CHƯƠNG 6: LẤY CÁI ÁC TRỊ QUỐC
【EpochTimes – 08/06/2012】“Là một công dân không ngừng nộp thuế, tôi một lần nữa yêu cầu chính phủ Trung Quốc trả lời câu hỏi của một công dân: các người có thừa nhận thể chế này hoàn toàn phi đạo đức hay không? Có thừa nhận rằng thể chế của chúng ta đã không còn thành ý và năng lực để đối mặt và giải quyết vấn đề này hay không? Các người có đạo đức và dũng khí để bảo đảm với toàn dân tộc rằng: tội ác như thế này sẽ lập tức chấm dứt và vĩnh viễn không bao giờ tái diễn hay không? Cần biết rằng, nhân dân chỉ đơn thuần yêu cầu chính phủ lập tức chấm dứt phạm tội!”- Cao Trí Thịnh
“Tôi muốn đặc biệt nhắc tới ở đây: chúng tôi tìm cách nói ra sự thật rằng dân tộc này liên tục bị bức hại đẫm máu, đặc biệt vào thời khắc này, cũng là để nhắc nhở toàn thể dân tộc chúng ta về tính nghiêm trọng và cấp bách của vấn đề mà dân tộc chúng ta đang đối mặt. Dân tộc chúng ta, mỗi cá nhân chúng ta, đã đến lúc phải nghiêm túc đối diện với vấn đề mà chúng ta đang gặp phải! Bất kỳ lý do nào, bất kỳ phương pháp truyền thống nào và bất kỳ sự trì hoãn nào, đều sẽ là tội ác đối với giá trị của toàn dân tộc chúng ta!… Qua hơn mười ngày điều tra, tôi lại một lần nữa nhìn thấy sự thật khiến tôi đau đớn tận xương tủy. ‘Phòng 610’, ít nhất có thể gọi nó như vậy là một tổ chức xã hội đen nằm trong và cao hơn cả chính quyền quốc gia, nó là tổ chức xã hội đen có thể thao túng, điều động mọi nguồn lực chính quyền. Một tổ chức không hề có trong hiến pháp quốc gia và trong cơ cấu quyền lực nhà nước, lại ‘thực thi’ quyền lực mà đáng lẽ chỉ cơ quan nhà nước mới được thực thi, và cả những ‘quyền lực’ mà ngay cả cơ quan nhà nước cũng căn bản không thể thực thi. Nó ‘thực thi’ loại quyền lực mà trên hành tinh này, kể từ khi nhân loại có nền văn minh quốc gia, chưa từng một quốc gia nào từng sở hữu…” Luật sư Cao Trí Thịnh đã viết như vậy trong thư gửi nhà cầm quyền Trung Cộng. [1]
Ngay trong lúc chúng tôi viết cuốn sách này, luật sư Cao Trí Thịnh, vì sự bảo vệ chính nghĩa lương tri, sự tôn nghiêm của pháp luật và đạo đức nhân loại, đang phải chịu sự bức hại tàn khốc phi nhân tính trong nhà tù của Trung Cộng.
Ủy ban Chính trị Pháp luật và “Phòng 610” đứng trên cả pháp luật, mô hình quyền lực của “610” chính là phương thức vận hành bộ máy nhà nước mà sau này Trung Cộng dùng để áp bức tất cả người dân Trung Quốc. Sở dĩ như vậy, phải bắt đầu từ hình thức tổ chức cơ cấu của Trung Cộng.
“Tiểu tổ lãnh đạo Văn Cách Trung ương” năm xưa đã đập tan hệ thống “công an – kiểm sát – tòa án” (công kiểm pháp), gán tội danh cho nhân viên hệ thống công kiểm pháp cũ rồi trực tiếp đánh đổ, gạt sang một bên. Nhìn chung, phần lớn những người trong hệ thống công kiểm pháp trước đây là nạn nhân, chứ không phải là kẻ gây tội ác. Bản thân những người này không có tội tổ tông, một khi quyết định khôi phục hệ thống pháp chế, chỉ cần để những người này trở lại chức vụ cũ là được. Nhưng việc mà “610” làm lại hoàn toàn ngược lại. “Ủy ban Chính trị Pháp luật” của Trung Cộng lãnh đạo “610” quản lý toàn bộ “công kiểm pháp tư”, khiến “610” có thể điều động toàn bộ hệ thống “công kiểm pháp tư” trực tiếp tham gia bức hại Pháp Luân Công. Bản thân hệ thống “công kiểm pháp tư” đã trở thành lực lượng nòng cốt trong cuộc bức hại này, người thực thi pháp luật trực tiếp biến thành kẻ dẫn đầu vi phạm pháp luật, biến “công kiểm pháp tư” thành những kẻ mang tội tổ tông (là cá nhân, thì luôn có người còn lương tri), từ đó mở rộng tội ác này ra ngoài phạm vi học viên Pháp Luân Công, khiến những người dân khác cũng trở thành nạn nhân của thể chế tư pháp thoái hóa này. Làm sao để khôi phục pháp chế? Đây mới chính là sự phá hủy triệt để đối với hệ thống pháp luật quốc gia. So sánh mà nói, sự phá hoại của “610” đối với tiến trình pháp chế còn vượt qua cả thời Văn Cách.
TIẾT 1: “PHÒNG 610” ĐỨNG TRÊN PHÁP LUẬT
Cơ quan điều phối nghị sự trực thuộc Trung ương Trung Cộng
Các cơ quan trực thuộc Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc được chia theo chức năng thành: bộ phận công tác trực thuộc (như Ủy ban Chính trị Pháp luật, Ban Tổ chức, Ban Tuyên truyền), cơ quan sự vụ trực thuộc (như Phòng Nghiên cứu Chính sách Trung ương, Cục Lưu trữ Trung ương), đơn vị sự nghiệp trực thuộc (như Trường Đảng Trung ương, Báo Nhân Dân), cơ quan phái xuất trực thuộc (như Ủy ban Công tác các Cơ quan Trực thuộc Trung ương), và cơ quan điều phối nghị sự trực thuộc (như Tiểu tổ Lãnh đạo Tài chính Kinh tế Trung ương, Tiểu tổ Lãnh đạo Xử lý Vấn đề Pháp Luân Công Trung ương). Việc thành lập, bãi bỏ hoặc sáp nhập các cơ quan trực thuộc này của Trung ương Trung Cộng do Ủy ban Biên chế Cơ cấu Trung ương đề xuất phương án, báo cáo Bộ Chính trị Trung ương Trung Cộng quyết định.
“Cơ quan điều phối nghị sự” là cơ quan được thành lập ngoài “cơ quan công tác theo quy định pháp định”, chịu trách nhiệm điều phối những sự vụ trọng đại liên quan đến nhiều bộ phận hoặc nhiều khu vực trong thời gian dài. Đơn vị thành viên thường bao gồm nhiều bộ phận của Trung ương Trung Cộng và Quốc vụ viện. Cả Trung ương Trung Cộng và Quốc vụ viện đều có thể thành lập cơ quan điều phối nghị sự của riêng mình (tương tự, các đảng ủy địa phương và chính quyền địa phương cũng có thể thành lập cơ quan điều phối nghị sự cấp địa phương). Cơ quan điều phối nghị sự thường được gọi là “Tiểu tổ Lãnh đạo XX”, “Bộ Chỉ huy XX”, “Ủy ban XX”, v.v. Cấp bậc của “cơ quan điều phối nghị sự” này thường khá cao. “Cơ quan điều phối nghị sự trực thuộc” của Trung ương, thường do Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Trung Cộng, hoặc Ủy viên Bộ Chính trị, đảm nhiệm người phụ trách cơ quan điều phối nghị sự, người phụ trách các ban ngành liên quan đảm nhiệm thành viên lãnh đạo, thường còn có văn phòng liên quan làm cơ quan sự vụ cụ thể.
Ngày 10/6/1999, Trung Cộng đã thành lập một “cơ quan điều phối nghị sự trực thuộc” đặc biệt là “Tiểu tổ Lãnh đạo Xử lý Vấn đề Pháp Luân Công Trung ương Trung Cộng”. Cơ quan sự vụ cụ thể trực thuộc tiểu tổ lãnh đạo này chính là “Văn phòng Tiểu tổ Lãnh đạo Xử lý Vấn đề Pháp Luân Công Trung ương Trung Cộng”, vì được thành lập vào ngày 10/6 nên văn phòng này được gọi tắt là “Phòng 610 Trung ương”.
Các đơn vị thành viên của “Tiểu tổ Lãnh đạo Xử lý Vấn đề Pháp Luân Công Trung ương” của Trung Cộng chuyên trách bức hại Pháp Luân Công rất nhiều, ngoài Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương giữ vai trò chủ đạo, các đơn vị thành viên của “tiểu tổ” này còn bao gồm: Bộ Công an, Bộ An ninh Quốc gia, Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Bộ Tư pháp, Tổng cục Phát thanh Truyền hình Điện ảnh Quốc gia, Tổng cục Thể thao Quốc gia, Văn phòng Pháp chế Quốc vụ viện, Văn phòng Ngoại sự Trung ương, Văn phòng Thông tin Quốc vụ viện, Tổng cục Quản lý Hành chính Công thương Quốc gia, Bộ Công nghiệp và Công nghệ Thông tin, Tổng cục Xuất bản Báo chí Quốc gia, Cục Bưu chính Quốc gia, Tổng Công hội Toàn quốc Trung Quốc, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản, Hội Liên hiệp Phụ nữ Toàn quốc Trung Quốc, Hội Khoa học Kỹ thuật Trung Quốc, và lực lượng Vũ cảnh. Từ cấp bậc của người phụ trách cơ quan điều phối nghị sự “Tiểu tổ Lãnh đạo Xử lý Vấn đề Pháp Luân Công Trung ương” và số lượng, phạm vi rộng lớn của các đơn vị thành viên tham gia, có thể thấy được mức độ và quy mô quyền lực công của nhà nước mà Giang Trạch Dân đã huy động để bức hại Pháp Luân Công khi đó, hoàn toàn là dốc toàn lực quốc gia, động viên toàn xã hội để bức hại Pháp Luân Công. Cũng chính vì tính chất của loại cơ quan điều phối nghị sự này, đã giải thích vì sao “Phòng 610” có thể trở thành một siêu cơ quan tà ác kiểu Gestapo, có thể đứng trên cả pháp luật.
QUỐC BẢO
Trong các bản tin về việc Trung Cộng bức hại Pháp Luân Công và những người bất đồng chính kiến, tù nhân lương tâm khác nhau, từ “Quốc bảo” xuất hiện rất thường xuyên. “Quốc bảo” chỉ cảnh sát thuộc bộ phận “Bảo vệ An ninh Nội địa”. Ở Bộ Công an gọi là “Tổng cục Bảo vệ An ninh Nội địa”, gọi tắt là “Cục Quốc bảo”; ở Sở Công an cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, khu tự trị gọi là “Tổng đội Quốc bảo”; ở Sở Công an cấp thành phố trực thuộc tỉnh gọi là “Chi đội Quốc bảo”; ở Sở Công an cấp thành phố trực thuộc huyện gọi là “Đại đội Quốc bảo”. “Phòng Bảo vệ An ninh Nội địa” ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc biên chế cục cấp hai.
Sau khi Trung Cộng giành chính quyền vào năm 1949, chính quyền đầu tiên trên thực tế là Ủy ban Quân quản. Chức năng của Ủy ban Quân quản là quân đội trực tiếp cử người ở lại, thành lập ủy ban quản chế quân sự. Ủy ban Quân quản lúc đầu đại diện cho chức năng chính phủ, chức năng chủ yếu nhất khi đó là trấn áp “phản cách mạng”, trấn áp những nhân viên lưu lại của Quốc Dân Đảng. Cùng với sự thành lập ban đầu của chính quyền Trung Cộng, cơ quan trị an trong Ủy ban Quân quản cũng đổi tên thành Sở Công an các địa phương. Ở chính phủ trung ương, thì thành lập Bộ Công an.
Nhiệm vụ thanh trừng “phần tử phản gián thù địch” và bảo vệ nội bộ của Ủy ban Quân quản trước đây, trở thành nhiệm vụ chính của Bộ Công an, đó là “trinh sát tình báo địch”, gọi là “địch trinh”, sau đổi gọi là “bảo vệ chính trị”, tức là “chính bảo”, luôn được xếp ở vị trí đầu tiên trong tất cả các bộ phận, ở Bộ Công an gọi là “Cục 1”, tức Cục Chính bảo; ở Sở Công an gọi là “Phòng 1”, tức Phòng Chính bảo; đến cấp quận huyện, gọi là “Khoa 1”, tức Khoa Chính bảo. Bên trong Chính bảo lại chia thành bộ phận phụ trách an ninh trong nước và an ninh nước ngoài. Năm 1983, Trung Cộng quyết định thành lập Bộ An ninh Quốc gia, phần Chính bảo phụ trách nước ngoài đã sáp nhập với Bộ Điều tra Trung ương, tổ chức thành Bộ An ninh Quốc gia. Nhưng, Sở (Cục) Công an các địa phương vẫn giữ lại biên chế Phòng Chính bảo cũ, số người còn lại của bộ phận này không còn nhiều, nhưng vẫn được xếp ở vị trí đầu tiên. Do đó chúng ta có thể thấy, chức năng của “Chính bảo” Trung Cộng chính là đả kích cái gọi là “kẻ thù giai cấp”.
Theo giới thiệu của ông Chung Quế Xuân, nguyên khoa trưởng Chính bảo Bắc Kinh, “Trong thời đại Trung Cộng ra sức phát động ‘vận động chính trị’, nghề ‘Chính bảo’ với nhiệm vụ đả kích ‘kẻ thù giai cấp’ rất được ưa chuộng, rất được Trung Cộng coi trọng, địa vị cũng rất cao. Nhưng, cùng với cải cách mở cửa, phát triển kinh tế trở thành chủ lưu, địa vị của Chính bảo không còn mạnh như trước. Thêm vào đó cùng với sự nâng cao địa vị của Cục An ninh, và sự phát triển của các loại hình công an khác nhau, Chính bảo của công an bị mờ nhạt đi, không còn quan trọng nữa. Có người đã đề xuất, muốn cắt bỏ mảng Chính bảo công an này, sáp nhập nó vào Cục An ninh Quốc gia. Nếu sáp nhập qua đó, đãi ngộ, địa vị đều sẽ giảm xuống, vì vậy người của Chính bảo cứ khăng khăng muốn giữ lấy tấm biển Chính bảo này. Nếu muốn giữ được địa vị của nó, giữ được tấm biển này, thì phải tạo ra vụ án, tạo ra những vụ án thật cứng để chứng minh sự cần thiết tồn tại của nó. Vì vậy, người của Chính bảo ngày ngày tìm kiếm cơ hội như vậy, tìm kiếm cơ hội để giữ được tấm biển Chính bảo. Thế là, nó phải sinh sự vô cớ, cố ý tạo ra một số sự việc, phải tìm kiếm cái gọi là kẻ thù trong quần chúng, tạo ra cái gọi là tổ chức bất hợp pháp, tạo ra cái gọi là ‘vụ án lớn’ về việc ai đó muốn lật đổ chính phủ, lật đổ chính quyền. Trước khi Giang Trạch Dân bắt đầu bức hại Pháp Luân Công năm 1999, sự quấy nhiễu của bộ phận công an đối với quần chúng luyện công Pháp Luân Công chính là xảy ra trong bối cảnh này. Trong hệ thống Chính bảo, nó đã bắt đầu tham gia điều tra ngầm, tịch thu, phạt tiền đối với các ấn phẩm của Pháp Luân Công từ năm 1996, sau đó là nghe lén, theo dõi, phái đặc vụ trà trộn vào quần chúng luyện công để dò xét ‘tình báo’, nhằm tạo ra kẻ thù, tìm cớ cho việc đàn áp.”
Đến năm 1999 khi Giang Trạch Dân coi Pháp Luân Công là “kẻ thù số một” của Trung Cộng để bức hại đẫm máu, thì tác dụng tà ác của Chính bảo Trung Cộng đã được phát huy mạnh mẽ, tầm quan trọng đối với Trung Cộng lại được thể hiện rõ. Theo người trong cuộc cho biết, nếu không phải vì bức hại Pháp Luân Công, “Chính bảo” (“Cục 1”, “Phòng 1”, “Khoa 1”) có lẽ đã bị bãi bỏ. Để kiếm chác tư bản chính trị thông qua việc bức hại Pháp Luân Công, “Chính bảo” vốn giỏi hại người, hoàn toàn không có lương tri, đã đặc biệt liều mạng trong việc bức hại Pháp Luân Công. Sau khi lấy được lòng kẻ cầm quyền, “Chính bảo” đã thay đổi hoàn toàn cảnh ngộ bị lạnh nhạt trong những năm chú trọng phát triển kinh tế trước đây, bắt đầu hoạt động sôi nổi trở lại, “chiêu binh mãi mã” bổ sung trang thiết bị tiên tiến, có hệ thống theo dõi, nghe lén điện thoại, bắt cóc, lục soát nhà, tra tấn ép cung và thu thập biên soạn cái gọi là “chứng cứ” để đưa đi lao giáo, kết án đối với học viên Pháp Luân Công trên toàn quốc. Kết quả của sự phát triển này là, đã liên lụy đến toàn thể nhân dân cả nước. Mọi người đều bị đặt vào phạm vi giám sát của Chính bảo.
Khoảng năm 2000-2001, để đánh lừa mọi người, Trung Cộng đã đổi tên “Chính bảo” thành “Bảo vệ An ninh Nội địa”, chính là cái tên “Quốc bảo” hiện nay. Cơ cấu nội bộ của Quốc bảo thường có các bộ phận trinh sát cơ động, chống lật đổ, chống tà giáo. Quốc bảo là cơ quan chủ yếu của Trung Cộng trong việc trấn áp, giám sát những người bất đồng chính kiến, người bảo vệ nhân quyền trong nước, là một trong những công cụ bạo lực chủ yếu của Trung Cộng để bức hại Pháp Luân Công.
Theo tài liệu của “Tổ chức Quốc tế Điều tra Bức hại Pháp Luân Công”, vào khoảng cuối năm 2000, Giang Trạch Dân đã đề xuất trong một cuộc họp rằng, hiệu quả vận hành của “610” ban đầu không lý tưởng, Sảnh An ninh Quốc gia, Sở Công an, Sở Công an các địa phương phải trực tiếp thành lập “Phòng 610”. Kể từ đó, đội trưởng hoặc phó đội trưởng “Tổng đội Bảo vệ An ninh Nội địa” thường kiêm nhiệm chủ nhiệm “Phòng 610” của Sở (Cục) Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Ví dụ, nguyên tổng đội trưởng Tổng đội Bảo vệ An ninh Nội địa thành phố Bắc Kinh Trương Hiến Lâm kiêm nhiệm chủ nhiệm “Phòng 610” của Sở Công an thành phố Bắc Kinh; nguyên phó tổng đội trưởng Tổng đội Bảo vệ An ninh Nội địa Sở Công an tỉnh Tứ Xuyên Lý Khắc Lực kiêm nhiệm chủ nhiệm “Phòng 610” của Sở Công an tỉnh Tứ Xuyên.
TIẾT 2: ỦY BAN CHÍNH TRỊ PHÁP LUẬT TRUNG CỘNG
Ở Trung Quốc, hệ thống tư pháp chưa bao giờ độc lập, nó chịu sự khống chế nghiêm trọng của Đảng Cộng sản. Ủy ban Chính trị Pháp luật với tư cách là cơ quan của Đảng Cộng sản Trung Quốc, thường xuyên được dùng để can thiệp vào cơ quan pháp luật. Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương tuyên bố: “Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương là bộ phận chức năng của Trung ương Đảng lãnh đạo và quản lý công tác chính trị pháp luật.” Ở cấp trung ương, Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương thao túng phía sau hậu trường đối với Tòa án Tối cao, Viện Kiểm sát Tối cao, Bộ Công an, Bộ An ninh Quốc gia và Bộ Tư pháp. Ở các cấp chính quyền Trung Quốc cũng có cách bố trí tương tự, mỗi cấp Ủy ban Chính trị Pháp luật thao túng các bộ phận liên quan cùng cấp. Phần lớn “Phòng 610” được đặt trong Ủy ban Chính trị Pháp luật, điều này khiến cho công việc giam giữ và bỏ tù của “Phòng 610” dễ dàng thực hiện hơn.
Đầu thập niên 1960, Trung ương Trung Cộng đã thành lập “Tiểu tổ Lãnh đạo Công tác Chính trị Pháp luật Trung ương”. Cùng với sự bắt đầu của “Đại Cách mạng Văn hóa”, tiểu tổ này bị bãi bỏ. Đầu thập niên 1980, Trung ương Trung Cộng lại quyết định thành lập Ủy ban Chính trị Pháp luật. Sau Đại hội 13 của Trung Cộng năm 1987, từng quyết định bãi bỏ Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương, cơ quan can thiệp trắng trợn vào sự độc lập tư pháp này.
Nhưng sau khi Giang Trạch Dân lên nắm quyền, để tăng cường quyền lực độc tài của mình, việc tách Đảng khỏi chính quyền không còn được nhắc tới nữa, sự công bằng tư pháp cũng không còn được đề cập nữa. Đầu năm 1990, Trung Cộng ban hành “Thông báo về việc Duy trì Ổn định Xã hội, Tăng cường Công tác Chính trị Pháp luật”, “quyết định khôi phục Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương”. Tháng 6/1995, Văn phòng Trung ương Trung Cộng ban hành “Thông báo về việc Chuyển phát ‘Thông báo của Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương Trung Cộng về việc Tăng cường Công tác của Ủy ban Chính trị Pháp luật các cấp Đảng ủy'” (Văn kiện số [1995] 28), yêu cầu rõ ràng rằng “Ủy ban Chính trị Pháp luật của đảng ủy các cấp là bộ phận chức năng của đảng lãnh đạo công tác chính trị pháp luật”. Tháng 4/1999, Trung Cộng ban hành văn kiện Trung phát [1999] số 6 mang tên “Quyết định về việc Tiếp tục Tăng cường Xây dựng Đội ngũ Cán bộ Chính trị Pháp luật”, tuyên bố “Ủy ban Chính trị Pháp luật là bộ phận chức năng của đảng ủy các cấp lãnh đạo, quản lý công tác chính trị pháp luật”. Bộ trưởng Công an, Viện trưởng Viện Kiểm sát Tối cao, Chánh án Tòa án Tối cao đều là ủy viên của Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương, đều phải báo cáo công tác với Bí thư Ủy ban Chính trị Pháp luật. Ủy ban Chính trị Pháp luật của Trung Cộng còn cùng Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật chỉ huy chung bộ phận giám sát của chính phủ, cùng Quân ủy chỉ huy chung lực lượng Vũ cảnh. Ủy ban Chính trị Pháp luật với tư cách là cơ quan chính thức của Trung ương Trung Cộng, đã trở thành tổ chức điển hình của việc đảng can thiệp vào chính quyền, phá hoại sự độc lập tư pháp.
Nhà hoạt động nhân quyền Trung Quốc Lữ Cảnh Tùng từng viết bài trên tạp chí “Bắc Kinh Xuân Thu”, dẫn chứng sự thật lịch sử, luận chứng pháp lý và ý kiến học giả cho rằng, Ủy ban Chính trị Pháp luật là tổ chức đặc vụ lớn nhất Trung Quốc, sự tồn tại của Ủy ban Chính trị Pháp luật tự nó đã vi phạm Điều 126 Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa: “Tòa án Nhân dân thực hiện quyền xét xử độc lập theo quy định pháp luật, không chịu sự can thiệp của cơ quan hành chính, đoàn thể xã hội và cá nhân.” [2] Do đó Ủy ban Chính trị Pháp luật là một tổ chức vi hiến thiếu căn cứ pháp luật, phá hoại sự độc lập tư pháp. Ở Trung Quốc, Chánh án Tòa án Tối cao lại phải báo cáo công tác với Bộ trưởng Công an, có thể nói là nỗi bi ai của tư pháp Trung Quốc. Khi Chu Vĩnh Khang giữ chức Bộ trưởng Công an, Chu là Phó Bí thư Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương, còn Chánh án Tòa án Tối cao khi đó là Tiêu Dương chỉ là ủy viên Ủy ban Chính trị Pháp luật, vì vậy, Bộ trưởng Công an vẫn là cấp trên trực tiếp của Chánh án Tòa án. Hiện tượng tư pháp kỳ quái này trong hệ thống của Trung Cộng lại là chuyện thường tình, rất nhiều nơi Bí thư Ủy ban Chính trị Pháp luật đều kiêm nhiệm Sở trưởng (Cục trưởng) Công an. Ví dụ, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Hà Bắc, Bí thư Ủy ban Chính trị Pháp luật Trương Việt, đồng thời là Bí thư Đảng ủy, Sở trưởng Sở Công an tỉnh, và Chính ủy thứ nhất, Bí thư Đảng ủy thứ nhất của Tổng đội Vũ cảnh tỉnh Hà Bắc.
