triển kinh tế mà xem nhẹ bảo vệ môi trường.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA “CÓ TIỀN MỚI CÓ THẾ”
Tư tưởng chỉ đạo của Giang Trạch Dân “phát triển phải kiên trì lấy xây dựng kinh tế làm trung tâm, tập trung sức lực đưa kinh tế quốc dân đi lên”, “phải luôn nắm chặt phát triển – nhiệm vụ hàng đầu của việc cầm quyền chấn hưng đất nước”, “có tiền mới có thế, lạc hậu thì bị bắt nạt” 【2】 chính là cơ sở lý luận cho việc ĐCSTQ bất chấp cái giá phải trả mù quáng theo đuổi phát triển kinh tế. Giang nói “luôn đại diện cho yêu cầu phát triển của sức sản xuất tiên tiến Trung Quốc, ra sức thúc đẩy phát triển sức sản xuất tiên tiến, là biểu hiện căn bản và yêu cầu căn bản để đảng ta đứng ở hàng đầu thời đại, giữ vững tính tiên tiến.” Dựa trên lý luận này, từ trung ương đến địa phương, chính quyền các cấp bận rộn không ngừng vì tăng trưởng GDP. Muốn có GDP, phải có ngành nghề, có công ty; công ty phải “làm lớn, làm mạnh”; công ty phải không ngừng tiêu hao nguyên vật liệu và năng lượng để sản xuất.
Ông Lưu Thiết Nam, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia, Cục trưởng Cục Năng lượng Quốc gia, phát biểu tại Hội nghị công tác năng lượng nông thôn toàn quốc ngày 9/7/2011 rằng năm 2010, tổng lượng tiêu thụ năng lượng của Trung Quốc đã chiếm 20% tổng lượng thế giới, nhưng GDP chưa đến 10% thế giới; mức tiêu thụ năng lượng bình quân đầu người của Trung Quốc đại thể tương đương mức bình quân thế giới, nhưng GDP bình quân đầu người chỉ bằng 50% mức bình quân thế giới; tổng lượng GDP Trung Quốc đại thể tương đương Nhật Bản, nhưng tổng lượng tiêu thụ năng lượng gấp 4,7 lần Nhật Bản; tổng lượng tiêu thụ năng lượng Trung Quốc đã vượt Mỹ, nhưng tổng lượng kinh tế chỉ bằng 37% của Mỹ. Điều này cho thấy mô hình sản xuất của Trung Quốc là mô hình đầu vào cao, tiêu hao cao về năng lượng và vật liệu. Mô hình này thường mang lại một tác dụng phụ: ô nhiễm môi trường.
Mà khi sản xuất và môi trường xảy ra xung đột, đối với chính quyền địa phương, cách lựa chọn nào là điều hết sức dễ dàng: ưu tiên doanh nghiệp. Vì sản xuất của doanh nghiệp sẽ đóng góp cho GDP địa phương, còn bảo vệ môi trường chỉ khiến người dân sống thoải mái hơn một chút. Không ít chính quyền địa phương thậm chí coi “sản phẩm xả thải giá rẻ” (hạ thấp tiêu chuẩn môi trường) và “nhân công giá rẻ” là “ưu thế” quý báu để ra sức thu hút đầu tư. Báo cáo điều tra năm 2008 của tổ chức Hòa bình Xanh (Greenpeace) cho thấy 78,6% các công ty đa quốc gia tại Trung Quốc áp dụng tiêu chuẩn kép về biện pháp bảo vệ môi trường: thực hiện xả thải bằng không ở nước ngoài, nhưng lại trở thành đại gia gây ô nhiễm ở Trung Quốc. 【3】
CHÍNH QUYỀN CÁC CẤP MỖI NƠI MỖI KIỂU
Từ các ví dụ thực tế về ô nhiễm môi trường Trung Quốc, người ta không khó nhận ra tác dụng của chính sách các cấp chính quyền.
Thôn Mạnh Ngũ ở Hàm Đan, Hà Bắc là một ngôi làng điển hình miền Bắc Trung Quốc. Sau khi dân làng giặt quần áo phơi ra ngoài nhà, khói bụi đen do nhà máy thép Hàm Đan gần đó thải ra thường khiến họ phải mang về giặt lại lần nữa. Thủ phạm chính của ô nhiễm này là lò cao luyện sắt cồng kềnh, xả khói lượng lớn của nhà máy thép Hàm Cương. Lò cao này trước đây từng sừng sững tại thành phố Dortmund, Đức, cách Hàm Đan nửa vòng trái đất, trong nhà máy thép của tập đoàn công nghiệp lớn Đức ThyssenKrupp. Cư dân nơi đó cũng từng chịu hại sâu sắc: mỗi chủ nhật đàn ông mặc áo sơ mi trắng đi lễ nhà thờ, về nhà phát hiện áo sơ mi trắng thường đã biến thành áo xám. Cùng với việc Trung Quốc ngày càng trở thành “công xưởng thế giới”, từ cuối thập niên 90 thế kỷ trước, một lượng lớn thiết bị luyện gang luyện thép cũ đã được bán từ các nước phát triển sang Trung Quốc. Lò cao này cũng vậy. Nó bị tháo dỡ từng mảnh, được vận chuyển bằng tàu thủy từ trung tâm công nghiệp cũ của Đức đến tỉnh Hà Bắc – “thung lũng Ruhr” của Trung Quốc, rồi lại được lắp ráp từng mảnh. Dựa vào các thiết bị cũ có sẵn này, ngành thép Trung Quốc đã có sự phát triển “vượt bậc”. Còn về bảo vệ môi trường, người Đức đổi lấy trời xanh mây trắng, người Trung Quốc bắt đầu chịu khổ vì điều đó. 【4】
Năm 2005, để nâng cao hiệu quả doanh nghiệp, giảm tiêu hao năng lượng, chính phủ trung ương ban hành một chính sách: tăng giá điện, từ đó hạn chế sự phát triển của các ngành tiêu hao năng lượng cao và buộc các doanh nghiệp có hiệu suất thấp nhất không thể tồn tại. Khi mệnh lệnh chính sách đến thành phố Thanh Đồng Hạp, Khu tự trị dân tộc Hồi Ninh Hạ, các quan chức thành phố lập tức hành động: chỉ có điều họ thiết kế cơ chế khá sáng tạo để né tránh yêu cầu của trung ương. Tập đoàn nhôm Thanh Đồng Hạp lớn nhất địa phương là doanh nghiệp tiêu thụ điện công nghiệp chiếm 20% và tạo giá trị sản lượng chiếm 10% khu vực này. Chính quyền thành phố sợ tăng giá điện ảnh hưởng đến lợi nhuận của Tập đoàn nhôm Thanh Đồng Hạp, từ đó gây tác động tiêu cực đến kinh tế địa phương, liền cùng công ty điện lực địa phương sắp xếp cung cấp điện mua trực tiếp cho hộ tiêu thụ điện lớn tiêu hao năng lượng cao này, không bị ảnh hưởng bởi việc tăng giá. Đúng là “trên có chính sách, dưới có đối sách”. 【5】
Thái Hồ, một trong những vùng đất cá gạo cổ xưa của Trung Quốc, đã chịu sự giày xéo của ô nhiễm công nghiệp. Do ngành hóa chất ngày càng phát đạt của khu vực này, ô nhiễm do hàng trăm nhà máy hóa chất ven hồ thải ra khiến một loại tảo lam độc (thường gọi là tảo lục) thối rữa trong hồ, khiến toàn bộ Thái Hồ trở thành màu xanh lục huỳnh quang. Mùi hôi thối từ hồ nước bốc lên khiến người ta khó thở khi còn cách hồ ba dặm. Thái Hồ biến thành “hồ xanh”, ngư dân sống bằng nghề đánh cá không thể đánh bắt, ít nhất hai triệu cư dân ven hồ buộc phải ngừng sử dụng nước Thái Hồ vốn là nguồn nước chính. Ông Ngô Lập Hồng, người được Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc phong là “Vệ sĩ môi trường”, là một người bảo vệ môi trường tự phát dân gian, từng bôn ba khắp nơi vì ô nhiễm môi trường Thái Hồ. Nhưng hành động của ông trái ngược với tư tưởng chỉ đạo phát triển kinh tế của chính quyền địa phương. Tháng 5/2011, trước khi khủng hoảng tảo lam Thái Hồ bùng phát, ông bị chính quyền thị trấn quê nhà Chu Thiết bắt giữ. Trung tuần tháng 8, khi mùi hôi thối vẫn còn lan tỏa khắp Thái Hồ, ông bị khởi tố tội tống tiền, bị tòa án địa phương tuyên án 3 năm tù. 【6】
Huyện Mã Đa, tỉnh Thanh Hải là huyện đầu nguồn Hoàng Hà đầu tiên, nơi đây từng có đồng cỏ tốt nhất thế giới, diện tích đồng cỏ từng chiếm 64,7% diện tích toàn huyện. Khi đó nuôi một con cừu chỉ cần 5 mẫu đồng cỏ. Nay đồng cỏ thoái hóa chiếm 63,7% tổng diện tích. Tức là gần như toàn bộ đồng cỏ đã trở thành đồng cỏ thoái hóa và đất sa mạc hóa. Chất lượng đồng cỏ thoái hóa là 1000 mẫu đồng cỏ mới nuôi được một con cừu. Nguyên nhân khiến đồng cỏ thoái hóa là khai thác vàng, đào dược liệu. Đương nhiên cũng bao gồm việc người Hán định cư, chính sách khoán đất đồng cỏ. Trước đây, các dân tộc thiểu số sống du mục, theo nước theo cỏ mà ở, ấm đến lạnh đi, có lợi cho việc bảo tồn sinh thái đồng cỏ. Nhưng người Hán quen định cư, cho rằng du mục bất lợi cho quản lý, chính phủ cứng nhắc áp đặt cái gọi là kinh doanh khoán đất thành công lên cư dân địa phương, buộc họ định cư chăn nuôi, đạt sản lượng chăn nuôi tối đa trên một diện tích đồng cỏ nhất định. Kết quả cuối cùng là đồng cỏ thoái hóa, diện tích sa mạc hóa mở rộng, cư dân định cư lại một lần nữa bị buộc phải di dời. Khi ĐCSTQ mới cướp chính quyền từ tay Quốc Dân Đảng, diện tích đất sa mạc hóa tỉnh Thanh Hải chỉ 79,95 triệu mẫu, nay diện tích sa mạc hóa là 250 triệu mẫu, và tốc độ mở rộng diện tích sa mạc hóa vẫn tiếp tục không giảm. 【7】
MÔI TRƯỜNG SỐNG PHI NHÂN TÍNH
Theo số liệu thống kê và báo cáo từ nhiều phía, môi trường Trung Quốc đã chịu ô nhiễm to lớn. Hơn 300 triệu dân nông thôn không có nước sạch để uống, hơn 400 triệu cư dân thành thị hít thở không khí ô nhiễm nghiêm trọng. Sông ngòi hồ ao nói chung đều bị ô nhiễm, 75% hồ trên toàn quốc xuất hiện phú dưỡng hóa ở các mức độ khác nhau; 90% vùng nước đô thị ô nhiễm nghiêm trọng; điều tra nước ngầm tại 118 thành phố lớn và vừa cho thấy có 115 thành phố nước ngầm bị ô nhiễm. Phần lớn cư dân thành thị hít thở không khí ô nhiễm nghiêm trọng, hàng chục triệu người vì thế mắc viêm phế quản và ung thư đường hô hấp. Hai phần ba thành phố Trung Quốc có chất lượng không khí không đạt tiêu chuẩn của chính Trung Quốc, và trong hơn 500 triệu dân cư đô thị Trung Quốc chỉ có 1% được hít thở không khí an toàn (theo tiêu chuẩn an toàn của EU).
Theo bản tin của Financial Times Anh năm 2007: trong 20 thành phố ô nhiễm nhất thế giới mà báo cáo Ngân hàng Thế giới liệt kê, Trung Quốc chiếm 16 thành phố, mỗi năm có 750.000 người Trung Quốc chết yểu vì ô nhiễm nước và không khí. 【8】 Ví dụ, do ô nhiễm, tại thành phố Lâm Phần, tỉnh Sơn Tây, tỷ lệ trẻ sơ sinh bị dị tật bẩm sinh gần gấp 30 lần mức bình quân thế giới.
So với ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng của phá hủy sinh thái và mất cân bằng sinh thái còn sâu rộng hơn. 80% sông ngòi hồ ao bị đứt dòng cạn kiệt, hai phần ba đồng cỏ bị sa mạc hóa, đại bộ phận rừng biến mất, gần như 100% đất đai bị chai cứng. Một phần ba lãnh thổ Trung Quốc đã bị mưa axit ô nhiễm, hai phần năm các hệ thống sông chính đã trở thành nước loại kém 5.
TỐC ĐỘ TRỊ LÝ KHÔNG THEO KỊP TỐC ĐỘ PHÁ HỦY
Trung Quốc là một trong những quốc gia có tình trạng xói mòn đất nghiêm trọng nhất thế giới, tốc độ trị lý không theo kịp tốc độ phá hủy. Đầu thập niên 90, diện tích xói mòn đất đã đạt 1,5 triệu km² một năm, lượng đất mất mỗi năm đạt hơn 5 tỷ tấn, tương đương với việc cạo đi một lớp đất dày 1cm trên toàn bộ đất canh tác cả nước, trong đó lượng nguyên tố phân bón đạm, lân, kali bị mất tương đương 40 triệu tấn phân hóa học, bằng tổng lượng phân hóa học sử dụng toàn quốc. 【9】 Cuối năm 2006, đất canh tác bị xói mòn chiếm khoảng 37% tổng diện tích đất canh tác toàn quốc. Xói mòn đất liên quan đến gần 1000 huyện trên cả nước. Lượng bùn cát đưa vào Hoàng Hà mỗi năm đạt 1,6 tỷ tấn, đứng đầu các con sông thế giới. Đoạn sông hạ lưu dài 768km từ Đào Hoa Dục đến cửa biển, mỗi năm bồi lắng khoảng 400 triệu tấn bùn cát, lòng sông ngày càng cao lên. Hạ lưu Hoàng Hà hình thành “sông treo trên mặt đất” nổi tiếng, mặt bãi lòng sông cao hơn mặt đất phía sau đê thường từ 3 đến 5m, tại Tào Cương, huyện Phong Khâu, Hà Nam, thậm chí cao hơn tới 10m. 【10】
Theo thống kê, trong hơn 600 thành phố Trung Quốc, có hơn 400 thành phố thiếu nước cung cấp, trong đó hơn 100 thành phố thiếu nước nghiêm trọng, các thành phố miền Bắc như Tây Bắc, Hoa Bắc, Đông Bắc Trung Quốc hầu như đều thiếu nước, lượng thiếu nước hàng năm khoảng 6 tỷ m³, lượng nước sử dụng bình quân đầu người ở Bắc Kinh tuy chỉ bằng 1/3 một số thủ đô nước phát triển; nông thôn miền Bắc và Tây Bắc có hơn 50 triệu người và hơn 30 triệu đầu gia súc không được bảo đảm nước uống. Thiếu hụt tài nguyên nước ngọt đã trở thành nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến phát triển kinh tế xã hội của nhiều vùng Trung Quốc.
