Một quyển sách
đã truyền cảm hứng cho hơn 350 triệu người
thoái xuất khỏi Đảng Cộng Sản Trung Quốc

Chương 9: Tham chiến (phần 2)

Epoch Times 19/06/2012

Quan hệ Trung – Đức

Nếu nói sự giao thiệp mật thiết Trung – Pháp được kiến lập trên nền tảng chính trị, thì sự giao thiệp Trung – Đức lại được kiến lập trên nền tảng kinh tế.

Chuyến thăm Trung Quốc ngày 2 tháng 2 năm 1972 của Tổng thống Mỹ Nixon khiến cục diện chính trị thế giới nảy sinh biến đổi vi diệu. Mao Trạch Đông đặc biệt đưa ra chỉ thị quan trọng về phát triển quan hệ Trung Quốc với Cộng hòa Liên bang Đức, chỉ ra rằng Tây Đức khác với Mỹ, Nhật Bản: không có quan hệ đặc thù với Đài Loan, cho nên không cần Tây Đức công khai biểu thái thừa nhận “một Trung Quốc”. Trung Quốc và Cộng hòa Liên bang Đức thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 11 tháng 10 năm 1972. Thông cáo bang giao của hai nước chỉ có một câu, không có cái gọi là “điều khoản Đài Loan”.

Kim ngạch thương mại hai nước buổi đầu bang giao chỉ 275 triệu đô la Mỹ; cùng với sự giao thiệp kinh tế của hai nước, kim ngạch thương mại song phương nhảy vọt theo từng năm. Quan hệ ngoại giao Trung – Đức cũng phát triển khá bằng phẳng. Sau “Lục Tứ”, Đức thi hành chế tài đối với Trung Quốc. Nhưng do nhu cầu lợi ích kinh tế của cả hai bên, quan hệ song phương bắt đầu hòa hoãn từ đầu thập niên 90. Năm 1993, chính phủ Đức quyết định không phê chuẩn bán tàu ngầm cho Đài Loan và đề xuất chính sách châu Á mới lấy Trung Quốc làm trung tâm; nhân tố kinh tế nổi rõ trong quan hệ ngoại giao hai bên.

Năm 2002, Trung Quốc lần đầu vượt Nhật Bản trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Đức tại châu Á. Năm 2010, kim ngạch thương mại song phương Trung – Đức đạt 142,4 tỷ đô la Mỹ, tăng hơn 500 lần so với khi hai nước bang giao, chiếm gần 30% tổng kim ngạch thương mại giữa Trung Quốc và EU. Tính đến tháng 8 năm 2011, Đức lập tại Trung Quốc hơn 7.000 doanh nghiệp, lũy kế hơn 7.500 dự án đầu tư, số tiền vượt 18 tỷ đô la Mỹ; xuất khẩu công nghệ sang Trung Quốc lũy kế gần 16 nghìn hạng mục, kim ngạch hợp đồng vượt 50 tỷ đô la Mỹ, chiếm khoảng 38% kim ngạch hợp đồng nhập khẩu công nghệ của Trung Quốc từ EU. Trung Quốc là một trong những thị trường xuất khẩu quan trọng nhất của các ngành trụ cột của Đức như cơ khí, ô tô, hóa chất.【22】

Các lĩnh vực đầu tư chính của Đức tại Trung Quốc là ô tô, hóa chất, thiết bị phát điện, giao thông, gang thép, viễn thông, v.v.; phần lớn là dự án mang tính sản xuất, hàm lượng công nghệ cao, vốn về đúng hạn. Doanh nghiệp Đức tại Trung Quốc có khoảng 1.700 công ty con hoặc văn phòng đại diện; các công ty lớn như Volkswagen, Siemens, BASF, Daimler, BMW, Bayer đều đã lập doanh nghiệp độc vốn hoặc liên doanh tại Trung Quốc. Đức còn tham gia công trình tàu điện ngầm Thượng Hải giai đoạn một, hai và tàu điện ngầm Quảng Châu, công trình thủy lợi Tiểu Lãng Để và Tam Hiệp, nhà máy điện hạt nhân Điền Loan (Giang Tô), dự án nhất thể hóa hóa dầu Dương-Ba Nam Kinh, v.v. Trung Quốc nhập từ Đức chủ yếu là thiết bị cơ điện, thiết bị vận tải như đường sắt, ô tô và tàu thuyền, hóa phẩm, dụng cụ quang học, y tế, v.v.; xuất sang Đức chủ yếu là đồ điện, thiết bị cơ khí, nguyên liệu dệt và thành phẩm, hóa phẩm và đồ chơi, v.v.【23】

So với các nước châu Âu khác, Đức nắm giữ một số cái “nhất trong thương mại đối Hoa”: Đức là nước chuyển giao công nghệ cho Trung Quốc nhiều nhất; Đức là nước đầu tư tại Trung Quốc nhiều nhất trong các nước châu Âu; Đức cũng là nước cung cấp viện trợ phát triển cho Trung Quốc nhiều nhất trong các nước châu Âu.

Trong quan hệ với các nước châu Âu, (Trung Cộng) tận dụng triệt để toan tính lợi ích riêng của từng nước để đánh gục từng nước một. Cuối cùng đến cả Mỹ cũng không ngoại lệ về kinh tế ngả về phía Trung Cộng.

“Ngoại giao lãnh thổ” lấy lòng các nước láng giềng

Ngoại giao lãnh thổ là hình thức giao dịch bằng hiện vật của “ngoại giao đơn hàng”, là một kiểu giao dịch chính trị quốc tế trong đó Giang Trạch Dân nhượng lợi, bán rẻ quốc thổ của nhân dân Trung Quốc.

◎ Bán hơn một triệu km² cho Nga

Hội nghị Trung ương 4 khóa 16 của Trung Cộng họp tại Bắc Kinh từ ngày 16 đến 19 tháng 9 năm 2004; sau cuộc giành giật thâu đêm suốt sáng, Giang cuối cùng bị buộc phải rời chức. Ngày 30 tháng 9, Trình Tường, phóng viên trưởng thường trú Trung Quốc của tờ “The Straits Times” Singapore, công dân Hồng Kông, dưới bút danh “Chung Quốc Nhân” đăng bài trên tờ “Minh Báo” Hồng Kông, chỉ ra Giang Trạch Dân đã bán cho Nga phần quốc thổ tương đương 40 lần Đài Loan. Chung Quốc Nhân trong bài viết phân tích ba nỗi khổ tâm lớn khiến chính phủ Trung Quốc không dám công bố và giải thích điều ước với dân chúng: một là nó cho thấy Trung Cộng trong vấn đề này còn không bằng cả chính quyền Quốc Dân Đảng vốn bị nó chế giễu là bán nước mà bị đuổi khỏi vũ đài; hai là Giang Trạch Dân trong vấn đề này còn không bằng các lãnh đạo khác của Đảng Cộng sản; ba là điều ước đánh dấu Trung Quốc chính thức từ bỏ một khối lãnh thổ to lớn nhường ấy từ quá trình đàm phán đến ký kết cuối cùng đều chưa từng được công khai.【24】

Ngày 22 tháng 4 năm 2005, Trình Tường trong lúc làm việc tại Thâm Quyến bị nhân viên an ninh quốc gia Trung Cộng bắt đi. Ngày 5 tháng 8 cùng năm, Trình Tường bị Trung Cộng chính thức bắt giữ với tội danh gián điệp; nhà đương cục cáo buộc ông tình nghi từ năm 2000 thu thập tình báo Đại lục cho cơ quan tình báo Đài Loan, và ngày 31 tháng 8 năm 2006 bị kết án năm năm tù. Dưới sự cứu giúp của các giới, Trình Tường ngày 5 tháng 2 năm 2008 được tạm tha, trở về Hồng Kông trước hạn. Có người trong thời gian giam giữ nói với ông: “Nguyên nhân thực sự bị bắt, có thể cả đời ông cũng không biết được.” Trong toàn bộ quá trình thẩm vấn, chưa từng có ai tra hỏi ông đã “đánh cắp” hay “tiết lộ” những bí mật quốc gia nào.【25】【26】【27】

Ngày 9 tháng 12 năm 1999, Giang Trạch Dân và Tổng thống Nga bấy giờ Yeltsin ký “Nghị định thư mô tả về hai đoạn Đông – Tây của đường biên giới Trung – Nga”. Điều ước này cấu thành văn kiện pháp lý về biên giới Trung – Nga từ nay về sau. Mà việc đại sự liên quan đến lãnh thổ quốc gia này luôn bị Giang Trạch Dân giấu kín; mãi mấy năm sau, khi điều ước này được phía Nga công bố, người Trung Quốc mới hay Giang đã lặng lẽ bán đi mảng quốc thổ to lớn. Tờ “Nhân Dân Nhật báo” ngày 11 tháng 12 năm 1999, phần giới thiệu chính thức về điều ước này chỉ vỏn vẹn hơn 100 chữ.

