CHƯƠNG 4: XUYÊN QUA MÀN SƯƠNG CỦA CUỘC ĐẤU ĐÁ NỘI BỘ CẤP CAO
[EpochTimes – 27/12/2012] Chính sách đàn áp Pháp Luân Công suốt mười ba năm đã gây ra sự phân liệt thực chất trong giới lãnh đạo cấp cao Trung Quốc — lời đề từ
PHẦN 1: SỰ KIỆN BẠC HY LAI – VƯƠNG LẬP QUÂN
Tháng 2 năm 2012, Tập Cận Bình, người sẽ kế nhiệm tại Đại hội 18 của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã nhận lời mời thăm Mỹ. Tập đã đến thăm Nhà Trắng và Lầu Năm Góc, về thăm lại bang Iowa nơi từng lưu lại kỷ niệm, xem một trận bóng rổ NBA ở Los Angeles, cùng với một danh sách mua sắm trị giá 27,1 tỷ đô la. Nhưng đúng vào lúc đó, trong nước lại xảy ra sự kiện Phó thị trưởng Trùng Khánh, cựu Giám đốc Công an Vương Lập Quân, chạy trốn vào Tổng lãnh sự quán Mỹ tại Thành Đô để xin tị nạn chính trị, được bên ngoài gọi là “sự kiện Bạc Hy Lai – Vương Lập Quân”.
Vương là một thân tín từng giúp Bí thư Thành ủy Trùng Khánh lúc đó là Bạc Hy Lai ra sức thực hiện chiến dịch “hát nhạc đỏ, đả hắc” (ca ngợi thời Mao, trấn áp tội phạm), đồng thời là Phó thị trưởng Trùng Khánh, cựu Giám đốc Công an. Đột nhiên trở mặt thành thù với Bạc, ông ta đã có kế hoạch xông vào lãnh sự quán xin tị nạn, tạo ra một sự kiện chính trị nghiêm trọng, lần đầu tiên trong lịch sử ĐCSTQ có một quan chức cấp Thứ trưởng chạy sang lãnh sự quán Mỹ. (Chi tiết xem phần phụ lục “Diễn biến sự kiện Bạc Hy Lai – Vương Lập Quân” ở cuối chương này.)
Cuộc tranh đấu khốc liệt ở Trung Nam Hải bị châm ngòi bởi sự kiện Vương Lập Quân, thực chất xoay quanh việc tranh giành quyền lực với Tập Cận Bình, người sẽ kế nhiệm vị trí lãnh đạo tối cao của ĐCSTQ tại Đại hội 18. Người được Giang Trạch Dân bí mật chọn để kế thừa quyền lực tối cao chính là Bạc Hy Lai, nhưng do nhiều yếu tố ràng buộc trong giới lãnh đạo cấp cao ĐCSTQ, Giang Trạch Dân buộc phải để Tập Cận Bình làm người kế nhiệm tối cao tại Đại hội 18.
Giang Trạch Dân, Tăng Khánh Hồng, Chu Vĩnh Khang, La Cán và những kẻ khác đã đàn áp Pháp Luân Công, gây nên vô số tội ác kinh hoàng suốt mười ba năm. Để tiếp tục duy trì chính sách đàn áp và tránh bị thanh toán, Giang Trạch Dân và Tăng Khánh Hồng tuyệt đối không thể nhường quyền lực tối cao của ĐCSTQ. Đây chính là bản chất của việc Giang Trạch Dân liên tục khiêu khích, tranh đấu với các nhà lãnh đạo mới là Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo, cũng là cốt lõi của các cuộc tranh giành quyền lực tại Đại hội 16, 17, 18 của ĐCSTQ.
Chỉ trong vài tháng ngắn ngủi sau đó, chính trường ĐCSTQ đã trải qua những biến động dữ dội: Bạc Hy Lai, ứng viên sáng giá cho Ban Thường vụ Bộ Chính trị tại Đại hội 18 bị hạ bệ; Chu Vĩnh Khang, người nắm giữ Ủy ban Chính pháp, mất thế; phe cánh Giang Trạch Dân đứng trước nguy cơ sụp đổ. Giới lãnh đạo cấp cao ĐCSTQ đã bước vào cuộc tranh đấu một mất một còn ngay trước thềm Đại hội 18.