Sự phá hủy môi trường và sinh thái mang tính thảm họa này đồng thời mang lại tổn thất kinh tế xã hội to lớn cho Trung Quốc. Theo ước tính, sau khi lượng hóa tổn thất do nghỉ ốm và điều trị bệnh, riêng ô nhiễm không khí năm 2005 đã mang lại tổn thất 112 tỷ USD cho kinh tế Trung Quốc, tăng mạnh so với 22 tỷ USD năm 1975. Ước tính, tổn thất kinh tế do ô nhiễm môi trường và phá hủy sinh thái năm 2003 chiếm 15% GDP năm đó.
Ô NHIỄM LAN RA THẾ GIỚI
Vấn đề ô nhiễm của Trung Quốc không chỉ là vấn đề của riêng Trung Quốc, nó đã trở thành vấn đề mang tính toàn cầu. Khí sulfur dioxide và oxit nitơ do các nhà máy nhiệt điện than Trung Quốc thải ra rơi xuống Seoul và Tokyo dưới dạng mưa axit. Hộp cơm, hộp xốp (hộp nhựa bọt biển) mà người Trung Quốc tiện tay vứt xuống sông, theo dòng sông, biển trôi dạt đến Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc. Bão cát do sa mạc hóa quấy nhiễu Bắc Kinh hàng năm cũng bắt đầu “đi ra thế giới”, vượt biển tràn sang Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan. Bão cát không chỉ là “cát vàng”, thành phần của nó còn chứa bụi chất thải công nghiệp nông nghiệp độc hại, là “chất độc màu vàng”. Hàn Quốc thậm chí có trường học phải nghỉ học vì điều này. Theo Tạp chí Nghiên cứu Địa vật lý, thậm chí nhiều hạt bụi ô nhiễm ở Los Angeles cũng có nguồn gốc từ Trung Quốc.
CÁCH TRỊ LÝ MANG “ĐẶC SẮC ĐCSTQ”
Cách giải quyết của quan chức các cấp Trung Quốc đối với việc phá hủy môi trường cũng thường mang đậm “đặc sắc ĐCSTQ”. Sau khi huyện Phú Dân, Vân Nam xây dựng tòa nhà văn phòng huyện ủy mới, cục lâm nghiệp địa phương sợ bị chỉ trích không làm tròn trách nhiệm bảo vệ môi trường, đã phun sơn màu xanh lên ngọn núi trọc đối diện tòa nhà để làm “phủ xanh”, nhuộm cả ngọn núi thành màu xanh lục.
Để giải quyết vấn đề thiếu hụt tài nguyên nước ở miền Bắc Trung Quốc, ĐCSTQ quyết định chi 62 tỷ USD thực hiện dự án Nam Thủy Bắc Điều (dẫn nước từ Nam ra Bắc) để giải quyết vấn đề. Dự án này dự kiến thông qua ba tuyến đường dẫn nước Đông, Trung, Tây, đưa 3 tỷ tấn nước qua kênh dẫn bê tông, từ lưu vực Trường Giang giàu tài nguyên nước đến các tỉnh miền Bắc Trung Quốc. Do tuyến Đông có địa thế Nam thấp Bắc cao nên cần bơm nước để đạt được “nước thấp gửi cao”. Hiện tại, các công trình tuyến Đông và tuyến Trung đang trong quá trình xây dựng; còn tuyến Tây, do cân nhắc nhân tố môi trường, trở thành phần gây tranh cãi nhiều nhất trong dự án này, hiện vẫn còn ở giai đoạn thiết kế. Dưới tư tưởng chỉ đạo cuồng vọng “con người chiến thắng trời”, ĐCSTQ sở trường dùng hoạt động nhân tạo quy mô siêu lớn để “cải tạo tự nhiên”. Công trình Tam Hiệp gây tranh cãi nhiều và đầy vấn đề chính là một ví dụ rõ ràng, nhưng ĐCSTQ chưa bao giờ phản tỉnh, sửa đổi cách làm “đổi trời đổi đất” trái tự nhiên đó.
Hồ Cẩm Đào cũng từng thử thay đổi bầu không khí chính trị coi tăng trưởng kinh tế cao hơn tất cả này. Ông đưa ra khái niệm GDP xanh năm 2007, trên cơ sở đánh giá GDP đơn thuần, thêm vào nhân tố bảo vệ môi trường, tức là từ GDP thống kê hiện hành khấu trừ đi chi phí tổn thất kinh tế gây ra bởi các nhân tố như ô nhiễm môi trường, thoái hóa tài nguyên thiên nhiên, giáo dục thấp kém, dân số mất kiểm soát, quản lý yếu kém, từ đó tính ra tổng lượng tài sản quốc dân thực sự. Nhưng, kết quả tính theo GDP xanh khiến người ta giật mình: tăng trưởng kinh tế của một số tỉnh sau khi trung hòa với phá hủy do ô nhiễm gần như giảm xuống bằng không. Kết quả trung ương phải lập tức đình chỉ tiêu chuẩn này.
Trên thực tế, giống như “nhà máy bóc lột sức lao động”, ô nhiễm môi trường là một trụ cột “kỳ diệu” lớn đằng sau “kỳ tích Trung Quốc”. Để chứng thực tính chính đáng cầm quyền của mình, ĐCSTQ phiến diện theo đuổi phát triển kinh tế tốc độ cao, khiến Trung Quốc vì thế phải trả giá môi trường trong nhiều thế hệ (thậm chí nhiều thế hệ hơn nữa). Đây chính là ĐCSTQ thực sự, vì tư lợi mà không tiếc hy sinh phúc lợi của hơn một tỷ dân.
TIẾT 4: CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN NHÀ NƯỚC
Cuối thập niên 80, doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc ở tình trạng “chia ba thiên hạ”: một phần ba có lãi, một phần ba lỗ, còn một phần ba lỗ ngầm. Đến năm 1994, diện lỗ của doanh nghiệp nhà nước đã mở rộng lên 48,6%, một số tỉnh thậm chí đạt hơn 60%. Đến nửa đầu năm 1996 xuất hiện tình huống gây sốc: lũy kế 4 tháng đầu năm đó, lợi nhuận doanh nghiệp nhà nước sau khi bù trừ lãi lỗ bị lỗ ròng 21,5 tỷ nhân dân tệ, trong khi cùng kỳ năm 1995 lãi 15,1 tỷ; tốc độ tăng sản lượng công nghiệp nhà nước chỉ 5%, rõ ràng thấp hơn mức vận hành bình thường, tồn kho doanh nghiệp tăng, tỷ lệ tiêu thụ sản phẩm giảm, xuất hiện tình trạng lãi không đủ bù lỗ toàn ngành, hiếm thấy trong lịch sử.
CẢI CÁCH THỰC HIỆN TRIỆT ĐỂ THAM NHŨNG THỂ CHẾ
Cái gọi là cải cách doanh nghiệp nhà nước bắt đầu trong bối cảnh như vậy. Từ năm 1983, cải cách doanh nghiệp Trung Quốc đã trải qua nhiều giai đoạn theo phương thức “tiệm tiến”: từ nhà nước sở hữu nhà nước kinh doanh đến trao quyền nhường lợi; tách chính quyền khỏi doanh nghiệp và tách quyền sở hữu khỏi quyền kinh doanh; chế độ cổ phần và nắm lớn buông nhỏ. Nhưng dù cải cách thế nào, đều không thay đổi căn bản vấn đề hiệu suất thấp của doanh nghiệp nhà nước, vì thể chế chính trị độc đảng quyết định đảng tất yếu khống chế mạch máu kinh tế từ đó khống chế doanh nghiệp nhà nước, tầng lớp quản lý doanh nghiệp hưởng quyền chi phối tài sản nhà nước như tài sản riêng, mà không phải chịu trách nhiệm về tổn thất tài sản nhà nước.
Trong tiền đề này, “cải cách” tự nhiên trở thành bữa tiệc để quan chức cướp đoạt tài sản nhà nước. Các quan chức ĐCSTQ trong quá trình này bày ra đủ trò “tư hữu hóa” – dùng các từ ngữ thời thượng như “xác định”, “chuyển nhượng”, “hoán đổi”, “chuộc lại” để nhét tài sản công vào túi riêng. Việc thả lỏng tham nhũng của Giang Trạch Dân được thực hiện triệt để nhất ở đây.
Năm 2010, huyện Bồ, trực thuộc thành phố Lâm Phần, tỉnh Sơn Tây nổ ra tin lớn – Hác Bằng Tuấn, nguyên Bí thư Đảng ủy Cục Than huyện Bồ, bị nghi phạm tội “tạo ra” vụ án chống tham nhũng than cốc lớn đầu tiên của Sơn Tây. Xử sơ thẩm phạt Hác Bằng Tuấn cùng gia đình và mỏ than hơn 320 triệu nhân dân tệ tiền phạt, lập kỷ lục mức phạt tiền cao nhất mà các cấp tòa án Trung Quốc từng tuyên. Vương Hữu Minh, cán bộ cấp phó sở thuộc Cục Quản lý Tài nguyên Đất đai tỉnh Sơn Tây, bị “song quy” (kỷ luật đảng).
Sự việc bắt nguồn từ năm 2001, “ba mỏ một trạm” chiếm 60% nguồn thu ngân sách huyện Thấm Thủy, tỉnh Sơn Tây thực hiện cải chế, Cục Quản lý Tài sản Quốc hữu huyện Thấm Thủy đại diện cho “ba mỏ một trạm” đã ký nháp hiệp nghị hợp tác với 4 công ty để hợp thành “Than nghiệp Thấm Hòa”. “Ba mỏ một trạm” hợp thành một cổ đông, do Cục Quản lý Tài sản Quốc hữu huyện Thấm Thủy đại diện. Công ty mới có vốn đăng ký 50 triệu nhân dân tệ, “ba mỏ một trạm” chiếm 25% cổ phần, chỉ trị giá 12,5 triệu nhân dân tệ! Con số này thậm chí còn thấp hơn mấy lần so với tổng tài sản 420 triệu nhân dân tệ, tài sản ròng 120 triệu nhân dân tệ của “ba mỏ một trạm” theo báo cáo “kiểm toán” được huyện ủy, chính quyền huyện Thấm Thủy và Than nghiệp Thấm Hòa công nhận. Trong quá trình cải chế, ngoài tài sản hữu hình, “Than nghiệp Thấm Hòa” không phải trả bất kỳ giá nào cho quyền khai thác mỏ, quyền sử dụng đất và tài sản vô hình của “ba mỏ một trạm”, tài nguyên vốn thuộc doanh nghiệp nhà nước cũ bị “Than nghiệp Thấm Hòa” chiếm dụng không bồi thường.
Người đại diện pháp nhân của Than nghiệp Thấm Hòa là thương nhân bất lương Lữ Trung Lâu, nhờ sự trợ giúp đen tối của Vương Hữu Minh, người khi đó giữ chức vụ then chốt, đã đạt được việc chuyển tài sản nhà nước gần như với giá bằng không sang tên cá nhân. Nếu tính theo tổng trữ lượng than Thấm Hòa 1 tỷ tấn, muốn có được quyền khai thác ít nhất phải bỏ ra 1 tỷ vốn. Nhưng thực tế “Than nghiệp Thấm Hòa” đã chuyển thành doanh nghiệp tư nhân mà không tốn một xu, chiếm đoạt nguồn tài nguyên nhà nước khổng lồ. Sau đó, “Than nghiệp Thấm Hòa” lại dùng thủ đoạn tương tự liên tục có được hai mỏ than nhà nước, hai mỏ than tập thể ở Thấm Thủy, tổng tài sản vượt quá 80 tỷ nhân dân tệ.
BÁN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CHO CHÍNH MÌNH
Trục lợi (tiếng Anh: Rent Seeking), còn gọi là cạnh tranh trục lợi, là một hoạt động tìm kiếm lợi ích phi sản xuất được thực hiện để giành hoặc duy trì vị thế độc quyền từ đó thu được lợi nhuận độc quyền. Ở Trung Quốc ngày nay, một hành vi trục lợi điển hình là quan chức lợi dụng chức vụ của mình để có được các loại quyền lực ngoài quy định pháp luật và thể chế, những quyền lực này mang lại cho họ lợi ích kinh tế và chính trị đặc biệt. Tham nhũng bằng phương thức trục lợi quyền lực có nhiều hình thức, mà chiếm đoạt tài sản nhà nước là một hiện tượng nổi bật trong cải cách doanh nghiệp nhà nước thập niên 90.
Tháng 12/2011, Vương Quan Siêu, nguyên người đại diện pháp nhân, tổng giám đốc Công ty TNHH Thực nghiệp Ô tô Tam Cửu Bắc Kinh, vì tham ô công quỹ hơn 26,29 triệu nhân dân tệ, chiếm dụng công quỹ 4 triệu nhân dân tệ, bị Tòa án Nhân dân Cấp cao thành phố Trùng Khánh xử phúc thẩm tuyên án tử hình, hoãn thi hành án hai năm. Vương Quan Siêu luôn coi việc chiếm đoạt tài sản nhà nước là mục tiêu theo đuổi của mình. Cơ quan kiểm sát Trùng Khánh phát hiện, trong một cuốn sổ tay của Vương Quan Siêu có đoạn ông viết năm 2001: “Thành lập thêm vài công ty, dùng công quỹ chơi trong đó, lãi thì về mình, lỗ thì nhà nước gánh, ai cũng làm như vậy cả.”
Vì thế, ông ta khổ công nghiên cứu kiến thức kế toán tài chính, thuê nhân viên tư pháp đã nghỉ hưu làm “cố vấn pháp luật” cho công ty; dùng công ty chuyển nhà để chuyển đi các sổ sách quan trọng, giấu ở vùng ven đô khó phát hiện; không ở nhà mình mà thuê nhà đối diện, chuyên để quan sát động tĩnh nhà mình… những hành động đặc biệt này đều xuất phát từ Vương Quan Siêu. Công tố viên phụ trách vụ án nói: “Ông ta coi việc chiếm đoạt tài sản nhà nước như một ‘sự nghiệp’ để làm.”
Ngày 8/8/2006, Công ty TNHH Thực nghiệp Ô tô Tam Cửu Bắc Kinh cải chế, được định giá 8,28 triệu nhân dân tệ bán cho một công ty tên “Công ty Đầu tư Hằng Nguyên Bắc Kinh”. Trần Vệ Dân, Cục trưởng Cục Điều tra Tội phạm Chức vụ, Viện Kiểm sát Nhánh 1 thành phố Trùng Khánh nói, thực tế “Công ty Đầu tư Hằng Nguyên Bắc Kinh” này chính là công ty mà Vương Quan Siêu trước đó khi đi học nâng cao đã mua lại với giá 30.000 nhân dân tệ từ một người bạn học, những năm gần đây gần như không hoạt động kinh doanh gì. Như vậy, Vương Quan Siêu đã thành công bán doanh nghiệp nhà nước cho chính mình.