Đây là một điều ước bán nước từ đầu đến cuối, ẩn giấu màn đen kinh thiên. Trong “Nghị định thư”, Giang Trạch Dân đã bán đi hơn 1 triệu km² lãnh thổ quý báu, tương đương tổng diện tích ba tỉnh Đông Bắc, cũng tương đương mấy chục lần Đài Loan; Giang Trạch Dân còn cắt cửa sông Đồ Môn ra biển giao cho Nga, bịt chết cửa ngõ ra biển Nhật Bản của vùng Đông Bắc Trung Quốc. Lãnh thổ phương Bắc Trung Quốc mà Giang Trạch Dân bán đi gồm mấy khối lớn: một khối là “vùng Ngoại Hưng” phía nam dãy Ngoại Hưng An Lĩnh, phía bắc sông Hắc Long Giang, hơn 600 nghìn km²; khối khác là “vùng Ô Đông” phía đông sông Ô Tô Lý, 400 nghìn km²; còn có vùng Đường Nỗ Ô Lương Hải, 170 nghìn km²; cùng đảo Khố Hiệt (Sakhalin), 76,4 nghìn km².

“Nghị định thư” này phủ định triệt để điều ước biên giới bình đẳng Trung – Nga thời Khang Hy nhà Thanh. “Điều ước Nerchinsk” (Ni Bố Sở); thừa nhận các điều ước bất bình đẳng Trung – Nga mà từ Trung Hoa Dân Quốc đến các đời chính phủ Trung Cộng đều cự tuyệt thừa nhận, bao gồm “Điều ước Ái Hồn”, “Điều ước Bắc Kinh”, v.v. Chưa hết, “Nghị định thư” còn đem những mảng lãnh thổ lớn bị Sa Nga cưỡng chiếm mà chưa từng qua ký kết điều ước nào, vĩnh viễn cắt về cho Nga, trong đó bao gồm vùng Đường Nỗ Ô Lương Hải mà Đại hội đồng Liên Hợp Quốc năm 1953 biểu quyết phán định là lãnh thổ Trung Quốc (khoảng 170 nghìn km², tương đương diện tích tỉnh Quý Châu); còn bao gồm Giang Đông Lục Thập Tứ Truân, nơi mà ngay cả điều ước bất bình đẳng “Điều ước Ái Hồn” cũng thừa nhận là lãnh thổ Trung Quốc (3.600 km², tương đương hơn 3 lần diện tích Hồng Kông); cùng đảo Khố Hiệt từ thời nhà Kim đã thuộc quyền quản hạt của Trung Quốc, được minh xác cắt về Trung Quốc trong “Điều ước Nerchinsk Trung – Nga” (76,4 nghìn km², tương đương diện tích hai Đài Loan).

◎ Quân đội rút lui, biên giới năm trăm km không phòng bị

Sau khi ký hiệp định, Giang Trạch Dân với thân phận Chủ tịch Quân ủy hạ lệnh cho bộ đội biên phòng Trung Quốc rút lui, 500 km không bố phòng; trong khi vành đai không bố phòng của 4 nước Nga, Kazakhstan, Tajikistan, Kyrgyzstan chỉ rộng 100 km (chỉ vài đoạn ở vùng Primorsky của Nga là ngoại lệ).

Ngày 18 tháng 12 năm 2002, Litovkin trong bài bình luận nhan đề “Biên giới Nga – Trung từ 10 năm trước đã trở thành một đường biên giới an toàn” đã công bố hiệp định bí mật mà Giang Trạch Dân ký với Yeltsin năm 1999, “Bản ghi nhớ thông cảm lẫn nhau giữa chính phủ hai nước về vấn đề cắt giảm lực lượng vũ trang vùng biên giới của nhau và tăng cường tin cậy trong lĩnh vực quân sự”, đặc biệt hết lời ca ngợi cống hiến nổi bật của Giang trong phương diện bán nước. Bài viết tiết lộ: “Để tăng cường tin cậy lẫn nhau trong lĩnh vực quân sự, Bắc Kinh đã áp dụng loạt biện pháp chưa từng có trong lịch sử, gánh vác nghĩa vụ đơn phương, tức: bảo đảm tại vùng biên giới giáp với mấy nước này, trong dải ven biên rộng 500 km, ngoài nhân viên biên phòng ra không có bất kỳ quân đội nào. Với Nga và mấy nước SNG khác (Kazakhstan, Tajikistan, Kyrgyzstan), dải ‘không bố phòng’ ven biên này chỉ rộng 100 km. Dải 100 km không bố phòng phía Nga là rừng rậm hoang dã, rút đi chẳng tổn thất gì; nhưng dải rộng 500 km mà Trung Quốc rút khỏi toàn là các công trình quân sự tiêu tốn vốn liếng khổng lồ. Hủy bỏ toàn bộ, tổn thất to lớn.”

Giang Trạch Dân dùng lãnh thổ của nhân dân Trung Quốc đổi lấy sự ủng hộ của chính phủ Nga: chính phủ Nga uy hiếp buộc Chủ tịch Hiệp hội Pháp Luân Đại Pháp Nga rời khỏi nước; còn trục xuất các học viên Pháp Luân Công quốc tịch Trung Quốc cư trú tại Nga về Trung Quốc, mặc kệ sống chết của họ.

◎ Lãnh thổ bán cho các nước khác

Về việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ Trung – Việt, Trung – Ấn, giữa Trung Quốc và các nước Liên Xô cũ khác, v.v., truyền thông chính thức của Trung Cộng cũng xưa nay không dám công bố nội dung điều ước; mọi sự bán rẻ lợi ích lãnh thổ đều thuộc thao tác trong hộp đen.

Giang Trạch Dân ký với Tajikistan, Kyrgyzstan cùng Kazakhstan các hiệp định phân định biên giới Trung – Tajik, hiệp định phân định biên giới Trung – Kyrgyz – Kazakh, v.v., cơ bản từ bỏ toàn bộ quốc thổ tranh chấp. Ví dụ, ông ta ký ước với Tổng thống Tajikistan Rakhmonov, đem 27.000 km² đất tranh chấp gần vùng Pamir bán cho nước Tajik, còn Trung Quốc chỉ được 1.000 km². Chính hãng thông tấn của Tajikistan đưa tin nội dung điều ước liên quan, chuyện mới bị phanh phui ở hải ngoại.

Giang Trạch Dân năm 1996 thăm Philippines, chủ động đề xuất từ bỏ tranh chấp chủ quyền quần đảo Trường Sa (Nam Sa), cùng nhau tiến hành khai thác kinh tế.

Cuối tháng 11 năm 1996, Giang Trạch Dân thăm Ấn Độ, ký “Hiệp định về xây dựng biện pháp tin cậy trong lĩnh vực quân sự tại vùng đường kiểm soát thực tế biên giới Trung – Ấn”, định ra tông chỉ cho việc Trung – Ấn phân chia biên giới theo đường kiểm soát hiện tại. Điều này chẳng khác nào thừa nhận đường McMahon, từ bỏ 90 nghìn km² lãnh thổ màu mỡ ở sườn nam dãy Himalaya.

Ngày 30 tháng 12 năm 1999, Giang Trạch Dân phê chuẩn “Điều ước biên giới trên đất liền giữa Trung Quốc và Việt Nam”, đem Lão Sơn ở Vân Nam và Pháp Tạp Sơn ở Quảng Tây, nơi hàng nghìn tướng sĩ đã bỏ mạng để canh giữ, cắt về Việt Nam; các tướng sĩ tử trận ở Ma Lật Pha sẽ vĩnh viễn chôn xương trên đất Việt Nam.