Theo nguyên tắc độc lập tư pháp hiện đại, ba cơ quan công an, kiểm sát, tòa án phải độc lập với nhau, nhưng Ủy ban Chính trị Pháp luật lại cứ nhất định trộn ba cơ quan này lại với nhau, hơn nữa còn đứng trên cả ba cơ quan này, thực hiện “phối hợp xử lý vụ án”. Sự khống chế của Ủy ban Chính trị Pháp luật đối với hệ thống công an, kiểm sát, tòa án, tư pháp, an ninh, khiến cho sự độc lập tư pháp dưới sự thống trị của Trung Cộng hoàn toàn trở thành ảo tưởng hão huyền. Hậu quả của việc làm này là, cảnh sát thu thập chứng cứ theo nhu cầu khởi tố của viện kiểm sát; viện kiểm sát lại khởi tố theo nhu cầu tuyên án của tòa án. Dù những năm gần đây trong “cải cách” tư pháp của Trung Cộng cũng luôn tuyên bố muốn tăng cường sự độc lập tư pháp, nhưng, trong phong trào đàn áp chính trị trên toàn quốc mà Trung Cộng phát động, sự độc lập tư pháp đã hoàn toàn không còn tồn tại, mọi thứ đều xoay quanh ý chí của Trung Cộng để tiến hành. Điều này thể hiện đặc biệt rõ ràng trong phong trào chính trị bức hại Pháp Luân Công do “Phòng 610” thao túng.
TIẾT 3: PHÁP TRỊ THỤT LÙI
Sau mười năm “Đại Cách mạng Văn hóa” đập tan hệ thống “công kiểm pháp”, Trung Cộng phải đối mặt với cuộc khủng hoảng chính trị và kinh tế chưa từng có. Hội nghị Trung ương 3 khóa 11 của Trung Cộng năm 1978 được coi là một bước ngoặt, bắt đầu cải cách mở cửa. Là mỗi cá nhân trong thể chế Trung Cộng mà nói, rất nhiều người bản thân chính là nạn nhân vô pháp vô thiên của Văn Cách, vì vậy, sau khi khởi động cải cách mở cửa, việc xây dựng pháp chế rất nhanh đã được đưa vào chương trình nghị sự. Hội nghị Trung ương 3 khóa 11 của Trung Cộng đã đề ra phương châm mười sáu chữ về xây dựng pháp chế, đó là “có luật để dựa vào, có luật ắt phải theo, thực thi pháp luật phải nghiêm, vi phạm pháp luật ắt phải truy cứu”. Năm 1982 đã công bố thi hành bản hiến pháp thứ tư kể từ khi Trung Cộng thành lập chính quyền, sau đó, tiến trình xây dựng pháp chế kể cả sau sự kiện “Lục Tứ” cũng không bị gián đoạn, Đặng Tiểu Bình trong chuyến thị sát phương Nam năm 1992 đã đề xuất “vẫn phải dựa vào pháp chế, làm theo pháp chế mới đáng tin cậy hơn”, Đặng Tiểu Bình đối với tình trạng hỗn loạn của Văn Cách quả thực vẫn còn dư âm lo sợ. Tháng 9/1997, báo cáo Đại hội 15 của Trung Cộng lần đầu tiên xác lập “trị quốc theo pháp luật” thành phương lược cơ bản trị quốc. Tính đến cuối năm 1997, cả nước đã có 8.441 văn phòng luật sư, 100.198 luật sư; cả nước có 35.207 văn phòng dịch vụ pháp luật cấp xã, phường, 119.155 nhân viên dịch vụ pháp luật, đảm nhiệm cố vấn pháp luật cho 488.569 xí nghiệp hương trấn. Tháng 3/1999, “Tu chính án Hiến pháp” lại đưa “trị quốc theo pháp luật” vào hiến pháp.
Việc xây dựng pháp chế kể từ khi Trung Cộng cải cách mở cửa phần lớn lấy bài học đau đớn của “Đại Cách mạng Văn hóa” làm bối cảnh. Trong Văn Cách, dù quý như Chủ tịch nước, cũng không thể bảo đảm được quyền lợi cơ bản của bản thân, không thể thoát khỏi số phận bị đấu tố tùy tiện và hành hạ đến chết. Vì vậy, việc “trị quốc theo pháp luật” được đưa vào hiến pháp tháng 3/1999 quả thực khiến người Trung Quốc cảm thấy vô cùng phấn khích, dường như cảm thấy Đảng Cộng sản đã bước lên con đường không thể quay lại của việc từ bỏ Văn Cách, tiến trình pháp chế sẽ không còn bị gián đoạn nữa.
Nhưng, “pháp trị” dù sao cũng không phải là “pháp chế”. Trung Cộng dù có ban hành bao nhiêu luật pháp, đều là nhắm vào dân thường, còn “nhân trị” của kẻ độc tài đã sinh ra mầm họa Văn Cách, vẫn là cốt lõi trong sự thống trị của Trung Cộng. Đúng lúc mọi người đang cảm thấy vô cùng phấn khích về việc “trị quốc theo pháp luật” của Trung Cộng được đưa vào hiến pháp chỉ vài tháng sau đó, thì nền xây dựng pháp chế vốn đã mong manh của Trung Cộng đã gặp phải tai họa diệt vong.
Vi phạm pháp luật dưới danh nghĩa pháp luật
Phần trước đã nói qua, ngay từ đầu việc Trung Cộng bức hại Pháp Luân Công đã là vi phạm pháp luật, điều này không chỉ nói rằng hiến pháp Trung Quốc quy định người Trung Quốc đều có quyền tự do ngôn luận và tín ngưỡng, mà còn nói rằng, pháp luật Trung Quốc chưa bao giờ có điều khoản pháp luật nào về việc Pháp Luân Công là tà giáo, về mặt pháp lý căn bản không thể tìm thấy điều khoản nào liên quan đến việc này. Con đường mà Trung Cộng bức hại Pháp Luân Công đi theo là đảng lợi dụng quyền lực công để đả kích bất hợp pháp đối với người tu luyện Pháp Luân Công. Dù nhóm người bức hại Pháp Luân Công luôn mượn hình thức pháp luật để triển khai đàn áp Pháp Luân Công, nhưng về mặt pháp luật chưa bao giờ định tính Pháp Luân Công. “Nhân Dân Nhật báo” và Đài Truyền hình Trung ương nói Pháp Luân Công là tà giáo, nhưng đó không phải là pháp luật, không có hiệu lực pháp luật. Trung Cộng có thể không cho phép đảng viên của mình luyện Pháp Luân Công, nếu người đó thực sự kiên trì tu luyện Pháp Luân Công, tổ chức đảng của Trung Cộng có thể khai trừ đảng người đó, nhưng không thể vì thế mà ràng buộc dân thường bình thường, càng không thể vì thế mà sử dụng biện pháp pháp luật để bức hại. Ngay cả trong văn kiện mà Bộ Công an của Trung Cộng ban hành năm 1995, trong danh sách mười một loại tà giáo được công bố cũng không hề đề cập đến Pháp Luân Công, do đó, nói Pháp Luân Công là tà giáo chỉ là ý muốn chủ quan một chiều của Trung Cộng, nó không có bất kỳ hiệu lực pháp luật nào.
Cái gọi là trình tự tư pháp mà Trung Cộng dùng để bức hại học viên Pháp Luân Công, chủ yếu là dùng Điều 300 “Bộ luật Hình sự” về “tội lợi dụng tổ chức tà giáo phá hoại việc thực thi pháp luật, pháp quy hành chính” để kết tội học viên Pháp Luân Công, mượn danh nghĩa pháp luật để che đậy sự bức hại, khiến cho việc bức hại có vẻ “hợp pháp hóa”, dùng thủ đoạn thấp kém để lừa gạt các giới.
Ngay từ ngày 29/7/1999, Sở Tư pháp thành phố Bắc Kinh đã ban hành văn kiện, nghiêm cấm luật sư bào chữa cho các vụ án Pháp Luân Công. Ngày 2/9/1999, Chánh án Tòa án Cấp cao tỉnh Quảng Đông Lã Bá Đào trong bài phát biểu tại hội nghị chánh án tòa án trung cấp toàn tỉnh đã yêu cầu rõ ràng, “đối với các vụ kiện dân sự phát sinh vì vấn đề Pháp Luân Công, về nguyên tắc không thụ lý”; còn đối với việc Pháp Luân Công bị “cấm đoán bất hợp pháp, ấn phẩm bị tịch thu tiêu hủy bất hợp pháp” và học viên Pháp Luân Công bị “giam giữ thẩm tra bất hợp pháp” mà đề khởi tố hành chính, thì “nhất loạt không thụ lý”. Những người quen thuộc với sự việc Trung Quốc đều biết, đây là chỉ thị từ cấp trên, không chỉ giới hạn ở Bắc Kinh, Quảng Đông, mà là trên toàn quốc. Điều này cho thấy ngay từ giai đoạn đầu của cuộc bức hại, Trung Cộng đã chặn đứng con đường cứu trợ pháp lý đối với Pháp Luân Công. Điều này cũng khiến cho các cơ quan chính phủ và quan chức do Trung Cộng khống chế có thể tùy tiện làm càn, vô pháp vô thiên đối với Pháp Luân Công, nhưng lại không cho phép học viên Pháp Luân Công kiện những hành vi xâm phạm và vi phạm pháp luật của các cơ quan, nhân viên này.
Luật sư Cao Trí Thịnh, một trong “mười luật sư xuất sắc toàn quốc” của Trung Quốc, nổi tiếng trong ngành với danh hiệu “luật sư bảo vệ nhân quyền”, từng vì vụ án của học viên Pháp Luân Công Hoàng Vĩ mà chạy đôn chạy đáo qua hai cấp ba tòa án ở thành phố Thạch Gia Trang, nhưng mọi nỗ lực thụ lý đều không có kết quả. Ông được thông báo rằng “hiện nay cấp trên có quy định, phàm là vụ án liên quan đến Pháp Luân Công đều nhất loạt không thụ lý, và không cấp bất kỳ thủ tục nào”. Dù việc có thụ lý vụ án hay không phải theo quy định pháp luật quốc gia mà làm, nhưng một vị thẩm phán được gọi là “chánh tòa” đã nói với luật sư Cao rằng, “ông không phải là đảng viên sao, tinh thần đại hội đại biểu đảng ông cũng chưa học qua à, luật sư không được phép nhận loại vụ án này ông có biết không, tòa án đều là của Đảng Cộng sản, pháp luật cũng do Đảng Cộng sản định ra, hiện nay cấp trên có quy định nói không được thụ lý, thì chính là không thụ lý, ông muốn tìm ai thì cứ đi mà tìm, muốn kiện ở đâu thì cứ đi mà kiện”.
Trong “Thư ngỏ gửi Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc và Chủ tịch Ngô Bang Quốc” của luật sư Cao Trí Thịnh, ông viết, “Từ góc độ nguyên tắc pháp luật đã có, đối với việc hình phạt và xử phạt nhân viên Pháp Luân Công tồn tại những cách làm hoàn toàn trái với nguyên tắc pháp luật cơ bản, tinh thần pháp trị hiện đại như sau:
“Một, pháp luật không có hiệu lực hồi tố là nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Hình sự nước ta, tức Bộ luật Hình sự không có chức năng điều chỉnh đối với hành vi trước khi nó được ban hành thực thi. Sau khi ‘Quyết định về việc Trấn áp Tổ chức Tà giáo, Phòng ngừa và Trừng trị Hoạt động Tà giáo’ (sau đây gọi là ‘Quyết định’) của Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc được ban hành ngày 30/10/1999, chỉ là về mặt hình thức đã bù đắp lỗ hổng ‘tội hình pháp định’. Mà sau đó việc hình phạt đối với đại đa số công dân tu luyện Pháp Luân Công lại hoàn toàn nhắm vào hành vi của họ trước khi ‘Quyết định’ được ban hành, việc Hoàng Vĩ bị lao giáo vào tháng 11/1999 (mực in của ‘Quyết định’ còn chưa khô) hoàn toàn thuộc tình huống này. Cách làm này đã công khai, trong thời gian dài, trên quy mô lớn vi phạm nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Hình sự nước ta, tức đại đa số công dân bị tống vào tù trong tình huống vi phạm nguyên tắc pháp luật cơ bản hiện hành của nước ta.
“Hai, dù là ở các nước theo hệ thống luật thành văn, hay ở các nước theo hệ thống thông luật, những gì luật hình sự điều chỉnh (cách gọi quen thuộc ở nước ta là ‘đả kích’) chỉ có thể là hành vi của con người chứ không thể là tư tưởng của con người hay thân phận của một loại người nào đó, đây cũng là thành quả văn minh luật hình sự phổ quát của toàn nhân loại. Rất nhiều công dân tu luyện Pháp Luân Công bị định tội vì họ có thân phận là người của Pháp Luân Công, việc Hoàng Vĩ lần này bị lao giáo là ví dụ rõ ràng nhất. Đây là sự phản động đối với văn minh pháp trị hiện đại. Hậu quả trực tiếp mà cách làm này mang lại là sự tùy tiện đối với tiêu chuẩn phổ quát của pháp luật, gây tổn hại hiện thực, lâu dài đối với nỗ lực xây dựng và theo đuổi xã hội pháp trị của quốc gia.
“Ba, ‘Quyết định’ không có bất kỳ định nghĩa pháp luật nào có thể dùng để phán đoán chính xác trong xét xử tư pháp đối với người tu luyện Pháp Luân Công, hành vi Pháp Luân Công của người tu luyện Pháp Luân Công, tổ chức Pháp Luân Công, mối quan hệ giữa người tu luyện Pháp Luân Công và tổ chức Pháp Luân Công, mối quan hệ giữa tổ chức tà giáo, tổ chức Pháp Luân Công và tổ chức tà giáo, thế nào là tổ chức tà giáo? Hành vi gì của người tu luyện Pháp Luân Công và hành vi gì của tổ chức Pháp Luân Công là phạm tội tà giáo. Khiến cho việc hình phạt và xử phạt đối với đại đa số người của Pháp Luân Công đều rập khuôn dùng lý do ‘lợi dụng tổ chức tà giáo, phá hoại việc thực thi pháp luật quốc gia’. Còn việc có tổ chức tà giáo nào có thể bị người bị hình phạt lợi dụng hay không, có thực sự lợi dụng tổ chức tà giáo hay không, đã lợi dụng tổ chức tà giáo vào thời gian nào ở địa điểm nào như thế nào, có thực hiện phá hoại việc thực thi pháp luật quốc gia hay không, đã phá hoại việc thực thi pháp luật quốc gia như thế nào, những tội trạng của người bị phạt mà bản án hình sự nhất định phải trình bày rõ hầu như đều không có.
“Bốn, sự tùy tiện của việc lao giáo đối với người của Pháp Luân Công ở một số địa phương khiến người ta đau lòng… Tước đoạt quyền tự do thân thể của một công dân trong nhiều năm, mà đối với người bị tước đoạt quyền tự do thân thể, lại không hề có bất kỳ trình tự nào để trình bày, biện hộ và điều trần. Một quyết định lao giáo khi được gửi đến tay người bị xử phạt, thì lập tức bị đưa vào trại lao giáo… Trong tình huống toàn thể công dân bao gồm cả cảnh sát đều biết rõ chế độ lao giáo vi phạm hiến pháp, luật pháp cơ bản, vi phạm văn minh pháp chế hiện đại, mà vẫn tiếp tục kiên trì thực hiện, quốc gia sẽ phải gánh chịu cái giá phi đạo nghĩa, phi văn minh ngày càng lớn.
“Năm, sự dung túng và khuyến khích mang tính thể chế của chính quyền quốc gia và địa phương đối với những hiện tượng xấu xa nói trên mang lại hậu quả trực tiếp nhất, là sự đầu độc mang tính ác tính đối với phẩm hạnh của nhân viên tư pháp. Trong vụ án Hoàng Vĩ, sự lệch lạc vai trò và sự sa đọa đạo đức nghề nghiệp của nhân viên tư pháp đã đến mức khiến xã hội văn minh không thể chấp nhận, càng khiến người ta sợ hãi hơn là họ không lấy đó làm hổ thẹn. Thẩm phán, tòa án, là người gác cổng giá trị pháp luật, sự tự trọng nghề nghiệp, tu dưỡng chuyên môn và tác dụng của chế độ văn minh của họ, khiến họ luôn cảnh giác bản năng đối với bất kỳ khả năng đi ngược lại giá trị pháp luật nào. Đây là trạng thái phổ quát về cảnh giới giá trị của thẩm phán, tòa án trong xã hội văn minh thể chế của toàn nhân loại. Trong nỗ lực thụ lý vụ án cho Hoàng Vĩ, người ta thấy điều ngược lại. Thẩm phán, tòa án vẫn đóng vai ‘người gác cổng’, nhưng họ đã không còn một chút trách nhiệm và đạo đức nào đối với giá trị pháp luật quốc gia, tinh thần pháp trị. Họ như những con chó xông vào bất kỳ ai có ý đồ tuyên dương giá trị pháp luật quốc gia. Họ không còn chút kính sợ nào đối với sự thiêng liêng của nghề nghiệp, mỗi ngày họ không tiếc công sức tích lũy đánh giá tiêu cực về đạo nghĩa và văn minh trong việc vận hành quyền lực của quốc gia này, khiến người ta vô cùng đau lòng.” [3]
Ngày 18/10/2005, luật sư Cao Trí Thịnh lại công bố “Thư ngỏ gửi Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo”:
“Sự bức hại của một số chính quyền địa phương đối với đồng bào tín ngưỡng Pháp Luân Công đã đến mức hoàn toàn tùy tiện, chúng tôi không thể chấp nhận loại bạo hành công khai phản nhân loại này xảy ra trong xã hội loài người thế kỷ 21, xảy ra trong hiện thực của Trung Quốc ngày nay khi vẫn có chính phủ tồn tại… Đối với sự bức hại dã man liên tục đang công khai xảy ra đối với những người tín ngưỡng vô tội mà phụ nữ trẻ em Trung Quốc ngày nay ai cũng biết, nếu hai vị không biết, đó là một tội lỗi của các vị đối với người dân trong nước; nếu biết mà không ngăn chặn, điều này có gì khác với tội ác của kẻ trực tiếp làm điều ác?… Trong cuộc đại nạn bức hại nhắm vào người tín ngưỡng Pháp Luân Công này, một số thứ tà ác dù hình thức đã biến mất nhưng bản chất vẫn còn tồn tại, tội ác liên tục không ngừng không chỉ khiến vô số nam nữ thiện lương chịu oan khuất thậm chí ôm hận mà chết, sự bức hại hoàn toàn trái với nhân tính cơ bản này đến nay vẫn đang tiếp diễn, đồng thời bị kéo dài theo đó là hình ảnh chính phủ và hình ảnh quốc gia của chúng ta liên tục bị tổn hại, bao gồm cả phương diện pháp luật, phương diện đạo đức và phương diện văn minh nhân tính.
“Trung Quốc là nước ký kết ‘Tuyên ngôn Nhân quyền Thế giới’… Dù là chuẩn tắc luật pháp quốc tế hay luật căn bản của chính Trung Quốc, đều tuyệt đối không cho phép bất kỳ ai lấy bất kỳ lý do gì để xâm phạm nhân quyền, bức hại đồng bào của mình một cách vô nhân đạo.” [4]
Trong lá thư ngỏ dâng lên lần thứ ba, luật sư Cao Trí Thịnh nói:
“Nguồn gốc của cái ác đáng hổ thẹn trong xã hội chúng ta chính là chế độ lao giáo đã gây ra vô số tai họa cho dân tộc chúng ta trong hơn nửa thế kỷ qua. Chế độ lao giáo, với tư cách là hành vi xấu xa trần trụi của Quốc vụ viện Trung Quốc trong việc lăng nhục và chà đạp thô bạo nguyên tắc hiến pháp quốc gia, đã liên tục được duy trì trong những ngày quốc gia Trung Quốc có hiến pháp. Trong lịch sử nhân loại, không có chính phủ của quốc gia nào có thể hoàn toàn không coi hiến pháp của quốc gia mình ra gì như Quốc vụ viện Trung Quốc, chế độ lao giáo kể từ ngày quốc gia này có hiến pháp đã khiến hiến pháp quốc gia luôn ở trong tình cảnh khó xử, nó cho thấy sự vô pháp vô thiên và trò lừa bịp gọi là trị quốc theo pháp luật của chính phủ Trung Cộng… Việc chế độ lao giáo tiếp tục bị Quốc vụ viện Trung Quốc nắm giữ một cách xấu xa, với tư cách là một tấm gương xấu liên tục, có mặt khắp nơi, xấu xa nhất, chà đạp hiến pháp, không chỉ trở thành công cụ dã man tước đoạt bất hợp pháp quyền lợi hiến pháp, pháp luật của công dân. Về căn bản, đó là khiếm khuyết thể chế phản động nhất đối với việc Trung Quốc bước đến pháp trị. Chế độ lao giáo, là kẻ thù lớn nhất của hiến pháp Trung Quốc, nguyên tắc pháp luật cơ bản và ngày mai pháp trị mà nhân dân Trung Quốc theo đuổi. Cuộc điều tra lần này của chúng tôi không chỉ cho thấy, sự phản động của chế độ lao giáo đối với giá trị trị quốc theo pháp luật của Trung Quốc, càng khiến người ta rùng mình hơn, là sự tùy tiện, tính phổ biến vượt ngoài sức tưởng tượng của người bình thường trong việc bị lạm dụng triệt để trong việc tước đoạt bất hợp pháp quyền lợi pháp luật của công dân, và sức sống ngày càng mạnh mẽ của nó trong việc hoàn thành áp chế quyền lợi cơ bản của nhân dân ở chính quyền cơ sở.” [5]
Chỉ thị của “610”: “Không được tuyên án vô tội đối với Pháp Luân Công”
Ngoài việc Ủy ban Chính trị Pháp luật, “610” thao túng công kiểm pháp tư ngoài pháp luật, bản thân tòa án của Trung Cộng chính là hoạt động trong hộp đen. Trong tòa án có một “Ủy ban Xét xử”, ủy ban xét xử này là tổ chức xét xử cao nhất trong nội bộ tòa án, chỉ đạo việc xét xử tất cả các “vụ án khó, phức tạp, trọng đại”. Tức là thẩm phán chỉ xét xử trên bề mặt, nhưng không có quyền quyết định cuối cùng, mà ủy ban xét xử này, không ra mặt xét xử, nhưng có quyền quyết định cuối cùng. Thành viên của ủy ban xét xử này ngoài viện trưởng, phó viện trưởng ra, các thành viên khác về cơ bản là bí mật, không được bên ngoài biết đến, hoạt động trong hộp đen phía sau hậu trường. Tức là thành viên của “Ủy ban Xét xử” không minh bạch, vận hành không minh bạch, việc xét xử đối với cái gọi là vụ án lớn, vụ án đặc biệt, v.v. hoàn toàn không minh bạch. Trung Cộng coi Pháp Luân Công là vụ án trọng đại, Ủy ban Chính trị Pháp luật, “610” tận dụng triệt để việc hoạt động hộp đen kiểu “Ủy ban Xét xử” này, thao túng kết quả phán quyết. Vụ án còn chưa được xét xử, phán quyết đã được Ủy ban Chính trị Pháp luật, “610” định sẵn từ trước.