Thông qua các kẽ hở trong cải chế, Vương Quan Siêu đã “biến tiền” thành công số công quỹ mình chiếm đoạt: năm 2005, Vương Quan Siêu thông qua Công ty Tam Cửu Thiên Tân do mình khống chế, chuyển 2,07 triệu nhân dân tệ công quỹ với danh nghĩa mua xe sang Công ty Kinh doanh Ô tô Đức Khải Thiên Tân, sau đó lại yêu cầu bên kia chuyển số tiền này vào Công ty Phong Đạt Bách Thông Bắc Kinh do mình khống chế, Tam Cửu Thiên Tân ghi khoản giao dịch tiền này trên sổ kế toán là tiền hoàn trả. Sau này Công ty TNHH Thực nghiệp Ô tô Tam Cửu Bắc Kinh niêm yết chuyển nhượng, Tam Cửu Thiên Tân không nằm trong diện kiểm toán, số tiền này đã bị Vương Quan Siêu chiếm đoạt; từ 2003 đến 2006, Vương Quan Siêu gửi 7,036 triệu nhân dân tệ thu nhập bán xe vào quỹ đen công ty, trên sổ sách của Công ty TNHH Thực nghiệp Ô tô Tam Cửu Bắc Kinh dùng cách tính chi phí quyết toán để cân bằng số này. Trong thời gian đó Vương Quan Siêu đã rút 4,816 triệu nhân dân tệ, còn lại 2,22 triệu. Khi Công ty TNHH Thực nghiệp Ô tô Tam Cửu Bắc Kinh niêm yết chuyển nhượng, khoản tài sản này bị che giấu không đưa vào kiểm toán, bị Vương Quan Siêu chiếm đoạt…
NỢ NẦN KHỔNG LỒ CỦA CHÍNH PHỦ
Từ thập niên 80 đến nay, tổng lượng tài sản nhà nước thất thoát là bao nhiêu không ai rõ, nhưng khoản nợ khổng lồ mà chính phủ trung ương và chính quyền địa phương Trung Quốc phải gánh chịu là sự thật không thể chối cãi.
Theo báo cáo của Tạp chí Tài chính Kinh tế Quốc gia tháng 4/2012, cuối năm 2010, nợ hiển thị của chính phủ trung ương, tức số dư trái phiếu quốc gia đối nội và đối ngoại, là 6.754,811 tỷ nhân dân tệ. Nợ ẩn của chính phủ trung ương bao gồm tổng nợ Bộ Đường sắt 1.891,8 tỷ, ba ngân hàng thương mại chính sách lớn nợ 4.612,12 tỷ, thiếu hụt quỹ bảo hiểm hưu trí toàn quốc 4 nghìn tỷ, bốn ngân hàng thương mại nhà nước cải chế có khoản nợ khoảng 439,46 tỷ nhân dân tệ. Tổng nợ chính phủ trung ương đạt 17,7 nghìn tỷ.
Chính quyền địa phương các cấp đến cuối năm 2010 có trách nhiệm hoàn trả khoản nợ 6.710,951 tỷ nhân dân tệ. Ngoài ra nợ ẩn của chính quyền địa phương, chủ yếu bao gồm nợ đối ứng mà chính quyền địa phương có trách nhiệm bảo lãnh cùng khoản nợ mà chính phủ cần hỗ trợ nhất định khi con nợ gặp khó khăn trả nợ. Theo kết quả kiểm toán do Kiểm toán Nhà nước công bố, tính đến cuối năm 2010, tổng số tiền nợ ẩn của chính quyền địa phương là 4.006,54 tỷ nhân dân tệ. Quy mô nợ của chính quyền địa phương đạt 10,7 nghìn tỷ.
Tổng nợ chính phủ trung ương và địa phương đạt 28,4 nghìn tỷ, chiếm 71% tổng sản phẩm quốc dân năm đó.
Theo Wall Street Journal đưa tin, trong thời gian Bạc Hy Lai giữ chức Bí thư Thành ủy Trùng Khánh của ĐCSTQ, thành phố này để giúp Bạc Hy Lai có được chức vụ cấp cao hơn trong chính phủ Trung Quốc, đã ra sức theo đuổi tăng trưởng kinh tế, trong quá trình đó tích lũy khoản nợ lên tới hàng chục tỷ USD. Sau khi Bạc Hy Lai nhậm chức Bí thư Thành ủy Trùng Khánh năm 2007, lượng cho vay của các ngân hàng Trùng Khánh tăng vọt. Ông Victor Shih, chuyên gia về vấn đề nợ địa phương Trung Quốc tại Đại học Northwestern Mỹ, cho biết chính quyền địa phương, doanh nghiệp nhà nước, nhà phát triển bất động sản nhà nước tại Trùng Khánh có tổng nợ 1 nghìn tỷ nhân dân tệ vào cuối năm 2011.
TIẾT 5: LỪA VỐN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Đối với các nhà quan sát phương Tây coi trọng hiện tượng bề mặt, sự xuất hiện của thị trường chứng khoán thập niên 90 đã trở thành sự kiện đánh dấu việc cải cách của Trung Quốc đi vào chiều sâu. Nhưng các nhà quan sát phương Tây đã bỏ qua một điểm, đó là thị trường chứng khoán chỉ là một phương thức huy động vốn, không phải là dấu hiệu của hiệu quả kinh tế và mức độ tự do.
VỐN NHÀ NƯỚC CHIẾM 90% THỊ TRƯỜNG VỐN
Thị trường chứng khoán Trung Quốc vẫn là thiên hạ của doanh nghiệp nhà nước. Theo “Cơ sở dữ liệu Công ty Niêm yết Trung Quốc” phiên bản 2009 của Anh Sách Tư Vấn, tính đến cuối năm 2008, thị trường chứng khoán Thượng Hải – Thâm Quyến có tổng cộng 1540 công ty niêm yết phi tài chính, trong đó 604 công ty do tư nhân kiểm soát, chiếm 39% tổng số công ty niêm yết, 936 công ty do nhà nước kiểm soát, chiếm 61% tổng số công ty niêm yết. Nhìn qua về số lượng, dường như thị trường vốn Trung Quốc không hề bạc đãi doanh nghiệp tư nhân, có gần hai phần năm công ty niêm yết là công ty do tư nhân kiểm soát. Nhưng, số lượng công ty niêm yết không thể nói lên tất cả vấn đề. Tính theo doanh thu, từ năm 2000 liên tục 8 năm, tổng doanh thu của các công ty niêm yết do tư nhân kiểm soát chỉ chiếm khoảng 10% tổng doanh thu của toàn bộ công ty niêm yết, điều này cho thấy kinh tế tư nhân chỉ sử dụng 10% nguồn lực thị trường vốn, thực sự chiếm 90% nguồn lực thị trường vốn vẫn là các công ty do nhà nước kiểm soát.
“COI NHÀ ĐẦU TƯ LÀ NGỐC ĐỂ LỪA TIỀN”
Không chỉ vậy, thị trường chứng khoán Trung Quốc có một khác biệt căn bản so với thị trường chứng khoán phương Tây, đó là thị trường chứng khoán là sân chơi để các công ty niêm yết vơ vét tài sản của cổ đông.
Tại Hội thảo Phát triển Sáng tạo Công ty Chứng khoán tổ chức ngày 7-8/5/2012, Chủ tịch Ủy ban Giám quản Chứng khoán Quách Thụ Thanh hy vọng “ngành chứng khoán phải tăng cường tự luật, phải áp dụng các biện pháp nghiêm khắc nhất, nghiêm ngặt nhất, tăng cường trách nhiệm tín nhiệm và ý thức pháp luật”, Quách Thụ Thanh nhắc nhở các công ty chứng khoán tham dự rằng “những ngày coi nhà đầu tư là ngốc để lừa tiền đã qua rồi không trở lại nữa”.
Câu nói này chắc chắn đã tiết lộ một bí mật, thị trường chứng khoán Trung Quốc trước đây luôn “coi nhà đầu tư là ngốc để lừa tiền”.
“Lừa tiền” là một danh từ chuyên dụng của thị trường chứng khoán Trung Quốc, chỉ việc công ty niêm yết huy động vốn trên thị trường chứng khoán không phải để sản xuất tạo ra của cải trong kinh tế thực nhằm báo đáp nhà đầu tư, mà bằng phương thức hợp pháp hoặc bất hợp pháp lừa lấy tiền của nhà đầu tư, sau đó tìm cách rút ruột công ty niêm yết, xâm hại lợi ích nhà đầu tư.
Một ví dụ kinh điển là vụ Ngân Quảng Hạ. Từ 1999 đến 2000, Công ty Cổ phần Thực nghiệp Quảng Hạ (Ngân Xuyên) (gọi tắt Ngân Quảng Hạ, mã chứng khoán Sở Giao dịch Chứng khoán Thâm Quyến 0557) đã tạo ra thần thoại về thành tích và giá cổ phiếu khiến người ta kinh ngạc. Theo báo cáo thường niên năm 1999 của Ngân Quảng Hạ, lợi nhuận mỗi cổ phiếu của Ngân Quảng Hạ năm đó đạt mức chưa từng có 0,51 nhân dân tệ; giá cổ phiếu từ 13,97 nhân dân tệ ngày 30/12/1999 tăng vọt không ngừng, đến ngày 19/4/2000 tăng lên 35,83 nhân dân tệ. Sau khi thực hiện phương án chia thưởng hậu hĩnh 10 chuyển 10 vào ngày kế tiếp, liền bước vào đợt tăng giá bù trừ, đến ngày 29/12/2000 hoàn toàn bù trừ và lập kỷ lục mới 37,99 nhân dân tệ, quy đổi theo giá trước khi chia là 75,98 nhân dân tệ, tăng 440% so với mức giá khởi động một năm trước; tăng cao thứ hai toàn thị trường Thượng Hải – Thâm Quyến trong cả năm 2000; thành tích công bố trong báo cáo thường niên năm 2000 lại tạo “kỳ tích” mới, trên cơ sở vốn cổ phần tăng gấp đôi, lợi nhuận mỗi cổ phiếu tăng vọt lên 0,827 nhân dân tệ.
Ngân Quảng Hạ tuyên bố ra bên ngoài rằng phần lớn lợi nhuận của họ đến từ việc công ty con Thiên Tân Quảng Hạ xuất khẩu sản phẩm chiết xuất siêu tới hạn CO2 như lecithin, tinh dầu gừng, tinh dầu quế cho công ty Đức Thành Tín, tỷ suất lợi nhuận gộp khoảng gấp 10 lần. Mà phóng viên điều tra phát hiện bốn điểm nghi vấn lớn: 1) Thiết bị chiết xuất siêu tới hạn CO2 mà Ngân Quảng Hạ sử dụng dù vận hành 24 giờ cũng không thể đạt được sản lượng tiêu thụ mà họ tuyên bố. 2) Giá xuất khẩu sản phẩm của Thiên Tân Quảng Hạ cao hơn giá sản phẩm cùng loại khoảng 3 đến 5 lần. 3) Một số sản phẩm mà Thiên Tân Quảng Hạ tuyên bố căn bản không thể sản xuất bằng công nghệ chiết xuất siêu tới hạn CO2. 4) Vốn đăng ký của khách hàng Đức mà Thiên Tân Quảng Hạ tuyên bố chỉ có 51.129,19 Euro, nhưng tổng giá trị hợp đồng lên tới 6 tỷ nhân dân tệ, và doanh nghiệp này chưa từng xuất hiện.
Chứng cứ quyết định cuối cùng đến từ Hải quan Thiên Tân, số liệu thống kê của Hải quan Thiên Tân cho thấy sản phẩm mà Thiên Tân Quảng Hạ tuyên bố căn bản không có ghi nhận xuất khẩu, toàn bộ thành tích kinh doanh của Thiên Tân Quảng Hạ đều là bịa đặt.
Sau khi vụ việc bị phanh phui, nhiều lãnh đạo cấp cao của Ngân Quảng Hạ bị khởi tố, Công ty Kiểm toán Trung Thiên Cần Thâm Quyến cung cấp dịch vụ kiểm toán cho công ty này cũng bị Bộ Tài chính thu hồi giấy phép hành nghề, kiểm toán viên đăng ký ký tên bị thu hồi tư cách kiểm toán viên đăng ký. Ủy ban Giám quản Chứng khoán đồng thời thu hồi giấy phép nghiệp vụ chứng khoán, kỳ hạn liên quan của Công ty Kiểm toán Trung Thiên Cần Thâm Quyến.
KIẾM NHIỀU, CHIA ÍT
Trên thị trường chứng khoán Trung Quốc, ngoài nhà đầu tư đại chúng, các bên tham gia thị trường đều đến để lừa tiền. Bên phát hành theo đuổi phát hành giá cao, theo đuổi tối đa hóa việc lừa tiền. Công ty chứng khoán với vai trò tổ chức bảo lãnh, để nhận được phí bảo lãnh cao, cũng theo đuổi phát hành giá cao. Và để có được nhiều lợi ích hơn, công ty chứng khoán với vai trò tổ chức bảo lãnh còn trực tiếp làm cổ đông của bên phát hành. Cổ đông lớn, lãnh đạo cấp cao của bên phát hành cũng hy vọng sau khi niêm yết sẽ giàu lên trong một đêm, còn có những người đột kích mua cổ phần trước khi niêm yết, mục đích chính là để sau khi cổ phiếu niêm yết có thể bán tháo giá cao thu tiền mặt. Chỉ có nhà đầu tư đại chúng mới là người trả tiền cuối cùng. Mà là người trả tiền cuối cùng, lợi ích của nhà đầu tư đại chúng vẫn không được bảo vệ, đặc biệt thể hiện ở sự bất công của việc không chia cổ tức và sự bất công bằng của việc chia cổ tức.
Kiếm nhiều, chia ít có thể nói là bức tranh chân thực của thị trường chứng khoán Trung Quốc. Theo số liệu do Ủy ban Giám quản Chứng khoán Trung Quốc cung cấp, từ 2008 đến 2010, số công ty niêm yết thực hiện chia cổ tức bằng tiền mặt lần lượt là 856, 1006 và 1321 công ty, chiếm tỷ lệ lần lượt 52%, 55% và 61% trong tổng số công ty niêm yết. Từ 2008 đến 2011, có hàng trăm công ty niêm yết tại hai sàn Thượng Hải – Thâm Quyến “không nhổ một sợi lông” trong nhiều năm liên tục. Trong số 2366 công ty niêm yết công bố báo cáo thường niên năm 2011 tại hai sàn Thượng Hải – Thâm Quyến, có 2206 công ty có lãi, trong đó 616 công ty có lãi và có lợi nhuận chưa phân phối, có khả năng chia cổ tức nhưng không chia cho cổ đông. Trong đó có 170 công ty niêm yết liên tục 10 năm không chia cổ tức. Niêm yết mà không nhằm mục đích chia cổ tức chính là lấy tiền người khác mà không đền đáp.
Ngay cả khi bỏ ra một tỷ lệ vốn nhất định để chia cổ tức, bản thân việc chia cổ tức cũng liên quan đến vấn đề công bằng. Lấy việc chia cổ tức năm 2009 (chia cho năm tài chính 2008) làm ví dụ. Kế hoạch chia cổ tức cao mỗi năm bỏ ra 45% lợi nhuận của cổ phiếu A Trung Quốc Dầu khí (PetroChina) một lần nữa khiến người ta ngã ngửa, công ty này chia cổ tức cuối kỳ năm 2008 cho toàn thể cổ đông với mức 0,14953 nhân dân tệ (đã bao gồm thuế) mỗi cổ phiếu, mà giá phát hành của PetroChina trên thị trường cổ phiếu A cao tới 16,7 nhân dân tệ, tính như vậy, tỷ suất lợi nhuận chỉ có 0,898%, thấp hơn nhiều so với lãi suất tiền gửi ngân hàng kỳ hạn 1 năm là 2,25%. Điều này có nghĩa là cổ đông cổ phiếu A của PetroChina dựa vào chia cổ tức để thu hồi vốn thì 100 năm cũng không đủ, những người mua vào sau với giá vài chục nhân dân tệ thì có thể phải mất mấy trăm năm, con cháu đời đời trả nợ thay cho PetroChina.