Phần thứ tư: Kỹ xảo cám dỗ ngày càng chín muồi

Lỗ hổng đạo đức to lớn

Trung Quốc dưới ách thống trị của Trung Cộng và các nước dân chủ phương Tây do thể chế chính trị hoàn toàn khác nhau, nên mô thức vận hành quốc gia cũng tồn tại một khác biệt căn bản: bên trước lấy việc duy trì chính quyền Trung Cộng làm mục đích tối cao, mọi chính sách đều phục vụ chính trị; chính sách kinh tế, chính sách ngoại giao, v.v. cũng là để duy trì tính chính danh của chính quyền Trung Cộng. Trung Cộng vì lợi ích chính trị của nó có thể hy sinh mọi lợi ích khác. Bên sau thì ngược lại: sự vận hành quốc gia lấy phục vụ dân chúng làm trung tâm; chính phủ nhấn mạnh phát triển kinh tế, mục đích cũng là để dân chúng sống tốt hơn lợi ích chính trị của các nước phương Tây phục vụ lợi ích dân chúng, lợi ích kinh tế.

Cho nên, xét từ căn bản, điểm xuất phát của chính sách kinh tế, ngoại giao của Trung Cộng là vì tư lợi một mình nó, chứ không phải vì dân chúng của nó, thậm chí còn làm tổn hại lợi ích dân chúng. So với phương Tây, mô thức vận hành quốc gia của Trung Cộng có một lỗ hổng đạo đức to lớn.

Thập niên chín mươi, Giang Trạch Dân và Trung Cộng sau khi nhận được sự truyền máu kinh tế của phương Tây, tính chính danh cầm quyền trong nước được kéo dài tạm thời. Cùng với chiếc ví ngày càng dày lên, Trung Cộng dần dần có được một yếu tố then chốt để giao dịch với phương Tây: tư bản và con bài kinh tế. Chính sách ngoại hối của Trung Cộng khiến nó nắm quyền khống chế tuyệt đối đối với những khoản tư bản này; đồng thời Trung Cộng lại chẳng cần chịu trách nhiệm trước nhân dân Trung Quốc.  Điều này khiến nó trong các cuộc giao dịch và đàm phán ngoại giao với các nhà tư bản và chính khách phương Tây có thể tùy ý sử dụng những khoản tư bản ấy, từ lợi ích kinh tế mà dùng phương thức “củ cà rốt cộng cây gậy” để cám dỗ và ép buộc các nước khác khuất phục. Nếu nước khác trước lợi ích không giữ vững được nguyên tắc, không nhận rõ được sự bại hoại về đạo đức của Trung Cộng, thì sẽ rơi vào cái tròng Trung Cộng giăng sẵn, từ bỏ nguyên tắc đạo đức, làm những việc hại người lợi mình.

Mỗi khi tâm lý đối Hoa của Mỹ có chiều hướng xấu đi, ngoại giao mua sắm của Trung Cộng liền kịp thời theo sát: thông qua những đơn hàng lớn tạo ảnh hưởng lên các tập đoàn lợi ích của Mỹ, rồi thông qua hoạt động tuyên truyền và vận động hành lang của chúng mà xoa dịu tâm lý dân chúng, gây áp lực lên chính phủ và Quốc hội Mỹ, hình thành ảnh hưởng có lợi cho Trung Cộng, đạt mục đích ngoại giao kinh tế đối Mỹ.

Động cơ đằng sau

Trong hơn 20 năm từ 1990 đến nay, Trung Quốc đã tiến hành ngoại giao mua sắm với tần suất cao đối với các cường quốc phương Tây trong ba giai đoạn, lần lượt là: 1990–1994, 1997–1999, và từ 2004 đến nay. Kết hợp với tình thế chính trị – kinh tế quốc tế mà Trung Quốc ở vào trong ba quãng thời gian nói trên, chúng ta không khó phát hiện động cơ đằng sau.

Sau năm 1989, Trung Cộng vì nổ súng vào sinh viên và dân thường trong vụ “Lục Tứ” mà vấp phải chế tài kinh tế liên hợp và phong tỏa ngoại giao của các nước phương Tây do Mỹ đứng đầu; nhất thời, các chuyến thăm cấp cao và nhiều kênh liên kết ngoại giao giữa Trung Quốc và các nước lớn phương Tây bị buộc phải gián đoạn. Ngoại giao mua sắm của Trung Cộng, vào lúc Trung Cộng nguy nan, đã gánh vác vai trò “cám dỗ lợi ích”: lợi dụng trạng thái thực dụng chủ nghĩa trọng lợi ích của phương Tây mà hoàn thành trọng trách phá băng về ngoại giao. Năm 1990, Trung Quốc mua một lần 9 tỷ đô la Mỹ máy bay Boeing. Từ năm 1990, liên tục 5 năm, mỗi năm Trung Quốc đều phái sang Mỹ ít nhất một đoàn mua sắm quy mô lớn, hòng “mua” những hàng hóa đủ để thúc đẩy cải thiện quan hệ hai nước. Với châu Âu, Trung Quốc năm 1991 và 1992 lần lượt phái hai đoàn mua sắm lớn đi mua, tổng ngạch mỗi năm đều đạt trên 1 tỷ đô la Mỹ. Quan hệ Trung – Âu nhờ đó được đồng tiền vá víu; Trung – Đức, Trung – Pháp lần lượt thực hiện các chuyến thăm cấp cao vào năm 1992, 1994. Sau năm 1992, sự phong tỏa ngoại giao của các nước phương Tây đối với Trung Quốc từng bước tan rã, trong đó ngoại giao mua sắm của Trung Quốc đóng vai trò quyết định.

Quãng tần suất cao thứ hai của ngoại giao mua sắm phân bố vào giữa và cuối thập niên 90 của thế kỷ 20. Khủng hoảng eo biển Đài Loan 1995, 1996 đã qua; đàm phán gia nhập WTO của Trung Quốc bước vào giai đoạn cuối.  Mỹ là đối thủ đàm phán quan trọng nhất, cũng là chướng ngại lớn nhất cho việc Trung Quốc nhập WTO. Thâm hụt thương mại đối Hoa tăng đều đặn trở thành tiêu điểm quan tâm của cả triều dã nước Mỹ. Vì vậy, thể hiện thành ý của Trung Quốc, xoa dịu tâm lý lo âu và kháng cự của Mỹ trong vấn đề thương mại trở thành mục đích cơ bản của ngoại giao mua sắm đối Mỹ của Trung Cộng bấy giờ. Năm 1998 là năm duy nhất trong 20 năm nước Mỹ không xuất hiện “thâm hụt kép” cả ngân sách lẫn thương mại, nhưng Trung Quốc vẫn liên tục 3 năm dâng lên Mỹ món quà hậu hĩnh bình quân 4 tỷ đô la Mỹ mỗi năm, làm loãng bầu không khí phản Hoa trong nước Mỹ, nhờ đó gia nhập được WTO.

Những năm gần đây, ngoại giao mua sắm giữa Trung Quốc và các nước bước vào giai đoạn tần suất cao thứ ba. Một mặt là do bản thân Trung Quốc nhờ truyền máu kinh tế từ nước ngoài mà khá lên; nhưng nguyên nhân trực tiếp hơn vẫn là cục diện xuất siêu thương mại giữa Trung Quốc với các nước phương Tây do sách lược “công xưởng mồ hôi nước mắt” của Trung Cộng gây ra trở nên dài hạn hóa, ổn định hóa và mở rộng hóa. Trung Cộng thông qua ngoại giao mua sắm để xoa dịu tâm lý phản Hoa của dân chúng Mỹ nảy sinh từ mức xuất siêu Trung – Mỹ gia tăng. Cho nên giữa tần số và phân bố tổng ngạch ngoại giao mua sắm Trung – Mỹ với tỷ lệ tăng thâm hụt thương mại đối Hoa của Mỹ tồn tại mức tương quan khá cao; tổng ngạch mua sắm sẽ tăng giảm tương ứng theo mức tăng giảm của tỷ lệ tăng thâm hụt thương mại đối Hoa của Mỹ năm trước đó.