Kết cục và tác động đến tương lai
Những gì chính thức được thừa nhận công khai chỉ là việc Cốc Khai Lai bị tình nghi giết Heywood và Bạc Hy Lai phải chịu trách nhiệm về việc Vương Lập Quân bỏ trốn vào lãnh sự quán Mỹ. Nhưng việc chính quyền yêu cầu quân đội phải lên tiếng bày tỏ lập trường cho thấy sự việc nghiêm trọng hơn nhiều so với những cáo buộc nói trên. Các nguồn tin chủ yếu đến từ truyền thông Hoa ngữ hải ngoại và truyền thông chính thống phương Tây, một số còn đến từ những nguồn tin khá đáng tin cậy trong nội bộ ĐCSTQ. Dù tin tức cho rằng Bạc Hy Lai dính líu đến những tội danh nào, khá nhiều nguồn tin cho rằng cuối cùng giới lãnh đạo cấp cao ĐCSTQ sẽ kết thúc vụ việc bằng tội danh hình sự. Trước một loạt thông tin rối rắm như vậy, muốn hiểu đúng bản chất sự việc cần phải thoát khỏi cách nhìn theo lối tuyên truyền chính thức và tư duy đấu tranh quyền lực đơn thuần.
Kể từ khi cựu Tổng Bí thư Triệu Tử Dương bị bãi chức trước năm 1989, Trung ương ĐCSTQ không còn cách chức các Ủy viên Bộ Chính trị vì lý do sai lầm đường lối chính trị nữa, mà bắt đầu lấy việc vi phạm kỷ luật đảng và pháp luật quốc gia làm tiêu chuẩn xử lý. Bạc Hy Lai là Ủy viên Bộ Chính trị kiêm Bí thư Thành ủy trực thuộc Trung ương thứ ba bị xử lý theo cách này, sau Trần Hy Đồng và Trần Lương Vũ.
Nguyên nhân trực tiếp của sự kiện Bạc Hy Lai là chiến dịch “hát nhạc đỏ, đả hắc” khởi xướng từ Trùng Khánh năm 2009. Đó là nỗ lực của Bạc Hy Lai nhằm quay trở lại trung tâm quyền lực Bắc Kinh. Sau ba mươi năm phát triển, nền kinh tế Trung Quốc đã đến lúc mọi mâu thuẫn dồn nén cùng bùng phát, đảng cầm quyền đứng trước cuộc khủng hoảng chưa từng có, mô hình cũ khó lòng duy trì, thay đổi là điều tất yếu, vấn đề chỉ là thay đổi như thế nào. Một mặt Ôn Gia Bảo liên tục nói về cải cách thể chế chính trị trong nhiều dịp khác nhau, mặt khác Bạc Hy Lai lại tuyên bố tìm lối thoát từ thời đại Mao Trạch Đông, thực chất là lợi dụng tâm lý bất mãn của dân chúng đối với hiện trạng ĐCSTQ, khi không còn lối thoát nào khác đành hoài niệm thời Mao, để làm nên câu chuyện riêng cho bản thân mình. Việc ông ta biểu dương thanh thế từ địa phương nhằm gây sức ép lên trung ương, đặc biệt là thâm nhập quân đội và xây dựng lực lượng vũ trang riêng, đều là những động thái không hề nhỏ trong lịch sử đảng, lịch sử đảng – quốc của ĐCSTQ, bộc lộ đầy đủ dã tâm và sự ngông cuồng của Bạc.
Theo cách hành xử quen thuộc xưa nay của ĐCSTQ, những cáo buộc có thể đưa ra đối với Bạc Hy Lai thực chất lại phơi bày chính tình thế khó xử của ĐCSTQ.