Luật sư Lê Hùng Binh, người từng bào chữa cho học viên Pháp Luân Công, nói: “Về trình tự pháp luật, dù là điều tra, xét xử, hay khởi tố, trên văn kiện từ trước đến nay đều không thấy cơ quan ‘610’ này, trên văn thư đối ngoại cũng không thấy. Nhưng khi xử lý vấn đề Pháp Luân Công, trình tự tư pháp trên thực tế lại bị ‘610’ khống chế. Về tính công khai minh bạch của tư pháp, ‘610’ đã vi phạm nguyên tắc pháp luật.” Luật sư Giang Thiên Dũng cho biết: “Trong các vụ án Pháp Luân Công, luôn nghe thẩm phán, kiểm sát viên nói, họ không làm chủ được, phải nghe quyết định của ‘610’, bao gồm thời gian mở phiên tòa của vụ án, có công khai hay không, cho đến kết quả xét xử cuối cùng, đều do ‘610’ sắp xếp. Nhưng ‘610’ không phải là lập pháp, cũng không phải tư pháp, cũng không phải cơ quan hành chính. Cho đến nay, tôi không biết cơ quan ‘610’ này rốt cuộc tồn tại như thế nào, rốt cuộc ở đâu, do ai phụ trách, việc bổ nhiệm nhân sự tổ chức như thế nào, đã trải qua sự cho phép của luật pháp nào? Đã không có sự cho phép của luật pháp, cũng tức là nói, việc thiết lập cơ quan này không có căn cứ pháp luật, vậy nó chính là một thứ bất hợp pháp.” [6]
Đầu năm 2009, truyền thông hải ngoại đã phanh phui việc các nơi như Thanh Đảo tỉnh Sơn Đông, Thẩm Dương tỉnh Liêu Ninh, Tiêu Tác tỉnh Hà Nam “tuyên đọc ‘Thông báo của Bộ Tư pháp về việc Tiếp tục Tăng cường Công tác Điều phối Chỉ đạo Biện hộ, Đại diện của Luật sư đối với các vụ án Pháp Luân Công'”, “theo sự bố trí thống nhất của trung ương và tỉnh, thành phố”, tăng cường trấn áp văn kiện bí mật đối với Pháp Luân Công. Văn kiện bí mật do “Phòng 610” quận Thiết Tây thành phố Thẩm Dương ban hành còn tiết lộ ranh giới đỏ tư pháp mới mà Trung Cộng buộc phải điều chỉnh: tuyệt đối không được phép xuất hiện phán quyết vô tội. Cùng năm, “Phòng Phòng ngừa” Thành ủy Thạch Gia Trang tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc đã ban hành một thông báo bí mật, yêu cầu đối với việc luật sư chính nghĩa bào chữa vô tội cho học viên Pháp Luân Công theo hướng “bảo vệ quyền lợi pháp luật”, phải “kịp thời ngăn chặn”, “toàn lực làm tốt công tác xét xử các vụ án liên quan đến Pháp Luân Công”. Thông báo này yêu cầu “Phòng Phòng ngừa” các cấp phải “dẫn đầu thiết lập” cơ chế phối hợp “có sự tham gia của các bộ phận liên quan như tòa án, viện kiểm sát, công an, an ninh quốc gia, tư pháp”, xét xử các vụ án Pháp Luân Công và nắm bắt động thái hoạt động của luật sư “bảo vệ quyền lợi”, “thống nhất bước đi công tác”, tức là thể hiện rằng mọi thứ phải nghe theo “Phòng Phòng ngừa”. Phần thứ ba của thông báo bất hợp pháp này yêu cầu “phối hợp trước”, yêu cầu tòa án trung cấp thành phố và “Phòng Phòng ngừa” các huyện (thành phố), quận báo cáo kế hoạch xét xử lên “Phòng Phòng ngừa” của thành ủy ba ngày trước khi mở phiên tòa vụ án Pháp Luân Công, “có dấu hiệu xu hướng thì kịp thời áp dụng biện pháp ứng phó”, phát hiện có luật sư bảo vệ quyền lợi từ nơi khác đến Thạch Gia Trang (Phòng Phòng ngừa Thạch Gia Trang đặc biệt lo sợ luật sư bảo vệ quyền lợi từ Bắc Kinh đến Thạch Gia Trang bào chữa vô tội cho học viên Pháp Luân Công), “phải kịp thời báo cáo tình hình lên Phòng Phòng ngừa thành ủy”. Điều này và việc văn kiện bí mật do “Phòng 610” quận Thiết Tây thành phố Thẩm Dương ban hành tiết lộ ranh giới đỏ tư pháp mới của Trung Cộng “tuyệt đối không được phép xuất hiện phán quyết vô tội”, hoàn toàn giống nhau. Loại văn kiện bí mật bất hợp pháp như vậy tự nhiên không chỉ giới hạn ở vài địa phương nói trên. [7]
Đàn áp bằng quyền lực đảng thay thế pháp luật
Nhân viên Trung Cộng khi bức hại học viên Pháp Luân Công thường nói: hiện nay là thời kỳ đặc biệt, đối với Pháp Luân Công có thể không cần nói pháp luật. Cảnh sát ác của Đại đội Quốc bảo Công Chủ Lĩnh, Cát Lâm khi bắt cóc học viên Pháp Luân Công đã ngang ngược nói: chúng tôi chính là không làm việc theo pháp luật. Nhân viên tòa án thành phố Thiên An tỉnh Hà Bắc công khai tuyên bố: vụ án Pháp Luân Công không xử theo pháp luật. Tòa án Trung cấp Trường Xuân đối với vụ án kháng cáo của học viên Pháp Luân Công không mở phiên tòa mà tuyên án trực tiếp, còn nói: vấn đề Pháp Luân Công có thể không đi theo trình tự pháp luật.
Ngày 17/12/2008, Tòa án thành phố Tô Châu tỉnh Giang Tô kết án học viên Pháp Luân Công Lộ Thông bốn năm tù, con gái của Lộ Thông kêu oan cho cha mình, yêu cầu tòa án xét xử lại theo pháp luật, một thẩm phán tên là Cố Nghênh Khánh của tòa án địa phương nói với luật sư: “Anh đừng hy vọng vào việc pháp luật đứng ngoài chính trị”, “anh nói với tôi pháp luật để làm gì, tôi nói với anh về chính trị”.
Tháng 9/2009, bà lão Cao Đức Ngọc, sáu mươi tám tuổi ở thành phố Tây Xương tỉnh Tứ Xuyên, vì luyện Pháp Luân Công mà bị bắt cóc và bắt giữ, người nhà bà đã mời luật sư cho bà. Trong quá trình luật sư yêu cầu gặp mặt Cao Đức Ngọc, đã gặp phải sự cản trở nhiều tầng của bộ phận thực thi pháp luật, Phó Bí thư Ủy ban Chính trị Pháp luật thành phố Tây Xương họ Lưu đã công khai nói với luật sư: “Đừng nói với tôi về pháp luật, chúng tôi không nói pháp luật.” Tháng 9/2010, Tòa án Tây Xương đã tuyên án nặng bà lão Cao Đức Ngọc mười hai năm tù.
Tòa án thành phố Thiên An tỉnh Hà Bắc vào ngày 6/12/2009 đã bất hợp pháp kết án học viên Pháp Luân Công Lương Tú Lan tám năm, Trương Lập Cần và Thiệu Liên Vinh bảy năm rưỡi, Lý Tú Hoa, Tôn Vĩnh Sinh và Dương Chiêm Dân bảy năm tù. Sau đó, chánh án Phùng Tiểu Lâm trước sự chất vấn của gia đình học viên Pháp Luân Công đã không thể không thừa nhận: vụ án Pháp Luân Công không xử theo pháp luật.
Thẩm phán không xử theo pháp luật đối với vụ án Pháp Luân Công, vậy thì theo cái gì? Thẩm phán xét xử học viên Pháp Luân Công Trương Xuân Thu ở thành phố Ích Dương tỉnh Hồ Nam nói: “Hiện nay là quyền lực đảng thay thế pháp luật để trấn áp Pháp Luân Công, chúng tôi chỉ có thể làm cho có, làm hình thức, không có cách nào khác, điều này không thể trách chúng tôi.” [8]
Vì sao chủ nhiệm họ Mã của “Phòng 610” huyện Nông An tỉnh Cát Lâm lại ngang nhiên nói “ở đây chúng tôi nói là được, chúng tôi nói chính trị chứ không nói pháp luật, các người muốn kiện ở đâu thì cứ đi mà kiện”? Xử trưởng họ Cố của Đại đội Quốc bảo quận Bảo Sơn thành phố Thượng Hải nói: “Pháp luật gì? Tôi nói chính là pháp luật!” [8]
Ngày 13/5/2010, “610” thành phố Tây Xương tỉnh Tứ Xuyên thao túng tòa án thành phố bất hợp pháp xét xử bốn học viên Pháp Luân Công. Trước khi mở phiên tòa, ba luật sư khi làm thủ tục tại tòa án đã bị thẩm phán Dương Ba nhắc nhở trước: “Không được bào chữa liên quan đến việc định tính Pháp Luân Công” [8], và nói với luật sư rằng Tòa án Nhân dân Tối cao có văn bản không cho phép luật sư bào chữa định tính đối với Pháp Luân Công, luật sư yêu cầu đưa văn bản ra xem, Dương Ba nói đó là văn kiện nội bộ, từ đầu đến cuối không hề đưa ra.
Khoảng 9 giờ sáng ngày 16/11/2010, cảnh sát của Phân cục Công an quận Hồng Sơn thành phố Xích Phong đã bắt cóc học viên Pháp Luân Công Thôi Nguyệt Thu tại trạm dừng đường số 2 khu Cửu Trung, sau đó lục soát nhà, cướp đoạt tài sản cá nhân. Không lâu sau đó nhà cầm quyền đã lấy tội danh không có căn cứ bí mật xét xử Thôi Nguyệt Thu, bất hợp pháp kết án ba năm rưỡi. Chồng của Thôi Nguyệt Thu, ông Vương, đã nhiều lần tìm đến các bộ phận công kiểm pháp tư liên quan để nói rõ sự thật. Một nhân viên tòa án nói với ông Vương: “Việc xử lý vụ án Pháp Luân Công không có căn cứ pháp luật, chúng tôi chỉ là dựa theo một văn kiện nội bộ, mà văn kiện này chúng tôi không thể cho ông xem.” [8] “Văn kiện nội bộ” này rốt cuộc là gì? Những năm qua, tòa án luôn dùng “văn kiện nội bộ” để thay thế pháp luật, bất hợp pháp kết án nặng học viên Pháp Luân Công.
Sự bức hại đối với luật sư chính nghĩa
Ở các nước phương Tây thực sự tôn trọng pháp luật, dù bị cáo không có luật sư, tòa án cũng phải khuyến khích gia đình mời luật sư. Ở Trung Quốc lại có một hiện tượng kỳ quái, Ủy ban Chính trị Pháp luật và “610” ra lệnh không cho phép luật sư bào chữa cho Pháp Luân Công, khiến luật sư không dám nhận “vụ án Pháp Luân Công”. Một số luật sư đã hiểu rõ sự thật dám bào chữa cho học viên Pháp Luân Công, nhưng Ủy ban Chính trị Pháp luật và “610” lại ra lệnh không cho phép luật sư bào chữa vô tội cho học viên Pháp Luân Công. Trong quá trình bào chữa, tòa án Trung Cộng hoặc là bí mật mở phiên tòa, hoặc là đe dọa gia đình không cho mời luật sư, hoặc là gây khó dễ cản trở đủ kiểu đối với sự tham gia của luật sư chính nghĩa, hoặc là nhiều lần thay đổi thời gian xét xử bất hợp pháp, hoặc không thông báo thời gian mở phiên tòa cho luật sư. Những luật sư dũng cảm này đã bị Trung Cộng trả thù, quấy nhiễu, thậm chí bị thu hồi giấy phép hành nghề luật sư. Nghiêm trọng hơn là bắt giữ luật sư, nói luật sư tiết lộ bí mật quốc gia, bao che tội phạm, v.v.
Dù luật sư Cao Trí Thịnh đã hiểu sâu sắc về sự đen tối của giới tư pháp Trung Quốc, nhưng khi làm luật sư đại diện ông vẫn cảm thấy chấn động trước hiện trạng quyền con người bị tước đoạt hoàn toàn của học viên Pháp Luân Công, và bản thân ông ngay lập tức bị bức hại. Ông viết trong lá thư ngỏ thứ hai gửi Hồ – Ôn:
“Từ sáng ngày 20/10, khoảng hai mươi mật vụ của Sở An ninh thành phố Bắc Kinh, Sở Công an thành phố Bắc Kinh bắt đầu bám sát theo dõi tôi và gia đình tôi không rời nửa bước. Mỗi ngày ít nhất có không dưới 9 chiếc xe vây quanh ba hướng trước cửa nhà tôi, ba ngày 18, 19, 20, số xe tăng lên hơn hai mươi chiếc, ngày 19/10, tôi nhận được cuộc điện thoại đe dọa trắng trợn, từ ngày 20/10, vợ tôi kinh ngạc phát hiện, hai người không rõ danh tính bắt đầu theo dõi con gái nhỏ mới 12 tuổi đang đi học của tôi từ trước cửa nhà cho đến tận trường học, sau đó ngày nào cũng như vậy, cho đến ngày 15/11 thân phận của hai người không rõ danh tính đó mới rõ ràng — họ bắt đầu bám sát theo dõi tôi. Từ ngày 20/11, trước cửa nhà tôi và trước cửa văn phòng tôi mỗi ngày đều có không dưới 3 mật vụ canh giữ, họ thay ca cách vài giờ một lần. Từ ngày thứ hai sau khi họ xuất hiện, chiếc xe đạp mà vợ tôi hàng ngày dùng để đưa đón con đi học một cách khó hiểu bị mất, mà gần trăm chiếc xe đạp khác trong cùng nhà để xe lại bình an vô sự. Đêm qua, hơn 20 mật vụ canh giữ trước cửa, hai van xe đạp mới mua của chúng tôi đều bị tháo mất, xe hơi của tôi một cách khó hiểu bị bôi đủ loại chất bẩn không thể rửa sạch. Ngày 4/11, Sở Tư pháp thành phố Bắc Kinh bất hợp pháp tuyên bố đình chỉ quyền hành nghề của văn phòng luật sư tôi; ngày 15/11, tôi đến Tân Cương mở phiên tòa, từ sáng ra khỏi nhà đến khi lên máy bay, mấy người mật vụ theo dõi con tôi đi học đó bám sát theo dõi tôi, vừa đến Urumqi lập tức có người tiếp tục theo dõi tôi. Càng khiến người ta không thể tưởng tượng nổi là, quan chức Bộ Tư pháp đã điều tra toàn diện với các bộ phận liên quan ở Tân Cương về xuất thân, mức độ trong sạch chính trị, có hành vi xấu hay không và việc tôi đã lọt vào đội ngũ luật sư như thế nào, đã từ một luật sư biến thành ‘phần tử xấu’ như thế nào của tôi. Cách làm đê tiện này hoàn toàn giống với lối chỉnh người thời ‘Văn Cách’, thực sự khiến người ta dở khóc dở cười.” [9]
Sự công bố của thư ngỏ đã gây chấn động cả trong và ngoài nước cũng như tầng lớp lãnh đạo cấp cao trong nước. Ngày 26/10, Trưởng phòng Luật sư Sở Tư pháp Bắc Kinh đã tìm Cao Trí Thịnh nói chuyện: “Thư ngỏ phanh phui sự bức hại Pháp Luân Công trước hết đã làm tổn hại hình ảnh của luật sư Trung Quốc; thứ hai, đã vi phạm đạo đức nghề nghiệp và bổn phận của luật sư. Nếu ông hợp tác với chúng tôi, thì phải thu hồi lá thư này. Nếu không, chúng tôi sẽ buộc phải áp dụng biện pháp tiến xa hơn”. Sau khi bị từ chối, chính phủ Trung Cộng vào chiều ngày 4/11 đã tuyên bố đình chỉ hoạt động văn phòng luật sư Cao Trí Thịnh một năm. [10]
Ngày 12/12/2005, luật sư Cao Trí Thịnh lại một lần nữa lấy tiêu đề “Phải lập tức chấm dứt hành vi dã man diệt tuyệt lương tri và đạo đức của dân tộc chúng ta”, lần thứ ba công khai dâng thư lên nhà cầm quyền Trung Quốc, dùng trái tim run rẩy và ngòi bút run rẩy ghi lại cảnh ngộ thê thảm sáu năm qua của những người bị bức hại.
“Trong lịch sử nhân loại chưa có nhân dân của quốc gia nào, vì tín ngưỡng trong tâm hồn, mà phải trải qua tai họa với quy mô như vậy, kéo dài như vậy, thê thảm như vậy trong thời bình của chính phủ. Tai họa hòa bình vẫn đang tiếp diễn của ngày hôm nay này, đã khiến hàng nghìn đồng bào vô tội mất đi sinh mạng quý giá, hàng trăm nghìn người dân bị tước đoạt tự do. Sự thật mà chúng ta nhìn thấy cho thấy, tất cả đồng bào bị tước đoạt tự do bất hợp pháp trong thời gian đó, đều đã trải qua quá trình tàn phá thể xác và sự tàn sát dã man tinh thần đến mức xã hội văn minh khó có thể tin nổi. Quá trình bức hại hoàn toàn mất đi lý tính của con người này, còn khiến hơn một trăm triệu người tín ngưỡng Pháp Luân Công, hàng trăm triệu gia đình với hàng trăm triệu người phải chịu sự triệu tập và đe dọa, tước đoạt tư cách việc làm, cơ hội làm việc, thu nhập, cướp đoạt tài sản với các mức độ và tính chất bức hại và áp bức khác nhau, đây là hành động ngu xuẩn, nguy hiểm và phi đạo đức đến mức nào. Đây là đang liên tục thù địch với toàn thể nhân dân Trung Quốc, với văn minh nhân tính và nền tảng đạo đức của toàn xã hội! Thể chế này sao lại cần loại giá trị như vậy chứ! Chúng ta còn có lý do gì, có điều kiện đạo đức gì để từ chối phản tỉnh đây?”
“Chính phủ Trung Quốc, các người phải có tâm thái của chính mình là chính phủ, chỉ có như vậy, các người mới có thể từ góc độ chính phủ, dùng tâm thái chính phủ và tư duy logic mà chính phủ có thể có để đối mặt với vấn đề hiện thực mang tính tai họa. Mới không dẫn đến việc xảy ra những sự kiện lạnh lùng như cuộc thảm sát ‘Lục Tứ’, tàn sát người tín ngưỡng tự do trong phong trào trấn áp Pháp Luân Công và việc bắn chết đồng bào tay không tấc sắt ở Quảng Châu gần đây! Nhưng chúng ta thường không thể không đau khổ đối mặt với vấn đề hiện thực như thế này, đó là: từ lâu, chính phủ Trung Quốc, những tội ác nhắm vào người dân vô tội khó hiểu tương tự như thế này liên tục xảy ra, đối mặt với tiếng rên rỉ, tiếng kêu than tuyệt vọng của người dân trong tai họa, vĩnh viễn là sự im lặng vô lại hoặc giơ nanh múa vuốt dùng thủ đoạn áp chế côn đồ.”
“Áp lực chính trị công khai cộng thêm dụ dỗ, đã phá hủy chút bản tính thiện lương cuối cùng của cảnh sát, mặt xấu xa của nhân tính nhanh chóng lên men phình to, ranh giới lương tri cơ bản nhất của làm người không còn được để ý đến, cảnh sát trên thực tế cũng là nạn nhân của phong trào điên cuồng mất nhân tính lần này. Sau ‘Văn Cách’, nhân tính, đạo đức, lương tri, chính nghĩa, nhân ái và các giá trị quan cơ bản khác mà dân tộc chúng ta có được sự hồi phục ít ỏi, lại một lần nữa bị hủy hoại triệt để. Chính khí, chính nghĩa và tính tiên tiến của nhân viên công vụ nhà nước chỉ trở thành lời nói dối bị nhân dân nguyền rủa không hết trong truyền thông do quan phương khống chế! Mà việc diệt tuyệt chính khí, chính nghĩa, lương tri và đạo đức lại trở thành trách nhiệm của người có chức trách công vụ, bị yêu cầu nâng lên tầm cao ‘nói chính trị’ để thực hiện.” [11]
Vì ba lần dâng thư của mình, luật sư Cao Trí Thịnh đã bị nhà cầm quyền Trung Quốc bắt giữ vào ngày 15/8/2006 với tội danh “nghi ngờ xúi giục lật đổ chính quyền nhà nước”. Tòa án Trung Quốc ngày 22/12/2006 đã kết án Cao Trí Thịnh ba năm tù với tội xúi giục lật đổ chính quyền nhà nước, hoãn thi hành án năm năm, tước quyền chính trị một năm.
Luật sư Chu Vũ Tiêu là luật sư chính nghĩa đầu tiên công khai đứng ra bảo vệ công lý cho học viên Pháp Luân Công bị bức hại ở tỉnh Quảng Đông, trong khoảng thời gian 2005, 2006, luật sư Chu từng lần lượt bào chữa cho ba học viên Pháp Luân Công bị xét xử bất hợp pháp, lời bào chữa của ông sắc bén nghiêm cẩn, khiến tòa án Trung Cộng vô cùng lúng túng, chấn động. Sau khi luật sư Chu bào chữa vô tội cho học viên Pháp Luân Công bị bức hại Cao Hoán Liên, thẩm phán, chánh án nhìn nhau, không ai nói được lời nào. Một lúc lâu, người buộc tội đột nhiên bối rối nói: “Thấy tốt thì cứ ở nhà luyện công đi! Đừng ra ngoài nữa.” Ngày 11/2/2007, luật sư Chu Vũ Tiêu bị bắt cóc lao giáo bức hại một năm rưỡi tại Phiên Ngung, Quảng Châu. Ngày 18/8/2010, luật sư Chu Vũ Tiêu lại bị bắt giữ bất hợp pháp và bị lục soát nhà bất hợp pháp tại nơi ở của mình. Ngày 4/5/2011, Tòa Hình sự số 10 Tòa án quận Hải Châu thành phố Quảng Châu bất hợp pháp xét xử luật sư Chu Vũ Tiêu, và tuyên án oan hai năm.
Kể từ năm 2006, luật sư Lý Hòa Bình của Văn phòng Luật sư Cao Bác Long Hoa thành phố Bắc Kinh vì tham gia giải cứu luật sư Cao Trí Thịnh, đã bị cảnh sát Quốc bảo Sở Công an thành phố Bắc Kinh, cảnh sát Quốc bảo Phân cục Công an quận Triều Dương quấy nhiễu trong thời gian dài, bị cảnh sát của đồn cảnh sát khu vực Tương Đài Lộ theo dõi giám sát 24 giờ. Tháng 3/2007, theo yêu cầu nhiều lần của người thân học viên Pháp Luân Công Vương Bác ở Thạch Gia Trang, ông quyết định nhận đại diện vụ án Vương Bác. Ngày 12/3, ông và năm luật sư khác đến Tòa án Trung cấp Thạch Gia Trang làm thủ tục luật sư. Ngày hôm sau, Sở Tư pháp thành phố Bắc Kinh đã đến văn phòng luật sư của Lý Hòa Bình để bày tỏ “quan tâm”. Ngày 16/3, cảnh sát của Đại đội Quốc bảo Sở Công an thành phố Bắc Kinh đã đến văn phòng luật sư gây áp lực, nói “đại diện vụ án nhạy cảm cần chú ý ảnh hưởng”. Khi phiên tòa phúc thẩm của vụ án này mở tại Tòa án Trung cấp Thạch Gia Trang vào ngày 27/4/2007, luật sư Lý Hòa Bình và các luật sư khác đã đưa ra bào chữa toàn diện về việc áp dụng pháp luật không đúng, sự việc không rõ ràng, chứng cứ không đủ, trình tự tư pháp sai sót trong phiên tòa sơ thẩm vụ án Vương Bác, và từ góc độ tối thượng của hiến pháp, tự do tín ngưỡng, bảo vệ nhân quyền. Đây là lần đầu tiên luật sư Trung Quốc đại lục xông qua vùng cấm của Trung Cộng, từ tầng diện pháp luật một cách có hệ thống, toàn diện bảo vệ công lý cho những người bị Pháp Luân Công oan khuất. Chiều ngày 29/10/2007 lúc 5 giờ 30, luật sư Lý Hòa Bình bị bắt cóc trùm đầu tại tòa nhà Cao Lan nơi văn phòng ông làm việc, đưa đến một căn phòng nhỏ không rõ danh tính để đánh đập tàn bạo, bọn côn đồ còn dùng dùi cui điện, ông bị đánh đến mức toàn thân bầm dập, cho đến hơn một giờ sáng, bọn côn đồ mới vứt ông ở vùng ngoại ô hoang vắng Tiểu Thang Sơn, sau đó ông tự mình khó khăn mò mẫm trong đêm tối về nhà. Ổ cứng di động, thẻ điện thoại di động, thẻ luật sư của luật sư Lý đều bị cướp mất, máy tính xách tay bị bọn côn đồ sao chép rồi xóa sạch hoàn toàn.