SCANDAL LIÊN TỤC KHI NIÊM YẾT Ở NƯỚC NGOÀI
Các công ty Trung Quốc niêm yết ở nước ngoài cũng scandal liên miên.
Tháng 6/2011, Tập đoàn Lâm nghiệp Trung Quốc Sino Forest niêm yết tại Toronto bị công ty nghiên cứu Muddy Waters cáo buộc phóng đại doanh số và giá trị đất rừng của mình. Giá trị vốn hóa cổ phiếu công ty bốc hơi hơn hai phần ba chỉ trong một tuần. Trong nửa năm đầu năm 2011, đã có hơn 25 doanh nghiệp Trung Quốc niêm yết tại New York hoặc công bố tồn tại vấn đề kế toán, hoặc kiểm toán viên bị phát hiện từ chức.
Ông Luis Aguilar, quan chức thực thi pháp luật của Ủy ban Chứng khoán Mỹ (SEC) cho biết: “Dù phần lớn các công ty Trung Quốc này có thể là doanh nghiệp chính đáng, nhưng thực tế chứng minh rằng trong số đó có ngày càng nhiều công ty tồn tại vấn đề kế toán rõ ràng, hoặc tồn tại hành vi gian lận trắng trợn.”
Nasdaq và Sở Giao dịch Chứng khoán New York – Euronext (NYSE Euronext) trong một năm trước đó đã đình chỉ giao dịch ít nhất 21 công ty Trung Quốc quy mô nhỏ và siêu nhỏ, và đã hủy niêm yết 5 trong số đó.
Công ty phần mềm Trung Quốc Longtop, được Deutsche Bank và Goldman Sachs thu xếp phát hành lần đầu ra công chúng (IPO) tại New York năm 2007, huy động 210 triệu USD, bị công ty kiểm toán Deloitte cáo buộc tồn tại “khiếm khuyết rất nghiêm trọng”, bao gồm cả việc làm giả sao kê ngân hàng.
TIẾT 6: GDP BẤT ĐỘNG SẢN
Dưới sự nhấn mạnh quá mức của chính phủ về tăng trưởng GDP, tỷ trọng GDP trong đánh giá thành tích chính quyền địa phương quá lớn, khiến chính quyền địa phương dồn hết tâm sức và nguồn lực vào tăng trưởng con số kinh tế. Mà thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vẫn luôn là mô hình tăng trưởng thúc đẩy bởi “đầu tư” quảng canh. Đầu tư quy mô lớn cần chính phủ có nguồn lực tài chính khả dụng lớn. Vì thế, thúc đẩy sự phồn vinh bất động sản trở thành công cụ tốt nhất “một mũi tên trúng nhiều đích”, vừa khiến chính quyền địa phương thông qua bán đất có được nguồn vốn liên tục dễ kiếm, đồng thời ngành bất động sản kéo theo các ngành cơ bản như thép, vật liệu xây dựng, xi măng, thi công xây dựng, kéo theo phát triển các ngành tiêu dùng như trang trí nhà cửa, đồ nội thất, tiêu dùng đồ gia dụng, giải quyết nhu cầu việc làm trên diện rộng. Sau khi thực hiện chế độ phân chia thuế năm 1994, thu ngân sách chính quyền địa phương giảm mạnh, thu nhập từ cho thuê nhượng đất lại trở thành nguồn tài chính lớn của chính quyền địa phương.
Trong đó, lợi ích của ngân hàng nhà nước cũng gắn bó với nhau. Nhà phát triển bất động sản thuê đất từ chính quyền địa phương, vay vốn từ ngân hàng, ba bên hình thành tam giác sắt lấy giá đất và giá nhà làm trung tâm. Giá đất và giá nhà chỉ có thể tăng không thể giảm, vì lợi ích của cả ba bên đều nằm trong đó. Kết quả là chính quyền địa phương thao túng đầu cơ đất, đẩy giá đất ngày càng cao, chi phí phát triển nhà ở của nhà phát triển ngày càng cao, kỳ vọng giá nhà của người dân ngày càng cao, cuối cùng dẫn đến bất động sản biến thành vấn đề xã hội với nhiều lợi ích ràng buộc lẫn nhau, khiến chính sách điều tiết “nghiêm khắc nhất trong lịch sử” kéo dài hai năm với nhiều tầng biện pháp bổ sung của chính phủ trung ương vẫn khó thấy hiệu quả thực sự.
GIÁ NHÀ VƯỢT QUÁ KHẢ NĂNG CHỊU ĐỰNG CỦA NGƯỜI DÂN
Giá nhà cao như vậy đã vượt xa khả năng chịu đựng của người dân thường. Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc và Đại học Công nghiệp Bắc Kinh phối hợp công bố “Báo cáo Phân tích Xây dựng Xã hội Bắc Kinh năm 2010”, báo cáo cho thấy, thu nhập khả dụng bình quân đầu người của cư dân thành thị Bắc Kinh năm 2008 là 24.725 nhân dân tệ, thu nhập khả dụng bình quân hộ gia đình là 64.285 nhân dân tệ, tính theo diện tích nhà ở bình quân mỗi hộ gia đình thông thường 90m², giá nhà ở bình quân Bắc Kinh tháng 11/2009 là 17.810 nhân dân tệ/m², cần chi trả 1,6 triệu nhân dân tệ, tương đương 25 năm thu nhập khả dụng của một gia đình bình thường, tức là một gia đình Bắc Kinh bình thường cần 25 năm thu nhập mới mua được một căn nhà. Có thể thấy giá nhà cao đến mức nào.
Đến năm 2011, giá nhà bình quân tại Bắc Kinh, Thượng Hải càng cao hơn, đạt 20.000 nhân dân tệ/m² (350 USD/foot vuông), giá nhà bên trong vành đai trong của Thượng Hải từ năm 2010 đã đạt 50.000 nhân dân tệ/m² (875 USD/foot vuông), giá bán bình quân của thị trường nhà ở cao cấp Bắc Kinh (nhà có giá giao dịch trên 40.000 nhân dân tệ/m²) quý 1/2012 cũng gần đạt 50.000 nhân dân tệ/m² (875 USD/foot vuông). Thu nhập bình quân hàng năm của “dân văn phòng” Thượng Hải, Bắc Kinh là 50.000 nhân dân tệ, đối với họ, giá nhà này là “trông thấy mà không với tới được”.
Về vấn đề này, trên mạng có bài viết lan truyền:
“Gần đây, một bộ nào đó của nhà nước công bố một số liệu thống kê, cho mọi người biết: nếu bạn không phải là nhân vật thuộc ba loại lớn (đại gia tiền, đại quan, đại nhân vật showbiz) mà muốn mua một căn nhà 100m² trị giá tổng 3 triệu nhân dân tệ ở Bắc Kinh, cái giá mà các tầng lớp xã hội phải trả xin xem:
- Nông dân: mỗi mẫu ruộng thu nhập ròng 400 tệ, phải trồng ba mẫu ruộng từ thời nhà Đường đến nay mới gom đủ (còn không được có năm mất mùa);
- Công nhân: lương mỗi tháng 1.500 tệ cần đi làm từ Chiến tranh Nha phiến đến nay (không được nghỉ cuối tuần);
- Dân văn phòng: lương năm 60.000, cần đi làm từ năm 1960 với mức lương này đến nay không ăn không uống (bỏ hết ngày nghỉ lễ theo luật định);
- Cướp: liên tục gây án 2.500 lần (phải là nạn nhân là dân văn phòng) khoảng 30 năm.
- Gái mại dâm: liên tục tiếp khách 10.000 lần, mỗi ngày tiếp một khách, cần chuẩn bị 10.000 ngày, từ 18 tuổi tiếp khách với tần suất này đến 46 tuổi (giữa chừng không được có kỳ kinh nguyệt)
Trên đây còn chưa tính chi phí trang trí, nội thất, đồ gia dụng v.v.”
Hiện nay quốc tế dùng chỉ số thông dụng “tỷ lệ giá nhà trên thu nhập” để đánh giá giá nhà cao hay thấp, tức tỷ lệ giữa giá nhà và thu nhập năm của gia đình. Khoảng “tỷ lệ giá nhà trên thu nhập” hợp lý được công nhận là 3-6 lần. Thấp hơn 3 lần, cung nhà ở không đủ cầu; cao hơn 6 lần, vượt quá khả năng chi trả kinh tế của cư dân đô thị. Hiện tại tỷ lệ giá nhà trên thu nhập của hầu như tất cả các thành phố Trung Quốc đều vượt quá 10 lần, đặc biệt các thành phố hạng nhất phần lớn đều vượt quá 20 lần. Giá nhà cao như vậy chắc chắn không thể duy trì lâu dài. Một khi giá nhà giảm, sẽ gây ra sự đứt gãy tất cả các chuỗi vốn liên quan, dẫn đến khủng hoảng kinh tế.
HIỆN TƯỢNG “THÀNH PHỐ MA”
Kết quả trực tiếp của việc phát triển bất động sản vô độ là hiện tượng “thành phố ma” (tiếng Anh gọi là “Ghost Town”), tức là các khu đô thị mới được phát triển hàng loạt nhưng do thiếu người mua dẫn đến số lượng lớn nhà bỏ trống. Đài BBC Anh trong bài báo tháng 3/2012 gọi thành phố Ordos, Nội Mông là “thành phố ma” lớn nhất Trung Quốc. 20 năm trước Nội Mông xuất hiện cơn sốt đào “than” (Nội Mông có trữ lượng than lớn dưới lòng đất). Ordos là trung tâm khai thác than tương đối giàu có, dân số 1,5 triệu người. Rất nhiều người đào “than” đổ về Ordos, ngành khai thác than phát triển nhanh chóng, nông dân địa phương bán đất làm giàu, nguồn thu ngân sách chính phủ tăng vọt. Vì thế chính phủ đưa ra quyết định táo bạo: mạnh tay xây dựng khu đô thị mới có thể chứa một triệu cư dân tại quận Khang Ba Thập của thành phố Ordos, bao gồm tòa nhà văn phòng, trung tâm hành chính, bảo tàng, nhà hát, sân vận động, chung cư cao tầng, còn có căn hộ song lập và biệt thự kiểu tầng lớp trung lưu. Khu đô thị mới được xây xong trong năm năm, nhưng lại thiếu người mua, ở. Đến nay, khu đô thị mới hiện chỉ có 28.600 dân, vẫn là “thành phố ma” không bóng người. BBC cảm thán: “Nếu bạn muốn tìm một nơi mà bong bóng bất động sản Trung Quốc đã vỡ, hãy đến Ordos.” 【11】
Ngay trong các thành phố lớn của Trung Quốc, “thành phố ma” cũng đã xuất hiện. Kinh Tân Tân Thành nằm ở quận Bảo Để, Thiên Tân là một “thành phố mới” do nhà phát triển xây dựng. Là khu biệt thự lớn nhất khu vực châu Á, nơi đây trong vài năm ngắn ngủi đã mọc lên khách sạn 5 sao, thành phố suối nước nóng, phố thương mại và sân golf, cùng hàng nghìn biệt thự kiểu châu Âu xây trên vùng đất hoang, diện tích tương đương 33 Quảng trường Thiên An Môn. Nhưng thành phố mới này ban đầu được thiết kế cho 500.000 người sinh sống, sinh hoạt, giải trí nay đang diễn ra cảnh thành phố trống vắng thê lương.
Tạp chí Global Entrepreneur đưa tin, cuộc điều tra năm 2010 của Tập đoàn Lưới điện Quốc gia tại 660 thành phố toàn quốc cho thấy, có tới 65,4 triệu đồng hồ điện nhà ở liên tục 6 tháng có số đọc bằng không, số lượng nhà bỏ trống này đủ để 200 triệu người ở, cũng làm lung lay nền tảng của toàn bộ thị trường bất động sản Trung Quốc. “Tại Hong Kong tỷ lệ nhà trống đạt 10%, người ta đã cảm thấy trời sắp sập, mà tỷ lệ nhà trống tại khu CBD Bắc Kinh Trung Quốc lên tới 30%, người ta vẫn đang xây thêm chung cư mới.” Ông Lý Văn Kiệt, Giám đốc điều hành khu vực Hoa Bắc của Trung Nguyên Địa Sản than thở. Nhà kinh tế học Tạ Quốc Trung cho rằng tỷ lệ nhà trống hàng hóa của Trung Quốc khoảng 25% đến 30%, ít nhất cao gấp đôi so với tình huống thị trường bình thường. Ông coi những căn nhà trống này là tồn kho đầu cơ, giá trị của nó có thể chiếm 15% GDP Trung Quốc. 【12】
ĐẦU CƠ NHÀ ĐẤT
Do giá bất động sản không ngừng leo thang, lợi nhuận đầu cơ nhà đất đã cao hơn nhiều so với các ngành khác. Tham gia vào ngành bất động sản đã bao gồm cả lượng lớn doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước.
Đối với doanh nghiệp tư nhân, việc tham gia đầu cơ bất động sản càng là một điều tất yếu do mô hình kinh tế mang đặc sắc Trung Quốc này sinh ra.
Do các doanh nghiệp nhà nước lớn bằng phương thức độc quyền kiểm soát hầu như toàn bộ các ngành cấp cao như chế tạo, tài nguyên, đồng thời doanh nghiệp nhà nước được hưởng ưu đãi chính sách lớn, bao gồm chi phí huy động vốn cực thấp, doanh nghiệp tư nhân căn bản không thể tham gia các ngành này, mà chỉ có thể hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông quy mô nhỏ tương đối hạ nguồn. Nhưng ngay cả khi tham gia sản xuất thực thể quy mô nhỏ cũng gặp nhiều khó khăn, trước tiên là chi phí huy động vốn cao, kênh huy động vốn ít; tiếp theo là gánh nặng thuế của doanh nghiệp vừa và nhỏ nặng nề; thêm nữa là do vốn ít, nguồn lực nghiên cứu phát triển sáng tạo không đủ. Nếu gặp khủng hoảng tài chính Âu Mỹ mấy năm gần đây, nhu cầu thị trường quốc tế không đủ, doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ có thể nói là bước đi khó khăn. Doanh nghiệp tư nhân thay vì khó khăn làm thực thể, chi bằng làm đầu cơ và đầu tư như bất động sản kiếm tiền nhiều, kiếm tiền nhanh, lượng lớn doanh nghiệp đã chuyển vốn thu được từ nền tảng thực nghiệp sang lĩnh vực phi thực thể; lượng lớn vốn dân gian vì thế thoát ly khỏi kinh tế thực, biến thành “vốn nhàn rỗi” và “tiền nóng” đầu cơ tài sản.