Loại cáo buộc thứ nhất, cũng là cáo buộc nghiêm trọng nhất, chính là kiểu đấu tranh đường lối vốn quen thuộc trong lịch sử ĐCSTQ. Việc Ôn Gia Bảo phát biểu tại kỳ họp Nhân đại năm nay rằng có người muốn quay lại thời Cách mạng Văn hóa chính là ám chỉ điều này. Đây cũng là bản chất của phong trào “hát nhạc đỏ” ở Trùng Khánh. Vấn đề này liên quan đến việc đánh giá lại, thậm chí phủ định lịch sử, ý thức hệ và tư tưởng của ĐCSTQ. Nền tảng lý luận của ĐCSTQ vốn không phải bất biến, các thuyết chính thức lần lượt có tư tưởng Mao Trạch Đông, lý luận Đặng Tiểu Bình, thuyết “Ba đại diện” của Giang Trạch Dân và quan điểm phát triển khoa học của Hồ Cẩm Đào. Những lý luận này mâu thuẫn và phủ định lẫn nhau. Lý luận ra đời sau không phủ định lý luận cũ mà chỉ gắn thêm một cách máy móc lên trên những thứ có trước, bởi phủ định lý luận cũ đồng nghĩa với phủ định chính tính hợp pháp của ĐCSTQ. Việc không tranh luận về các vấn đề lý luận chỉ là biện pháp đối phó tạm thời, để lại ngày càng nhiều gánh nặng chính trị và rắc rối tiềm ẩn cho hậu thế. Bất kỳ ai từ trong thể chế thách thức trung ương đều có thể tìm được phần tương ứng trong hệ thống lý luận của ĐCSTQ để biện minh. Thách thức về đường lối tư tưởng của Bạc Hy Lai cũng bắt nguồn từ đó. Đây là khó khăn đầu tiên khi ĐCSTQ muốn quy kết tội danh cho Bạc Hy Lai. Dĩ nhiên, đấu tranh đường lối vốn không phải chuyện của một quan chức cấp cao nhất tỉnh, tất yếu sẽ lôi kéo cả hành vi của Chu Vĩnh Khang, người vốn ủng hộ Bạc trong Ban Thường vụ Bộ Chính trị vào cuộc.
Loại cáo buộc thứ hai là âm mưu soán quyền. Người ta tin rằng phía Mỹ đã tiết lộ một phần tài liệu mà Vương Lập Quân giao cho lãnh sự quán Mỹ. Nếu quả thực có việc cấu kết với Chu Vĩnh Khang để âm mưu soán quyền, thì đối tượng bị đe dọa nhiều nhất không phải là Hồ, Ôn, mà chính là Tập Cận Bình. Cáo buộc này mang tính chí mạng đối với Chu. Thách thức về mặt tổ chức của Bạc Hy Lai, tức là ý đồ thay thế Tập Cận Bình, bắt nguồn từ việc ĐCSTQ cho đến nay vẫn chưa có nguyên tắc và quy trình rõ ràng để noi theo trong việc chuyển giao quyền lực. Đây cũng là một bài học mà sự kiện Bạc Hy Lai lần này để lại cho xã hội phương Tây. Một số chính khách và học giả phương Tây từ lâu đã cố ý hoặc vô tình truyền bá quan điểm rằng ĐCSTQ đã giải quyết được vấn đề chuyển giao quyền lực lãnh đạo một cách êm thấm. Thực ra vấn đề này chưa bao giờ được giải quyết, tính hợp pháp của bản thân ĐCSTQ vẫn dừng lại ở nguyên tắc “kẻ thắng làm vua” từ thời cướp chính quyền. Việc chọn lựa người kế nhiệm có nhiều hình thức khác nhau: từ việc Mao chỉ định Hoa Quốc Phong, Đặng chỉ định Giang một cách trực tiếp, các bậc lão thành trong quân đội bắt giữ “Tứ nhân bang” thời Cách mạng Văn hóa, đến việc Đặng thay thế Hoa, Đặng chỉ định Hồ Cẩm Đào vượt cấp, rồi từ việc các lão thành trong đảng phế truất Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương, cho đến kế hoạch “cặp đôi Tập – Lý” kế nhiệm Đại hội 18 qua thỏa hiệp cân bằng trong hộp đen giữa các phe phái, hoàn toàn không có quy tắc nhất định nào. Âm mưu soán quyền mà Bạc và Chu vạch ra có thể coi là kiểu cưỡng đoạt quyền lực tương tự một cuộc chính biến, và điều này liên quan trực tiếp đến thế lực Giang Trạch Dân đứng phía sau.