Kỹ xảo sách lược ngày càng chín muồi

Trải qua hơn 10 năm thực tiễn, kỹ xảo sách lược trong ngoại giao đơn hàng của Trung Cộng ngày càng chín muồi, hiệu dụng mua sắm được tăng cường. Sự nâng cao này trước hết thể hiện ở việc nắm bắt thời gian: ngoại giao đơn hàng của Trung Quốc ngày càng chú trọng kéo dài quá trình hoạt động ngoại giao mua sắm hoặc kéo dài quá trình ký kết hợp đồng mua sắm, từ đó kéo dài thời gian tác dụng của hiệu quả ngoại giao, tăng cường sức ảnh hưởng. Ngoại giao đơn hàng thời kỳ đầu thường mua tập trung một lần, thời gian dài nhất chẳng quá 1 tháng, bởi bấy giờ Trung Cộng trong ngoài khốn đốn, cần kết quả nhanh gọn để giải vây. Còn những năm gần đây thì thể hiện thành phương thức chia đợt phái đoàn ra nước ngoài mua sắm: trong khoảng thời gian trước sau chuyến thăm của nguyên thủ, theo chủng loại mua sắm mà chia thành các đợt khác nhau lần lượt đến nước mục tiêu thực hiện mua sắm từ bắt đầu đến kết thúc có khi kéo dài tới nửa năm.

Lấy năm 2003 làm ví dụ: từ ngày 12 tháng 11 năm 2003, đoàn mua sắm máy bay, ô tô đợt đầu bắt đầu hành động, đến ngày 13 tháng 1 năm 2004, đoàn mua sắm viễn thông đợt cuối ký đơn hàng trước sau có 4 đoàn mua sắm chia đợt sang Mỹ, kéo dài suốt hai tháng. Đáng chú ý là ngày 18 tháng 11, chính phủ Mỹ đột nhiên tuyên bố đặt hạn ngạch nhập khẩu đối với vải dệt kim, áo choàng tắm, áo lót của Trung Quốc; tranh chấp thương mại này vừa khéo xảy ra trong chu kỳ mua sắm của đoàn Trung Quốc, thế là chính quyền Trung Cộng liền lợi dụng ngoại giao mua sắm phản ứng tức thì: tạm hủy chuyến sang Mỹ của đoàn mua sắm đậu tương thứ hai. Như vậy liền gây áp lực rất lớn lên thị trường nông nghiệp trong nước Mỹ; nhiều nghị sĩ Quốc hội Mỹ đến từ các bang sản xuất chính đậu tương, lúa mì, bao gồm lãnh tụ đảng Dân chủ Thượng viện Mỹ Daschle và Tổng giám đốc công ty bông toàn cầu Mỹ Zurenko (Jenningan) cùng gây áp lực lên chính quyền Bush con, cuối cùng buộc chính phủ Mỹ nhượng bộ; vài tuần sau, Trung Quốc khôi phục hành trình của đoàn mua sắm đậu tương.

Phương diện thứ hai cho thấy trình độ sách lược ngoại giao đơn hàng của Trung Cộng đã chơi ra chiêu trò, thể hiện ở phương thức ký kết hiệp định mua sắm: tránh trực tiếp ký hiệp định số tiền lớn, mà trước tiên ký hiệp định khung, hiệp định ý định; đến các chuyến thăm lẫn nhau của lãnh đạo sau đó mới ký hợp đồng cuối cùng. Việc ký đơn mua máy bay thường áp dụng chính hình thức này: từ lúc mới có ý định mua đến khi ký hợp đồng cuối cùng thường phải trải qua ba bốn lần xác nhận chính thức, trước sau có thể tới hai ba năm; mà mỗi lần xác nhận đều cần hai bên cùng tạo bầu không khí tốt đẹp về ngoại giao và chính trị, như vậy liền kéo dài độ dài thời gian Trung Cộng khống chế quan hệ hai nước và mức độ hữu hiệu của ngoại giao đơn hàng.

Tận dụng triệt để lòng tham của nhân loại

Cứ thế, ngoại giao đơn hàng do Giang Trạch Dân khai sáng đạt hiệu quả rõ rệt trong ngoại giao với phương Tây. Trung Cộng thông qua ngoại giao đơn hàng ép các nước phương Tây không thể áp dụng thái độ cứng rắn với Trung Cộng; đồng thời cũng khiến một loạt chính khách và doanh nghiệp phương Tây trở thành người ủng hộ, thậm chí “nhân viên tiếp thị” cho Trung Cộng.

Do việc Trung Cộng mua sắm quy mô lớn từ Mỹ khiến doanh nghiệp Mỹ hưởng lợi, các liên minh doanh nghiệp có sự tham gia của những tổ chức tài đoàn nắm thực lực kinh tế như Phòng Thương mại Mỹ, Hội đồng Doanh nhân Mỹ – Trung, Liên hợp hội Doanh nghiệp Thương mại Mỹ – Trung, v.v. tích cực chạy vạy cho Trung Cộng. Nỗ lực vận động hành lang của chúng bảo đảm rằng suốt thập niên 90 của thế kỷ 20, mỗi năm Mỹ đều gia hạn “quan hệ thương mại bình thường” đối Hoa. Sự trợ giúp của các công ty xuyên quốc gia lớn dành cho Trung Cộng đặc biệt nổi bật: công ty Boeing năm 1995 phát động một “Kế hoạch bình thường hóa thương mại đối Hoa” nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại Trung – Mỹ ổn định lâu dài; chúng còn lợi dụng sức ảnh hưởng của mình ở địa phương để thúc đẩy chính quyền các bang và các nghị sĩ ra mặt ủng hộ quan hệ thương mại với Trung Quốc, giữa chúng với nhau thậm chí có phân công và phối hợp: công ty Boeing phụ trách bang Washington và bang Kansas, công ty Motorola phụ trách bang Texas và bang Illinois.【28】

Tháng 10 năm 1999, khi Giang Trạch Dân thăm Anh, đã dâng lên nước Anh sự cám dỗ của những hợp đồng khoảng 4 tỷ đô la Mỹ. Tiếp đó, Giang Trạch Dân thăm Pháp. Tổng thống Pháp Chirac trước đó đã nhiều lần nếm vị ngọt của ngoại giao đơn hàng Trung Cộng; trước khi Giang đến thăm, ông ta bày tỏ với đại sứ Trung Quốc trú Pháp Ngô Kiến Dân: Trung Quốc đã tặng lễ lớn cho Anh, mong Trung Quốc với Pháp cũng có biểu thị gì đó, nếu không ông ta khó ăn khó nói với nhân dân Pháp.

Để xoa dịu và tìm kiếm sự ủng hộ của Pháp đối với Trung Quốc trong công việc quốc tế, Giang Trạch Dân chốt hạ cuộc đàm phán mua máy bay đã tiến hành một thời gian giữa Trung Quốc và tập đoàn Airbus, làm quà cho chuyến thăm Pháp. Giang còn tham quan đường sắt cao tốc của Pháp, thể hiện hứng thú mua công nghệ và thiết bị đường sắt cao tốc Pháp. Tổng thống Pháp Chirac tại buổi họp báo hớn hở nói: “Giang Trạch Dân đã đưa ra một quyết định khiến tôi vô cùng cảm kích: mua 8 máy bay cỡ lớn A340, 20 máy bay A318 và A319 của công ty công nghiệp Airbus. Đây là một thương vụ lớn trị giá 15 tỷ franc.” Ông ta nói tiếp: “Tôi đã trình bày với ông ấy những cái lợi nếu Trung Quốc mua tàu hỏa cao tốc của Pháp để dùng cho tuyến tàu cao tốc Bắc Kinh – Thượng Hải mà phía Trung Quốc đã có kế hoạch xây dựng.” Cái Giang nhận được đền đáp là sự ủng hộ của Pháp đối với việc Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới.【29】

Chirac trong nhiệm kỳ thăm Trung Quốc bốn lần, lần nào cũng dẫn đoàn đại biểu cấp cao giới thương mại đông đảo, lần nào cũng ký với Trung Quốc những hợp đồng bán hàng khổng lồ đến nỗi bị truyền thông gọi là “siêu nhân viên tiếp thị”.【30】Tháng 10 năm 2004, khi Chirac thăm Trung Quốc, ngoài việc mang theo đội bay nhào lộn của không quân Pháp, còn dẫn theo một “biên đội chiến đấu” khác  tức 4 bộ trưởng và 52 tổng giám đốc doanh nghiệp công thương Pháp. Trong 4 ngày ngắn ngủi, hai bên Trung – Pháp nhanh chóng ký gần 7 tỷ euro hợp đồng, trong đó bao gồm đơn hàng 26 máy bay của Trung Quốc dành cho tập đoàn Airbus Pháp, cùng dự án tập đoàn năng lượng hạt nhân Pháp AREVA đấu thầu nhà máy điện hạt nhân mới tại Trung Quốc.【31】Chưa hết, Trung Cộng cũng có cơ hội, trong quyết sách mua máy bay Boeing hay Airbus của Pháp, không ngừng chơi trò đơn hàng ngoại giao với cả Mỹ lẫn Pháp. Nhờ sự cám dỗ của những khoản tiền lớn, trò chơi này có thể nói là thử lần nào trúng lần nấy.