Tình trạng “thiếu máu” của kinh tế thực gây ra “rỗng ruột hóa” ngành nghề đang dần trở thành rủi ro tiềm ẩn lớn ảnh hưởng đến phát triển bền vững kinh tế. “Rỗng ruột hóa ngành nghề” được đề cập những năm gần đây chính là từ đây mà ra. Theo Economic Information Daily ngày 11/3/2012, tỷ lệ phân bổ vốn của phần lớn doanh nghiệp tư nhân lớn tỉnh Chiết Giang về cơ bản đạt “chế độ ba ba”, tức ngành chính, bất động sản, đầu tư chứng khoán tài chính chia ba thiên hạ, mà tỷ lệ đầu tư của hai mảng sau ngày càng cao, mà lợi nhuận đáng kể, càng hạn chế thêm đầu tư của vốn dân gian vào ngành chính. Theo điều tra tình hình đầu tư dân gian toàn tỉnh của Liên đoàn Công thương tỉnh Chiết Giang, từ năm 2009, đầu tư tài sản cố định của vốn dân gian Chiết Giang tụt hậu xa so với vốn nhà nước, cả năm 2009, trong đầu tư tài sản cố định trên hạn mức toàn tỉnh, đầu tư vốn nhà nước và vốn nhà nước kiểm soát tăng 25,6%, đầu tư dân gian chỉ tăng 13,7%, trong đó đầu tư ngành chế tạo lấy doanh nghiệp tư nhân làm chủ chỉ tăng 7,4%. “Hơn nữa, đầu tư bất động sản chiếm hơn 35% tổng đầu tư dân gian, điều này có nghĩa là phần tăng trưởng đầu tư dân gian chủ yếu đến từ ngành bất động sản.”
KHỦNG HOẢNG RỖNG RUỘT HÓA KINH TẾ
Chính phủ Trung Quốc không phải không thấy được nguy cơ rỗng ruột hóa kinh tế thực. Ngày 6-7/1/2012, Hội nghị Công tác Tài chính Toàn quốc được tổ chức tại Bắc Kinh. Thủ tướng Quốc vụ viện Ôn Gia Bảo tham dự hội nghị yêu cầu bộ phận tài chính thực hiện năm điều “kiên trì”, đảm bảo vốn đầu tư vào kinh tế thực, ngăn ngừa xuất hiện hiện tượng rỗng ruột hóa ngành nghề. Nhưng thể chế kinh tế tập quyền của ĐCSTQ quyết định doanh nghiệp nhà nước một tay che trời, doanh nghiệp tư nhân không có đường đi, vốn tư nhân chảy vào bộ phận đầu tư tài chính là điều tất yếu. Nếu ĐCSTQ cho doanh nghiệp tư nhân nhiều không gian sinh tồn hơn, thậm chí để họ cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nhà nước hiệu suất thấp chắc chắn sẽ thất bại, khi đó ĐCSTQ sẽ mất kiểm soát mạch máu kinh tế, cũng sẽ mất đi ý nghĩa cầm quyền.
Nghiêm trọng hơn, nhiều doanh nghiệp nhà nước cũng “không làm đúng ngành nghề”, lợi dụng điều kiện huy động vốn ưu đãi để tham gia ngành tài chính bất động sản, khiến khủng hoảng rỗng ruột hóa kinh tế thực càng thêm sâu sắc.
Lợi nhuận ròng năm 2009 của các doanh nghiệp đầu ngành gia dụng như Gree, Midea, Haier lần lượt là 2,913 tỷ, 1,89 tỷ và 1,149 tỷ nhân dân tệ, mà lợi nhuận ròng hàng năm của các doanh nghiệp bất động sản đầu ngành gần như cao gấp đôi trở lên so với đầu ngành gia dụng. Chính vì sức hấp dẫn của miếng bánh này, các doanh nghiệp khởi nghiệp từ gia dụng bắt đầu ồ ạt tiến quân vào ngành bất động sản.
Tháng 6/2009, sau khi Trung Hóa Phương Hưng, doanh nghiệp bất động sản thuộc Sinochem, giành được lô đất số 15 đường Quảng Cừ, Bắc Kinh với giá trên trời 4,06 tỷ nhân dân tệ, các doanh nghiệp bất động sản có nền tảng doanh nghiệp trung ương và nhà nước địa phương lần lượt gia nhập cuộc đua tranh đất, giá đất bị đẩy lên nhanh chóng, “vua đất” liên tục xuất hiện. Theo China Business News ngày 11/1/2010, báo cáo do Viện Nghiên cứu Chỉ số Trung Quốc công bố cho thấy, trong 10 “vua đất” tổng giá và đơn giá năm 2009, doanh nghiệp nhà nước chiếm 8 vị trí. Sự mở rộng của doanh nghiệp nhà nước trong ngành bất động sản bị các nhà phát triển bất động sản tư nhân gọi là “đảng tiến dân lùi”, ngoài một số doanh nghiệp nhà nước có ngành chính bao gồm bất động sản tăng cường đầu tư, một số doanh nghiệp nhà nước vốn ít tham gia bất động sản cũng bắt đầu tiến quân vào thị trường bất động sản. Đầu năm 2010, Văn phòng Quốc vụ viện ban hành “Thông báo về việc thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển ổn định lành mạnh” (gọi tắt “Thông báo”), đặc biệt nêu rõ, cơ quan giám sát tài sản nhà nước cần tiếp tục quy phạm hành vi đầu tư bất động sản của các doanh nghiệp nhà nước lớn.
Nhiều bạn bè quốc tế đến Trung Quốc, thường kinh ngạc trước sự thay đổi lớn về diện mạo bên ngoài của Trung Quốc gần hai mươi năm qua. Các tòa nhà cao tầng mọc lên san sát ở các thành phố lớn với tốc độ như xếp gạch. Trong khi ca ngợi, nhiều người ít khi tìm hiểu sâu xem ngoài những tòa nhà cao tầng như xếp gạch này, sự thay đổi của Trung Quốc còn có gì khác. Thực tế là, thành quả kinh tế của Trung Quốc phần lớn chỉ là những gì nhìn thấy trên bề mặt này. Mà là một nước lớn với 13 tỷ dân (nguyên văn), chỉ có một đống công trình xây dựng là hoàn toàn không đủ. Nhưng gần hai mươi năm qua, Trung Quốc không sản sinh ra nhiều thương hiệu có thể sánh ngang với các đại gia chế tạo quốc tế như Nhật Bản, Hàn Quốc từng có khi cất cánh: Honda, Toyota, Suzuki, Nissan, Mitsubishi, Fuji, Konica, Sony, JVC, Panasonic, Toshiba, Olympus, JVC, Nissan, Casio, Samsung, LG, KIA… Ngược lại, do ngành thực thể bị các doanh nghiệp nhà nước siêu lớn độc quyền, chỉ có quy mô mà không có hiệu quả. Trong khi đó, ngành bất động sản – con đường tắt tạo GDP – lại phình to chưa từng có. Giá nhà cao đã bòn rút phần lớn thu nhập vất vả cả năm của đông đảo người dân, lợi nhuận cao thu hút lượng lớn vốn của chính phủ và dân gian. Chính quyền địa phương, nhà phát triển bất động sản và nhiều tập đoàn lợi ích vì lợi ích riêng của mình không ngừng đẩy giá nhà lên cao đến mức xa rời thực tế, đồng thời khiến kinh tế thực có xu hướng co hẹp, biến kinh tế Trung Quốc thành bong bóng rỗng ruột khổng lồ, đây là điều mà ĐCSTQ – vốn một mực theo đuổi tăng trưởng kinh tế tốc độ cao để duy trì sự thống trị của mình – không muốn thấy, nhưng cũng không thể tránh khỏi.
TIẾT 7: PHONG TRÀO CHIẾM ĐẤT
“NGỒI TRÊN ĐẤT THU TIỀN”
Liên quan trực tiếp đến kinh tế bất động sản là “tài chính đất đai” của chính quyền địa phương Trung Quốc, tức chính quyền địa phương thông qua việc chiếm đất rồi đấu giá quyền sử dụng đất để thu tiền nhượng đất. Phong trào “chiếm đất”, bán đất này của chính quyền địa phương hưng thịnh vào thời Giang Trạch Dân cầm quyền.
Khi đó, để giải quyết tranh chấp tài chính trung ương và địa phương (lúc đó tỷ lệ thu ngân sách trung ương và địa phương là ba với bảy, nhưng tỷ lệ chi ngân sách trung ương và địa phương là bảy với ba, nên tài chính trung ương luôn eo hẹp), trung ương mạnh tay thực hiện chế độ phân chia thuế doanh nghiệp nhà nước, thu thuế lợi nhuận doanh nghiệp nhà nước về trung ương; đồng thời cũng thúc đẩy tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước, khiến thu nhập thuế lợi nhuận mà doanh nghiệp nhà nước nộp cho địa phương trước đây giảm mạnh (doanh nghiệp tư nhân chỉ nộp thuế không nộp lợi nhuận). Trong vài năm, thu ngân sách trung ương từ hai ba trăm tỷ nhân dân tệ một năm vọt lên một nghìn tỷ nhân dân tệ. Mà thu ngân sách chính quyền địa phương giảm mạnh. Chính quyền địa phương từ đó chuyển sang bán đất, thu được lợi nhuận khổng lồ từ tiền nhượng đất, hình thành “tài chính đất đai”.
“Tài chính đất đai” mang lại nhiều lợi ích cho chính quyền địa phương: tiền bán đất hoàn toàn thuộc về chính quyền địa phương, do chính quyền địa phương chi phối; đối với chính phủ mà nói, việc bán đất trừ chi phí giải tỏa (nhưng chi phí giải tỏa cũng có thể lấy từ tiền bán đất ra), về cơ bản là chi phí bằng không, đúng là “ngồi trên đất thu tiền”; do phát triển bất động sản gây ra bởi việc bán đất sẽ kéo theo một loạt ngành liên quan, nâng cao GDP địa phương; mà toàn bộ quá trình đấu thầu phê duyệt bán đất lại tạo cơ hội tham nhũng cá nhân cho người cầm quyền. Việc tốt như vậy, sao lại không làm?
Vì lẽ đó, chính quyền các địa phương đã triển khai rầm rộ phong trào chiếm đất, bán đất. Đất đai trước đây chưa được định giá đã bước vào lĩnh vực lưu thông, hình thành giá trị tiền tệ khổng lồ, kéo GDP lên cao, thúc đẩy tổng lượng kinh tế Trung Quốc phình to nhanh chóng. Báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Quốc vụ viện cho thấy, những năm gần đây, tiền nhượng đất, thuế liên quan bất động sản chiếm 40% ngân sách chính quyền địa phương, thu nhập ròng từ tiền nhượng đất trong thu nhập ngoài ngân sách của một số chính quyền địa phương thậm chí đạt trên 60%.
Năm 2009, Hàng Châu đứng đầu bảng xếp hạng bán đất các thành phố, thu nhập từ bán đất đạt 120 tỷ nhân dân tệ. Mà cùng năm đó, thu ngân sách của Hàng Châu chỉ có 55 tỷ, thu nhập bán đất của họ bằng 218% thu ngân sách. Năm 2011, tổng thu nhập bán đất toàn quốc đạt 3,15 nghìn tỷ nhân dân tệ, chiếm 6,7% tổng sản phẩm quốc nội cả năm là 47 nghìn tỷ nhân dân tệ.
NGUYÊN NHÂN THỰC SỰ CỦA GIẢI TỎA BẠO LỰC
Chiếm đất là bước đầu tiên của “tài chính đất đai”. Do chế độ xã hội chủ nghĩa mà ĐCSTQ thực hiện, đất đai về lý thuyết được ĐCSTQ tuyên bố là thuộc sở hữu nhà nước hoặc tập thể (phần lớn ở nông thôn), nên chính phủ chiếm đất không tốn chi phí. Quan chức ĐCSTQ có thể tùy ý vẽ vời trên bản đồ.
Ở Trung Quốc, giá nhà mới bao gồm cả giá trị đất, còn giá trị nhà cũ thì không bao gồm giá trị đất. Tức là, khi người dân mua nhà mới, phải trả tiền đất cho chính phủ (bao gồm trong giá nhà); nhưng khi người dân bán nhà cũ cho chính phủ (phí giải tỏa), chính phủ không trả tiền đất cho người dân. Chính phủ kiếm ròng tiền đất từ người dân! Mà tiền đất này chiếm từ 30% đến 50% toàn bộ giá nhà! Có thể nói, chính phủ thông qua chiếm đất, bán đất, đã cướp đoạt lượng lớn tài sản từ người dân bằng thủ đoạn khéo léo. Đây chính là nguyên nhân thực sự đằng sau việc cưỡng chế giải tỏa, giải tỏa bạo lực thường nghe thấy.
Giải tỏa một căn nhà kiểu phố cổ 10m² tại quận Từ Hối, Thượng Hải, chủ nhà cũ được nhận phí giải tỏa 65.604 nhân dân tệ. 【13】 Quận Từ Hối là một khu vực giá cao của bất động sản Thượng Hải, giá nhà bình quân năm 2010 là 38.700 nhân dân tệ/m². 【14】 Phí giải tỏa mà chủ nhà cũ nhận được không đủ để mua lại hai mét vuông tại chính nơi đó. Phần chênh lệch giữa chừng chủ yếu bị chính quyền địa phương lấy đi.
Ngoài giá nhà cao, “tài chính đất đai” của ĐCSTQ còn gây ra một số vấn đề khác.
“CHI PHÍ THAM NHŨNG”
“Chi phí tham nhũng” trở thành một phần của chi phí đất đai. Ngành bất động sản Trung Quốc là khu vực trọng điểm tham nhũng do quan chức và thương nhân câu kết. Trong số các đại quan tham bị lật đổ những năm gần đây, phần lớn liên quan đến ngành bất động sản. Ví dụ nguyên Phó Viện trưởng Tòa án Tối cao Hoàng Tùng Hữu, nguyên Bí thư Thành ủy Thượng Hải Trần Lương Vũ, v.v. Ở Trung Quốc, nếu không có quan hệ vững chắc với quan chức chính phủ, căn bản không thể có được đất, cũng không thể trở thành nhà phát triển bất động sản. Ngày 31/1/2008, việc nguyên Bí thư Thành ủy Nam Kinh Vương Vũ Long bị tuyên án tử hình hoãn thi hành vì tội nhận hối lộ, là do năm 1995 ông ta đã trái pháp luật giao quyền phát triển một khu đất vàng của thành phố Nam Kinh cho em trai mình là nhà phát triển bất động sản Vương Văn Long.