Loại cáo buộc thứ ba là phá hoại việc thực thi pháp luật. Đây cũng chính là bản chất của chiến dịch “đả hắc” (trấn áp tội phạm) mà Bạc Hy Lai thực hiện tại Trùng Khánh. Đưa ra cáo buộc này, công bố nội tình của chiến dịch đả hắc ở Trùng Khánh, bao gồm cả những vụ án cụ thể được ngụy tạo qua tra tấn ép cung, sẽ có thể phá vỡ hình ảnh “ngôi sao chính trị đang lên” mà Bạc Hy Lai dày công xây dựng, đồng thời phơi bày trách nhiệm chỉ đạo trực tiếp của Bí thư Ủy ban Chính pháp Trung ương Chu Vĩnh Khang. Nhưng việc phá hoại thực thi pháp luật, chấp pháp mà phạm pháp, không phải do Trùng Khánh khởi xướng đầu tiên, cũng không chỉ tồn tại ở Trùng Khánh. Đúng như Bạc Hy Lai từng nói với truyền thông, chiến dịch đả hắc được tiến hành bởi các cơ quan công an, kiểm sát, tòa án, tư pháp, an ninh dưới sự chỉ huy của Ủy ban Chính pháp. Điều này ít nhất chứng minh đả hắc không phải là thực thi pháp luật, mà là thực thi chính sách của ĐCSTQ, hay nói đúng hơn là chính sách của Ủy ban Chính pháp. Gốc rễ của việc “đánh đen” chính là sự phá hoại có kế hoạch, có hệ thống đối với hệ thống pháp luật Trung Quốc mà ĐCSTQ đã tự mình khởi xướng từ năm 1999 khi bắt đầu đàn áp Pháp Luân Công, cùng với việc ĐCSTQ đặt mình lên trên Hiến pháp, pháp luật, còn Ủy ban Chính pháp và Phòng “610” lại đặt mình lên trên cả Trung ương Đảng, trên cả chính phủ. Nó là một quái thai biến dị của thể chế chính trị. Trung ương Đảng từ lâu đã có cấu trúc và vận hành đa trung tâm quyền lực, Trùng Khánh chỉ là nơi tập trung tạo ra hàng loạt vụ án oan sai trong một giai đoạn nhất định. Nếu áp dụng tội danh này, chắc chắn sẽ đụng chạm đến toàn bộ hệ thống Ủy ban Chính pháp và nền tảng cai trị của ĐCSTQ.
Loại cáo buộc cuối cùng là tội phạm hình sự. Để ngăn Bạc Hy Lai và đồng đảng quay trở lại, giới lãnh đạo cấp cao sẽ dùng tội hình sự để “đóng đinh” vụ án Bạc. Có thể là tội giết người liên quan đến Cốc Khai Lai hoặc chính bản thân Bạc, cũng có thể là tội tham nhũng của cá nhân và các thành viên gia đình. Tội danh này vì tránh né được vấn đề cốt lõi nên sẽ để lại hậu họa vô cùng cho ĐCSTQ. Ngoài ra, việc phơi bày hàng loạt tin tức nội bộ và chi tiết tham nhũng của giới lãnh đạo cấp cao sẽ giáng đòn vào toàn bộ tầng lớp thống trị của ĐCSTQ.