Trung Cộng cũng mở rộng kiểu cám dỗ lợi ích này sang phạm vi quân sự. Báo cáo thường niên 2011 của Ủy ban Thẩm tra Kinh tế và An ninh Mỹ – Trung thuộc Quốc hội Mỹ đưa tin: Trung Quốc lợi dụng các tướng lĩnh về hưu của Mỹ để ảnh hưởng chính sách đối Hoa của Mỹ. Báo cáo chỉ ra: tổ chức Hội Liên lạc Hữu nghị Quốc tế Trung Quốc (CAIFC) là tổ chức ngoại vi của Bộ Liên lạc Đối ngoại thuộc Tổng cục Chính trị Giải phóng quân, đã hậu thuẫn thành lập “Sáng kiến Tam Á” (The Sanya Initiative). Hoạt động giao lưu tướng lĩnh về hưu Mỹ – Trung của “Sáng kiến Tam Á” mời các sĩ quan Mỹ đã về hưu sang Trung Quốc thăm viếng. Trung Quốc thông qua phương thức “du lịch đế vương” cung cấp cho những vị khách đặc biệt người Mỹ này cơ hội làm ăn hoặc hùn hạp tại Trung Quốc. Còn những nhân viên quân sự về hưu này thì truyền đạt thông tin tuyên truyền và chính sách chính thức của Trung Quốc đến Quốc hội Mỹ và Lầu Năm Góc, và tiến hành công tác vận động hành lang.【32】

Trung Cộng không chỉ lợi dụng quan hệ thương mại để cải thiện quan hệ với nước khác, mà còn gắn thêm mục đích chính trị của mình vào ngoại giao đơn hàng như bức hại nhân quyền, v.v.  khiến nước khác trong lúc thu lợi trực tiếp trở thành kẻ đồng minh của Trung Cộng.

Từ Giang Trạch Dân trở đi, Trung Cộng đã vận dụng chiêu số ngoại giao đơn hàng “dùng lợi ích kinh tế đổi lấy lợi ích chính trị” đến mức lò lửa luyện xanh (điêu luyện tuyệt đỉnh), dụ dỗ các chính trị gia, doanh nhân, phòng thương mại, người vận động hành lang của Mỹ và các nước phương Tây khác, vì lợi ích kinh tế mà ở mức độ rất lớn từ bỏ nguyên tắc nhân quyền, giá trị phổ quát, đạo nghĩa xã hội, công ích quốc tế. Sự phá hoại này đối với nguyên tắc đạo nghĩa của cộng đồng quốc tế và tiêu chuẩn vận hành công ích quốc tế là vô cùng nguy hiểm. Tuy trong ngắn hạn, việc nhân quyền bị tước đoạt chủ yếu xảy ra ở Trung Quốc, còn chưa lan đến Mỹ và châu Âu; nhưng xét về hiệu quả lâu dài, hành vi thiển cận “vì lợi bỏ nghĩa” đang dần dần bại hoại quan niệm đạo đức của cả nhân loại, cuối cùng ắt sẽ ảnh hưởng đến dân chủ, tự do, quan niệm giá trị và thể chế chính trị của xã hội phương Tây.

Phần thứ năm: Hiệu ứng “xung hỷ” của truyền máu kinh tế

Truyền máu kinh tế giúp Trung Cộng có gan đối kháng giá trị phổ quát

Sự thật không thể tranh cãi là: những năm qua, lượng truyền máu kinh tế khổng lồ của các nước phương Tây đã giúp Trung Cộng có được cái gan, tâm lý và thế lực để đối kháng giá trị phổ quát.

Trung Cộng sau khi có vốn liếng, hoàn toàn không như lời các thuyết khách phương Tây nói rằng, kinh tế phát triển rồi sẽ tự động mang đến tự do chính trị và các tự do khác. Đúng ngược lại: Trung Cộng lấy sự phát triển kinh tế của mình làm cớ, càng có lý do đối kháng giá trị phổ quát của thế giới tự do.

Lô-gích của Trung Cộng cũng rất đơn giản: vào những năm tháng ta sống dở chết dở, đột nhiên nhận được nguồn vốn bùng nổ, nay biến thành đại gia dự trữ ngoại hối, nắm trong tay bao nhiêu trái phiếu Mỹ; đến cả phương Tây cũng có kẻ ganh tị năng lực và chế độ chuyên chế của ta; ta đã đi ra con đường “mô hình Trung Cộng” rồi, cớ gì phải đi con đường giá trị phổ quát?!

Giang Trạch Dân và Trung Cộng trong mấy chục năm vận động chính trị chỉnh người đã tích lũy lượng lớn kinh nghiệm, trong đó bản năng nhất và cũng hiệu nghiệm nhất là nắm bắt triệt để nhược điểm của con người, chiều theo sở thích, lợi dụng và khuếch đại phần tư lợi trong nhân tính để phục vụ Trung Cộng. Phương Tây trọng thương, nên lợi ích kinh tế có thể dụ thương nhân và chính khách phương Tây khuất phục, điều Giang Trạch Dân tin là “có tiền sai được cả quỷ đẩy cối xay”. Ông ta nói: “Trong quá trình hình thành cục diện mới, các loại mâu thuẫn trên thế giới đều đang phát triển sâu sắc, các lực lượng đang phân hóa tổ hợp lại, các quan hệ chiến lược trọng đại cũng đang điều chỉnh biến đổi. Do quy luật phát triển không cân bằng về kinh tế – chính trị của chủ nghĩa tư bản tiếp tục phát huy tác dụng, mâu thuẫn trong nội bộ và giữa các nước phương Tây với nhau ngày càng bộc lộ và gia tăng, các bài toán khó trong ngoài không ngừng tăng thêm. Điều này đã tạo ra nhiều cơ hội mới cho chúng ta trong đấu tranh quốc tế mà vận trù duy ác, tung hoành bãi hạp. Chỉ cần chúng ta khéo nắm chắc một số quan hệ chiến lược lớn, khéo lợi dụng một số mâu thuẫn quan trọng, thì có thể ứng phó linh hoạt, hành xử tự như, thích ứng với sự phát triển của cục thế quốc tế, nâng cao hơn nữa địa vị quốc tế của nước ta.”【33】

Khi việc Trung Cộng trần trụi dùng súng máy, xe tăng trấn áp sinh viên và dân thường khơi dậy nghĩa phẫn khắp thế giới, Giang Trạch Dân giẫm lên máu tươi của dân chúng mà bước lên vũ đài. Dưới áp lực dân ý mạnh mẽ của thế giới, Mỹ cùng các nước phương Tây nhất trí lên án Trung Cộng, kết hợp các phương thức như chế tài kinh tế gây áp lực khổng lồ lên Trung Cộng — Trung Cộng lâm vào thế cô lập bốn bề Sở ca. Nhân dân Trung Quốc đã trải qua mấy chục năm cách mạng nghèo kiết xác sau khi Trung Cộng dựng chính quyền, lại được thấy tình hình chân thực của thế giới sau khi quốc môn mở toang thập niên tám mươi thế kỷ trước, sẽ không chấp nhận Trung Cộng đưa Trung Quốc quay về những năm tháng hoang đường thắt lưng buộc bụng làm cách mạng nữa. Vì vậy, chế tài kinh tế của phương Tây đối với Trung Cộng gần như là đòn chí mạng.