Luật sư Quách Quốc Đinh là trọng tài viên của Ủy ban Trọng tài Thương mại và Kinh tế Quốc tế Trung Quốc, trọng tài viên của Ủy ban Trọng tài Hàng hải Trung Quốc, hòa giải viên của Trung tâm Hòa giải Thương mại Quốc tế Trung Quốc. Ông nhận vụ án của học viên Pháp Luân Công Cù Diên Lai, nhà tù không cho ông gặp Cù Diên Lai. Sau đó ông đã gửi đơn xin phép bằng văn bản đến Cục trưởng Cục Tư pháp, Cục trưởng Cục Quản lý Nhà tù, nói rõ với họ rằng, nếu các người tiếp tục từ chối, tôi sẽ nộp đơn lên Cục Quản lý Nhà tù Quốc gia của Bộ Tư pháp, lên đến nhà cầm quyền cao nhất, nếu vẫn không để ý, tôi sẽ chuẩn bị buộc phải công bố. Nhưng cuối cùng nhà cầm quyền vẫn không có bất kỳ phản hồi nào với ông. Vì vậy ông đã viết một bài, “Luật sư Trung Quốc vô dụng nhất”. Ngày 23/2/2005, luật sư Quách Quốc Đinh bị nhà cầm quyền Trung Cộng bất hợp pháp buộc ngừng hành nghề. Cùng ngày 6/3 năm đó, ông bị nhà cầm quyền Trung Cộng gán tội danh “tội tụ tập gây rối trật tự xã hội” bắt giữ hình sự, và bị quản thúc tại gia bất hợp pháp tại nhà riêng ở Thượng Hải trong hai tháng rưỡi. Ngày 20/5 ông bị trục xuất một cách biến tướng ra nước ngoài, bắt đầu cuộc sống lưu vong của mình.
Luật sư Vương Vĩnh Hàng ở Đại Liên và luật sư Hàn Chí Quảng ở Bắc Kinh khi bào chữa vô tội cho học viên Pháp Luân Công Tùng Nhật Húc đã khiến người của bên công tố cứng họng, tòa án đã không tuyên án ngay tại chỗ. Sau đó, luật sư Vương Vĩnh Hàng bị cảnh sát đánh đập giam giữ, còn Tùng Nhật Húc cũng bị bí mật kết án ba năm. Sau đó, Vương Vĩnh Hàng vì đã bào chữa vô tội cho học viên Pháp Luân Công mà bị cảnh sát bắt giữ, chân bị đánh gãy, đưa vào trại tạm giam, bị tra tấn cực hình, cuối cùng bị kết án bảy năm tù.
TIẾT 4: CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC TRUNG CỘNG XÃ HỘI ĐEN HÓA TOÀN DIỆN
Do việc Trung Cộng lợi dụng hệ thống công kiểm pháp tư để đàn áp bất hợp pháp Pháp Luân Công, từ đó phá hủy nền tảng đạo đức xã hội Trung Quốc và phá hoại chế độ tư pháp, cộng thêm môi trường lấy sự trung thành cá nhân làm mục đích và tham nhũng làm thủ đoạn ràng buộc, việc chính quyền nhà nước Trung Cộng xã hội đen hóa toàn diện là kết quả tất yếu và duy nhất.
Chính quyền xã hội đen hóa
Ngày 16/2/2006, Đài Tiếng nói Hoa Kỳ đưa tin, “Xu hướng hành vi xã hội đen hóa của chính quyền Trung Cộng ngày càng rõ rệt” [12]. Đường lối phương châm của chính phủ Trung Cộng dùng lợi ích kinh tế để chuộc lại quyền lực chính trị, đã dẫn đến tham nhũng toàn diện từ trên xuống dưới. Một mặt Trung Cộng trong phong trào bức hại Pháp Luân Công đã phá hủy hệ thống đạo đức và tư pháp của mình, do đó không thể đưa ra biện pháp chống tham nhũng hiệu quả, thiếu sự ràng buộc đối với “năng lực cầm quyền” cấu kết giữa chính quyền địa phương và xã hội đen, mặt khác lại không thể thoát khỏi quán tính chính trị truyền thống chống diễn biến hòa bình, dồn hết tâm sức chủ yếu vào việc ngăn chặn “cách mạng màu”, kết quả đã đẩy nhanh quá trình xã hội đen hóa sự thống trị của Trung Cộng.
Nếu nói, xã hội đen cũng có quy tắc riêng của họ, tức “đạo tặc cũng có đạo”, thì hiện nay Trung Quốc lại xuất hiện một quá trình hoàn toàn ngược lại, kẻ nắm quyền tự nguyện xã hội đen hóa, không còn quy tắc gì nữa, mức độ nguyên thủy và đẫm máu thậm chí còn không bằng cả xã hội đen. Lòng tham khiến người ta trở nên vô lý, quyền lực kết hợp với lòng tham càng trở nên điên cuồng, mà thể chế tà ác lại khiến quyền lực điên cuồng thông hành vô trở ngại. Sự vô pháp vô thiên, lạm dụng quyền lực, hung ác cực độ của quan chức các cấp, đã được sự bảo vệ và khuyến khích của thể chế độc tài kiêm hộp đen. Vì vậy, quyền lực quan chức vô cùng tham lam và vô pháp vô thiên đã khiến Trung Quốc rơi vào trạng thái đáng sợ nhất — quan phỉ một nhà. Xã hội đen dùng hối lộ mua chuộc quan phủ, quan phủ lợi dụng thế lực xã hội đen để giải quyết rắc rối. Quyền lực công biến thành quyền lực tư, quan phủ cũng tất yếu biến thành xã hội đen.
Người Trung Quốc tinh ý đều sẽ phát hiện trong quốc gia mà Trung Cộng khống chế ngày nay, cách xưng hô đã trở nên xã hội đen hóa trần trụi. Dù là trong tác phẩm văn nghệ, hay trong hiện thực, người đứng đầu mỗi đơn vị, đều bị cấp dưới gọi là “đại ca”; còn có người trực tiếp gọi lãnh đạo là Vương ca, Trương ca… Cấp dưới đối với người có thực quyền ở đơn vị cấp trên đều gọi là “đại ca”. Những cách xưng hô tưởng chừng không quan trọng này, thực ra có yếu tố Trung Cộng làm bại hoại văn hóa truyền thống Trung Hoa rất mạnh trong đó. Trước hết, cách xưng hô như vậy sẽ làm phình to cực độ tư dục của kẻ cầm quyền, từ đó chỉ coi mình là nhất, ngạo mạn không ai bằng, thích nghe lời nịnh hót, không nghe được lời khuyên can thiện ý, thậm chí còn trả thù người dám nói lời trung thực, thậm chí đối với lời nói vô ý cũng sẽ trả thù. Ví dụ Giang Trạch Dân đã vì cấp dưới nói một câu “ở Bắc Kinh ông nói là được, ở đây tôi nói là được” mà cách chức vị quan chức nịnh nọt sai chỗ này; còn có một quan chức nói câu “mời đồng chí Giang Trạch Dân xuống cắt băng khánh thành” mà không bao giờ được trọng dụng nữa.
Cách xưng hô như vậy có tác dụng mài mòn mạnh mẽ đối với chính tín của mỗi người, không ngừng làm tăng trưởng tính nô lệ, rõ ràng biết làm như vậy của lãnh đạo được gọi là đại ca là sai, cũng không dám nói, chỉ sợ bị trả thù. Đức tính truyền thống của dân tộc Trung Hoa — tinh thần trách nhiệm của con người, bị sự ích kỷ giữ mình an toàn thay thế.
Cách xưng hô như vậy, đã biến mối quan hệ công tác trên dưới đơn thuần, thành mối quan hệ mang tính giao dịch bẩn thỉu giữa đầu sỏ xã hội đen và tay chân của nó. Một khi kẻ được gọi là đại ca đã nói ra lời, thì trở thành thánh chỉ không thể vượt qua, việc dù khó làm đến đâu, những cấp dưới đã sa đọa thành tay chân đó cũng sẽ nghĩ mọi cách không từ thủ đoạn để làm cho được.
Tổ chức xã hội đen là một tổ chức bất hợp pháp kiếm lợi thông qua con đường phạm tội, tổ chức Trung Cộng về bản chất cũng giống như vậy, chỉ khác là Trung Cộng dùng một bộ “lý luận tư tưởng” biến hoạt động phạm tội của nó thành hành động cách mạng chính đáng, hoặc hành vi hợp tình hợp lý. Lật đổ triệt để quan niệm đạo đức và giá trị quan truyền thống, bóp méo hoàn toàn đúng sai trắng đen, khiến mọi người lấy đúng của nó làm đúng, lấy sai của nó làm sai, như vậy dù nó phạm tội lớn đến đâu, nó vẫn vĩnh viễn đúng. Vì sự ủng hộ của quyền lực nhà nước đối với loại xã hội đen này, không chỉ khiến nó không bao giờ tạ tội, mà còn giương ra bộ mặt côn đồ tiếp tục phạm tội đến cùng. Quy mô tổ chức của nó, sự tinh vi của lời nói dối và quy mô phạm tội đều vượt xa những gì xã hội đen thông thường có thể sánh được. Xã hội đen nhỏ có thể chỉ là những kẻ côn đồ đường phố tranh giành địa bàn, tổ chức xã hội đen lớn thì sẽ đi theo hướng chuyên nghiệp hóa, công ty hóa, tập đoàn hóa, đầu sỏ của nó sẽ bước vào giới chính trị, giới thương mại trở thành nhân vật có tên có tuổi, đường hoàng. Nhưng như Đảng Cộng sản có thể quốc gia hóa, và tự xưng là người đại diện cho quốc gia dân tộc trong các tổ chức xã hội đen có thể coi là đỉnh cao.
Do sự vô pháp vô thiên của Trung Cộng đã dẫn đến sự xã hội đen hóa của toàn xã hội. Sự thể hiện tập trung của xã hội đen hóa này thể hiện ở xu hướng giá trị chỉ vì lợi và không hỏi đúng sai. Xã hội Trung Quốc ngày nay từ trên xuống dưới, từ quan đến dân, các ngành các nghề, các tầng lớp đều chỉ vì lợi, thấy tiền mà làm việc. Loại quan niệm giá trị xã hội đen hóa này đã dẫn đến các loại vấn đề và tội ác đủ kiểu không ngừng xuất hiện, toàn xã hội trông giống như một xã hội đen lớn. Không có công bằng, không có chính nghĩa, có lý không nơi nói, có oan không nơi kêu.
Sự xã hội đen hóa của quyền lực rất đáng sợ. Nhưng đáng sợ hơn thế là sự phổ cập hóa và hoàn toàn thường ngày hóa của quyền lực xã hội đen hóa. Đây chính là dấu hiệu nổi bật nhất của quyền lực chuyên chế Trung Quốc ngày nay, dấu hiệu nổi bật như vậy được thực hiện bằng quyền lực cảnh sát xã hội đen hóa. Rất nhiều nơi công an công khai sử dụng thủ đoạn xã hội đen hoặc trực tiếp lợi dụng xã hội đen để đe dọa những người bất đồng chính kiến, thậm chí xâm phạm bạo lực. Xã hội đen của Trung Quốc từ việc kiếm lợi ích kinh tế đến kiếm lợi ích chính trị, cả quốc gia và xã hội đều bị bao trùm trong bóng tối.
Nhiều vụ việc đã bị phanh phui cho thấy, những người bảo vệ quyền lợi và người biểu tình phản đối bị cảnh sát theo dõi, chửi mắng, đánh đập. Ví dụ, nhà hoạt động nhân quyền Trung Quốc Triệu Hân năm ngoái tháp tùng cha mẹ đến du lịch Cửu Trại Câu tỉnh Tứ Xuyên đã bị 7 người không rõ danh tính đánh đập tàn bạo tại một khách sạn; đại biểu Đại hội Đại biểu Nhân dân thành phố Chi Giang tỉnh Hồ Bắc Lã Bang Liệt tháp tùng một phóng viên báo Guardian Anh Quốc đến thôn Thái Thạch, Phiên Ngung, Quảng Châu điều tra đã bị côn đồ đánh đến bất tỉnh; luật sư Đường Kinh Lăng tham gia công tác bảo vệ quyền lợi tại thôn Thái Thạch, Quảng Châu sau khi thăm nhà hoạt động bảo vệ quyền lợi Quách Phi Hùng cũng bị người không rõ danh tính theo dõi và đánh đập.
Cưỡng chế di dời bạo lực
Hành vi của Đảng Cộng sản ngày càng giống xã hội đen. Quan chức cấp cao của Đảng Cộng sản thậm chí bản thân chính là đại ca xã hội đen, đặc biệt nhân viên công an trực tiếp tham gia xã hội đen càng nhiều. Họ khống chế các cơ sở giải trí, thị trường thương mại, tham gia buôn lậu, buôn bán ma túy, tống tiền, bắt cóc ám sát, thao túng mại dâm, hãm hiếp phụ nữ… Rất nhiều hành vi của chính phủ dựa vào xã hội đen để thực hiện. Ví dụ điển hình nhất là cưỡng chế di dời đô thị, trưng dụng đất nông nghiệp.
Kể từ khi Quốc vụ viện Trung Quốc ban hành “Thông báo về việc Tiếp tục Đi sâu Cải cách Chế độ Nhà ở Đô thị, Đẩy nhanh Xây dựng Nhà ở” năm 1998, cùng với xu thế thương phẩm hóa toàn diện nhà ở, việc phát triển bất động sản Trung Quốc bước vào trạng thái bùng nổ. “Nhưng việc phát triển bất động sản quy mô lớn cùng sự tăng trưởng kinh tế điên cuồng mà nó mang lại, lại không phải là phúc lợi của dân thường bình thường, phong trào ‘quây đất’ mà việc phát triển bất động sản mang lại đã kéo rất nhiều cư dân thành thị vô tội và nông dân vùng ven đô thị vào vòng xoáy cưỡng chế di dời thậm chí cưỡng chế di dời bạo lực. Cùng với việc cưỡng chế di dời nhà ở đô thị ngày càng leo thang dữ dội, đã cấu thành sự xâm phạm nghiêm trọng đối với quyền sống và quyền tài sản của công dân, biến thành vấn đề xã hội nghiêm trọng”. Dù chính phủ Trung Cộng đã ban hành mấy văn bản pháp quy liên quan, nhưng cưỡng chế di dời, cưỡng chế di dời bạo lực ở Trung Quốc lại ngày càng dữ dội hơn, “hơn nữa từ các phương diện chiều sâu, chiều rộng, thủ đoạn bạo hành, tính liên tục về thời gian đều thể hiện trạng thái ngày càng xấu đi, không hề bị ngăn chặn hoặc có dấu hiệu lắng xuống”. Quan trường Trung Quốc đại lục “lời lẽ gây sốc” liên tục xuất hiện, ví dụ, “không có cưỡng chế di dời thì không có Trung Quốc mới”, “không có cưỡng chế di dời thì các người trí thức lấy gì mà ăn”. “Cưỡng chế di dời bạo lực đang ngày càng trở thành khối u ác tính của xã hội Trung Quốc, và đã biến thành thảm họa nhân quyền nghiêm trọng”. [13]
Báo “Minh Báo” Hồng Kông đưa tin, trong một số sự kiện chính phủ trưng dụng đất hoặc cưỡng chế di dời, phát hiện có “phần tử không rõ danh tính” tham gia vào đó, sử dụng thủ đoạn đe dọa bạo lực kiểu xã hội đen để ép buộc di dời. [14] Bỏ qua pháp luật, dùng luật ngầm để hoành hành, đây chính là thủ đoạn của xã hội đen. Do việc cưỡng chế di dời đều do chính phủ thao túng, giá cả đều do chính phủ định sẵn, người dân căn bản không có chỗ để mặc cả. Nhà đầu tư lấy danh nghĩa phát triển của chính phủ để cưỡng ép tiến hành, mà các hộ bị di dời trong sự ép buộc kép của “xã hội trắng” và xã hội đen chỉ có thể liên tục lùi bước. Chính phủ hoặc quan chức mua rẻ nhà và đất rồi bán lại cho nhà đầu tư để kiếm chênh lệch giá, thậm chí giúp nhà đầu tư trực tiếp mua nhà và đất giá rẻ từ tay người dân, để đạt được mục tiêu, việc tìm kiếm liên minh với xã hội đen đã trở thành cách làm phổ biến.
Các điều khoản pháp luật mà Trung Cộng viện dẫn trong việc cưỡng chế di dời chủ yếu có, “Điều lệ Quản lý Cưỡng chế Di dời Nhà ở Đô thị” được thông qua tại phiên họp thường vụ lần thứ 40 của Quốc vụ viện ngày 6/6/2001, “Luật Vật quyền nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” được thông qua tại kỳ họp thứ 5 Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc khóa 10 ngày 16/3/2007, và “Điều lệ Trưng thu và Bồi thường Nhà ở trên Đất thuộc Sở hữu Nhà nước (Dự thảo lấy ý kiến công khai lần 2)” do Văn phòng Pháp chế Quốc vụ viện công bố ngày 15/12/2010.
Khi luật cấp trên được ban hành hoặc sửa đổi, tình huống luật cấp dưới xung đột với luật cấp trên xuất hiện, việc luật cấp dưới “tự động mất hiệu lực” vốn là một thường thức pháp luật, cũng là lựa chọn đương nhiên của cơ quan xét xử và bộ phận thực thi pháp luật. Xét vị trí luật cấp dưới của “Điều lệ Quản lý Cưỡng chế Di dời Nhà ở Đô thị”, từ góc độ lý luận mà nói, sự ra đời của “Luật Vật quyền” đã khiến “Điều lệ Di dời” tự động mất hiệu lực, điều này không có vấn đề gì. Nhưng, sự việc thường không đơn giản như vậy, dựa trên ảnh hưởng nhiều mặt như lợi ích, truyền thống, quan niệm, thể chế, luật cấp trên thường bị bộ phận thực thi pháp luật và cơ quan xét xử “lãng quên có chọn lọc”, mà dựa theo luật cấp dưới cũ để “hành chính theo pháp luật”. Nhìn từ tình hình thực tế, rõ ràng “Điều lệ Di dời” chưa “tự động mất hiệu lực”, xung đột giữa hai bên nằm ở chỗ “Luật Vật quyền” “chưa có hiệu lực”. Trong quá trình di dời phát sinh tranh chấp, người chịu thiệt thường là dân thường. Nguyên nhân rất rõ ràng, hai tập đoàn mạnh là chính phủ và nhà đầu tư ngồi lại với nhau, một bên ra đất, một bên ra tiền, trong giao dịch như vậy, tài sản hợp pháp của cá nhân bị hoàn toàn phớt lờ. Đương nhiên, thứ bị phớt lờ còn có hiến pháp và Luật Vật quyền.
Luật sư Trịnh Ân Sủng sau khi phân tích “Điều lệ Trưng thu và Bồi thường Nhà ở trên Đất thuộc Sở hữu Nhà nước (Dự thảo lấy ý kiến công khai lần 2)” cho rằng [15], hiến pháp là luật cấp trên của Luật Vật quyền, Luật Vật quyền lại là luật cấp trên của “Điều lệ Di dời mới”, việc sửa luật như vậy chỉ là lừa gạt người ngoài ngành, lừa gạt dân thường mà thôi. “Bản dự thảo 2” đã xóa bỏ rất nhiều điều khoản có lợi cho người bị di dời trong “bản dự thảo 1”, ví dụ, quyền “hồi cư” của công dân bị tước đoạt. Khi giá bồi thường mỗi mét vuông bị di dời là một vạn tệ, nhưng giá nhà “hồi cư” có thể định giá ba vạn tệ, hoàn toàn do chính phủ quyết định, bạn vĩnh viễn không có quyền “hồi cư”. Ở phần trách nhiệm pháp luật, “bản dự thảo 1” đối với các hành vi vi phạm pháp luật cụ thể của chính quyền nhân dân cấp huyện trở lên, bộ phận trưng thu nhà ở cùng nhân viên công tác của nó, đã liệt kê 14 loại hành vi vi phạm pháp luật như “trưng thu nhà ở không vì nhu cầu lợi ích công cộng”, “thực hiện trưng thu không theo phạm vi trưng thu được xác định trong quyết định trưng thu nhà ở”, nhưng “bản dự thảo 2” hầu như đã xóa bỏ hoàn toàn những điều ràng buộc hành vi của chính phủ, bộ phận chủ quản và nhân viên công tác này, thay vào đó là những cách diễn đạt trừu tượng khó thực hiện như “lạm dụng quyền hạn”, “sao nhãng chức trách”, “làm trái pháp luật vì tư lợi”, cách sửa luật như vậy chẳng qua chỉ là một màn biểu diễn chơi chữ khác mà thôi. Ông còn nói, pháp luật của Trung Quốc đại lục quy định quyền lực của chính phủ vừa nhiều, vừa lạm, vừa chi tiết, vừa có thể thao túng; quy định trách nhiệm và nghĩa vụ của chính phủ lại vừa ít, vừa mang tính nguyên tắc, vừa không thể thao túng. Quy định quyền lợi của công dân lại vừa ít, vừa mang tính nguyên tắc, vừa không thể thao túng; nhưng quy định trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân lại vừa nhiều, vừa lạm, vừa chi tiết, vừa có thể thao túng.
Ngày 2/10/2009, “Mạng lưới Bảo vệ Quyền lợi” dân gian Trung Quốc đã công bố “Báo cáo Nghiên cứu Điều tra Vấn đề Cưỡng chế Di dời Bạo lực Nhà ở Đô thị và Nông thôn” của Trung Quốc, phân tích nghiên cứu vấn đề cưỡng chế di dời bạo lực xảy ra ở các nơi thành thị nông thôn Trung Quốc, cũng như các vấn đề chính sách pháp luật liên quan hiện hành của Trung Quốc. Báo cáo điều tra này đã phân tích nguyên nhân sâu xa gây ra tình trạng này từ các phương diện lập pháp, hành pháp, tư pháp cũng như chính trị xã hội, phát hiện nguyên nhân căn bản gây ra cưỡng chế di dời bạo lực có những điểm sau: “Quốc gia thiếu sự sắp xếp thể chế hiến chính; chính phủ trung ương không hành động; sự lạm dụng quyền lực công của chính quyền địa phương; quyền lực chính trị (đặc biệt là chính quyền địa phương) kết hợp với nhà đầu tư bất động sản, hình thành tập đoàn lợi ích bất động sản mạnh mẽ, cộng đồng lợi ích được hình thành từ sự kết hợp giữa tư bản và quyền lực không bị ràng buộc này, gây ra sự phá hoại to lớn đối với quyền lợi công dân; tư pháp không công bằng không độc lập, thiếu phòng tuyến cứu trợ cuối cùng; con đường phát triển kinh tế nhân quyền thấp của Trung Quốc không chỉ trở thành một sự sắp xếp thể chế, mà còn đã trở thành một loại văn hóa chính trị. Toàn xã hội thiếu bầu không khí tôn trọng nhân quyền, tôn trọng quyền tài sản; Trung Quốc đi theo con đường phát triển dị dạng lấy phát triển kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng GDP làm định hướng giá trị duy nhất, toàn xã hội không từ thủ đoạn để có được của cải; đạo đức xã hội sụp đổ toàn diện. Nhiều năm ở trạng thái cưỡng bức vô tín ngưỡng, đã khiến xã hội mất đi năng lực duy trì quan hệ giữa các thành viên bình thường; lực lượng bảo vệ quyền lợi tự phát của chủ sở hữu và lực lượng bảo vệ quyền lợi dân gian, trước bộ máy bạo lực mạnh mẽ, không đủ để ràng buộc cưỡng chế di dời bạo lực đang không ngừng leo thang”.