Vì vậy, dù xử lý theo cách nào cũng đều là chuyện đau đầu. Nếu muốn ôm giữ tàn cục, không làm tổn hại đến thể chế ĐCSTQ, thì phe “Bè lũ nợ máu” của Giang vốn đã mang nợ máu trong người, cũng chẳng ngại thêm nợ máu nữa. Còn nếu xử lý thế lực Chu Vĩnh Khang thì chắc chắn sẽ vén màn toàn bộ nội tình đen tối, đẩy nhanh sự tan rã của “Bè lũ nợ máu” phe Giang.
Liên minh “Bạc, Chu, Giang”
Do việc cướp quyền và cầm quyền thiếu tính hợp pháp, nên trong nội bộ ĐCSTQ chưa bao giờ hình thành được cơ chế lựa chọn lãnh đạo, vấn đề người kế nhiệm lãnh đạo tối cao của ĐCSTQ luôn chưa được giải quyết. Theo truyền thống, tiêu chuẩn mà đảng trưởng đời trước chọn người kế nhiệm không phải là tài trị quốc trị đảng, mà là việc người đó sẽ không phủ định di sản chính trị lớn nhất, gây tranh cãi nhất của mình là tội ác. Giang Trạch Dân trong nhiệm kỳ của mình đã gây ra tội ác xâm phạm nhân quyền nghiêm trọng khi đàn áp Pháp Luân Công, đây cũng chính là di sản chính trị quan trọng nhất của ông ta. Tuy nhiên, người kế nhiệm của Giang đã bị Đặng Tiểu Bình chỉ định vượt thế hệ từ trước, nên Giang không thể đảm bảo sự tiếp nối chính sách đàn áp và việc tội ác không bị thanh toán thông qua việc tự chọn người kế nhiệm cho mình. Như một sự sắp xếp thay thế, Giang đã thiết kế cho ĐCSTQ một mô hình thống trị mới: tăng số Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị từ bảy lên chín người, để nhét đủ số “người của mình” vào, giữ đa số trong Ban Thường vụ. Đồng thời, các Ủy viên Thường vụ có quyền kiểm soát lớn hơn nhiều so với trước đây đối với lĩnh vực mình phụ trách. Cách thiết kế này dẫn đến hai hậu quả: một mặt bảo đảm sự tiếp nối chính sách đàn áp Pháp Luân Công về mặt số lượng người trong tầng quyết sách; mặt khác, sự phân quyền của chế độ toàn trị cuối cùng lại dẫn đến phân liệt.
Cách làm mỗi Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị quản một lĩnh vực riêng đã khiến La Cán, người phụ trách Ủy ban Chính pháp và người kế nhiệm là Chu Vĩnh Khang có thể, trong khi chính sách vẫn được tiếp nối không đổi, tùy ý tăng cường đàn áp học viên Pháp Luân Công mà hoàn toàn không bị ai khác can thiệp. Ủy ban Chính pháp, cơ quan từng “bị gạt ra rìa” vào thập niên 1990, thông qua việc đàn áp Pháp Luân Công đã phình to trở thành cơ quan có quyền lực lớn nhất trong số các bộ, ủy ban của Trung ương ĐCSTQ. Quyền lực không bị ràng buộc có xu hướng mở rộng vô hạn, Ủy ban Chính pháp Trung ương cần tìm nạn nhân mới và cái cớ để mở rộng quyền lực cũng như ngân sách. Thế là khái niệm và hệ thống “duy trì ổn định” nhắm vào một quần thể rộng lớn hơn đã ra đời, lực lượng cảnh sát vũ trang không ngừng được mở rộng, khiến Trung Quốc từ tình trạng bị Ủy ban Chính pháp khống chế như hiện nay, bất cứ lúc nào cũng có thể biến thành một nhà nước quân sự do cảnh sát nắm quyền. Mặc