Chu Chính Nghị, từng là người giàu nhất Thượng Hải, xếp hạng 11 trong bảng xếp hạng người giàu Hồ Nhuận năm 2002, vốn xuất thân từ ngành ăn uống. Việc ông ta có thể lấy được quyền phát triển “Đông Bát Khối” – lô đất vàng cuối cùng của Thượng Hải với giá đất bằng không, không thể tách rời sự giúp đỡ của Trần Lương Quân, em trai nguyên Bí thư Thành ủy Thượng Hải Trần Lương Vũ. Bản thân Trần Lương Quân cũng lợi dụng quan hệ với Trần Lương Vũ để phát tài lớn từ đất đai. Năm 2002-2003, Trần Lương Quân muốn lấy một lô đất tại quận Bảo Sơn, Thượng Hải, đã nhiều lần tìm lãnh đạo quận ủy Bảo Sơn giúp đỡ. Lãnh đạo quận sau đó xin ý kiến Trần Lương Vũ, Trần đồng ý và nói “làm theo quy định, kiểm soát chặt chẽ”. Với sự giúp đỡ của Trần Lương Vũ, Trần Lương Quân đã giành được quyền sử dụng 600 mẫu đất. Sau đó ông ta bán lại quyền sử dụng 600 mẫu đất này cho nhà phát triển với giá 118 triệu nhân dân tệ. Thông qua bán đất, Trần Lương Quân trong một đêm trở thành tỷ phú. Mà số tiền bán đất 118 triệu nhân dân tệ này cuối cùng sẽ bị nhà phát triển chuyển gánh nặng lên người mua nhà, việc Trần Lương Quân giàu lên trong một đêm thực chất được xây dựng trên sự cướp đoạt tài sản của người mua nhà. 【15】
“ĐÔ THỊ HÓA ĐẤT NÔNG THÔN”
Phong trào chiếm đất còn gây ảnh hưởng cực kỳ nghiêm trọng đến cục diện đất đai Trung Quốc. Đằng sau phong trào chiếm đất là “đô thị hóa”, đằng sau “đô thị hóa” là bất động sản. Quá trình “đô thị hóa” của phương Tây dưới sự theo đuổi lợi ích trước mắt của ĐCSTQ đã bị đơn giản hóa rất nhiều, đất mọc lên nhà cao tầng là coi như “đô thị hóa”.
Sau đợt giải tỏa quy mô lớn ở thành thị, nông thôn cũng đón nhận đỉnh điểm giải tỏa chưa từng có. Hiện tượng “đô thị hóa” ngày càng nghiêm trọng. Tài chính đất đai được mặc nhiên cho phép và khuyến khích như một con quái vật tham lam, tùy ý mở rộng địa bàn, xóa sổ ngày càng nhiều làng mạc khỏi bản đồ, viết lại bản đồ địa lý và văn hóa bản địa của nông thôn Trung Quốc. Số liệu của “Tài liệu Thống kê Nông nghiệp Trung Quốc” năm 2005 cho thấy, trong vài năm đầu thế kỷ này, mỗi ngày Trung Quốc biến mất 53 thôn làng. Hơn 30 năm cải cách mở cửa, đất canh tác toàn quốc giảm ròng khoảng 200 triệu mẫu. Nếu sau này khoa học kỹ thuật nông nghiệp không có tiến bộ đáng kể, Trung Quốc sẽ đối mặt với mâu thuẫn lớn giữa “đô thị hóa đất nông thôn” và bảo đảm an ninh lương thực – nguồn tài nguyên chiến lược.
Phong trào chiếm đất lần thứ nhất bắt đầu từ năm 1987, đạt cao trào vào đầu thập niên 90 thế kỷ trước, đất chiếm được dùng để phát triển bất động sản, khu phát triển cũng trải khắp cả nước, khu phát triển cấp huyện trở lên đạt hơn 6000, chiếm diện tích 15.000 km², lớn hơn tổng diện tích đô thị Trung Quốc lúc đó (13.400 km²). Năm 1992 toàn quốc hoàn thành đầu tư phát triển bất động sản 73,2 tỷ nhân dân tệ, tăng vọt 117% so với năm 1991. Đối lập với con số này là năm 1992 toàn quốc giảm ròng 10 triệu mẫu đất canh tác. 【16】
Năm năm sau, đợt sóng chiếm đất thứ hai bùng nổ, bất động sản một lần nữa trở thành vật mang. Lúc này, luật đất đai đã được sửa đổi, quyền phê duyệt chiếm dụng đất canh tác bị hạn chế, nhưng thủ đoạn phê duyệt đất của các địa phương vẫn nối tiếp không ngừng.
Lại năm năm sau, đợt sóng chiếm đất thứ ba bắt đầu, lần này diện tích chiếm đất lên tới 35.100 km², một lần nữa vượt quá tổng diện tích đô thị toàn quốc và đất đang xây dựng.
Năm năm là một vòng luân hồi, lại năm năm sau, khủng hoảng tài chính bùng nổ, sau đó, chính phủ trung ương và các địa phương lần lượt đưa ra chính sách kích thích kinh tế, xây dựng cơ bản trở thành đối tượng kích thích lớn nhất, 4 nghìn tỷ từ trung ương và số tiền đầu tư hàng chục tỷ từ các địa phương đổ vào xây dựng, bảo tăng trưởng biến thành bảo GDP. Doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn tiến vào ngành bất động sản, bất động sản tiếp tục trở thành điểm nóng đầu tư.
GÂY RA MÂU THUẪN GAY GẮT GIỮA QUAN VÀ DÂN
Giải tỏa nhà do phong trào chiếm đất gây ra đã tạo ra mâu thuẫn gay gắt giữa quan chức và người dân. Phí bồi thường an trí giải tỏa nhà do ngân sách nhà nước và địa phương chi trả, do văn phòng giải tỏa (dời nhà) phân phối. Văn phòng giải tỏa là cơ quan, tổ chức làm việc ứng vận sinh ra trong quá trình cải tạo mở rộng đô thị, phụ trách các sự vụ liên quan đến giải tỏa. Một số trách nhiệm của văn phòng giải tỏa bao gồm: chịu trách nhiệm đề nghị tòa án nhân dân cưỡng chế giải tỏa và phối hợp tổ chức cưỡng chế hành chính; tiếp nhận tư vấn khiếu nại về giải tỏa nhà; chịu trách nhiệm giám sát, quản lý, phê duyệt, phát vốn xây dựng công trình an trí và vốn xây dựng nhà an trí. 【17】 Nói trắng ra, văn phòng giải tỏa chính là “tự giám tự quản”; khi chủ nhà cũ không muốn di dời, tổ chức cưỡng chế giải tỏa.
Từ góc độ chính phủ, do phí giải tỏa là chi phí cần chi trả, nên chính phủ cần hạ thấp tối đa phí giải tỏa, từ đó thu được lợi nhuận tối đa. Điều này dẫn đến các hành vi phi pháp như giải tỏa man rợ, giải tỏa cưỡng chế, lợi dụng xã hội đen hoặc điều động cảnh sát, vũ cảnh để tiến hành giải tỏa.
Dưới đây chỉ nêu vài ví dụ:
Ngày 24/6/2008, Thành Đô điều động hàng trăm cảnh sát và xe cảnh sát, xe cứu hỏa v.v., đến khu chợ sofa thôn Chúc Quốc Tự, quận Cẩm Giang tiến hành cưỡng chế giải tỏa. Do dân làng phản kháng, cảnh sát sử dụng hơi cay, khiến nhiều dân làng bị thương. 【18】
Từ 22 đến 27/9/2008, chính quyền thành phố Quế Lâm điều động cảnh sát, đội quản lý đô thị, xã hội đen, cảnh sát chống bạo động gần một nghìn người, cảnh sát chống bạo động cầm khiên, dùi cui, dắt chó nghiệp vụ, tiến hành cưỡng chế thu hồi đất bằng bạo lực bắt đầu từ thôn Xuyên Sơn Viên, văn phòng đường Xuyên Sơn, quận Thất Tinh. Lần thu hồi đất này vấp phải sự phản kháng mạnh mẽ của dân làng, hai bên xảy ra xung đột, hơn 30 dân làng bị đánh bị thương. 【19】
Nhân viên Công ty Vận tải Ô tô tỉnh tại phố Trạm Tây Nam, đường Hoàn Thị Tây, Quảng Châu từ chối di dời khỏi ký túc xá, kết quả là cây cối hoa cỏ trong khu vực bị tưới nước độc vào ban đêm; dưới 3 tòa nhà ký túc xá bị đặt 3 quả pháo trộn thuốc nổ, 3 giờ sáng phát nổ liên hoàn bên cạnh đường ống ga, may mắn không gây thương vong; hơn trăm con rắn độc sống bị ném vào khu dân cư. 【20】
Tại số 157 đường Quốc Khánh, thành phố Dương Châu, tỉnh Giang Tô, hai bà cụ ngoài 60 tuổi cô đơn là Kim Lan Anh và chị dâu Cư Văn Trân, để tránh giải tỏa, đã tự nhốt mình trong lồng sắt. 13h20 ngày 3/12/2008, đơn vị giải tỏa thuê hơn 100 tay anh chị xã hội đen, cầm mấy chục bình khí độc “natri bicarbonat, amoni dihydro photphat, bari sulfat”, đột nhiên xông đến lồng sắt phun thẳng vào hai bà cụ để gây hại. Những tay anh chị này còn ra tay đánh những người dân bất bình, đánh người vô tội lăn lộn trên mặt đất, máu me be bét. Kim Lan Anh bị axit độc phun vào mặt, bị bỏng và ngộ độc nặng, được xe cứu thương 120 đưa đến Bệnh viện Nhân dân Tô Bắc tỉnh Giang Tô cấp cứu, tình trạng nghiêm trọng ở mức “chăm sóc đặc biệt cấp 1, chỉ ăn thức ăn lỏng”. 【21】
Mà oán hận của dân chúng những năm gần đây mạnh mẽ nhất không gì bằng cưỡng chế giải tỏa.
Sự kiện Đường Phúc Trân tự thiêu là một ví dụ điển hình. Đường Phúc Trân để chống lại việc đội quản lý đô thị và công an quận Kim Ngưu, Thành Đô cưỡng chế phá dỡ công trình của bà, đã hai lần tự tưới xăng lên người rồi tự thiêu, cuối cùng vì vết thương quá nặng cấp cứu không hiệu quả đã qua đời tại bệnh viện ngày 29/11/2009. 【22】
Sự kiện Ô Khảm cuối năm 2011 chính là do lãnh đạo thôn dưới sự hậu thuẫn của chính quyền, tự ý bán đất của thôn, gây ra cuộc đối đầu giữa ba bốn nghìn dân làng và cảnh sát. 【23】
Mà ảnh hưởng của “đô thị hóa” do phong trào chiếm đất gây ra đối với nông dân càng không thể đảo ngược. Đội ngũ luật sư giải tỏa thu hồi đất Thượng Hải chỉ ra: “Vì thu hồi đất giải tỏa mà tái nghèo, đã trở thành hiện tượng phổ biến gây kinh hoàng ở nông thôn Trung Quốc đương đại! Những dân làng gặp phải thu hồi đất, giải tỏa bất hợp pháp không ngoài hai kết cục: một là trở thành nạn dân, từ đó suy sụp không gượng dậy nổi; hai là trở thành người đi khiếu kiện, từ đó lạc lối trong vòng luẩn quẩn khiếu kiện không thể thoát ra. Nói tóm lại, dựa vào việc bảo vệ quyền lợi mù quáng tự phát kiểu nông dân là vô ích.” 【24】 Nông dân ở vùng ven đô thị vốn có đất, có thể sống bằng canh tác đất đai. Một khi bị cưỡng chế giải tỏa, những nông dân này mất đi đất đai để mưu sinh, buộc phải vào thành phố, trở thành “công nhân làm thuê”. Loại “công nhân làm thuê” này khác với công nhân nông dân theo nghĩa truyền thống. Công nhân nông dân theo nghĩa truyền thống là nhà mình có đất, nhưng chọn vào thành phố làm thuê; một khi không như ý, vẫn có thể về quê làm ruộng. Nhưng nông dân “làm thuê” đã mất đất, lại chưa chắc có kỹ năng làm việc ở thành phố, buộc phải phụ thuộc vào thành phố, dù điều kiện có khổ sở, không như ý đến đâu, cũng phải cắn răng chịu đựng. Vì thế nỗ lực chiếm đất, “đô thị hóa” của chính phủ đã tạo ra cho Trung Quốc một lớp “nhân công giá rẻ”.
TIẾT 8: DỰ TRỮ NGOẠI HỐI KHỔNG LỒ
Cuối tháng 2/2006 tổng lượng dự trữ ngoại hối Trung Quốc đại lục đạt 800 tỷ USD, lần đầu tiên vượt Nhật Bản, đứng đầu toàn cầu. Cuối tháng 12/2011 tổng lượng dự trữ ngoại hối Trung Quốc đại lục đạt 3 nghìn tỷ USD. Dự trữ ngoại hối khổng lồ là chỉ số quan trọng để ĐCSTQ phô trương với người dân trong nước rằng Trung Quốc không thiếu tiền, nhưng chính phủ ĐCSTQ cũng ngày càng cảm thấy dự trữ ngoại hối quá nhiều là củ khoai nóng, vì việc hình thành dự trữ ngoại hối Trung Quốc phần lớn liên quan đến thể chế quản lý ngoại hối của Trung Quốc.
Thể chế ngoại hối Trung Quốc khác với Nhật Bản và các nước Âu Mỹ. Dự trữ ngoại hối Trung Quốc không phải do chính phủ dùng thu ngân sách để mua lại trên thị trường, vì trong báo cáo chi ngân sách của chính phủ Trung Quốc, chưa bao giờ có một khoản mục nào dùng để mua ngoại hối. Thực tế, chế độ ngoại hối hiện hành của Trung Quốc quyết định chính phủ ĐCSTQ phải in tiền giấy nhân dân tệ vô hạn định, một cách bị động, để thu mua USD và các ngoại hối khác.
Lấy một ví dụ đơn giản, một Hoa kiều Mỹ gửi 1.000 USD cho gia đình ở đại lục, gia đình cầm séc đến Ngân hàng Xây dựng địa phương để lấy tiền, Ngân hàng Xây dựng theo tỷ giá lúc đó, ví dụ 7:1, đưa cho gia đình 7.000 nhân dân tệ, sau đó, Ngân hàng Xây dựng dùng 1.000 USD đến Ngân hàng Nhân dân (ngân hàng trung ương) để đòi lại 7.000 nhân dân tệ (phí dịch vụ v.v. ở đây không tính), Ngân hàng Nhân dân là ngân hàng trung ương, không có tiền, bèn khởi động máy in tiền, in ra 7.000 nhân dân tệ đưa cho Ngân hàng Xây dựng, kết quả là, Ngân hàng Nhân dân tính 1.000 USD này vào dự trữ ngoại hối, quốc gia liền có thêm 1.000 USD dự trữ ngoại hối, lại chạy sang Mỹ mua trái phiếu chính phủ Mỹ. Câu chuyện này khắc họa cách mà 1.000 USD một Hoa kiều Mỹ vất vả kiếm được cuối cùng biến thành dự trữ ngoại hối của Trung Quốc như thế nào. Vì vậy, phần lớn trong hàng chục nghìn tỷ dự trữ ngoại hối của Trung Quốc không phải là tài sản của chính người Trung Quốc.