Trung Cộng nhìn trúng tâm lý phương Tây không nỡ từ bỏ tiềm lực thị trường khổng lồ của Trung Quốc, liền triển khai đủ loại “trò chơi (đấu tranh) nhân quyền” lấy giao thiệp kinh tế làm mục đích. Để phá vỡ phong tỏa kinh tế, giành được viện trợ vốn và kỹ thuật của phương Tây, Trung Cộng trước tiên chìa cành ô-liu về phía phương Tây, tỏ ý tiếp tục quốc sách cải cách mở cửa; bề ngoài buộc phải chấp nhận một số điều kiện kèm theo về cải thiện nhân quyền, như trước khi Quốc hội Mỹ thẩm định thường niên thông qua quy chế tối huệ quốc thương mại cho Trung Quốc thì thả một hai “tù nhân lương tâm” trong nguồn cung lấy mãi không cạn, để thỏa mãn chỉ tiêu nhân quyền mà Quốc hội Mỹ liệt kê. Đồng thời, với cam kết cải thiện nhân quyền thì bằng mặt không bằng lòng, từ thực chất phá hoại sự giám sát của thế giới đối với hành vi nhân quyền của nó.

Từ sự vẫy đuôi cầu xin thương hại của Trung Cộng hai mươi năm trước đến thái độ “lắm tiền to giọng” ngày nay, người ta có thể thấy phẩm chất hèn kém đáng cười của cả nô tài lẫn chủ tử tập trung trên một thân Trung Cộng.

Đối kháng giá trị phổ quát

Điểm yếu chí mạng của Trung Cộng là bản chất chuyên chế một đảng của nó. Lý luận cộng sản chủ nghĩa và lý tưởng cộng sản chủ nghĩa qua mấy chục năm thực tiễn xã hội chủ nghĩa đã bị nhân dân Trung Quốc vứt bỏ. Việc Giang Trạch Dân kiên trì tín ngưỡng cộng sản chủ nghĩa là giả vờ, điểm này chính ông ta cũng thừa nhận không chối; “giương cao” ngọn cờ chủ nghĩa Mác chỉ là tấm vải che thẹn dùng để bảo vệ địa vị thống trị của ông ta. Nhưng nỗi khiếp sợ của Giang Trạch Dân đối với quan niệm giá trị phổ quát “dân chủ, tự do, nhân quyền” lại là hàng thật giá thật. Giang thâm sợ thứ “chủ nghĩa cộng sản” giả dối của Trung Cộng không chịu nổi sự xung kích của quan niệm giá trị phổ quát “dân chủ tự do nhân quyền” phương Tây, dẫn đến nền thống trị độc tài của Trung Cộng, chính quyền Trung Cộng tan rã. Hơn nữa, vết tích chà đạp nhân quyền của Giang lem nhem đầy mình: trước có tiền án chỉnh đốn tờ “Thế giới Kinh tế Đạo báo” Thượng Hải, sau có phát động cuộc đại bức hại thế kỷ trấn áp Pháp Luân Công, còn vì thế nhiều năm nhận “danh hiệu vẻ vang” “côn đồ nhân quyền” do “Ân xá Quốc tế” trao tặng. Vì vậy, Giang đối với quan niệm giá trị phổ quát phương Tây vừa hận vừa sợ, quyết chống đến cùng.

Để dập tắt và đối kháng những phê bình trên trường quốc tế, Giang và Trung Cộng dùng thủ pháp nhất quán: một mặt lợi dụng sự cám dỗ của lợi ích kinh tế làm suy yếu tiếng nói phê bình; mặt khác đánh tráo khái niệm nhân quyền, dùng những lý lẽ méo mó tựa đúng mà sai khuấy loạn tầm nhìn, trốn tránh áp lực quốc tế, và ra sức tiến hành phản tuyên truyền lý luận nhân quyền ra bên ngoài. Giang Trạch Dân phát biểu hàng loạt ngôn luận về việc chống lại quan niệm giá trị phổ quát dân chủ, tự do, nhân quyền:

“Mỹ hô hào gì dân chủ, gì tự do, gì nhân quyền, đều là giả cả!” (phát biểu khi khảo sát công tác tại Sơn Tây ngày 18 tháng 1 năm 1990). “Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa của chúng ta thể hiện nền dân chủ nhân dân rộng rãi nhất, phù hợp nhất với quốc tình nước ta, do đó là chế độ dân chủ tốt nhất.”

“Chúng ta hoàn toàn có thể lý trực khí tráng mà nói: chế độ Đại hội Đại biểu Nhân dân của chúng ta dân chủ hơn nhiều, ưu việt hơn nhiều so với chế độ ‘tam quyền phân lập’ của các nước phương Tây.”

“Chế độ hợp tác đa đảng và hiệp thương chính trị do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo… loại chế độ chính đảng này, từ căn bản đã khắc phục tệ nạn công kích lẫn nhau, chèn ép lẫn nhau của chế độ hai đảng hoặc đa đảng ở các nước tư bản phương Tây, có thể bảo đảm sự thống nhất hữu cơ giữa lãnh đạo tập trung với dân chủ rộng rãi, giữa tràn đầy sức sống với giàu hiệu suất.”

“Phương Tây thường mong chúng ta đều biến thành chủ nghĩa tư bản. Nếu trên thế giới đều thành ‘thiên hạ nhất thống’ của chủ nghĩa tư bản, chẳng phải quá đơn điệu sao.”【34】

Giang Trạch Dân kiêng dè địa vị thế giới của Mỹ và sự quan tâm trong lịch sử của nước này đối với nhân quyền các nước, nên khi nhắm vào giá trị phổ quát mà nhân loại cùng chia sẻ, càng chĩa mũi nhọn đấu tranh trọng điểm vào Mỹ. Giang nói: “Chính sách đối Hoa của Mỹ luôn có tính hai mặt: một mặt, tiến hành diễn biến hòa bình đối với nước ta luôn là mục tiêu chiến lược lâu dài của các thế lực phản Hoa ở Mỹ đối với nước ta. Mặt khác, Mỹ xuất phát từ nhu cầu chiến lược toàn cầu tự thân và nhu cầu lợi ích kinh tế thực tế, không nỡ bỏ thị trường khổng lồ của nước ta, buộc phải tìm kiếm hợp tác với nước ta trong công việc quốc tế… Mỹ đã áp dụng sách lược hai tay ‘vừa tiếp xúc vừa kiềm chế’ đối với ta, thì chúng ta cũng phải giảng sách lược, lấy hai tay đối hai tay, lấy đấu tranh thúc đẩy hợp tác.”【35】

Đồng thời, Giang phát chỉ lệnh: “Phải ra sức vạch trần tính lừa dối của ‘dân chủ’, ‘tự do’, ‘nhân quyền’ mà phương Tây tuyên truyền. Các thế lực thù địch phương Tây giương ngọn cờ ‘dân chủ’, ‘tự do’, ‘nhân quyền’ phát động tấn công vào ta, thông qua đủ loại kênh thẩm thấu vào ta, phản đối chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta. Chúng ta phải nghiêm túc đối phó, kiên quyết phản kích. Phải vạch trần thực chất và tính giả dối của ‘dân chủ’ phương Tây, nói rõ dân chủ của chúng ta là dân chủ nhân dân rộng rãi nhất, nói rõ Trung Quốc xã hội chủ nghĩa tôn trọng nhân quyền nhất, yêu quý con người nhất; nhân dân là chủ nhân của quốc gia, được hưởng dân chủ, tự do và quyền lợi chân chính.”【36】