Báo cáo này đã tổng kết tình hình cơ bản của cưỡng chế di dời bạo lực trong mười năm 1999-2009, đặc biệt chỉ ra sự can thiệp của quyền lực công vào việc di dời ngày càng nghiêm trọng. Báo cáo nói: “Nếu cưỡng chế di dời bạo lực chỉ là sự cưỡng bức đến từ dân gian, thì sẽ nhờ vào sự đàn áp của lực lượng chính quyền mà không đến mức lan tràn không giới hạn, nhưng khi chính phủ dưới sự chỉ đạo tư tưởng ‘phát triển là đạo lý cứng’, cũng gia nhập vào đội ngũ ‘ngang ngược có lý’, tình hình đã phát sinh thay đổi lớn. Ở thời kỳ đầu của việc di dời, thường là hành vi doanh nghiệp của công ty di dời và nhà đầu tư, nhưng những năm gần đây, chính phủ vì để nổi bật thành tích phát triển kinh tế và xây dựng đô thị, một mặt ra sức làm công trình thành tích, mặt khác cũng đẩy nhanh việc phát triển bất động sản, để bổ sung tài chính địa phương, đến mức không ngừng hộ tống cho việc di dời của nhà đầu tư bất động sản. Không chỉ sử dụng biện pháp cưỡng chế hành chính, thậm chí còn điều động cảnh sát công an và cảnh sát chống bạo động”. “Sự kết hợp giữa cưỡng chế di dời của chính phủ và cưỡng chế di dời bạo lực của xã hội đen ngày càng rõ rệt trong phần lớn các vụ cưỡng chế di dời bạo lực, vừa có sự ngầm cho phép của chính phủ, vừa có sự thực hiện của xã hội đen, cả hai có xu hướng kết hợp ngày càng nhiều”. Báo cáo này còn liệt kê các thủ đoạn cưỡng bức bạo lực khác nhau của cưỡng chế di dời bạo lực:
(1) Cắt nước cắt điện, chặn đường, dùng đủ thủ đoạn côn đồ khiến hộ bị di dời không thể sinh hoạt, từ đó đạt được mục đích “ép di dời”.
(2) Cưỡng chế phá dỡ khi hộ bị di dời ra ngoài.
(3) Ban đêm dùng bạo lực bắt cóc cưỡng bức người trong nhà ra ngoài, nhanh chóng phá dỡ công trình xây dựng.
(4) Chính phủ điều động lực lượng cảnh sát hùng hậu bảo vệ, trực tiếp hỗ trợ thực hiện cưỡng chế di dời bạo lực.
(5) Trực tiếp thực hiện đập phá bạo lực, tạo bầu không khí khủng bố để ép di dời.
Sau đây là vài ví dụ điển hình về sự kiện cưỡng chế di dời bạo lực.
Ngày 25/1/2007, người thực hiện di dời đã xông vào “Cửa hàng thịt Phúc Hưng Phóng Tâm” ở thôn Cương Pha, quận Trung Nguyên, thành phố Trịnh Châu, những kẻ xâm nhập đã dùng băng dính trong suốt trói chân, bịt miệng người giúp việc Tào Thúy Liên và cậu bé Mã Tiểu Quân 6 tuổi, đứng trước mặt họ, tay cầm gạch đe dọa, “còn động đậy, dùng gạch đập chết mày!” Một trong những kẻ xâm nhập đe dọa cậu bé Tiểu Quân. Một chiếc máy xúc khổng lồ, đã đào một lỗ hổng lớn ở cửa cửa hàng. Khoảng 2 giờ sáng ngày 24/5/2007, máy xúc gầm rú vang trời, chỉ vài lần là căn nhà đã sập đổ.
Năm 2008, Công ty Phát triển Bất động sản Nghi Cư tỉnh Sơn Tây nhắm vào việc phố Bát Hòe, Hồ Lô Đỗ, phố Tây Phủ ở thành phố Phần Dương tỉnh Sơn Tây là khu đất vàng của thành phố, nên bắt đầu di dời từ năm đó, trong quá trình đi kèm với việc quan chức chính phủ lạm dụng quyền lực, điều động cảnh sát, mượn danh nghĩa công vì lợi ích thương mại; nhà đầu tư điều động xã hội đen, thế lực đen dùng thủ đoạn đe dọa, uy hiếp, áp bức để cưỡng chế di dời bạo lực. Cuối cùng, rất nhiều cư dân trên ba con phố dưới sự đe dọa của người cưỡng chế di dời bạo lực đã rơi nước mắt, ôm nỗi oán hận rời đi, nhiều người bị ép đến phát điên, phát bệnh, thậm chí bị ép đến chết. Trong toàn bộ quá trình bị hại, chính quyền địa phương làm ngơ không nghe không thấy. Nạn nhân buộc phải lên Bắc Kinh khiếu kiện, nhưng không có kết quả gì.
Khoảng 8 giờ sáng ngày 17/9/2011, chính quyền quận Bi Lâm thành phố Tây An tỉnh Thiểm Tây đã thuê hơn một trăm người cầm gậy sắt, lái máy xúc. Bọn côn đồ đã cạy cửa nhà các hộ dân ở ngõ Hội Chữ thập đỏ tỉnh Thiểm Tây, thành phố Tây An, cưỡng bức kéo họ ra ngoài, đập phá tài sản, và cưỡng chế phá dỡ nhà ở. Khi các hộ dân giật mình tỉnh giấc trong giấc ngủ, phát hiện cửa đã bị cạy phá, họ bị cưỡng bức kéo ra ngoài cửa, hơn nữa, toàn bộ tài sản bị đập phá, đồ đạc bị hủy hoại. Bà lão Trần 75 tuổi nói: “Tôi không cam lòng, chính phủ thuê xã hội đen, cướp đoạt tài sản của dân thường, chính phủ hiện nay thực sự quá đen tối.”
Khoảng 8 giờ sáng ngày 25/11/2011, Bí thư Huyện ủy huyện Cổ Lạn Hà Quảng Bân cùng với công an, kiểm sát, tòa án và xã hội đen, đã điều động mấy trăm người. Tại thôn Kiến Quốc, Chương Đức, đã cưỡng chế phá dỡ căn nhà rộng hơn 500 mét vuông kết hợp nhà ở thương mại và chuồng trại của người dân thôn Vương Nghĩa Đức, và bắt đi cả bốn người trong gia đình, cưỡng bức san bằng căn nhà cùng toàn bộ tài sản gia đình ông, tài sản trị giá hàng triệu tệ của Vương Nghĩa Đức bị cướp sạch.
Sáng ngày 4/2/2012, hàng trăm nhân viên văn phòng di dời của quận Kiều Khẩu, thành phố Vũ Hán tỉnh Hồ Bắc đã đến thôn Đông Phong dán thông báo di dời và phát tờ rơi, người dẫn đầu bắn súng lên trời cảnh cáo, và đánh đập bạo lực đối với người dân thôn cản trở di dời, khiến nhiều người dân thôn bị thương nặng.
Ông Lưu Phi Dược, người phụ trách “Phòng Quan sát Dân sinh” — tổ chức bảo vệ quyền lợi ở Hồ Bắc, cho biết, hiện nay việc cưỡng chế di dời nhà ở bạo lực xảy ra ở khắp nơi đã diễn biến thành vấn đề xã hội nghiêm trọng, “hiện tượng cưỡng chế di dời bạo lực ở Trung Quốc như thế này những năm gần đây có thể nói là ngày càng dữ dội hơn… rất nhiều địa phương thậm chí công khai lợi dụng thế lực xã hội đen để cưỡng chế phá dỡ nhà của dân thường. Khi dân thường đấu tranh, phản kháng với họ, thường bị đối xử bạo lực. Hiện tượng đánh người bị thương, đánh chết người cũng không ngừng xảy ra.”
Luật sư Đằng Bưu của Đại học Chính pháp Trung Quốc cho biết, ngày càng nhiều vụ án di dời ở Trung Quốc cho thấy, hiện tượng chính quyền các nơi dùng quyền lực công can thiệp vào cưỡng chế di dời bạo lực khá phổ biến, ngoài ra do hệ thống tư pháp Trung Quốc không độc lập, các vụ án cưỡng chế di dời bạo lực cũng thường không được xét xử công bằng: “Từ những vụ án di dời mà tôi tham gia, việc quyền lực công các nơi can thiệp vào vụ án di dời vẫn khá phổ biến. Bao gồm chính phủ sẽ lợi dụng công an, vũ cảnh, quản lý đô thị, v.v., bao gồm cả tòa án và các thế lực khác nhau để can thiệp vào cưỡng chế di dời bạo lực hoặc di dời bất hợp pháp. Hầu như tất cả cưỡng chế di dời bạo lực đằng sau đều có sự can thiệp của xã hội đen, cũng là thế lực xã hội đen có bối cảnh chính phủ.”
“Báo cáo Nghiên cứu Điều tra Vấn đề Cưỡng chế Di dời Bạo lực Nhà ở Đô thị và Nông thôn” còn cho rằng, “nguyên nhân sâu xa hơn dẫn đến cưỡng chế di dời bạo lực đến từ các tầng diện lập pháp, hành pháp, tư pháp cũng như chế độ chính trị hiện nay của Trung Quốc. Do Trung Quốc thiếu dân chủ hiến chính, chính phủ trung ương không hành động và chính quyền địa phương lạm dụng quyền lực công không bị bất kỳ sự ràng buộc nào, dẫn đến sự cấu kết giữa quan và thương hình thành tập đoàn lợi ích, họ gây ra sự xâm phạm to lớn đối với quyền lợi công dân. Đồng thời, tư pháp không độc lập, tình trạng nhân quyền thấp kém, cũng như chính sách kinh tế dị dạng chỉ theo đuổi tăng trưởng GDP, cũng là nguyên nhân chủ yếu khiến cưỡng chế di dời bạo lực các nơi không ngừng leo thang”.
Vấn đề cưỡng chế phá dỡ nhìn bề ngoài có vẻ là chuyện của quan chức địa phương hoặc là chuyện của địa phương, trên thực tế là nguyên nhân thuộc về thể chế. Vì sao những quan chức này có thể công khai cưỡng chế phá dỡ không có giấy phép, mở rộng phạm vi di dời, công khai cướp đoạt dân thường? Không có sự bảo đảm về thể chế, không có sự ngầm cho phép về thể chế, họ sẽ không dám làm như vậy. Trên thực tế việc họ làm như vậy là được toàn bộ thể chế bảo vệ, ngầm cho phép, dung túng.
Kẻ khởi xướng xã hội đen hóa
Thời kỳ Đặng Tiểu Bình, cải cách chính trị của Trung Cộng đã bắt đầu khởi động. Thời kỳ Triệu Tử Dương cầm quyền đã có phương án cải cách chính trị tương đối rõ ràng. Việc tách đảng khỏi chính quyền, tách đảng khỏi doanh nghiệp, chế độ công chức đều đã bắt đầu triển khai. Nhưng vào thời Giang, do dùng người thân tín, lợi dụng tham nhũng chính trị làm công cụ để duy trì quyền lực cá nhân của mình, bè phái Thượng Hải, bè phái nhà họ Giang, bè phái nợ máu chồng chéo lẫn nhau, quyền lực chính trị Trung Quốc đã bước vào thời kỳ đen tối tham nhũng toàn diện. Quan trường thịnh hành việc mua quan bán chức, người được đề bạt trọng dụng không phải là quan tham thì cũng là quan bất tài, hệ thống quan liêu phình to chưa từng có. Trung Quốc xuất hiện tập đoàn tham nhũng quan liêu lớn nhất trong lịch sử. Dân chúng thiếu lòng tin đối với chính phủ, tỷ lệ hài lòng cực thấp.
Giang Trạch Dân dùng tham nhũng để trị quốc, biến tinh anh chính trị, tinh anh kinh tế và tinh anh văn hóa thành một tập đoàn lợi ích khổng lồ, không chỉ phá hủy khả năng cải lương của Trung Cộng, mà còn gây tổn hại nghiêm trọng đến lợi ích của dân chúng, khiến khoảng cách giàu nghèo ở Trung Quốc cực kỳ lớn. Và đằng sau vẻ giả tạo phồn vinh kinh tế, khiến các mặt kinh tế, chính trị, đạo đức, sinh thái của Trung Quốc đầy rẫy khủng hoảng.
Thời kỳ Giang thống trị, còn ra sức mở rộng lực lượng vũ cảnh, tăng cường phong tỏa mạng lưới, khiến chính phủ sa đọa thành công cụ giám sát, bức hại dân thường lương thiện, pháp chế thụt lùi. Đặc biệt là kể từ tháng 7/1999 việc trấn áp Pháp Luân Công, hoàn toàn sử dụng hành động khủng bố kiểu xã hội đen, bức hại vi phạm pháp luật, giả tạo tự thiêu, sử dụng cực hình, mổ cướp nội tạng sống, kết án nặng người vô tội, cản trở luật sư bào chữa, không cho người thân bạn bè đến dự phiên tòa, v.v. Cản trở mọi người biết được sự thật, dùng đủ mọi chiêu trò để lừa gạt dân chúng, các phương tiện truyền thông nước ngoài không được xem; phong tỏa Internet.
Ngoài ra, dưới sự thống trị của Giang tiếp tục cản trở cải cách chính trị, tước đoạt quyền lợi cơ bản của dân thường. Hầu như tất cả cá nhân và nhóm người có tín ngưỡng độc lập, nhân cách độc lập và ý kiến, yêu cầu khác nhau, bao gồm công nhân bị mất việc, tín ngưỡng tôn giáo, luyện khí công, dân chủ nhân quyền, truyền thông báo chí, bất đồng chính kiến chính trị, đều bị bức hại ở các mức độ khác nhau. Ông ta còn tăng cường kiểm soát báo chí, không cho phép mọi người thông qua Internet để xem thông tin chân thực. Vì vậy Giang Trạch Dân trong nhiều năm bị tổ chức nhân quyền nổi tiếng “Ân xá Quốc tế” bình chọn là “kẻ côn đồ nhân quyền”. Thảm họa nhân quyền của Trung Quốc cũng bị ông ta xuất khẩu ra nước ngoài, lan tràn toàn cầu.
Sự chuyên chế và tham nhũng về chính trị, sự bóc lột tàn bạo và tham lam về kinh tế của Giang Trạch Dân, đã khiến xã hội Trung Quốc lấy tiền làm tiêu chuẩn đo lường mọi thứ. Mà tiền bạc lại làm ô nhiễm nghiêm trọng đạo đức xã hội, khiến mô hình vận hành xã hội bình thường bị phá hoại, quan niệm giá trị truyền thống bị lật đổ triệt để, từ đó càng đẩy nhanh quá trình xã hội đen hóa của chính phủ Trung Cộng.
TIẾT 5: DUY TRÌ ỔN ĐỊNH CỰC ĐOAN
Định nghĩa của “Minh Kính Nguyệt San” đối với “duy trì ổn định” của Trung Cộng là, “duy trì ổn định kiểu Trung Quốc, KGB cộng xã hội đen”. [16]
Kinh phí duy trì ổn định trong nước liên tục vượt quá chi phí quân sự
Khái niệm duy trì ổn định của Trung Cộng được đề xuất vào tháng 4/1991, khi đó Trung ương Trung Cộng ban hành “Thông báo về việc Duy trì Ổn định Xã hội, Tăng cường Công tác Chính trị Pháp luật”, thống nhất các bộ phận phụ trách chính trị pháp luật của đảng ủy các nơi thành Ủy ban Chính trị Pháp luật. Việc duy trì ổn định trong thập niên 90 chủ yếu thể hiện ở hai lần trấn áp mạnh đầu tiên. Nhìn chung có bốn lần trấn áp mạnh được chính thức công bố, lần lượt xảy ra vào các năm 1983-1986, 1996-1997, 2001-2002 và 2010, không ngoại lệ đều do Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương Trung Cộng chủ trì. Trong đó hai lần sau vì liên quan đến việc bức hại Pháp Luân Công nên có ý nghĩa đặc biệt.
Sau khi Phòng 610 được thành lập năm 1999, đã được đưa vào cơ chế duy trì ổn định lấy Ủy ban Chính trị Pháp luật làm trung tâm, một mặt việc bức hại Pháp Luân Công trở thành nội dung chủ yếu của duy trì ổn định, mặt khác thủ đoạn, phương pháp và cơ chế được xây dựng trong việc bức hại Pháp Luân Công đã khiến duy trì ổn định biến thành ngành công nghiệp và tập đoàn lợi ích khổng lồ khống chế toàn xã hội. La Cán, người phụ trách chủ yếu của “Tiểu tổ Lãnh đạo Xử lý Vấn đề Pháp Luân Công Trung ương Trung Cộng”, người thực hiện chủ yếu việc Giang Trạch Dân bức hại Pháp Luân Công, đồng thời kiêm nhiệm Bí thư “Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương Trung Cộng” và Chủ nhiệm “Ủy ban Quản lý Tổng hợp Trị an Xã hội Trung ương Trung Cộng”. “Phòng 610” các cấp đều được đặt trong “Ủy ban Chính trị Pháp luật”. “Chế độ trách nhiệm lãnh đạo quản lý tổng hợp trị an xã hội” (gọi tắt là “chế độ trách nhiệm lãnh đạo”), chế độ một phiếu phủ quyết và chế độ truy cứu trách nhiệm lãnh đạo thường được viện dẫn khi bức hại Pháp Luân Công, chính là ràng buộc tình hình bức hại Pháp Luân Công các nơi với lợi ích thăng tiến thành tích của các quan chức lãnh đạo chủ chốt, hay nói cách khác là buộc mỗi quan chức chủ chốt đều phải dính máu trên tay.
Những năm gần đây khoản đầu tư của Trung Cộng vào “duy trì ổn định” đã tăng lên rất nhiều. Số liệu được công bố trên “Báo Khoa học Xã hội” số ra ngày 27/5/2010 cho thấy, kinh phí duy trì ổn định toàn quốc năm 2009 đạt 514 tỷ tệ. Theo “Báo cáo Dự thảo Ngân sách Trung ương và Địa phương năm 2011” cho thấy, chi tiêu “an ninh công cộng” cho duy trì ổn định của Trung Cộng đã cao tới 624,4 tỷ tệ. “Chi phí duy trì ổn định của Trung Quốc năm nay tiếp tục vượt quá chi phí quân sự” đã trở thành nội dung được các phương tiện truyền thông lớn trên thế giới quan tâm. Hãng Reuters đưa tin ngày 30/4/2012, Trung Cộng để củng cố quyền lực đã chi ra một khoản kinh phí duy trì ổn định lớn, năm 2012 tăng 11,5% so với năm trước, đạt 700 tỷ tệ. Trong khi kinh phí quốc phòng năm 2012 mới chỉ 630 tỷ tệ. [17] Dù do chi tiêu quân sự của Trung Cộng không minh bạch, rất khó so sánh chính xác chi phí quân sự với chi phí duy trì ổn định, nhưng sự gia tăng khổng lồ của chi phí duy trì ổn định là sự thật không thể chối cãi.
Tạp chí “Tài Kinh” (Caijing) Trung Quốc đã đăng một bài báo cáo dài vào ngày 9/5/2011, bàn về kinh tế duy trì ổn định Trung Quốc với tiêu đề “Hóa đơn An ninh Công cộng”. Bài báo cáo này dẫn bài viết của Giáo sư Khoa Xã hội học Đại học Thanh Hoa Tôn Lập Bình, “Thực hiện Sự Ổn định Lâu dài của Xã hội bằng Việc Thể chế hóa Biểu đạt Lợi ích” nói, những năm gần đây, “đầu tư duy trì ổn định các nơi tăng mạnh, chi phí duy trì ổn định khá cao, một số địa phương thậm chí đã đến mức không tính đến giá phải trả.” [18] Học giả Trung Quốc Sái Thận Khôn đã viết bài “Duy trì ổn định kiểu Trung Quốc đã trả giá bao nhiêu?” Ông chỉ ra: “Kinh phí duy trì ổn định của một số địa phương đã xuất hiện tình trạng căng thẳng, trước đây cơ cấu duy trì ổn định rất hào phóng giải quyết chi phí ăn ở đi lại cho người đi khiếu kiện, nay lại đảo ngược lại đòi kinh phí duy trì ổn định từ cấp trên. Có địa phương chính quyền đã không thể gánh nổi kinh phí duy trì ổn định hiện có mà vẫn không ngừng tăng lên, còn dân thường thì đã nhẫn nhịn đến giới hạn đối với phương thức duy trì ổn định mà mọi chi phí đều đổ lên đầu họ!” Điều này cho thấy duy trì ổn định đã là cơ chế quan trọng nhất để Trung Cộng duy trì sự thống trị. Duy trì ổn định lại là vòng luẩn quẩn ác tính do Trung Cộng tạo ra sự bức hại và hỗn loạn, rồi lại dùng nhân lực và tài lực khổng lồo của nhà nước, tiếp tục cưỡng ép trấn áp những người đã bị bức hại.
Nhận thức của Trung Quốc về sự kiện quần chúng, do chịu ảnh hưởng của môi trường chính trị và các yếu tố kinh tế, xã hội khác nhau, đã trải qua các giai đoạn khác nhau: từ thập niên 50 đến cuối thập niên 70 thế kỷ 20, gọi là “quần chúng gây rối”, “tụ tập gây rối”; đầu thập niên 80 đến giữa cuối thập niên 80 gọi là “sự kiện trị an”, “sự kiện trị an quần chúng”; cuối thập niên 80 đến đầu thập niên 90 gọi là “sự kiện đột phát”, “sự kiện đột phát trị an”, “sự kiện khẩn cấp trị an”, “sự kiện trị an mang tính đột phát”; giữa thập niên 90 đến cuối thập niên 90 gọi là “sự kiện trị an khẩn cấp”; cuối thập niên 90 đến đầu thế kỷ 21 gọi là “sự kiện trị an mang tính quần thể”. Ngày 7/7/2005, Phó Bộ trưởng Ban Tổ chức Trung ương Lý Cảnh Điền đã chỉ rõ tại buổi họp báo, hiện nay cải cách Trung Quốc đã bước vào giai đoạn then chốt, một số mâu thuẫn xuất hiện tập trung, và do đó đã xảy ra một số “sự kiện quần thể”, ông đã sửa lại cách gọi “bạo loạn” mà phóng viên nước ngoài dùng, thay bằng “sự kiện quần thể”. Rõ ràng, từ “bạo loạn” có hại cho hình ảnh “xã hội hài hòa” của Trung Cộng, giống như gọi “thất nghiệp” là “hạ cương” (nghỉ việc) vậy, “sự kiện quần thể” là một từ ngữ mang màu sắc Trung Quốc mà Trung Cộng dùng để che mắt thiên hạ.
Những năm gần đây, nông dân mất đất, cưỡng chế di dời bạo lực, ô nhiễm môi trường, công nhân bảo vệ quyền lợi, giàu nghèo bất công, quan dân đối lập, v.v. đều gây ra các làn sóng phản kháng quần thể quy mô lớn. Biện pháp ứng phó của Trung Cộng chính là tiếp tục trấn áp bạo lực, cứ như vậy vòng luẩn quẩn ác tính. Theo thống kê của bộ phận liên quan, năm 1993 Trung Quốc xảy ra khoảng 8.700 sự kiện quần thể, năm 1994 khoảng 10.000 vụ, năm 2003 đạt tới 60.000 vụ, năm 2005 tăng lên 87.000 vụ, năm 2006 vượt quá 90.000 vụ. Theo ước tính của Giáo sư Tôn Lập Bình Đại học Thanh Hoa được “Wall Street Journal” trích dẫn, năm 2010 Trung Quốc đã xảy ra 180.000 vụ biểu tình và bạo loạn cùng các sự kiện quần thể khác. Do sự phổ cập của Internet và điện thoại di động, khiến rất nhiều sự kiện quần thể trước khi bị chính phủ phong tỏa đã được lan truyền và quan tâm rộng rãi trong và ngoài nước. Ví dụ, sự kiện Vạn Châu Trùng Khánh, bạo loạn Ống An Quý Châu, biểu tình Cát Thủ Hồ Nam, vụ án Đặng Ngọc Kiều đâm quan chức ở Hồ Bắc, sự kiện Thạch Thủ Hồ Bắc, sự kiện Tiền Vân Hội Chiết Giang, sự kiện Ô Khảm Quảng Đông, sự kiện Tân Đường thành phố Tăng Thành Quảng Đông, sự kiện tụ tập quận Vạn Thịnh Trùng Khánh, v.v.