Có một thời gian, đặc biệt sau khủng hoảng tài chính Mỹ năm 2008, một số nhà kinh tế học Trung Quốc yêu cầu chính phủ không nên mua trái phiếu chính phủ Mỹ để hỗ trợ kinh tế Mỹ, mà nên chia hàng chục nghìn tỷ dự trữ ngoại hối cho người dân Trung Quốc. Luận điệu này càng gây được sự hưởng ứng nhiệt liệt của cư dân mạng, yêu cầu chính phủ dùng dự trữ ngoại hối khổng lồ để giải quyết vấn đề dân sinh. Sau đó nguyên Cục trưởng Cục Quản lý Ngoại hối Nhà nước Ngô Hiểu Linh đã ra mặt giải thích lý do dự trữ ngoại hối khổng lồ của Trung Quốc không thể chia: “Một là vì nó được ngân hàng trung ương thu mua bằng cách phát hành nhân dân tệ; hai là vì nó là bảo đảm để quốc gia thực hiện nghĩa vụ nợ quốc tế đối ngoại, tức khi chính phủ, doanh nghiệp và cá nhân cần dùng ngoại hối để trả nợ đối ngoại có thể dùng nhân dân tệ đổi thành ngoại hối để trả nợ.” 【26】 Thủ tướng Ôn Gia Bảo trong cuộc phỏng vấn với Financial Times Anh năm 2009 cũng thẳng thắn nói “dự trữ ngoại hối là do ngân hàng trung ương dùng nhân dân tệ mua, là khoản nợ của ngân hàng trung ương, nếu tài chính sử dụng phải phát hành trái phiếu chính phủ, mua lại để dùng.” 【27】
Dự trữ ngoại hối Trung Quốc bao gồm khoản tiền của thương nhân nước ngoài đến Trung Quốc đầu tư, nợ nước ngoài mà Trung Quốc thiếu (viện trợ và cho vay của Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế khác), tiền kiều hối của Hoa kiều hải ngoại, ngoại tệ do nhân viên lao động quốc tế mang vào Trung Quốc, còn có “tiền nóng” tức vốn đầu cơ quốc tế, cũng như thặng dư thương mại. Ngay cả trong thặng dư thương mại, cũng không phải toàn bộ là của người Trung Quốc, trong đó một phần lớn thuộc tài sản của doanh nghiệp đa quốc gia. Ngoại hối mà doanh nghiệp Trung Quốc kiếm về, sau khi kết hối với ngân hàng thương mại, giống như ví dụ trên, in thêm nhân dân tệ để trả cho doanh nghiệp. Vậy thì, sản phẩm đã xuất khẩu rồi, phần nhân dân tệ này không có hàng hóa tương ứng. Việc chính phủ phát hành thêm tiền tệ với số lượng lớn là nguyên nhân căn bản gây ra dư thừa thanh khoản và lạm phát ở Trung Quốc.
Năm 2010, Trung Quốc đạt thặng dư thương mại 183,1 tỷ USD, mà cùng kỳ dự trữ ngoại hối tăng thêm 448,1 tỷ USD, ngay cả khi toàn bộ thặng dư thương mại chuyển thành dự trữ ngoại hối, tỷ lệ cũng chỉ khoảng 40%. 【28】
Theo “Bảng Vị thế Đầu tư Quốc tế Trung Quốc” cuối năm 2007 do Cục Thống kê Quốc gia công bố, năm 2007, chính phủ Trung Quốc có 1,5282 nghìn tỷ USD dự trữ ngoại hối, đồng thời tài sản nước ngoài tại Trung Quốc là 1,2664 nghìn tỷ USD (nguyên văn có thể là đơn vị khác nhau). Có thể thấy phần dự trữ ngoại hối thực sự thuộc về người Trung Quốc chỉ khoảng hơn 300 tỷ USD, chỉ chiếm 25-30% tổng lượng dự trữ ngoại hối Trung Quốc. Hơn nữa cuối năm 2007, tổng tài sản hải ngoại của Trung Quốc chỉ có 1,0126 nghìn tỷ USD, ít hơn tài sản nước ngoài tại Trung Quốc 244,8 tỷ USD. Tức là, nếu vốn nước ngoài yêu cầu rút toàn bộ khỏi Trung Quốc, trong tình huống không có đủ dự trữ ngoại hối, bán hết toàn bộ tài sản hải ngoại của Trung Quốc cũng không đủ để ứng phó. Đây chính là một nguyên nhân quan trọng khiến Trung Quốc phải duy trì dự trữ ngoại hối khổng lồ.
Trung Quốc những năm qua ra sức “mời gọi đầu tư”, thu hút lượng lớn FDI (vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc). Theo bảng vị thế đầu tư quốc tế của Cục Quản lý Ngoại hối, tính đến cuối năm 2009, số dư lũy kế đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Trung Quốc đã đạt 997,4 tỷ USD, gần 1.000 tỷ USD. 【29】 Phần vốn nước ngoài này cũng thông qua việc phát hành thêm nhân dân tệ chuyển đổi thành dự trữ ngoại hối quốc gia. Điều đáng chú ý hơn là, giả sử tỷ suất lợi nhuận của FDI tại Trung Quốc là 18%, lợi nhuận hàng năm của nó đạt tới 180 tỷ USD. Vấn đề lợi nhuận FDI giữ lại tại Trung Quốc, do không được đưa vào thống kê chính thức, mà quy mô ngày càng lớn, đã trở thành “vật chất tối” để quan sát kinh tế Trung Quốc. Do lượng FDI lũy kế đã lên tới hàng chục nghìn tỷ USD, quy mô lợi nhuận hàng năm sinh ra từ đó đã vượt quá lượng vốn ròng mới chảy vào hàng năm của FDI.
“Trung Quốc là chủ nợ của Mỹ”, ĐCSTQ thích cường điệu chủ đề này, tạo cho người dân ấn tượng rằng Trung Quốc sở hữu phần lớn trái phiếu chính phủ Mỹ. Trong đó có nhân tố kích động chủ nghĩa dân tộc, tô vẽ cho ĐCSTQ. Thực ra, trái phiếu chính phủ Mỹ mà Trung Quốc sở hữu chỉ chiếm 8% tổng số. Tổng nợ công hiện tại của Mỹ là 14,3 nghìn tỷ USD, trong đó 9,7 nghìn tỷ là trái phiếu công khai, có thể lưu thông trên thị trường thứ cấp; 4,6 nghìn tỷ do các cơ quan chính phủ nắm giữ (như Cục Quản lý An sinh Xã hội SSA, Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh HHS v.v., các trái phiếu này phần lớn không thể giao dịch trên thị trường thứ cấp). Trong 9,7 nghìn tỷ USD trái phiếu công khai, chủ nợ lớn nhất là Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, hiện nắm giữ quy mô hơn 1,6 nghìn tỷ USD. Tiếp theo là các ngân hàng trung ương nước ngoài, tính đến tháng 5/2011, nắm giữ tổng cộng 4,5 nghìn tỷ USD trái phiếu chính phủ Mỹ. Trong đó đứng thứ nhất là Trung Quốc, nắm giữ 1,16 nghìn tỷ USD trái phiếu chính phủ Mỹ, chỉ sau Cục Dự trữ Liên bang; đứng thứ hai và thứ ba là Nhật Bản và Anh, nắm giữ lần lượt 912,4 tỷ và 346,5 tỷ USD.
TIẾT 9: PHÂN HÓA GIÀU NGHÈO
Trong khoảng thời gian ngắn ngủi hơn 20 năm, Trung Quốc đã từ một quốc gia thịnh hành chủ nghĩa bình quân, chuyển biến thành quốc gia có hiện tượng chênh lệch giàu nghèo nghiêm trọng, chênh lệch thu nhập vượt quá mức bất bình đẳng trung bình quốc tế.
CHÊNH LỆCH GIÀU NGHÈO ĐẠT MỨC “NGUY HIỂM”
Ngày 26/4/2010, Triển lãm Ô tô Quốc tế Bắc Kinh lần thứ 11 đã diễn ra đến ngày thứ tư, tổng kim ngạch giao dịch tại chỗ của các thương hiệu xe sang hàng đầu đã vượt 130 triệu nhân dân tệ, và trong số khách hàng mua xe tại chỗ có không ít là những nhà giàu trẻ tuổi thế hệ 8x (hay còn gọi là “phú nhị đại” – con nhà giàu). Trong đó bao gồm chiếc Bugatti Veyron trị giá 38 triệu, ba chiếc Lamborghini LP670-4SV đơn giá 7,6 triệu đã được bán, chiếc Spyker LM85 phiên bản giới hạn ra mắt lần đầu tại triển lãm và Aston Martin Rapide lần lượt bán được một chiếc và năm chiếc, các gian trưng bày Ferrari và Maserati đã bán hết veo, Hummer kéo dài và Laurin & Klement Mercedes cũng nhận được không ít đơn đặt hàng.
Ở đầu kia của xã hội Trung Quốc, tại một khu làng trong lòng thành phố điển hình ở Quảng Châu, đường phố chật hẹp, dây điện giăng mắc khắp trời, nước thải rác rưởi tràn lan, đủ loại người tạp nham, nhà cửa ẩm thấp thiếu ánh sáng, nhưng rất nhiều công nhân nông dân từ nơi khác đến lại sẵn lòng ở trong làng trong lòng thành phố; nhà của họ phần lớn trống rỗng, những thứ mà gia đình thành thị bình thường “đương nhiên” sở hữu như máy giặt, tủ lạnh, điều hòa, họ đều không có.
Số liệu cũng phản ánh vấn đề chênh lệch giàu nghèo của Trung Quốc. Ngân hàng Thế giới ước tính, hệ số Gini (Gini coefficient) của Trung Quốc năm 2009 là 0,47. Hệ số Gini càng thấp đại diện cho chênh lệch giàu nghèo càng ít; 0 đại diện cho phân phối xã hội hoàn toàn công bằng; 1 đại diện cho phân phối xã hội hoàn toàn bất công. Kể từ cải cách mở cửa, hệ số Gini của Trung Quốc tăng dần hàng năm, cho đến 10 năm trước đạt mức “nguy hiểm” 0,4; sau đó, dù chính phủ Trung Quốc đã đưa ra nhiều chính sách nâng cao thu nhập cho tầng lớp dân nghèo, nhưng vẫn không ngăn được xu thế tăng của hệ số Gini, và tiếp tục tăng lên mức 0,47 hiện tại. Theo số liệu thống kê của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, 20% dân số nghèo nhất chỉ chiếm 4,7% thu nhập hoặc tiêu dùng, trong khi 20% dân số giàu nhất chiếm tới 50% thu nhập hoặc tiêu dùng.
Ở các nước phát triển phương Tây, tài sản của 20% dân số giàu nhất thường gấp 6-7 lần 20% dân số nghèo nhất, ở Mỹ, tỷ lệ này là 10 lần. Điều tra chọn mẫu năm 2002 của Cục Thống kê Quốc gia cho thấy, chênh lệch giữa 20% hộ gia đình thu nhập cao nhất và 20% hộ gia đình thu nhập thấp nhất Trung Quốc là 15 lần. Thu nhập bình quân đầu người hàng năm của 20% hộ gia đình thành thị thu nhập cao nhất gấp 5,08 lần 20% hộ gia đình thu nhập thấp nhất; 10% hộ gia đình thu nhập cao nhất gấp 7,9 lần 10% hộ gia đình thu nhập thấp nhất, mở rộng 4,6 lần so với năm 1992. Chênh lệch giàu nghèo có thể cảm nhận được trong đời sống thực tế còn cao hơn nhiều so với con số bình quân, nhóm khó khăn có thu nhập dưới mức bình quân đang mở rộng. Nhìn từ sự hình thành và biến đổi của chênh lệch thu nhập, chênh lệch giàu nghèo trong gần 10 năm ngày càng kéo giãn, xã hội đã xuất hiện đặc điểm phân cực hai cực. Hệ số Gini về thu nhập tiền tệ của cư dân thành thị năm 1988 là 0,23, năm 1995 đạt 0,33, năm 2000 lại tăng 10%-15% so với năm 1995, tốc độ mở rộng chênh lệch thu nhập thậm chí đã vượt qua nông thôn.
Theo Lianhe Zaobao (Singapore) ngày 13/5/2010, theo quan điểm của ông Tô Hải Nam, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Tiền lương Lao động thuộc Bộ Nhân lực và Bảo hiểm Xã hội, Chủ tịch Ủy ban Chuyên môn Tiền lương Hội Lao động Trung Quốc, chênh lệch thu nhập Trung Quốc đang thể hiện xu thế mở rộng đa tầng trên toàn phạm vi. Cụ thể, tỷ lệ thu nhập cư dân thành thị và nông thôn đạt 3,3 lần, còn vượt qua chỉ số quốc tế cao nhất về tỷ lệ thu nhập thành thị – nông thôn là khoảng 2 lần; chênh lệch tiền lương giữa ngành có lương cao nhất và ngành có lương thấp nhất Trung Quốc là khoảng 15 lần; chênh lệch thu nhập giữa lãnh đạo cấp cao doanh nghiệp nhà nước niêm yết và công nhân tuyến đầu là khoảng 18 lần; chênh lệch giữa lãnh đạo cấp cao doanh nghiệp nhà nước và mức lương bình quân xã hội chênh nhau 128 lần.
0,4% HỘ GIA ĐÌNH SỞ HỮU 70% TÀI SẢN QUỐC DÂN
Tháng 5/2007, “Báo cáo Tài sản Toàn cầu 2006” do Boston Consulting Group công bố chỉ ra, tại Trung Quốc, 0,4% hộ gia đình sở hữu 70% tài sản quốc dân; mà tại các thị trường trưởng thành như Nhật Bản, Úc, thông thường 5% hộ gia đình kiểm soát 50%-60% tài sản quốc gia.
Tháng 8/2008, Merrill Lynch và Capgemini – công ty tư vấn lớn nhất châu Âu – công bố “Báo cáo Tài sản Châu Á – Thái Bình Dương 2008” tại Bắc Kinh chỉ ra, tính đến cuối năm 2007, Trung Quốc có tổng cộng 415.000 người giàu có tài sản cá nhân trên 1 triệu USD. Về lượng tài sản bình quân, người giàu Trung Quốc bình quân nắm giữ tài sản 5,1 triệu USD, cao hơn mức bình quân khu vực châu Á – Thái Bình Dương là 3,4 triệu USD.
Những số liệu trên đều cho thấy chênh lệch mức thu nhập trong xã hội Trung Quốc, sự phân cực hai cực đang ngày càng nghiêm trọng.
Muốn tìm nguyên nhân thể chế, chỉ cần xem người giàu Trung Quốc là những ai.
Ngày 25/6/2009, Tạp chí Time đưa tin, theo số liệu từ một báo cáo điều tra liên hợp của Phòng Nghiên cứu Quốc vụ viện, Phòng Nghiên cứu Trường Đảng Trung ương, Phòng Nghiên cứu Ban Tuyên truyền Trung ương, Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc và các cơ quan khác, tính đến cuối tháng 3/2006, có 27.310 người sở hữu tài sản cá nhân trong nước (không tính tài sản ở hải ngoại, nước ngoài) trên 50 triệu nhân dân tệ, hơn 3.220 người sở hữu trên 100 triệu nhân dân tệ. Trong số các tỷ phú sở hữu trên 100 triệu nhân dân tệ, có 2.932 người là con cái cán bộ cấp cao. Họ chiếm 91% số “hộ tỷ phú”, sở hữu tài sản hơn 2.045 tỷ nhân dân tệ. Mà xét về nguồn gốc tài sản, chủ yếu dựa vào tư bản quyền lực từ nền tảng gia đình.
Vì duy trì quyền lực mà phát triển kinh tế, thành quả của nó tất yếu sẽ bị quyền lực chiếm đoạt, đây là điều tất yếu của cái gọi là “phát triển” dưới sự cai trị của ĐCSTQ. Chỉ cần Trung Quốc còn là chế độ tập quyền, chênh lệch giàu nghèo, phân cực hai cực do tăng trưởng kinh tế sinh ra là không thể tránh khỏi. Điều này gây ảnh hưởng khó đảo ngược đối với xã hội Trung Quốc.