Trung Cộng nêu ra rằng dân chủ, tự do, nhân quyền, v.v. những “giá trị phổ quát” của phương Tây không phải “giá trị phổ quát” chân chính. “Những kẻ tuyên dương ‘giá trị phổ quát’ chính là dưới ngọn cờ tự do, dân chủ, nhân quyền mà rao bán chế độ chính trị, quan niệm giá trị kiểu phương Tây, đây mới là thực chất và điểm cốt yếu của vấn đề.” “Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, công cụ ngoại giao của phương Tây liền dùng giá trị phổ quát thay thế ngọn cờ chống cộng trước kia. Nói về giá trị phổ quát, chính là những thứ phương Tây thường treo trên miệng: ‘dân chủ, tự do, nhân quyền, bình đẳng’, v.v. Khoan nói những thứ này có phải giá trị phổ quát được công nhận hay không; chỉ riêng việc phương Tây dốc sức, thậm chí cưỡng ép rao bán trên thế giới ngày nay, đã rất khiến người ta sinh nghi. Đặc biệt đối với Trung Quốc chúng ta, càng phải đánh một dấu hỏi.”【37】

Dưới chỉ thị của Giang Trạch Dân, Trung Cộng nắm vấn đề nhân quyền như một trọng điểm công tác đấu tranh đối ngoại; nhân quyền trở thành một chủ đề quan trọng trong tuyên truyền đối ngoại của Trung Quốc. Ngày 1 tháng 11 năm 1991, Văn phòng Báo chí Quốc vụ viện Trung Quốc công bố sách trắng đầu tiên nhan đề “Tình trạng nhân quyền của Trung Quốc”, tuyên bố “nhân quyền trước hết là quyền sinh tồn của nhân dân”; sự quan tâm của Mỹ cùng các nước phương Tây đối với nhân quyền Trung Quốc là “chủ nghĩa bá quyền và chính trị cường quyền vẫn đang tiếp diễn, nguy hại hòa bình và phát triển của thế giới. Lợi dụng nhân quyền can thiệp nội chính nước khác và thi hành ngoại giao cường quyền, đã cản trở việc thực hiện nhân quyền và các tự do cơ bản.”【38】Sau đó, sách trắng “Tình trạng nhân quyền của Trung Quốc” trở thành một tác phẩm “kinh điển” về nhân quyền của Trung Cộng, được sửa đổi xuất bản nhiều lần, và trên cơ sở đó biên soạn đủ loại tài liệu học tập.

Nhằm vào báo cáo hồ sơ nhân quyền thế giới thường niên của Bộ Ngoại giao Mỹ có ghi chép hành vi nhân quyền tồi tệ của Trung Cộng, Trung Cộng lại châm đối mạch nhọn làm ra một bản “Báo cáo hồ sơ nhân quyền của nước Mỹ” thường niên. Trung Cộng tổ chức nhân lực thu thập chỉnh lý từ những tài liệu công khai đăng trên truyền thông phương Tây, gia công tô vẽ thành báo cáo rồi thông qua Văn phòng Báo chí Quốc vụ viện phát hành, để “đôn đốc Mỹ nhìn thẳng vào vấn đề nhân quyền của chính mình”. Bản báo cáo đầu tiên công bố ngày 27 tháng 2 năm 2000, “Hồ sơ nhân quyền của nước Mỹ năm 1999”. Bản “hồ sơ nhân quyền Mỹ” này viết: “Mỹ phớt lờ những vấn đề nhân quyền nghiêm trọng tồn tại của chính mình, lại say mê thi hành cái gọi là ‘ngoại giao nhân quyền’, đem nhân quyền làm công cụ chính trị để bôi xấu hình ảnh nước khác và mưu cầu lợi ích chiến lược của mình, điều này phơi bày đầy đủ bộ mặt giả nhân giả nghĩa thực hành tiêu chuẩn kép trong vấn đề nhân quyền cùng mưu đồ bất lương mượn cớ nhân quyền thi hành chủ nghĩa bá quyền của nó.”【39】

“Đối thoại” nhân quyền đóng cửa, chia mà trị

Trung Cộng trong vấn đề nhân quyền còn giở một chiêu trò lớn: vấn đề nhân quyền chỉ được đóng cửa thảo luận, nếu không chính là “can thiệp nội chính Trung Quốc”. Giang tuyên bố: “Nhân quyền là vấn đề thuộc phạm vi chủ quyền của một quốc gia; các nước có bất đồng trong cách nhìn về vấn đề nhân quyền thì nên tiến hành đối thoại, chứ không nên làm đối kháng.” Giang Trạch Dân nói thẳng trước mặt Clinton: “Về những vấn đề như nhân quyền, có thể triển khai thảo luận trên cơ sở không can thiệp nội chính nước khác.”

Quan trọng hơn: với nước nào cũng có thể tách riêng ra mà đàm, chia mà trị, đến bao nhiêu đối phó bấy nhiêu, càng nhiều càng tốt. Để tất cả các nước còn chút khái niệm quan tâm nhân quyền phân tán thành từng đối thủ đơn lẻ, Trung Cộng điều khiển các nhóm đơn lẻ, phân tán đã dày dạn tôi luyện từ những năm chiến tranh, đối phó với ai cũng thuận tay quen việc. Đối phương chỉ cần chịu đến đàm riêng, chính là thừa nhận tính chính danh của Trung Cộng. Trong tình huống Trung Cộng chịu đàm “nhân quyền”, các nước phương Tây tổng không thể không chịu đàm; vậy thì năng lực các nước liên hợp lại để kiềm chế tình trạng bức hại nhân quyền xảy ra đã bị Trung Cộng từ đó phân hóa làm tan rã.

Đàm phán đối thoại là ngón nghề quen tay của Trung Cộng, nhất là đóng cửa mà đàm: lời to tát gì cũng nói được, cam kết gì cũng hứa được, mà ra khỏi cửa thì cái gì cũng có thể không làm, không chịu bất kỳ ràng buộc nào; cụ thể đàm gì, bên ngoài không biết, nhưng lại có thể lấp liếm dư luận bên ngoài. Trong lịch sử, ba lần đàm phán về hợp tác Quốc – Cộng giữa chính phủ Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch với Trung Cộng, lần nào cũng kết thúc bằng tiếng kêu trời mắc lừa.

“Nhân quyền” rốt cuộc thành đồ trang trí chính trị

Đối thoại nhân quyền Trung – Mỹ bắt đầu từ tháng 12 năm 1990 thời Giang: mỗi năm trợ lý ngoại trưởng Mỹ phụ trách sự vụ nhân quyền thăm Trung Quốc đối thoại, hoặc đoàn đại biểu phía Trung Quốc đến Washington đối thoại; đến tháng 12 năm 2002 tổng cộng cử hành 13 lần đối thoại, chỉ có điều không giải quyết được bất kỳ vấn đề nào và không đạt được bất kỳ tiến triển thực chất nào.【40】Mỗi lần đối thoại chẳng qua công thức hóa phát biểu thông cáo chung; thành quả lớn nhất thu được chẳng qua là những lời sáo rỗng kiểu “tăng tiến sự hiểu biết lẫn nhau của hai bên”.

Cùng với đà tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc, thái độ của Trung Cộng đối với đàm phán cũng ngày càng cứng rắn. Lời cảnh cáo quen dùng của Trung Cộng là: Trung Quốc quyết không dung thứ nước khác can thiệp nội chính Trung Quốc; Trung Quốc không sợ thái độ thù địch mà các nước khác thể hiện.

Ông Kamm của Quỹ Đối thoại (Dui Hua Foundation) trước kia ủng hộ đối thoại Trung – Mỹ, nhưng ông nói ông chuẩn bị thay đổi lập trường của mình: “Nếu chính phủ Trung Quốc chỉ muốn thảo luận vấn đề nhân quyền trên tầng ý thức rộng nghĩa, thì việc cả một đám người dùng tiền thuế của dân bay đến Bắc Kinh rất khó biện minh.” Kamm còn bổ sung: “Nếu gạt những con người cụ thể sang một bên mà đàm nhân quyền, thì tôi thấy kiểu đối thoại này không cần thiết tiếp tục nữa.”【41】

Nếu vào lúc khác mà nêu vấn đề nhân quyền một cách thực chất, Trung Cộng liền lập tức trở mặt. Do việc Giang Trạch Dân bức hại Pháp Luân Công cùng các vi phạm nhân quyền khác bị phơi bày trên trường quốc tế, năm 2004, khi Mỹ quyết định đề xuất tại kỳ họp thứ 60 của Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc dự thảo lên án Trung Cộng vi phạm nhân quyền, Trung Cộng lập tức phản ứng mạnh mẽ: khẩn cấp triệu kiến đại sứ Mỹ trú Hoa Randt, tuyên bố đình chỉ đối thoại và giao lưu nhân quyền hai bên.【42】Ngay cả trong các tiếp xúc chính thức Mỹ – Trung những năm về sau: vấn đề gì cũng đàm được, chỉ là không được chạm vào vấn đề Pháp Luân Công. Hễ nhắc đến Pháp Luân Công, đại biểu Trung Cộng liền lắc đầu xua tay, đứng dậy rời bàn, tuyệt khẩu không đàm. Bởi đây là “thất thốn” (điểm yếu chí mạng) của Trung Cộng,  không cách nào giải thích nổi vì sao lại bức hại vô lý đến thế đối với một quần thể người Hán diện rộng nhường ấy, lại là quần thể chỉ muốn làm người tốt.