Trung Cộng là nguyên nhân gây ra hỗn loạn
Bạo loạn Ống An là sự kiện quần thể xảy ra vào chiều ngày 28/6/2008 tại huyện Ống An, Châu tự trị dân tộc Bố Y – Miêu Kiềm Nam, tỉnh Quý Châu, Trung Quốc. Số người tụ tập lên tới khoảng 2 vạn người, tòa nhà Sở Công an huyện, chính quyền huyện và huyện ủy bị đám đông người dân địa phương công kích, nhiều văn phòng và một số xe cộ bị đốt cháy. Nguyên nhân sự việc là do một nữ sinh trung học chết bất thường, học sinh biểu tình đòi công lý bị cảnh sát địa phương đối xử thô bạo, gây ra sự bất mãn mạnh mẽ của người dân địa phương, tạo thành cuộc bạo loạn lớn giữa quan và dân đối lập. Theo giải thích chính thức, nguyên nhân sâu xa đằng sau sự kiện là, trong quá trình khai mỏ, an trí di dời, lợi ích của người dân bị xâm phạm, mà một số quan chức trong cách xử lý những vấn đề này thô bạo, hơn nữa tùy tiện điều động cảnh lực cộng thêm thế lực đen ác địa phương lớn mạnh, sinh ra dân oán.
Vụ án Đặng Ngọc Kiều đâm quan chức là vụ án hình sự xảy ra vào tối ngày 10/5/2009 tại thị trấn Dã Tam Quan, huyện Ba Đông, châu Ân Thi, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc, trong đó nữ nhân viên phục vụ khách sạn vì mục đích tự vệ chính đáng đã vô tình đâm chết, đâm bị thương nhân viên chính quyền nhân dân thị trấn. Ba quan chức yêu cầu nữ nhân viên phục vụ Đặng Ngọc Kiều cung cấp “dịch vụ đặc biệt”, nhưng bị Đặng Ngọc Kiều từ chối, ba quan chức tức giận bèn tìm cách hãm hiếp Đặng; Đặng Ngọc Kiều trong lúc xô xát với mấy người, vì mục đích tự vệ chính đáng đã hoảng loạn vơ lấy con dao gọt trái cây tại chỗ, đâm bị thương Đặng Quý Đại và Hoàng Đức Trí. Đặng Quý Đại cấp cứu không kịp đã tử vong. Vụ án này sau khi xảy ra đã nhanh chóng gây chấn động cả nước, Đặng Ngọc Kiều cũng được rất nhiều người dân khen ngợi là “liệt nữ đương đại”.
Sự kiện Tiền Vân Hội bắt nguồn từ việc một người dân thôn Trại Kiều, thị trấn Bồ Kỳ, thành phố Nhạc Thanh, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc, vào khoảng 9 giờ sáng ngày 25/12/2010, bị một chiếc xe tải hạng nặng tự đổ hiệu Giải Phóng cán chết tại đoạn đường Hồng Nam thôn Trại Kiều, cùng với sự kiện quần thể xung đột giữa quan và dân xảy ra vài ngày sau đó, tên gọi chung cho nhiều báo cáo truyền thông và điều tra từ nhiều phía trong và ngoài nước.
Sự kiện Ô Khảm là phong trào quần chúng xảy ra năm 2011 tại thành phố Lục Phong thuộc thành phố Sán Vĩ, tỉnh Quảng Đông. Do đất bị thành viên ủy ban thôn bán ngầm, đại diện thôn dân đã đi khiếu kiện hơn chục lần trong hai năm mà vẫn không được giải quyết chút nào, người dân thôn đã xảy ra mâu thuẫn với chính quyền thành phố Sán Vĩ và thành phố Lục Phong trực thuộc. Ngày 21/9/2011, có ba bốn nghìn người tụ tập tại tòa nhà chính quyền thành phố Lục Phong và đồn công an ở đường phố Đông Hải, thôn Ô Khảm, không lâu sau nhận được phản hồi của chính quyền, nhưng vấn đề vẫn không được giải quyết thực chất. Thôn Ô Khảm sau đó lại bùng nổ nhiều lần biểu tình, cảnh sát và dân xảy ra xô xát dữ dội, sau đó dân làng tự tổ chức “Hội đại diện lâm thời dân làng Ô Khảm”, từ ngày 9/12 dân làng mỗi ngày tụ tập biểu tình trước sân khấu hí kịch Tiên Ông gần ủy ban thôn trong làng, và trong cuộc diễu hành hướng đến tòa nhà chính quyền thành phố Lục Phong đã xảy ra xung đột với cảnh sát, từ đó bắt đầu cục diện đối đầu giữa cảnh sát và dân.
Dù Trung Cộng mấy chục năm qua luôn hô hào “ổn định là trên hết”, nhưng sự làm càn của Trung Cộng lại khiến xã hội ngày càng bất ổn. Những năm gần đây mâu thuẫn xã hội Trung Quốc đại lục, bao gồm cả sự kiện phản kháng bạo động của quần chúng, ngày càng nổi cộm, vì vậy để duy trì sự thống trị áp bức cao độ, từ trung ương Trung Cộng đến địa phương, thậm chí đến tận thị trấn, đường phố cơ sở, đều xuất hiện các cơ quan như “Văn phòng Quản lý Tổng hợp”, “Văn phòng Duy trì Ổn định”, thường cùng “Phòng 610”, “Phòng Phòng ngừa” làm việc chung một chỗ, ví dụ trong một số văn kiện cơ sở sẽ thấy cách gọi “Phòng Duy trì Ổn định (Phòng Phòng ngừa)”, “Phòng Duy trì Ổn định (Phòng 610)”, vì vậy có người đoán rằng có phải “Phòng 610” đã đổi tên thành “Phòng Duy trì Ổn định” hay không.
“Ủy ban Quản lý Tổng hợp Trị an Xã hội Trung ương” (gọi tắt “Trung ương Tổng hợp Ủy”) của Trung Cộng được thành lập năm 1991, là “bộ phận công tác trực thuộc” của Trung ương Trung Cộng, dưới nó thiết lập “Văn phòng Ủy ban Quản lý Tổng hợp Trị an Xã hội Trung ương” (gọi tắt “Trung ương Tổng hợp Biện”), là cơ quan sự vụ của “Trung ương Tổng hợp Ủy”, làm việc chung văn phòng với cơ quan “Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương”. Chủ nhiệm của “Trung ương Tổng hợp Ủy” thường là Bí thư Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương.
“Tiểu tổ Lãnh đạo Công tác Duy trì Ổn định Trung ương” là “cơ quan điều phối nghị sự” của Trung ương Trung Cộng, chính thức được thành lập vào thập niên 90 thế kỷ trước, nhưng văn phòng trực thuộc nó “Văn phòng Duy trì Ổn định” được thành lập ở các nơi là chuyện của những năm gần đây. Đơn vị thành viên “Tiểu tổ Lãnh đạo Duy trì Ổn định” bao gồm: Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương, Ủy ban Quản lý Tổng hợp Trung ương, Ban Tuyên truyền Trung ương, Bộ Công an, Tổng cục Phát thanh Truyền hình Điện ảnh Quốc gia. Cơ quan sự vụ thường trực của nó là “Văn phòng Công tác Duy trì Ổn định Trung ương” (gọi tắt “Trung ương Duy Ổn Biện”). Giống như “Trung ương Tổng hợp Biện”, “Trung ương Duy Ổn Biện” cũng làm việc chung văn phòng với cơ quan Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương. Tổ trưởng “Tiểu tổ Lãnh đạo Công tác Duy trì Ổn định Trung ương Trung Cộng” thường cũng là Bí thư Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương. Chủ nhiệm “Văn phòng Duy trì Ổn định” thường do Phó Bí thư Ủy ban Chính trị Pháp luật kiêm nhiệm. “Văn phòng Duy trì Ổn định” liên quan đến nhiều phương diện xã hội, không chỉ giới hạn ở phương diện chính trị pháp luật. Do đó, đơn vị thành viên của nó rộng hơn Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương, ngoài hệ thống công an, kiểm sát, tòa án và bộ phận an ninh quốc gia, còn đưa cả bộ phận tuyên truyền vào. Trung Cộng từ trung ương đến các tỉnh, thành phố, huyện cho đến cấp xã và đường phố, thậm chí cả những đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp quan trọng đều thiết lập “Văn phòng Duy trì Ổn định”.
“Văn phòng Duy trì Ổn định” tuy đã thành lập từ lâu, nhưng lần đầu tiên thu hút sự chú ý của bên ngoài, lại bắt nguồn từ sự kiện “cửa công đoàn” Wal-Mart năm 2008. Năm 2009, tạp chí “Nam Phong Song” của truyền thông Trung Quốc đại lục liên tục đăng bài: “Tư duy mới về duy trì ổn định năm 09” [19], “‘Văn phòng Duy trì Ổn định’ bước ra tiền đài” [20], phản ánh mô hình thống trị mấy chục năm của Trung Cộng “dập tắt mọi nhân tố bất ổn từ trong trứng nước”, chính là thủ phạm chính khiến mâu thuẫn xã hội ngày càng thường xuyên và xung đột ngày càng gia tăng.
“Chiến tranh quần chúng” coi mọi người là kẻ thù
Sau hơn hai mươi năm cái gọi là “cải cách mở cửa”, nhân dân Trung Quốc không hề đón nhận được môi trường sống quốc thái dân an, an cư lạc nghiệp, mâu thuẫn xã hội trái lại ngày càng gay gắt. Trung Cộng không thuận theo lòng dân, trả lại cho nhân dân các quyền lợi và tự do mà hiến pháp bảo đảm, cách làm của Trung Cộng là lại đem bộ “tố giác, kiểm cử, quần chúng đấu quần chúng” trước đây ra sử dụng, một lần nữa thực hiện những phẩm hạnh xấu xa nhất trong nhân tính.
Năm 2005, toàn bộ hệ thống chính trị pháp luật toàn quốc bắt đầu khôi phục lại “kinh nghiệm tiên tiến” nhiều năm trước, “kinh nghiệm Phong Kiều”. Kinh nghiệm này là kinh nghiệm về “phát động quần chúng, tăng cường chuyên chính” được tổng kết tại thị trấn Phong Kiều, huyện Chư Kỵ, tỉnh Chiết Giang năm 1963 sau khi lãnh tụ đảng Mao Trạch Đông đưa ra lời kêu gọi “ngàn vạn lần không được quên đấu tranh giai cấp”. Sau năm 1979 dần dần biến mất khỏi ngôn ngữ chính trị Trung Quốc, cho đến năm 2005 mới lại được phổ biến trở lại. Lần này, “kinh nghiệm Phong Kiều” được tổng kết thành “việc nhỏ không ra khỏi thôn, việc lớn không ra khỏi xã (trấn), mâu thuẫn không đưa lên trên”. Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương đề xuất với các địa phương, xây dựng nền tảng công tác quản lý tổng hợp ba cấp huyện, trấn, thôn, gọi là “việc nhỏ không ra khỏi thôn, việc lớn không ra khỏi trấn, việc khó huyện giải quyết dứt điểm”.
Cùng với mâu thuẫn xã hội, đặc biệt là sự kiện phản kháng bảo vệ quyền lợi quy mô lớn của quần chúng xảy ra thường xuyên, kể từ năm 2009, “Văn phòng Duy trì Ổn định” của Trung Cộng cũng chính thức bước ra tiền đài, không còn chỉ là “cơ quan nội bộ” của mỗi xã trấn, mà đã có “bộ mặt” riêng của mình. Đồng thời, Trung Cộng đặt trọng tâm “duy trì ổn định” áp bức cao độ vào cơ sở, yêu cầu xã trấn (đường phố) phải do phó bí thư đảng (công) ủy dẫn đầu, tích hợp lực lượng các mặt chính trị pháp luật, quản lý tổng hợp, duy trì ổn định, tiếp dân, hình thành “quản lý tổng hợp”, thực chất là mạng lưới kiểm soát lập thể của bạo chính áp bức cao độ.
Cơ quan chuyên trách không thể làm được việc người theo dõi người, dùng tiền để động viên toàn xã hội mới là cách làm xấu xa truyền thống của Trung Cộng. “Tuần báo Nam Phương” từng đăng một bài báo, nói “nhân viên tạm thời” chống đỡ hệ thống duy trì ổn định Trung Quốc: “phát động quần chúng tham gia chiến tranh”. Những “nhân viên tạm thời” này, bao gồm cả quần chúng mà Trung Cộng phát động. Bài báo nói, “công nhân giao sữa, công nhân giao gas, nhân viên vệ sinh, nhân viên quản lý bất động sản… những người mà ngàn nhà vạn hộ đều không thể thiếu này, đã trở thành xúc tu vươn dài của cơ quan công an. Họ dùng khả năng quan sát đặc biệt của mình, thu thập thông tin trị an ở mọi ngóc ngách bất cứ lúc nào.” [21] Ở một số vị trí quan trọng, sự phân công của những “con mắt” này rất tinh vi. Ví dụ, bên cạnh mỗi “phần tử nguy hiểm” được công an liệt vào bảy loại người trọng điểm liên quan đến duy trì ổn định, đều phải bố trí hai “con mắt” để tiến hành giám sát khống chế hiệu quả. Những người này có một danh xưng gọi là “tình nguyện viên trị an”, tuy là tình nguyện viên, nhưng lại phải trả tiền. Bài báo lấy thành phố Túc Thiên tỉnh Giang Tô làm ví dụ, chưa đầy một năm, thành phố Túc Thiên đã có 38.000 tình nguyện viên trị an, tương đương cứ 142 người thì có một người, một mạng lưới “phòng chống kiểm soát” chặt chẽ đã được dệt nên. Cơ quan công an thông qua các chi tiết khảo hạch khen thưởng, quản lý tích điểm lũy kế đối với tình nguyện viên, mỗi 1 điểm quy đổi thành 100 tệ, do quỹ chuyên dụng của tài chính lập ra để chi trả khen thưởng. Tình nguyện viên có thể nhận được điểm tích lũy thấp nhất 0,01 điểm, cao nhất 100 điểm. Sau khi tích lũy đến một mức điểm nhất định, sẽ quy đổi thành tiền thưởng. Có thể thấy Trung Cộng dùng tiền của người đóng thuế để thực hiện sự thống trị mật vụ.
Trần Tương Dĩnh, chủ nhiệm Trung tâm Quản lý Tổng hợp Duy trì Ổn định thị trấn Thiệu Trang, thành phố Thanh Châu tỉnh Sơn Đông, đã đăng bài “trao đổi kinh nghiệm” trên trang web Ủy ban Chính trị Pháp luật nói, trung tâm này đầu tư 280.000 tệ để trang trí văn phòng và bố trí thiết bị, lại đầu tư hơn 100.000 tệ, lắp đặt hệ thống giám sát điện tử tại các ngã đường chính trong khu vực thị trấn, khu dân cư, thôn. Trung tâm duy trì ổn định dưới nó thiết lập sáu cơ quan như Văn phòng Quản lý Tổng hợp, “Phòng 610”, Văn phòng Tiếp dân, Trạm Tư pháp, nhân viên công tác từ 3 người ban đầu tăng lên 11 người, thuê 120 nhân viên thông tin quản lý tổng hợp duy trì ổn định thôn (chính là đặc vụ theo dõi nội bộ), phát trợ cấp theo quy định. Còn thành lập trạm công tác duy trì ổn định khu dân cư ở mỗi khu dân cư, bảo đảm việc nhỏ không ra khỏi thôn, việc lớn không ra khỏi khu dân cư. Ở cấp thôn, do “ngũ lão” (năm loại người cao tuổi có uy tín) và đại diện phụ nữ có “uy tín” trong thôn lập thành trạm công tác duy trì ổn định thôn, mỗi thôn thành lập đội tuần tra trị an từ 15 đến 20 người. Yêu cầu kiên quyết khống chế người đi khiếu kiện tại địa phương, ngăn chặn khiếu kiện vượt cấp.
Lý Truyền Đức, chủ nhiệm Trung tâm Quản lý Tổng hợp Duy trì Ổn định đường phố Vương Phủ, thành phố Thanh Châu, trong buổi trao đổi đã nói theo giọng điệu trung ương, phải thực hiện biện pháp phòng chống quần chúng “liên phòng ba cấp” đường phố, khu dân cư, thôn (khu dân cư), phải xây dựng bố cục “phòng chống lớn”, làm “ba phòng” gồm “phòng người, phòng kỹ thuật, phòng vật chất”. “Phòng người” chính là người theo dõi người, yêu cầu đội viên tuần tra thực hiện tuần tra 24 giờ mỗi ngày, canh giữ nghiêm ngặt, bảo đảm không xảy ra bất kỳ vấn đề gì; “phòng kỹ thuật” chính là sử dụng biện pháp công nghệ cao, ví dụ đầu tư hơn 300.000 tệ vốn tại khu dân cư Bắc Quan, lắp đặt 38 camera giám sát tại các con phố chính, vị trí quan trọng của khu dân cư, thực hiện giám sát không kẽ hở toàn thời gian đối với khu dân cư; “phòng vật chất” chính là phải xây dựng tổ chức khu dân cư, ủy ban hòa giải và phòng cảnh sát cộng đồng, dập tắt mâu thuẫn từ trong trứng nước. Lý Truyền Đức còn đặc biệt nhắc đến trong bài viết, đã đưa 3 người Pháp Luân Công vào lớp học tập pháp luật (cái gọi là “trung tâm bồi dưỡng pháp chế” chính là lớp tẩy não cưỡng bức chuyển hóa), giam giữ hình sự 1 học viên Pháp Luân Công, phá hủy 2 nơi tài liệu, bảo đảm trong khu vực quản lý không có trường hợp nào người Pháp Luân Công ra ngoài liên lạc với nhau, v.v.
Trên trang web Ủy ban Chính trị Pháp luật thành phố Thanh Châu tỉnh Sơn Đông có hai bản “văn kiện”, là bảng biểu chi tiết sổ sách do Văn phòng Quản lý Tổng hợp, Văn phòng Duy trì Ổn định và “Phòng 610” thành phố Thanh Châu in ấn, cung cấp cho các trung tâm quản lý tổng hợp duy trì ổn định thị trấn, đường phố, khu vườn, khu vực sử dụng, tên gọi là “Sổ sách Công tác Trạm Quản lý Tổng hợp Duy trì Ổn định Thôn, Khu dân cư” và “Sổ sách Công tác Trung tâm Quản lý Tổng hợp Duy trì Ổn định Thị trấn”, trong đó có “Bảng Đăng ký Tình hình Cơ bản Nhân viên Thông tin Quản lý Tổng hợp Duy trì Ổn định”, “Bảng Đăng ký Tình hình Trợ cấp Hàng tháng cho Nhân viên Thông tin Quản lý Tổng hợp Duy trì Ổn định”, cũng như phần lớn các bảng đăng ký liên quan đến việc giám sát học viên Pháp Luân Công do Phòng 610 Thành ủy Thanh Châu của Trung Cộng chế định, phân phát đến các trung tâm duy trì ổn định của mỗi thị trấn (đường phố, vườn, khu vực), hơn nữa còn được chia nhỏ thành bảy loại bảng biểu sổ sách để giám sát học viên Pháp Luân Công như “hộ khẩu địa phương lưu trú lâu dài ở nơi khác”, “mang án bỏ trốn”, “người mất kiểm soát”, “người từng ra ngoài gây rối”, “người chưa chuyển hóa”, “người bị kết án, lao giáo, ra khỏi lớp học”, “người trọng điểm không yên tâm”, ngoài ra còn có bảng “Thông tin Cơ bản Nhân viên Pháp Luân Công”, bảng đăng ký điều tra thăm hỏi nhân viên Pháp Luân Công, bảng ghi chép trò chuyện thăm hỏi nhân viên Pháp Luân Công, v.v. Qua đó có thể thấy, Trung Cộng là một đảng ác thù địch với dân, dân chúng không có được quyền tự do và quyền lợi cơ bản nhất. Dưới sự thống trị của đảng ác Trung Cộng, xã hội đại lục giống như một nhà tù lớn.
Trong khi phát động quần chúng thực hiện hoạt động đặc vụ người theo dõi người, Trung Cộng chưa bao giờ nới lỏng việc kiểm soát học sinh. Phát triển “nhân viên thông tin chính bảo” trong các trường đại học, để Trung Cộng bồi dưỡng tai mắt trong các đoàn thể học sinh. Trong một thông báo đào tạo nhân viên thông tin chính bảo năm 2009, Học viện Khoa học Kỹ thuật Vạn Phương thuộc Đại học Công nghệ Hà Nam tuyên bố, học viện kể từ khi thành lập trường năm 2002 đã xây dựng đội ngũ nhân viên thông tin chính bảo theo tỷ lệ học sinh, từ 25 người ban đầu đến 103 người, đội ngũ nhân viên thông tin chính bảo dần dần lớn mạnh và quy phạm hóa. Thông báo còn đặc biệt nhắc đến việc những nhân viên thông tin chính bảo này đã theo dõi chặt chẽ và vu cáo Pháp Luân Công như thế nào, đã tịch thu bất hợp pháp bao nhiêu tài liệu tuyên truyền của Pháp Luân Công, v.v.
Trung Cộng không tiếc bỏ ra kinh phí khổng lồ, phát động chiến thuật biển người, để xây dựng “đội ngũ duy trì ổn định”, thực hiện sự thống trị áp bức cao độ. Rất nhiều đối tượng bị “duy trì ổn định” đều là dân thường bị Trung Cộng bức hại, việc giám sát học viên Pháp Luân Công tín ngưỡng “Chân Thiện Nhẫn” vẫn là trọng tâm của trọng tâm.
“Lực lượng bí mật” của sự thống trị mật vụ
Phần trước đã đề cập, Trung Cộng lấy cớ “duy trì ổn định”, một lần nữa phát động chiến tranh quần chúng, thực hiện người theo dõi người, thực hiện bạo chính áp bức cao độ. Trước đây Trung Cộng dựa vào áp bức cao độ và lừa dối tẩy não, hiện nay dựa vào kích thích bằng tiền bạc. Cảnh sát Quốc bảo là bộ máy bạo lực trực tiếp và tay sai trong chuỗi mắt xích “duy trì ổn định” của Trung Cộng, mạng lưới “duy trì ổn định” của Trung Cộng đương nhiên cũng là tai mắt mà “Quốc bảo” lợi dụng để giám sát dân chúng. Đáng chú ý là, “Văn phòng Duy trì Ổn định” và Quốc bảo của Trung Cộng còn đặc biệt coi trọng việc phát triển lực lượng bí mật.
“Lianhe Zaobao” (Liên Hợp Tảo Báo) trích đăng bài viết của “Tuần báo Nam Phương” trong bài “Nhân viên tạm thời chống đỡ hệ thống duy trì ổn định Trung Quốc: phát động quần chúng tham gia chiến tranh” chỉ ra, “tình nguyện viên trị an” mà Trung Cộng phát triển do “bốn lực lượng” tạo thành: lực lượng tuần tra khu dân cư, thôn xóm, lực lượng phòng vệ liên hợp lưu động trên đường phố, lực lượng canh gác trị an tại các địa điểm, và lực lượng ẩn giấu. Ba lực lượng đầu, bao gồm người về hưu, người hưởng trợ cấp thấp thành thị nông thôn, tài xế taxi, nhân viên quản lý đô thị, công nhân vệ sinh, công nhân giao sữa, nhân viên ghi công tơ điện, bảo vệ bất động sản, chủ sạp báo, v.v. các loại người khác nhau. Còn loại lực lượng thứ tư thì rất bí ẩn, văn kiện của Trung Cộng mô tả là “để tôi sử dụng, có thể leo cao chui sâu, cung cấp thông tin tầng sâu, nội bộ, mang tính dự báo”.