Trước tiên và trực tiếp nhất là dẫn đến bất ổn xã hội. Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo ngày 1/6/2011 trong cuộc phỏng vấn với Đài truyền hình NHK Nhật Bản tại Tokyo có nhắc đến “một vấn đề chủ yếu trong phát triển không cân bằng của Trung Quốc chính là tồn tại chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các khu vực, cũng tồn tại chênh lệch giàu nghèo giữa thu nhập cá nhân. Nói thẳng ra, hiện tượng chênh lệch này còn đang mở rộng. Một xã hội nếu tài sản chỉ tập trung trong tay số ít người, thì xã hội đó chắc chắn là bất công, do đó cũng là bất ổn.” Hơn 20 năm tăng trưởng kinh tế cao tốc của Trung Quốc, đi kèm với sự gia tăng ngày càng nghiêm trọng của chênh lệch giàu nghèo xã hội, cũng đồng thời là hơn 20 năm xã hội Trung Quốc ngày càng bất ổn. “Sách Xanh Xã hội” năm 2005 chỉ ra, từ 1993 đến 2003 số lượng “sự kiện tập thể” của Trung Quốc đã tăng từ mỗi năm 10.000 vụ lên 60.000 vụ, số người tham gia cũng tăng từ khoảng 730.000 người mỗi năm lên khoảng 3.070.000 người. Từ tháng 11/2008, bắt đầu từ đào tạo bí thư huyện ủy, cục trưởng công an, bí thư ủy ban kiểm tra kỷ luật, Trung Quốc đã tiến hành ít nhất bốn đợt đào tạo quy mô toàn quốc, nâng cao năng lực ứng phó các loại sự kiện đột xuất của quan chức các cấp.
PHƯƠNG THỨC GIÀNH ĐƯỢC TÀI SẢN KHÔNG CÔNG BẰNG
Ảnh hưởng lâu dài hơn nữa là sự phá hoại đạo đức xã hội. Nói một cách nghiêm khắc, bản thân chênh lệch giàu nghèo không phá hoại đạo đức, nhưng nếu trong một xã hội mà phương thức giành được tài sản được coi là chủ đạo hoặc được công nhận lại là bất công, mà lại không có kênh công bằng để người ta thông qua các thủ đoạn chính đáng để đạt được thành công, thì lúc đó chênh lệch giàu nghèo sẽ kích thích hành vi bại hoại đạo đức của con người, thúc đẩy phong khí xã hội xấu đi.
Ví dụ trong xã hội Trung Quốc, tuyệt đại đa số người giàu sở dĩ có tiền, không phải vì họ thông minh, cũng không phải vì họ chăm chỉ, mà vì họ có quyền lực, mà xã hội này cũng không tồn tại một kênh công bằng để giành được quyền lực. Việc chiếm đoạt quyền lực thường thông qua các thủ đoạn không chính đáng như kế thừa gia đình, quan hệ nhân sự, giao dịch quyền – tiền, giao dịch quyền – sắc v.v. Ngược lại, một người có phẩm cách lương thiện, dù có thể hoàn thành tốt công việc bản thân, nhưng thường không vì thế mà được thăng tiến địa vị, giành được tài sản. Vậy thì dưới sự tương phản của chênh lệch giàu nghèo to lớn, con người dưới sự thúc đẩy của lòng ham muốn làm giàu, thường sẽ đi con đường không chính đáng, dùng phương thức phi đạo đức để giành lấy tài sản. Nếu trong một xã hội đa số người đều làm như vậy, tiêu chuẩn đạo đức toàn xã hội sẽ thay đổi, sẽ coi cái không chính đáng là chính đáng, coi cái bại hoại là hợp lý. Cộng thêm việc xã hội Trung Quốc không tồn tại pháp chế công bằng, nhiều khi làm việc xấu không bị trừng phạt, còn người không làm việc xấu lại chịu oan ức. Đạo lý luân lý truyền thống “thiện có thiện báo, ác có ác báo” của xã hội Trung Quốc bị lật đổ hoàn toàn, người ta vì sinh tồn hoặc làm giàu, đã từ bỏ quan niệm đạo đức truyền thống trong một xã hội hiện thực phi đạo đức.
Xã hội Trung Quốc ngày nay đã xuất hiện những hỗn loạn xã hội mà ai cũng có thể cảm nhận được. Tham nhũng lan tràn trong quan trường và thương trường, đạo đức nghề nghiệp của công chức cũng như các ngành nghề khác ngày càng xuống cấp; ham muốn vật chất tràn lan, tình dục lan tràn, hàng giả thịnh hành, xã hội đen hoạt động sôi nổi; sùng bái quyền lực đi kèm với cá lớn nuốt cá bé, nỗi khổ của dân chúng không ai đoái hoài, công lý xã hội không được đòi lại. Đằng sau những hỗn loạn xã hội này, là sự sụp đổ của đạo đức và luân lý. Xã hội không những không bài trừ, ngược lại còn dung túng thậm chí chấp nhận các hành vi xấu xa như tham nhũng hủ bại, mại dâm, hối lộ, vinh nhục lẫn lộn, đúng sai không phân biệt, chỉ vì lợi mà làm. Từ quan chức các cấp đến nhiều học giả nổi tiếng, sự sùng bái tiền quyền đã xóa bỏ lương tri và trách nhiệm xã hội; từ trẻ nhỏ tuổi đến nghiên cứu sinh, hiện tượng hâm mộ giàu cười nghèo, trọng lợi khinh nghĩa xuất hiện khắp nơi.
Con người vì theo đuổi tài sản mà bại hoại đạo đức, mà một xã hội đạo đức xuống cấp lại tạo ra sự phá hoại không thể lường trước đối với việc tạo ra tài sản xã hội. Làm hàng giả khiến chất lượng sản phẩm thấp kém, quyền sở hữu trí tuệ không được bảo vệ; thiếu chữ tín sẽ khiến nền tảng của kinh tế thị trường – tín dụng bị phá hoại, chi phí xã hội để giám sát thực thi tăng mạnh; do phong khí xã hội không chính đáng, cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp biến chất thành đào ngạch chân tường lẫn nhau, phá hoại ác tính bất chấp thủ đoạn; lừa đảo trên thị trường chứng khoán sẽ khiến dòng vốn mất kiểm soát, v.v.
Mô hình phát triển kinh tế thời Giang Trạch Dân tại vị đã không thể thay đổi được, được Trung Quốc ngày nay kế thừa. Do điểm xuất phát của mô hình phát triển này là để duy trì chế độ chuyên chế của ĐCSTQ, thủ đoạn của nó là lấy tham nhũng thể chế làm động lực tăng trưởng, mà thành quả phát triển lại cung cấp nền tảng vật chất cho tham nhũng, tăng trưởng kinh tế gần hai mươi năm của Trung Quốc không thể tránh khỏi đi kèm với sự suy đồi đạo đức xã hội. Sự suy đồi này ăn sâu vào bên trong các hiện tượng kinh tế khác nhau, đồng thời không ngừng ăn mòn động lực để kinh tế Trung Quốc tiếp tục tiến lên. Tuy sự phát triển bất chấp hậu quả, không đoái hoài tương lai này trong ngắn hạn đã tạo ra sự phù hoa bề ngoài, nhưng sau khi động lực tăng trưởng nội tại cạn kiệt, một khi môi trường bên ngoài có biến động, cuộc khủng hoảng thực sự sẽ không thể tránh khỏi mà đến.
Tài liệu tham khảo:
【1】The Institute for Global Labour and Human Rights (Ủy ban Lao động Toàn quốc Hoa Kỳ), “High Tech Misery in China, The Dehumanization of Young Workers Producing our Computer Keyboards” (Nỗi khốn khổ công nghệ cao ở Trung Quốc: Sự phi nhân hóa những công nhân trẻ sản xuất bàn phím máy tính cho chúng ta) http://www.globallabourrights.org/reports?id=0006
【2】Tăng Bồi Viêm, “Học tập sâu sắc tư tưởng xây dựng kinh tế của đồng chí Giang Trạch Dân, thúc đẩy phát triển bền vững, hài hòa và toàn diện về kinh tế xã hội”, Nhân Dân Nhật Báo, ngày 20 tháng 8 năm 2006 http://news.xinhuanet.com/politics/2006-08/20/content_4982739.htm
【3】Tạp chí Kinh tế Tài Mậu, số 9 năm 2009, “Nguyên nhân và đối sách cho việc các sự kiện phá hoại môi trường ở Trung Quốc xảy ra thường xuyên”, Lý Mãnh.
【4】New York Times, “Choking on Growth” (Ngạt thở vì tăng trưởng), Phần IX http://www.nytimes.com/interactive/2007/11/24/world/asia/choking_on_growth_5.html
【5】New York Times, “Choking on Growth” (Ngạt thở vì tăng trưởng), Phần V http://www.nytimes.com/interactive/2007/11/24/world/asia/choking_on_growth_5.html
【6】New York Times, “Choking on Growth” (Ngạt thở vì tăng trưởng), Phần III http://www.nytimes.com/interactive/2007/11/24/world/asia/choking_on_growth_5.html
【7】BBC Trung văn Võng, “Nơi có môi trường sinh thái bị phá hoại nghiêm trọng nhất Trung Quốc”, ngày 17 tháng 6 năm 2009 http://news.bbc.co.uk/chinese/simp/hi/newsid_8100000/newsid_8105300/8105378.stm
【8】Đông Á Võng, “Tiêu điểm về vấn đề môi trường Trung Quốc”, ngày 11 tháng 10 năm 2007 http://www.cjcnet.com/xinwen/xinwen.aspx?c=2&t=t201092411586765&id=6568
【9】Hoàn cảnh Sinh thái Võng, “Phá hoại sinh thái và ô nhiễm môi trường ở Trung Quốc”, ngày 16 tháng 6 năm 2006 http://www.eedu.org.cn/Article/es/envir/edevelopment/200606/8788.html
【10】Bách Độ Bách Khoa, “Sông treo (huyền hà)” http://baike.baidu.com/view/552429.htm
【11】The Sydney Morning Herald, “In thrall of the empire of the sons” (Bị nô dịch trong đế chế của những đứa con trai), ngày 26 tháng 5 năm 2012 http://www.smh.com.au/world/in-thrall-of-the-empire-of-the-sons-20120525-1za2d.html
【12】BBC, “Ordos: The biggest ghost town in China” (Ordos: Thành phố ma lớn nhất Trung Quốc), ngày 17 tháng 3 năm 2012 http://www.bbc.co.uk/news/magazine-17390729
【13】Hoàn Cầu Xí Nghiệp Gia (Global Entrepreneur), “Bí ẩn của tỷ lệ nhà bỏ trống”, ngày 13 tháng 9 năm 2010 http://www.gemag.com.cn/html/2010/story_0913/17029.html
【14】Thượng Hải Phòng Địa Sản Luật Sư Võng (Mạng Luật sư Bất động sản Thượng Hải), “Cách tính chi phí giải tỏa nhà ở của gia đình mình”, ngày 23 tháng 10 năm 2011 http://www.paoup.com/htm/20111023/3929.htm
【15】Sưu Phòng Võng (SouFun), “Phân tích xu hướng giá giao dịch bình quân nhà ở thương phẩm các quận huyện Thượng Hải năm 2010”, ngày 5 tháng 1 năm 2011 http://newhouse.sh.soufun.com/2011-01-05/4317203_3.htm
【16】Tân Kỷ Nguyên Chu San (Tuần san Tân Kỷ Nguyên), “Ai là người hưởng lợi lớn nhất từ giá nhà cao” http://www.epochweekly.com/gb/117/6159.htm
【17】Hà Thanh Liên, 1998, Cạm bẫy của hiện đại hóa — Các vấn đề kinh tế xã hội của Trung Quốc đương đại. Bắc Kinh: Nhà xuất bản Trung Quốc Ngày Nay.
【18】Bách Độ Bách Khoa, “Phòng Giải tỏa” http://baike.baidu.com/view/1178178.htm
【19】A Ba La Tân Văn Võng (Aboluowang), “Hàng trăm cảnh sát đặc nhiệm dùng hơi cay, nhà ở Thành Đô không sập vì động đất mà sập vì cưỡng chế giải tỏa”, ngày 1 tháng 11 năm 2008 http://www.aboluowang.com/news/data/2008/1101/article_62490.html
【20】Đại Kỷ Nguyên, “Quảng Tây điều động hàng nghìn cảnh sát cưỡng chế trưng thu đất bằng bạo lực, hơn 30 dân làng bị đánh bị thương”, ngày 2 tháng 12 năm 2008 http://www.epochtimes.com/gb/8/12/2/n2349363.htm?p=all
【21】A Ba La Tân Văn Võng (Aboluowang), “Hàng trăm con rắn độc tập kích cư dân trong đêm, chủ đầu tư ép giải tỏa”, ngày 30 tháng 10 năm 2008 http://www.aboluowang.com/news/data/2008/1030/article_62350.html
【22】A Ba La Tân Văn Võng (Aboluowang), “Cưỡng chế giải tỏa: Chủ hộ bị khóa trong lồng sắt, bị phun khí độc axit sunfuric, gây phẫn nộ công chúng”, ngày 15 tháng 12 năm 2008 http://www.aboluowang.com/news/data/2008/1215/article_65583.html
【23】Hỗ Động Bách Khoa (Hudong), “Sự kiện Đường Phúc Trân tự thiêu ở Thành Đô” http://www.hudong.com/wiki/成都唐福珍自焚事件
【24】Wikipedia, “Sự kiện Ô Khảm” http://zh.wikipedia.org/wiki/烏坎事件
【25】Thượng Hải Luật Sư Chuyên Nghiệp Phục Vụ Võng (Mạng Dịch vụ Chuyên nghiệp Luật sư Thượng Hải), “Chính sách mới về trưng thu đất và giải tỏa ở nông thôn: Thông báo của Bộ Đất đai về việc tiếp tục làm tốt công tác quản lý trưng thu đất”, ngày 10 tháng 7 năm 2010 http://www.shhyjg.com/news/201007/10-1008.html
【26】”Ngô Hiểu Linh: Khoản dự trữ ngoại hối khổng lồ quản lý thế nào, sử dụng thế nào”, Kinh Tế Quan Sát Báo, ngày 10 tháng 3 năm 2009 http://www.cenet.org.cn/article.asp?articleid=35739
【27】Thủ tướng Ôn Gia Bảo trả lời phỏng vấn độc quyền của tờ Financial Times Anh Quốc, Tân Hoa Võng, ngày 2 tháng 2 năm 2009 http://news.xinhuanet.com/newscenter/2009-02/02/content_10753101_1.htm
【28】Liêu Hiểu Kỳ: Việc dự trữ ngoại hối tăng không thể quy tội cho thặng dư thương mại, Tài Tân Võng, ngày 9 tháng 3 năm 2011 http://www.sinotf.com/GB/Forex/1193/2011-03-09/1MMDAwMDA1ODA1MQ.html
【29】Cục Ngoại hối tiết lộ lợi nhuận giữ lại của FDI, Tân Hoa Võng, ngày 13 tháng 4 năm 2011 http://www.zj.xinhuanet.com/special/2011-04/13/content_22512351.htm
Dịch từ: https://www.epochtimes.com/b5/12/6/8/n3607400.htm
Bản dịch có thể được chỉnh sửa trong tương lai để sát hơn với nguyên tác.
Từ khi cuốn sách