Tuy sau sáu năm gián đoạn, từ ngày 24 đến 28 tháng 5 năm 2008, đối thoại nhân quyền Trung – Mỹ lần thứ 14 khôi phục cử hành tại Bắc Kinh, nhưng độ quan tâm của Mỹ và phương Tây đối với nhân quyền của Trung Cộng đã xảy ra biến đổi thực chất. Người ta dường như đã chấp nhận cái hiện thực trong đời sống hiện thực này: nhân quyền chỉ là một nghị đề để các chính trị gia trang trí mặt tiền mà thôi.

Trung Cộng dùng cùng một thủ pháp, triển khai “đối thoại nhân quyền” mãi không biết chán với các nước phương Tây. Ví dụ: từ năm 1997 bắt đầu mỗi nửa năm một lần đối thoại nhân quyền với EU; đối thoại nhân quyền Trung – Úc, Trung – Canada thường niên bắt đầu từ 1997; đối thoại nhân quyền Trung – Đức mỗi năm một lần bắt đầu từ 1999. Cũng như vậy, tất cả những cuộc đối thoại nhân quyền này: nhạt được thì đàm nhạt, lấp liếm được thì lấp liếm, đàm không xong thì mạnh ai nấy nói, chạm đến vấn đề thực chất thì đình chỉ đàm phán.

“Cây gậy” kinh tế, thương mại gắn với nhân quyền mang đặc sắc Trung Cộng

Dùng thủ đoạn kinh tế đối phó phê bình nhân quyền ở Trung Cộng sau khi được truyền máu kinh tế mà cảm thấy mình cường thịnh lên có công dụng mới.

Trong ngoại giao kinh tế, Trung Cộng không chỉ dùng chính sách “củ cà rốt”, có lúc cũng dùng “cây gậy”. Với những nước phê bình Trung Cộng trong vấn đề nhân quyền mà Trung Cộng tự cho là đối phó nổi, Trung Cộng không chút nương tay dùng thủ đoạn kinh tế chế tài, ép nước ấy phải câm lặng.

Trung Cộng lợi dụng quan hệ thương mại, liên thủ với các nước phương Tây khác để đối kháng dự thảo nhân quyền về Trung Quốc của Mỹ tại Liên Hợp Quốc.

Lần đầu Trung Cộng vận dụng đắc lực “cây gậy” kinh tế để thực hiện mục đích ngoại giao là vào năm 1997. Ngày 15 tháng 4, tại kỳ họp thứ 53 của Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc, dự thảo lên án tình trạng nhân quyền Trung Quốc do Mỹ, Anh, Đan Mạch đứng đầu đề xuất, mấy nước chính của EU là Pháp, Đức, Ý không tham gia đề xuất; Nhật Bản, Canada, Úc cũng không ký vào dự thảo này. Cuối cùng, dự thảo bị phủ quyết dưới hình thức không đưa ra thẩm nghị.

Bấy giờ Đan Mạch tại đại hội nhân quyền Liên Hợp Quốc chỉ đích danh công kích chính sách của Trung Quốc đối với dân tộc thiểu số và người bất đồng chính kiến. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc lập tức phản bác: “Tôi tin chính phủ Đan Mạch đề xuất dự thảo phản Hoa này là tự vác đá đập chân mình.” Đương nhiên không phải Đan Mạch “vác đá đập chân mình”, mà là Trung Cộng vác đá đập chân Đan Mạch: Trung Cộng lập tức hủy toàn bộ hợp đồng thương mại với quốc gia Scandinavia này.【43】

Năm 2002, Trung Cộng thao túng một số đồng minh thế giới thứ ba, đá Mỹ ra khỏi Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc, đến nỗi Mỹ tại đại hội lần ấy không còn quyền phát ngôn. Vì toan tính đơn hàng của Trung Quốc, không một quốc gia châu Âu nào chịu thách thức Trung Quốc trong vấn đề nhân quyền. Đại hội nhân quyền Liên Hợp Quốc không thông qua dự thảo phê bình tình trạng nhân quyền Trung Quốc.

Năm 2007, để trả đũa việc Thủ tướng Đức Merkel hội kiến Đạt Lai Lạt Ma vào tháng chín, Trung Quốc hủy đối thoại nhân quyền thường niên năm ấy.【44】

Năm 2008, Tổng thống Pháp Sarkozy hội kiến Đạt Lai Lạt Ma. Trung Quốc đưa ra kháng nghị mạnh mẽ, hoãn cuộc hội kiến lãnh đạo Trung – Âu lần thứ mười một dự định tổ chức đầu tháng 12 tại Pháp, và chấm dứt đàm phán các hợp đồng thương mại khổng lồ giữa Trung – Pháp. Đơn hàng thương mại 35 tỷ euro ấy đã phát huy tác dụng: Sarkozy cuối cùng xuất hiện tại Olympic Bắc Kinh.

Theo dòng thời gian trôi, những mâu thuẫn ngoại giao kiểu này giữa Trung Quốc và các nước phương Tây sẽ xảy ra ngày càng ít, thậm chí không còn xảy ra nữa. Không phải vì Trung Cộng thay đổi cách làm táng tận đạo đức của nó, mà là ngày càng nhiều nước phương Tây, trước lợi ích mà Trung Cộng cung cấp, từ bỏ dũng khí kiên thủ đạo đức, trước những chuyện đại thị đại phi trở nên giả điếc giả câm với Trung Cộng, hoặc cúi đầu vâng dạ.

Đúng như bà Hà Thanh Liên tổng kết trong một bài viết: “Nói toạc ra, Bắc Kinh hoàn toàn không sợ những phê bình bằng miệng của xã hội phương Tây; điều duy nhất nó lo là chế tài kinh tế toàn diện của các nước phương Tây. Nhưng từ khi Trung Quốc nhập WTO, xã hội phương Tây đã mất năng lực chế tài kinh tế đối với Trung Quốc. Trải qua đợt đầu tư dày đặc của thương nhân nước ngoài tại Trung Quốc từ giữa đến cuối thập niên 90 đến nay, hàng trăm công ty xuyên quốc gia lớn của phương Tây đã hình thành quan hệ lợi ích nghìn tơ vạn mối với thị trường Trung Quốc.” Những phê bình của thế giới phương Tây về tình trạng nhân quyền Trung Quốc xấu đi ngày càng giống làm cho có lệ, “một vẻ ‘chúng tôi nói rồi đấy, kết quả ra sao chúng tôi chẳng quản nổi’; còn sự phản bác của Trung Quốc thì ngày càng lên giọng cao ngạo, một tư thế cứng đầu cứng cổ kiểu ‘thì thế đấy, các người ngoài đấu võ mồm ra còn làm được gì’. Trạng thái này đã kéo dài nhiều năm rồi. Một mặt là mức độ hữu hiệu của sự can thiệp phương Tây giảm dần; mặt khác là cường độ duy trì ổn định trong nội bộ Trung Quốc tăng cường tình trạng nhân quyền Trung Quốc rốt cuộc xấu đi đến mức độ ngày nay.”

Dịch từ: https://www.epochtimes.com/b5/12/6/18/n3615162.htm

Bản dịch có thể được chỉnh sửa trong tương lai để sát hơn với nguyên tác.

Ngày đăng: 6-08-2026