Dương Quang Vĩ, chính ủy Chi đội Quốc bảo Sở Công an thành phố Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang, trong một bài viết về cái gọi là đi theo đường lối quần chúng đã trình bày, phải không ngừng tăng cường việc “xây dựng vật chất” cho “lực lượng bí mật”, phá vỡ khung nguồn thể lấy màu xám làm chủ trước đây (tức tầng lớp thu nhập thấp), vận dụng phương thức kết hợp biện pháp kinh tế và bồi dưỡng tình cảm, xây dựng một nhóm lực lượng bí mật kiểu mới có trình độ văn hóa cao, năng lực hoạt động mạnh phục vụ cho công tác Quốc bảo, đưa ra yêu cầu công tác “bất kể vị trí cụ thể nào, mọi người đều phải xây dựng lực lượng bí mật”.
Tôn Kiến Tân, Cục trưởng Cục Tư pháp tỉnh An Huy, đã có một bài phát biểu tại hội nghị công tác Quốc bảo toàn tỉnh từ đầu năm 2001. Bài phát biểu dài toàn bộ đều nói về việc bức hại Pháp Luân Công như thế nào, còn nói cơ quan công an cấp tỉnh, thành phố, huyện đều phải xây dựng và bồi dưỡng một nhóm “cao thủ” nhân viên tình báo đặc vụ có thể thâm nhập vào nội bộ hoặc bám sát mục tiêu để triển khai trinh sát, nắm bắt khống chế trận địa quan trọng, phạm vi hoạt động lớn, khả năng ứng biến mạnh. Đương nhiên, tất cả đều phải dùng tiền để mua chuộc. Tôn Kiến Tân còn tuyên bố phải có kế hoạch triển khai việc khảo hạch và đào tạo lực lượng bí mật, hoàn thiện cơ chế khen thưởng lực lượng bí mật.
Duy trì ổn định bằng nòng súng: lực lượng vũ cảnh
Bài viết của học giả Trung Quốc Sái Thận Khôn nói, cảnh sát Trung Quốc đủ loại hình: cảnh sát đặc nhiệm, cảnh sát tuần tra, cảnh sát giao thông, cảnh sát hình sự, cảnh sát hộ khẩu, cảnh sát kinh tế, cảnh sát ngục, cảnh sát tư pháp, cảnh sát ngoại sự, cảnh sát an ninh mạng thông tin công cộng, cảnh sát chống ma túy, cảnh sát khoa học kỹ thuật, cảnh sát an ninh quốc gia, cảnh sát trên không, cảnh sát hàng vận, cảnh sát chống buôn lậu, cảnh sát lâm nghiệp, v.v. Còn có một đội ngũ nhân viên phòng vệ liên hợp trị an và cảnh sát phụ trợ với số lượng gần tương đương với cảnh sát. “So với con số công khai của truyền thông chính thức, số người thực tế ít nhất nhiều hơn mười lần trở lên.” [56] Ngoài ra, Trung Quốc còn có một lực lượng cảnh sát vũ trang.
Tổng bộ Lực lượng Cảnh sát Vũ trang Nhân dân Trung Quốc được thành lập ngày 5/4/1983, tiền thân là Lực lượng Công an Nhân dân Trung Quốc. Lực lượng cảnh sát vũ trang là lực lượng đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ an ninh mà nhà nước giao phó, chịu sự lãnh đạo kép của Quốc vụ viện và Quân ủy Trung ương, do các lực lượng nội vệ, hoàng kim (khai thác vàng), lâm nghiệp, thủy điện, giao thông, v.v. hợp thành. Tháng 12/1996, Quân ủy Trung ương quyết định nâng cấp tổng bộ lực lượng vũ cảnh từ cấp phó đại quân khu lên cấp chính đại quân khu, và từ năm 1995 đến 1999 lần lượt nâng cấp tổng đội vũ cảnh của các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương trên cả nước lên cấp phó quân.
Lực lượng vũ cảnh sở hữu ba loại tám binh chủng bộ đội, loại chủ yếu nhất là “bộ đội nội vệ”, chịu sự lãnh đạo quản lý trực tiếp của tổng bộ vũ cảnh, bao gồm tổng đội vũ cảnh của các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương, sư đoàn cơ động và đơn vị trực thuộc tổng bộ.
Quân đội là đối “ngoại”, cảnh sát là đối “nội”, còn khi trong nước gặp sự kiện an ninh trọng đại, cảnh sát không xử lý được, quân đội không tiện ra mặt, thì cần một lực lượng quân sự đối “nội”, đó chính là lực lượng vũ cảnh. Trong các sự kiện phản kháng bạo động của quần chúng ở khắp nơi Trung Quốc, thường thấy lực lượng vũ cảnh xuất động trấn áp. Những năm gần đây đặc biệt tăng cường diễn tập thực chiến và huấn luyện quân sự liên quan về phản ứng nhanh, đến nhanh, chống bạo động chống khủng bố, cũng như khống chế hiện trường ứng phó với đô thị. Trung Cộng đặc biệt xây dựng 14 sư đoàn cơ động có thể xuất kích cơ động, chủ yếu đảm nhận công tác duy trì ổn định đô thị. Có thể thấy Trung Cộng đã là chim sợ cành cong, cỏ cây đều thành binh lính.
Học giả Trung Quốc Sái Thận Khôn nói, đằng sau khoản đầu tư khổng lồ cho duy trì ổn định, lại là sự tham nhũng điên cuồng. “Mục đích thật sự của việc kêu la bất ổn chẳng qua là để chiếm đoạt tiêu xài nhiều kinh phí duy trì ổn định hơn, do đó Trung Quốc đã rơi vào một vòng luẩn quẩn duy trì ổn định, càng kêu bất ổn càng có tiền, càng có tiền càng không mong muốn ổn định, một nhóm lớn người ăn cơm duy trì ổn định, không ngừng tạo ra kẻ thù tìm kiếm kẻ thù, thậm chí coi rất nhiều nhóm người yếu thế là nhân tố bất ổn, thông qua các vụ án oan sai và cưỡng chế di dời quy mô lớn, khiến xã hội này tràn ngập hận thù và biến động.” [22] Đây chính là bản chất của duy trì ổn định mang màu sắc Trung Quốc.
Hố đen kinh tế
Tháng 10/2004, tổ chức phi chính phủ có trụ sở tại Hoa Kỳ “Tổ chức Quốc tế Điều tra Bức hại Pháp Luân Công” đã công bố một báo cáo điều tra dài hai vạn chữ, “Báo cáo Điều tra về việc Tập đoàn Giang Trạch Dân Lợi dụng Tài sản Quốc hữu để Bức hại Pháp Luân Công” chỉ ra, Giang Trạch Dân đã ngầm hoặc cưỡng ép sử dụng lượng lớn tài nguyên quốc gia để bức hại Pháp Luân Công, tạo ra mấy hố đen kinh tế lớn. [23]
Hố đen 1: Kinh phí khổng lồ nuôi dưỡng cơ quan công kiểm pháp
Theo tin tức nội bộ từ Công an Bắc Kinh, từ tháng 7/1999 đến tháng 4/2001, số lượt học viên Pháp Luân Công từ khắp nơi trên cả nước lên Bắc Kinh khiếu kiện bị bắt, có ghi chép đăng ký lên tới 830.000 lượt người (chưa bao gồm rất nhiều người không khai báo tên và chưa đăng ký). Mùa hè năm 2001, Sở Công an thành phố Bắc Kinh thông qua việc tính toán số lượng bánh bao được bán trên đường phố Bắc Kinh tăng lên, ước tính khi đó số học viên Pháp Luân Công đến Bắc Kinh khiếu kiện đã vượt quá một triệu người. Để giam giữ Pháp Luân Công, Giang đã ra lệnh các nơi ra sức xây dựng hoặc mở rộng nhà tù và trại lao giáo. Hiện nay Trung Quốc có khoảng 300 trại lao giáo, 700 nhà tù, riêng khoản chi phí này của toàn quốc đã là con số thiên văn.
Hố đen 2: Trại tẩy não tập trung có quy mô lớn nhất trong lịch sử loài người
Để trấn áp, Giang đã phát minh ra “lớp học pháp chế giáo dục”, và đặt “tỷ lệ chuyển hóa” tẩy não thành chỉ tiêu then chốt để khảo hạch thành tích chính quyền các cấp. Lớp tẩy não ngoài việc phủ khắp chính quyền bốn cấp tỉnh, thành phố, huyện, xã trên cả nước, còn được mở tại rất nhiều cơ quan, trường đại học, doanh nghiệp và trong trại lao giáo.
Khi tẩy não không đạt được mục đích, vẫn không thể thay đổi được tín ngưỡng của học viên Pháp Luân Công, “610” liền ra lệnh dùng “điều trị bệnh tâm thần”. Theo điều tra của Ủy ban Sức khỏe Tâm thần Quốc tế, hầu như mỗi tỉnh thành ở Trung Quốc đều đưa những học viên Pháp Luân Công kiên định vào bệnh viện tâm thần, hoặc khoa tâm thần của bệnh viện thông thường, trại cai nghiện ma túy, cưỡng ép dùng thuốc phá hủy hệ thần kinh trung ương để đầu độc cơ thể con người, ít nhất hàng nghìn học viên Pháp Luân Công đã bị giam vào bệnh viện tâm thần, mọi chi phí đều do “610” thống nhất chi trả.
Hố đen 3: Ngành truyền thông và toàn bộ bộ máy tuyên truyền quốc gia
Trung Quốc có 2.000 tờ báo, 8.000 tạp chí, 1.500 đài phát thanh, đài truyền hình, hơn một nghìn trang web, sau khi Trung Cộng trấn áp Pháp Luân Công, những phương tiện truyền thông này đã tung tin đồn nhảm tràn lan. Ví dụ “Nhân Dân Nhật báo” trong tháng đầu tiên của cuộc trấn áp đã đăng 347 bài bôi nhọ Pháp Luân Công, mỗi ngày có tới hơn 10 bài. Đài Truyền hình Trung ương chỉ riêng từ ngày 25/4/2002 đến cuối năm 2003, các chuyên mục như “Tiêu điểm phỏng vấn”, “Chương trình tin tức”, v.v. đã sản xuất 332 chương trình vu khống phỉ báng Pháp Luân Công. Chỉ riêng “Hiệp hội Chống Tà giáo Trung Quốc” đã biên soạn hơn 30 bộ phim truyền hình, điện ảnh chống Pháp Luân Công, mỗi bộ đều tốn kém hàng triệu tệ, các tỉnh thành khu vực trên cả nước đã tổ chức các loại triển lãm quy mô lớn chống Pháp Luân Công, còn in ấn phát hành các loại bảng triển lãm, sách vở, đĩa CD, sách nhỏ, tờ rơi quảng cáo, v.v.
Hố đen 4: Giới giáo dục, giới trí thức biến thành chiến trường
Bộ trưởng Giáo dục Trần Chí Lập cưỡng ép yêu cầu các trường đại học phát triển công nghệ phong tỏa mạng, tài trợ cho các loại nghiên cứu chống Pháp Luân Công, tổ chức các loại hoạt động bôi nhọ trong và ngoài khuôn viên trường, v.v. Ví dụ, từ năm 2001, tỉnh Tứ Xuyên mỗi năm cấp cho Viện Khoa học Xã hội tỉnh 1 triệu tệ để dùng cho nghiên cứu chống Pháp Luân Công. Giang còn ra lệnh các nơi thành lập “Hiệp hội Chống Tà giáo”, như Ủy ban Khoa học Kỹ thuật thành phố Bắc Kinh từng tài trợ 1,1 triệu tệ để thành lập “Hiệp hội Chống Tà giáo Bắc Kinh”; đầu năm 2004 toàn quốc ra sức tổ chức cái gọi là “phong trào giáo dục cảnh báo chống tà giáo”, trung ương miễn phí cung cấp tài liệu tuyên truyền. “Hiệp hội Chống Tà giáo Trung Quốc” đã tổ chức gần một nghìn lần hoạt động triển lãm, hơn một nghìn lần báo cáo, tọa đàm, biên soạn hơn 30 tác phẩm điện ảnh truyền hình. Sau năm 2004, còn thông qua đại sứ quán Trung Quốc ở nước ngoài để tổ chức rầm rộ triển lãm hình ảnh chống Pháp Luân Công trong và ngoài nước.
Hố đen 5: Hệ thống giám sát toàn phương vị trên trời dưới đất
Trung Cộng đã chi 6 tỷ tệ để xây dựng hệ thống giám sát toàn phương vị “Công trình Lá chắn Vàng”, tiền lương của hàng trăm nghìn nhân viên giám sát mạng, phát triển phần mềm chặn thông tin, bỏ tiền lớn mua công nghệ, thiết bị chặn phong tỏa mạng của các nước phương Tây, v.v.
Hố đen 6: Kinh phí khổng lồ đầu tư vào truyền thông tuyên truyền hải ngoại
Lấy việc đầu tư cổ phần khống chế, lợi ích thương mại đại lục, mua quảng cáo truyền thông, cung cấp chương trình miễn phí làm mồi nhử, để khống chế và thẩm thấu vào truyền thông tiếng Trung và tiếng phương Tây. Năm 2001 theo điều tra của Quỹ James Town Hoa Kỳ, “bốn tờ báo tiếng Trung chủ yếu ở Mỹ: ‘World Journal’, ‘Sing Tao Daily’, ‘Ming Pao’ và ‘China Press’, đều chịu sự khống chế trực tiếp hoặc gián tiếp của Trung Quốc đại lục.”
TIẾT 6: TRỊ QUỐC BẰNG DỐI TRÁ
“Lấy dối trá trị quốc” là phương châm trị quốc nhất quán của Giang Trạch Dân và Trung Cộng. Cách hiểu của dân gian về “ba giảng” của Giang Trạch Dân là: giảng lời giả, giảng ngoại ngữ, giảng phô trương. Ý nghĩa thực sự trong “ba đại diện” của Giang Trạch Dân đáng lẽ phải là: đại diện cho bạo lực, đại diện cho dối trá, đại diện cho tham nhũng. Có thể lừa thì lừa, không bịa được lời dối trá, thì nói lời sáo rỗng, không bịa được lời sáo rỗng thì dùng lời khuôn mẫu, không nói được lời khuôn mẫu, thì nói lời vô nghĩa. Lời sáo rỗng, lời to tát, lời khuôn mẫu, lời giả dối cộng thêm lời vô nghĩa gọi chung là quan thoại. Sau khi lên nắm quyền, quan chức các cấp của Trung Cộng thời đại Giang trị đầu tiên phải học được chính là quan thoại.
Bên cạnh hành vi dối trá tràn lan, Giang Trạch Dân trên miệng lại ra sức đề xướng nói lời thật. Tháng 3 năm 1996, khi tham gia thảo luận cùng đoàn đại biểu An Huy tại Kỳ họp thứ tư Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc khóa VIII, Giang Trạch Dân nói: “Cán bộ lãnh đạo các cấp đều phải nói tình hình thực, nói lời thật, phản ánh tình hình xã hội và dân ý một cách thực sự cầu thị, đây là truyền thống và tác phong nhất quán của Đảng ta”, “Mọi người đều phải nói lời thật!” Tháng 9 năm 1996, khi thị sát tòa soạn Nhân dân Nhật báo, Giang Trạch Dân nhấn mạnh rằng trong thời kỳ lịch sử mới, vẫn phải kiên trì phát huy tác phong tốt đẹp trong công tác báo chí của Đảng. Một là tác phong tận tụy với nghề, yêu mến sự nghiệp báo chí của Đảng, hiến thân cho sự nghiệp báo chí của Đảng. Hai là tác phong thực sự cầu thị, báo cáo tình hình thực, nói lời thật. Ngày 26 tháng 9 năm 2001, trong bài phát biểu tại Hội nghị Trung ương 6 khóa XV, Giang Trạch Dân nói: “Là cán bộ lãnh đạo chủ chốt, kiên trì nói lời thật, nghe lời thật, kiên trì coi trọng hiệu quả thực, làm việc thực, chính là sự nêu gương và định hướng quan trọng.” Ngày 26 tháng 7 năm 2004, khi tiếp các đại biểu tham dự Hội nghị giao lưu kinh nghiệm học tập “Ba đại diện” toàn quân, Giang Trạch Dân nhấn mạnh: Hiện nay, đặc biệt phải ra sức về chữ “chân” (thật), phải chân thực, chân thành. Tức là phải nói lời thật, báo cáo tình hình thực, không né tránh vấn đề, không làm “công việc hão”.
Xem đấy, khi Giang Trạch Dân nói “lời thật”, thì đều là đang nói lời giả dối, lời dối trá.
Kẻ thù của tự do báo chí
Giang Trạch Dân không nói lời thật, cũng không dung thứ cho người khác nói lời thật, đặc biệt là không dung thứ cho truyền thông nói lời thật. Ngày 3 tháng 5 năm 2001, Ủy ban Bảo vệ Nhà báo có trụ sở tại New York đã công bố một bản báo cáo thường niên, kỷ niệm Ngày Tự do Báo chí Thế giới. Bản báo cáo này liệt kê một danh sách các nhà lãnh đạo phá hoại tự do báo chí, mà Ủy ban Bảo vệ Nhà báo gọi những nhà lãnh đạo này là “kẻ thù của tự do báo chí”. Mười người đứng đầu trong danh sách này bao gồm Chủ tịch nước Trung Quốc Giang Trạch Dân. Đây là năm thứ năm liên tiếp Giang Trạch Dân được xếp vào danh sách “kẻ thù của tự do báo chí”. Giang có được “vinh dự” này là vì Giang Trạch Dân đã bóp nghẹt chút ít tự do báo chí ỏi mà Trung Quốc có được.
Báo chí và các phương tiện truyền thông tin tức ở phương Tây được gọi là “quyền lực thứ tư”, có tác dụng giám sát to lớn. Ở Trung Quốc, những nguồn tài nguyên vốn thuộc về toàn xã hội cùng chia sẻ này lại bị Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) độc chiếm, lũng đoạn, trở thành công cụ thực thi sự cai trị bằng dối trá cho ĐCSTQ. Tất cả những lời dối trá của ĐCSTQ, tất cả những lời dối trá đáng lẽ nên cho người ta biết, gần như đều được phát ra thông qua những “cái loa” này, rồi lan tỏa truyền bá ra toàn xã hội.
Ngày 23 tháng 10 năm 2002, tổ chức “Phóng viên Không Biên giới” có trụ sở tại Paris lần đầu tiên công bố bảng xếp hạng tự do báo chí toàn cầu; trong số 139 quốc gia và khu vực trên toàn cầu, Trung Quốc và Bắc Triều Tiên lần lượt xếp ở vị trí thứ 138 và 139. Tổ chức “Phóng viên Không Biên giới” chỉ ra trong báo cáo rằng, trong số 20 nước xếp hạng cuối bảng về mức độ tự do báo chí, không tồn tại tự do báo chí và cơ quan truyền thông tin tức độc lập. Còn Liễu Bân Kiệt, Phó Cục trưởng Tổng cục Báo chí Xuất bản Trung Quốc, năm 2003 tuyên bố rằng: Trung Quốc hiện là một trong những nước có tự do ngôn luận, xuất bản đầy đủ nhất trên thế giới, còn một số lời bàn tán từ bên ngoài về mặt báo chí, ngôn luận, xuất bản của Trung Quốc là hoàn toàn vô căn cứ.
ĐCSTQ có một quy định phi lý như thế này đối với các bản tin có tính phê bình của truyền thông: bản tin phê bình bắt buộc phải được người bị phê bình và đơn vị cấp trên chủ quản của họ ký đồng ý mới có thể đăng. Điều này chính là về mặt chế độ đã quy định rằng truyền thông không thể nói lời thật. Người bị phê bình thường đều là quan chức tham nhũng hoặc chính quyền địa phương, những quan chức tham nhũng này đều giống như ĐCSTQ, thứ sợ nhất chính là bị phơi bày và bị vạch trần khuyết điểm, làm sao có thể đồng ý đăng bài viết mang tính vạch trần về mình.
Do tính chất phi độc lập của cơ quan truyền thông ĐCSTQ, nên nó chỉ cho phép “phát ngôn” thay cho Đảng, mà không nói lời thay cho nhân dân; thi thoảng có tờ báo tương đối chính nghĩa dám nói thẳng, thì cũng đều không tránh khỏi số phận bị đình bản đình chỉ, nhân viên bị cách chức thậm chí bị giam giữ.
Tờ Nam Phương Tuần Mạt ra đời năm 1984 từng là một ngọn cờ dám nói lời thật trong ngành báo chí Trung Quốc, là cái gai trong mắt của nhiều quyền quý tham nhũng, vì vậy không ngừng chịu áp lực từ các phía, đặc biệt là từ Ban Tuyên truyền Trung ương, mấy phen thăng trầm. Năm 1998, sau khi nhân mã của phe Giang là Lý Trường Xuân nhậm chức Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông, đã bắt đầu chỉnh đốn Nam Phương Tuần Mạt; năm 2000 Ban Tuyên truyền Tỉnh ủy Quảng Đông ra lệnh điều chuyển tổng biên tập Giang Nghệ Bình đi nơi khác, thay thế phần lớn ê-kíp nhân sự ban đầu của Nam Phương Tuần Mạt.
Ngoài Nam Phương Tuần Mạt ra, không ngừng có báo chí bị xử lý bằng nhiều cách khác nhau vì đã nói những lời mà ĐCSTQ không thích nghe. Sau mười ba năm thống trị của Giang Trạch Dân, không gian tự do báo chí của Trung Quốc đã không còn nữa. Hiện nay mạng internet trở thành không gian tranh giành giữa sự thật và dối trá, ĐCSTQ đã thuê một lượng lớn bình luận viên mạng — Đảng Ngũ Mao (Đảng năm hào), để phát tán dối trá trên mạng cho nó.
Cơ chế hóa của dối trá
Trong thời kỳ Giang cai trị, chế độ dối trá và cơ chế dối trá của ĐCSTQ đã hết sức hoàn thiện. Từ việc mưu tính, ấp ủ (khâu chuẩn bị), bịa đặt (khâu sản xuất, tức chế tạo dối trá), tung ra (khâu tiêu thụ, tức đẩy lời dối trá ra xã hội) của lời dối trá, đều có một bộ quy trình nghiêm ngặt, tỉ mỉ, khớp nối chặt chẽ với nhau, để đảm bảo lời dối trá không xảy ra vấn đề, không bị người ta nhìn thấu, từ đó đạt được mục đích lừa gạt người ta ở mức tối đa. Các loại cơ quan chế tạo dối trá tràn ngập khắp cả nước từ trên xuống dưới, chẳng hạn như Ban Tuyên truyền Trung ương ĐCSTQ và Ban Tuyên truyền của chính quyền các địa phương trực thuộc nó là bộ phận cốt lõi, là cỗ máy chế tạo dối trá lớn nhất, mấy chục năm như một ngày quán triệt chấp hành chính sách “lời dối trá lặp lại nghìn lần thì thành chân lý” của Bộ trưởng Tuyên truyền Đức Quốc xã Goebbels; trong khi chế tạo dối trá, đồng thời phong tỏa sự truyền bá của sự thật, đóng cửa tạp chí cấm báo, phong tỏa diễn đàn khóa mạng, đàn áp ngôn luận, giám sát dư luận.
Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc, Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc, Tổng Công hội Toàn quốc Trung Hoa, Liên hiệp Phụ nữ Toàn quốc Trung Hoa, những cơ quan này đều là cơ quan dối trá, đại biểu của chúng đều không do dân bầu, cũng chưa từng nói lời hay làm chủ cho dân, chức năng của chúng đều là ca công tụng đức cho ĐCSTQ.
Sự thống trị của Giang Trạch Dân đã tạo ra hàng triệu triệu dân oan khiếu kiện, những dân oan này đều là những công nhân bị mất việc bị dồn đến đường cùng, những nông dân bị tước đoạt ruộng đất, những hộ bị cưỡng chế giải tỏa, và những người chịu oan sai của đủ loại vụ án oan sai. ĐCSTQ để đối phó với những dân oan này, từ trung ương đến địa phương đã thiết lập đủ loại cơ quan tiếp nhận khiếu kiện thư từ, từ Cục Khiếu kiện Nhà nước thành lập năm 2000, đến các văn phòng tiếp nhận khiếu kiện ở các địa phương, và văn phòng tiếp nhận khiếu kiện của các bộ ủy ban, những cơ quan này đều là cơ quan lừa người, chưa từng giải quyết bất kỳ vấn đề gì. Cách duy nhất mà nhân viên của văn phòng tiếp nhận khiếu kiện đối phó với những giọt nước mắt kêu than của dân oan chính là: chúng tôi biết rồi, ông/bà để lại tài liệu khiếu kiện đi, chúng tôi sẽ phản ánh lên bộ phận lãnh đạo có liên quan. Tài liệu khiếu kiện thường không được chuyển đến bất kỳ bộ phận lãnh đạo có liên quan nào, hoặc bị đè lại ở văn phòng tiếp nhận khiếu kiện, hoặc chuyển đến tay bị cáo; thứ mà dân oan nhận được thường là bặt vô âm tín, hoặc bị trả thù trấn áp. Những dân oan không được giải quyết vấn đề ở văn phòng tiếp nhận khiếu kiện địa phương liền đổ về Cục Khiếu kiện Nhà nước, thế là xuất hiện đủ loại hành động chặn bắt người khiếu kiện. Đây chính là dối trá không giải quyết được vấn đề thì dùng đến bạo lực. Rất nhiều dân oan bị giam giữ và tra tấn, thậm chí bị đánh chết, trở thành những oan hồn dưới bàn tay của văn phòng tiếp nhận khiếu kiện này — cái cơ quan dối trá cộng bạo lực này.
Đây là một câu chuyện máu và nước mắt có tính tiêu biểu của dân oan, bài “Nữ dân oan chết oan trước Trung thu, nhà tù đen thành phố Long Khẩu bị phơi bày” đăng trên trang mạng Đại Kỷ Nguyên. Trong dịp Quốc khánh và Tết Trung thu của Trung Quốc, một nữ dân oan ở thành phố Long Khẩu, tỉnh Sơn Đông bị nhân viên chấp pháp và chặn bắt người khiếu kiện đánh đập, làm nhục, sau khi bị chính quyền địa phương giam giữ bí mật phi pháp một tháng thì chết, trên người có nhiều vết thương. Phía chính quyền nói bà treo cổ tự tử, còn gia đình cho rằng có thể có nguyên nhân cái chết khác. Sau khi vụ án này gây được sự chú ý của một số tình nguyện viên bảo vệ nhân quyền và cư dân mạng, chính quyền hứa điều tra xử lý những người có trách nhiệm liên quan, nhưng người nhà của người đã khuất hiện cũng bị sắp xếp cho vào ở trong khách sạn, mất liên lạc với bên ngoài. Người đã khuất là Lý Thục Liên 56 tuổi, nhà ở thôn Bắc Hạng, phố Đông Lai, thành phố Long Khẩu. Bức thư khiếu kiện mà Lý Thục Liên công bố trên mạng lúc sinh thời nói: “Ngày 2 tháng 4 năm 2001, nguyên Cục trưởng Cục Quản lý Phát triển Thị trường thành phố Long Khẩu là Tôn Thanh Ba, Phó Cục trưởng Lý Khánh Thuận, trắng trợn đòi tôi hối lộ 4 vạn tệ; vì tôi không kịp thời đưa tiền cho Lý Khánh Thuận, ông ta bèn cố ý gây chuyện, vào ngày 10 tháng 4 và ngày 16 tháng 4 năm 2001 hai lần cố ý xả nước làm ngập kho hàng của tôi (rèm cửa, đồng hồ đeo tay, đồng hồ treo, áo da, v.v., thiệt hại lên tới 252.600 tệ).”
Bức thư khiếu kiện nói: “Lý Khánh Thuận vẫn chưa chịu buông tha, còn vào ngày 16 tháng 5 năm 2002, vô cớ cưỡng chế niêm phong cửa cửa hàng kinh doanh của tôi, tịch thu tài sản hơn 1,36 triệu tệ của tôi. Lý Khánh Thuận khi niêm phong cửa còn tàn nhẫn vô nhân đạo đánh bị thương mẹ tôi, khiến bà bị thương ở eo, cánh tay. Sau đó, chỉ vỏn vẹn 9 tháng thì mẹ tôi đã chết oan.” Trong 7 năm sau đó, Lý Thục Liên từng đi khiếu kiện nhiều lần ở Sơn Đông, Bắc Kinh và các nơi khác, đều bị áp giải trả về, và bị giam giữ dài đến mấy tháng.
Lời dối trá về nhân quyền của Giang Trạch Dân
Năm “kẻ vô lại nhân quyền” (human rights scoundrels) năm 2000 do Tổ chức Ân xá Quốc tế công bố, Giang Trạch Dân nằm trong số đó, hồ sơ nhân quyền của Trung Quốc đại lục cũng bị chỉ trích. Đúng lúc cộng đồng quốc tế đánh giá Giang Trạch Dân là kẻ vô lại nhân quyền, truyền thông dưới sự cai trị của Giang lại rêu rao ầm ĩ rằng nhân quyền của Trung Quốc đang ở thời kỳ tốt nhất, làm rùm beng màn kịch nhân quyền, đưa nhân quyền vào hiến pháp; thực ra bản thân hiến pháp của ĐCSTQ chính là một tập hợp những lời dối trá.
Khi vận động xin đăng cai Olympic, Giang Trạch Dân từng cam kết cải thiện tình hình nhân quyền của Trung Quốc, Ủy ban Olympic Quốc tế gửi gắm một tia hy vọng vào việc Olympic sẽ có ích cho việc cải thiện nhân quyền của Trung Quốc; sự thực thì hoàn toàn ngược lại với điều mà Ủy ban Olympic Quốc tế và cộng đồng quốc tế hy vọng. Trò lừa đảo của Giang khi đó còn chưa được cộng đồng quốc tế nhận biết rộng rãi; trong khi cam kết cải thiện nhân quyền của Trung Quốc, Giang Trạch Dân đang gia tăng đàn áp nhân sĩ bất đồng chính kiến và trấn áp Pháp Luân Công.
Giang Trạch Dân giải thích nhân quyền của người Trung Quốc thành quyền sinh tồn, dối trá rằng ông ta đã giải quyết vấn đề sinh tồn của 1,2 tỷ dân cả nước, nhưng chính ông ta lại một tay tạo ra hàng triệu triệu dân oan, những dân oan này đều là những dân chúng bình thường bị dồn đến đường cùng, không thể sống tiếp được nữa.
Ngày 29 tháng 6 năm 1991, khi tiếp Phó Tổng thống Zimbabwe Nkomo, Giang Trạch Dân nói tới: Trung Quốc có 1,15 tỷ dân, với 7% diện tích đất canh tác của thế giới đã giải quyết vấn đề cơm ăn áo mặc của người dân Trung Quốc chiếm 22% dân số thế giới, chúng tôi cho rằng đây là một nhân quyền lớn nhất, là quyền sinh tồn của con người. Nếu hơn 1,1 tỷ dân không được ăn no, mặc ấm, sẽ bất lợi cho sự ổn định của quốc gia, cũng bất lợi cho sự ổn định của châu Á thậm chí của thế giới.
Ngày 28 tháng 10 năm 1991, khi tiếp Chủ tịch Đảng Tự do Sri Lanka là bà Bandaranaike, Giang Trạch Dân nói tới: Ví như lấy nhân quyền mà nói, như Trung Quốc có 1,15 tỷ dân, làm thế nào để chừng ấy người được ăn no, mặc ấm, giải quyết vấn đề quyền sinh tồn, đó cũng là một việc lớn.
Ngày 15 tháng 6 năm 1993, khi tiếp Thủ tướng Malaysia Mahathir, Giang Trạch Dân nói tới: Các nước phát triển phương Tây thường lợi dụng vấn đề dân chủ nhân quyền để gây áp lực với các nước đang phát triển, nhưng không ép được chúng tôi, vì chúng tôi hiểu rõ nguồn gốc và lịch sử của dân chủ, nhân quyền, hiểu rõ cái gọi là dân chủ, nhân quyền của phương Tây là chuyện thế nào. Giải quyết vấn đề cơm ăn áo mặc của 1,16 tỷ dân Trung Quốc, chừng ấy dân số đông đảo mà cuộc sống ổn định, điều đó là một cống hiến rất lớn đối với cả thế giới.
Mỗi lần bị hỏi đến vấn đề nhân quyền, Giang Trạch Dân đều dùng những lời sáo rỗng này để thoái thác, hệt như ba lưỡi rìu của Trình Giảo Kim. Đối với bất kỳ sự phá hoại nào đối với các giá trị phổ quát, lý do của Giang Trạch Dân đều là Trung Quốc có tình hình quốc gia riêng, nhân quyền cũng như vậy.
Khiến người nói lời thật biến mất tăm hơi
Giang Trạch Dân đã mở ra một cường quốc AIDS. Trong 13 năm kể từ khi Giang Trạch Dân lên nắm quyền chấp chính, số người mắc AIDS ở Trung Quốc từ con số không phát triển lên đến mấy triệu người. Trước năm 1989, ĐCSTQ luôn phủ nhận việc Trung Quốc đại lục có ca bệnh AIDS. Năm 1989, Bệnh viện Hiệp Hòa Bắc Kinh phát hiện một ca AIDS. Cách làm nhất quán của ĐCSTQ là trước tiên giấu giếm không báo cáo, giấu không nổi rồi thì báo cáo dối và báo cáo sai; nếu có người có lương tâm dám đứng ra nói lời thật, thì sẽ bị trấn áp bằng bạo lực. Đối với dịch AIDS ở Trung Quốc, ĐCSTQ luôn báo cáo sai lệch, con số thống kê ca bệnh thường cách xa số người mắc AIDS và số người mang virus trên thực tế. Vì cân nhắc lợi ích kinh tế, nhiều chính quyền địa phương đều che giấu số người mắc AIDS thực tế, và ngăn cản nhân viên nghiên cứu tiến vào vùng phát bệnh AIDS thu thập số liệu và tiến hành hoạt động phòng chống AIDS. Đến năm 2001, số người nhiễm virus AIDS lũy kế toàn quốc do phía chính quyền ĐCSTQ cung cấp là 26.058 người, trong đó số người phát bệnh là 1.111 ca, tử vong 584 người. Khi phóng viên phương Tây hỏi liệu Bộ Y tế ĐCSTQ có phải luôn phong tỏa che giấu tin tức về việc đông đảo dân chúng ở Hà Nam và các nơi nhiễm AIDS hay không, Phó Bộ trưởng Bộ Y tế Ân Đại Khuê một mực chối phăng, nhưng trước bằng chứng đanh thép lại buộc phải đổi giọng nói rằng qua Bộ Y tế điều tra nhiều lần, số người nhiễm AIDS do lấy máu khoảng từ 3 vạn đến 5 vạn. Còn nhiều chuyên gia của Trung Quốc và cộng đồng quốc tế ước tính vào năm 2001 số người mắc AIDS ở Trung Quốc đã vượt quá một triệu.
Do việc giấu giếm không báo cáo của phía chính quyền ĐCSTQ và việc cản trở dân gian điều tra phòng chống AIDS, tốc độ tăng trưởng số người mắc AIDS ở Trung Quốc đáng kinh ngạc. Tháng 6 năm 2002, Cơ quan AIDS Liên Hợp Quốc công bố báo cáo “HIV/AIDS: Mối nguy hiểm khổng lồ của Trung Quốc”, nói rằng sự tăng trưởng số người nhiễm AIDS của Trung Quốc quả là “khó mà tin nổi”. Nếu không áp dụng biện pháp hữu hiệu, số người nhiễm AIDS của Trung Quốc sẽ tăng lên tới mười triệu trước năm 2010.
Hà Nam là một trong những vùng bị AIDS tàn phá nặng nề, chỉ riêng làng AIDS đã có mấy trăm cái. Rất nhiều nông dân Hà Nam đã nhiễm AIDS trong quá trình bán máu và truyền máu vì phương pháp thao tác truyền máu không vệ sinh. Năm 2002, tổ chức tình nguyện Hành động Ái Tri của Bắc Kinh đến huyện Thượng Thái, Hà Nam điều tra, phát hiện huyện Thượng Thái có hơn 3 vạn 5 nghìn người nhiễm AIDS, cả huyện có 3.500 trẻ em trở thành trẻ mồ côi vì bố mẹ một bên hoặc cả hai bên qua đời. Giới y học quốc tế ước tính, đến năm 2002, số người nhiễm AIDS ở Hà Nam ít nhất có 1,5 triệu, so với con số chưa đến 2 nghìn người trong tài liệu của Sở Y tế tỉnh Hà Nam thì cách xa quá đỗi.
Trong khi giấu giếm không báo cáo, ĐCSTQ đồng thời trấn áp người biết chuyện và người dám nói ra tình hình thực. Tháng 9 năm 1999, giáo sư bệnh truyền nhiễm Quế Hy Ân của Bệnh viện số 1 trực thuộc Đại học Y khoa Hồ Bắc, lén vào thôn Văn Lâu, huyện Thượng Thái, Hà Nam, lấy một số mẫu máu và hóa nghiệm xong, đã bị chấn động. Ông phản ánh tình hình lên bộ phận có liên quan của tỉnh Hà Nam, không ai đoái hoài đến ông. Ông mang báo cáo điều tra tới Bắc Kinh, Bắc Kinh gửi báo cáo của ông xuống Tỉnh ủy Hà Nam. Tỉnh ủy Hà Nam cử một trưởng phòng tìm đến giáo sư Quế, mong ông đừng quản chuyện của Hà Nam nữa, lý do là sợ tình hình thực về AIDS sẽ ảnh hưởng đến môi trường đầu tư của địa phương, sẽ gây ra khả năng nông dân Hà Nam ra ngoài làm thuê không ai nhận.
Một người khác đứng ra nói lời thật là giáo sư Cao Diệu Khiết của Học viện Trung Y Hà Nam. Sau khi về hưu, vào năm 1996 khi 69 tuổi, bà bắt đầu quan tâm đến vấn đề AIDS, bệnh nhân và trẻ mồ côi. Nhờ nỗ lực của Cao Diệu Khiết và những người khác, vấn đề AIDS lan tràn do bán máu và huyết tương ở Hà Nam và các nơi ở Trung Quốc, cuối cùng dần dần được phơi bày ra. Đồng thời, cũng chuốc lấy sự bức hại của nhà cầm quyền ĐCSTQ đối với bà.
Năm 1999, Ngày AIDS Thế giới, Cao Diệu Khiết chuẩn bị nhận sự phỏng vấn của phóng viên, Lý Chân, viện trưởng Bệnh viện số 1 trực thuộc Học viện Trung Y Hà Nam đe dọa bà rằng, phải nói “tỉnh Hà Nam không có AIDS”, và chỉ trích Cao Diệu Khiết là “làm việc cho thế lực phản Hoa”. Cao Diệu Khiết nhiều lần nhận được điện thoại hăm dọa nói “còn quấy rối nữa thì thịt mày”. Sau khi tờ Đại Hà Báo của tỉnh Hà Nam đưa tin về tình hình AIDS lan tràn ở Hà Nam, đã bị Ban Tuyên truyền Tỉnh ủy Hà Nam phê bình nghiêm khắc. Tổ chức đảng bộ của Sở Y tế tỉnh Hà Nam từng họp thảo luận vấn đề AIDS, rút ra kết luận là, chỉ cần giải quyết được Cao Diệu Khiết và Quế Hy Ân, thì Hà Nam sẽ không còn vấn đề AIDS nữa. Con gái út của Cao Diệu Khiết cũng bị liên lụy, bị một bệnh viện ở Hà Nam vô cớ cho thôi việc. ĐCSTQ còn luôn cấm và ngăn cản Cao Diệu Khiết đi các nơi thuyết giảng phòng chống AIDS, lý do là bà có vấn đề chính trị.
Cao Diệu Khiết nói, phía chính quyền luôn áp dụng thái độ che đậy để đối xử với vấn đề AIDS của Trung Quốc, không cho phép bác sĩ và phóng viên tiết lộ sự thật về AIDS. Chính phủ dùng các thủ đoạn mua chuộc bằng tiền, dụ dỗ bằng vật chất, lôi kéo bằng danh dự, tỏ thái độ khó chịu, bịa đặt tội danh vu vơ, lao động cải tạo, giam giữ hình sự, thậm chí tống vào tù để đạt được mục đích che giấu sự thật.
Kết quả của sự cai trị bằng dối trá
Sự cai trị bằng dối trá của Giang Trạch Dân đã dẫn đến nạn hàng giả hàng nhái tràn lan chưa từng có ở Trung Quốc, trên lừa dưới, dưới lừa trên, lừa lẫn nhau. Dối trá đã gây ra tác hại vô cùng lớn cho toàn xã hội Trung Quốc. Dối trá đã phá hoại sự thành tín, sự thành tín là sợi dây liên kết của một xã hội ổn định, không còn sự thành tín, cả xã hội sẽ trở thành một mâm cát rời rạc, người người tự bảo vệ mình, người người tự thấy nguy. Đủ loại thuốc men thực phẩm độc hại do Trung Quốc chế tạo đã gây nguy hại nghiêm trọng cho sức khỏe thể chất và tinh thần của người dân Trung Quốc. Sữa bột Tam Lộc chính là một ví dụ điển hình, gây ra 300 nghìn trẻ mắc bệnh sỏi. Việc xuất khẩu ngoại tiêu của sự cai trị bằng dối trá đã dẫn đến việc cả thế giới mất lòng tin đối với Trung Quốc. Giang Trạch Dân chính là như thế, đã biến Trung Quốc thành một cường quốc dối trá, làm bại hoại danh dự của Trung Quốc, hủy hoại uy tín của Trung Quốc trong cộng đồng quốc tế. Trong ấn phẩm do tập đoàn doanh nghiệp chống hàng giả của Anh xuất bản, đã xếp Trung Quốc là nước sản xuất hàng giả hàng nhái chủ yếu nhất trên thế giới.
Tài liệu tham khảo
【1】Cao Trí Thịnh, “Cao Trí Thịnh ba lần gửi thư ngỏ cho nhà cầm quyền Trung Quốc vì Pháp Luân Công”, Đại Kỷ Nguyên, ngày 13 tháng 12 năm 2005 http://www.epochtimes.com/gb/5/12/13/n1151842.htm
【2】Lữ Cảnh Tùng, “Tổ chức đặc vụ lớn nhất Trung Quốc — Ủy ban Chính trị Pháp luật”, Bắc Kinh Chi Xuân, số tháng 7 năm 2007
【3】Cao Trí Thịnh, “Thư ngỏ gửi Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc và Ủy viên trưởng Ngô Bang Quốc”, Đại Kỷ Nguyên, ngày 31 tháng 12 năm 2004 http://www.epochtimes.com/gb/4/12/30/n764897.htm
【4】Cao Trí Thịnh, “Cao Trí Thịnh gửi thư ngỏ cho Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo”, Đại Kỷ Nguyên, ngày 18 tháng 10 năm 2005 http://www.epochtimes.com/gb/5/10/18/n1089890.htm
【5】Như 【1】
【6】”Luật sư Trung Quốc biện hộ cho học viên Pháp Luân Công, chấm dứt đàn áp không thể chậm trễ”, Vũ Minh Võng, ngày 31 tháng 10 năm 2008 http://yuming.flnet.org/upload/html/news/cszd/200810/31-603.html
【7】”‘610’ biến thành ‘Phòng Phòng ngừa’ của ĐCSTQ ban hành thông báo mật”, Nhân Dân Báo, ngày 30 tháng 4 năm 2009 http://renminbao.com/rmb/articles/2009/4/30/50386.html
【8】Long Diên, “Sơ lược về việc hệ thống chính trị pháp luật của ĐCSTQ chà đạp pháp luật bức hại Pháp Luân Công”, Minh Huệ Võng, ngày 22 tháng 3 năm 2011 http://www.minghui.org
【9】Cao Trí Thịnh, “Cao Trí Thịnh lại gửi thư ngỏ kiêm phản đối mạnh mẽ”, Đại Kỷ Nguyên, ngày 22 tháng 11 năm 2005 http://www.epochtimes.com/gb/5/11/22/n1128919.htm
【10】”Luật sư Cao Trí Thịnh — người ‘thách thức Đảng Cộng sản'”, AsiaNews.it, ngày 17 tháng 2 năm 2006 http://www.asianews.it/news-zh/%E2%80%9C%E5%90%91%E5%85%B1%E4%BA%A7%E5%85%9A%E6%8C%91%E6%88%98%E2%80%9D%E7%9A%84%E9%AB%98%E6%99%BA%E6%99%9F%E5%BE%8B%E5%B8%88-5416.html
【11】Như 【5】
【12】Trần Tô, “Phân tích: Hành vi của chính phủ Trung Quốc mang tính xã hội đen hóa”, Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA), ngày 16 tháng 2 năm 2006 http://www.voanews.com/chinese/news/a-21-w2006-02-16-voa70-58871612.html
【13】”Báo cáo nghiên cứu điều tra về vấn đề cưỡng chế giải tỏa nhà ở đô thị bằng bạo lực”, Duy Quyền Võng, ngày 2 tháng 10 năm 2009 http://twitter.com/PeopleDaily/statuses/4575465109
【14】Lâm Ư Quốc, “Truyền thông Hồng Kông: Xã hội đen Trung Quốc thâm nhập vào hoạt động của chính phủ đến mức kinh ngạc”, Trung Ương Xã, ngày 12 tháng 3 năm 2006
【15】Trịnh Ân Sủng, “Điều lệ giải tỏa mới thụt lùi không có lối thoát”, Đại Kỷ Nguyên, ngày 20 tháng 1 năm 2011 http://www.epochtimes.com/b5/11/1/20/n3147708.htm
【16】Minh Kính Nguyệt San, tổng số 26 http://www.mingjingnews.com/2012_03_11_archive.html
【17】Hải Đào, “Trung Quốc phải chi bao nhiêu tiền để duy trì ổn định? — Bàn từ vụ án Trần Quang Thành”, Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA), ngày 15 tháng 5 năm 2012 http://www.voanews.com/chinese/news/20120515-China-Stability-Preservation-151553415.html
【18】Từ Khải • Trần Hiểu Thư, “Hóa đơn an ninh công cộng”, Hòa Tấn, ngày 9 tháng 5 năm 2011 http://news.hexun.com/2011-05-09/129423361.html
【19】”Lời người hoạch định — Tư duy mới về ‘duy trì ổn định’ năm 2009″, Nam Phong Song, ngày 14 tháng 4 năm 2009 http://www.nfcmag.com/articles/1464
【20】Liêu Hải Thanh, “‘Phòng Duy trì Ổn định’ bước ra sân khấu phía trước”, Nam Phong Song, ngày 14 tháng 4 năm 2009 http://www.nfcmag.com/articles/1463
【21】Hồ Bôn, “Phòng Duy trì Ổn định vào phố xuống làng, hòa giải tranh chấp mặt đối mặt”, Nam Phương Tuần Mạt, ngày 19 tháng 8 năm 2010 http://www.infzm.com/content/49108
【22】Thái Thận Khôn, “Duy trì ổn định kiểu đặc sắc Trung Quốc đã phải trả cái giá lớn đến mức nào?”, Liên Hợp Báo Võng, ngày 15 tháng 5 năm 2012 http://luntan.zaobao.com/viewthread.php?tid=152391
【23】Cao Tử Đàn, “Một trong những bí mật kinh tế lớn nhất của ĐCSTQ: từng tiêu tốn 3/4 quốc lực để ‘duy trì ổn định'”, Đại Kỷ Nguyên, ngày 26 tháng 4 năm 2012 http://www.epochtimes.com/gb/12/4/26/n3574654.htm
Dịch từ: https://www.epochtimes.com/b5/12/6/8/n3607397.htm
Bản dịch có thể được chỉnh sửa trong tương lai để sát hơn với nguyên tác.
Từ khi cuốn sách