dù khái niệm “duy trì ổn định” và một số cơ quan tương ứng đã có từ năm 1991, nhưng việc trở thành một phương thức thống trị và chính sách hệ thống, đồng thời tái cơ cấu thành một bộ máy tổ chức hoàn chỉnh, thì chỉ hình thành trước Thế vận hội Bắc Kinh. Đây là sự mở rộng dựa trên nền tảng vận hành và kinh nghiệm của Phòng “610” vốn là cơ quan chuyên trách đàn áp Pháp Luân Công của ĐCSTQ. Do khi mới thành lập, Tiểu tổ Lãnh đạo Duy trì Ổn định Trung ương và Văn phòng Duy trì Ổn định của nó có biên chế nhân sự trùng lặp cao độ với Ủy ban Chính pháp Trung ương và Phòng “610”, nên bên ngoài từng nhầm tưởng đây là cùng một cơ quan. Cứ như vậy, Ủy ban Chính pháp Trung ương cùng hệ thống an ninh của nó cuối cùng đã mở rộng thành một “trung ương thứ hai” chỉ trong vài năm ngắn ngủi. Sau khi kinh phí duy trì ổn định lần đầu tiên vượt qua ngân sách quốc phòng vào năm 2011, ngân sách duy trì ổn định năm 2012 tiếp tục tăng 11,5%, đạt 700 tỷ nhân dân tệ, một lần nữa vượt qua chi tiêu quốc phòng là 630 tỷ, và hoàn toàn không chịu sự lãnh đạo của Hồ, Ôn.
Một Chu Vĩnh Khang muốn bảo vệ lợi ích của tập đoàn duy trì ổn định, một Bạc Hy Lai quyết tâm nhắm tới quyền lực tối cao. Hai người này, dưới sự sắp đặt của Giang Trạch Dân, đã cấu kết với nhau, hình thành nên liên minh mang tính thách thức lớn nhất đối với cơ quan quyền lực tối cao của ĐCSTQ kể từ khi lập chính quyền. Liên minh này khởi nguồn từ nỗi sợ hãi bị thanh toán vì tội ác đàn áp Pháp Luân Công, và đã gây ra sự phân liệt nghiêm trọng nhất trong giới lãnh đạo cấp cao kể từ khi ĐCSTQ cầm quyền.
Tất cả những điều này đều diễn ra trong một “hộp đen” bí mật. Chỉ đến khi sự kiện Bạc Hy Lai bùng nổ, thế giới bên ngoài mới lần đầu tiên nhìn rõ rằng mức độ nghiêm trọng của sự phân liệt nội bộ và khủng hoảng thống trị của ĐCSTQ đã từ lâu vượt xa những gì người ta có thể tưởng tượng. Quá trình ĐCSTQ tự đào huyệt chôn mình đang phơi bày rõ ràng trước mắt thế giới.
Vì sao Bạc, Chu, Giang buộc phải liều mạng
Vương Lập Quân về cơ bản là người không có nền tảng thực lực chính trị. Sở dĩ ông ta leo lên được chức vụ cấp Thứ trưởng chủ yếu là nhờ làm tay sai đắc lực cho Bạc Hy Lai. Ông ta quả thực là tay sai số một của Bạc Hy Lai, đóng góp cho Bạc chủ yếu ở ba mảng, tức ba việc mà Bạc Hy Lai muốn làm. Mảng thứ nhất là đả kích đối thủ chính trị giúp Bạc, chẳng hạn như xử tử Văn Cường. Mảng thứ hai là vơ vét tiền của cho Bạc, thanh trừng bao nhiêu phú hào ở Trùng Khánh không phục tùng phe cánh Bạc Hy Lai. Mảng thứ ba là tích cực đàn áp Pháp Luân Công giúp Bạc, đây chính là lý do Bạc Hy Lai đánh giá cao sự tàn nhẫn, độc ác, giết người không chớp mắt, đôi bàn tay đẫm máu của Vương, và đưa ông ta từ Liêu Ninh về Trùng Khánh. Hai việc đầu của Bạc Hy Lai là để tích lũy nền tảng chính trị và kinh tế cho tham vọng chính trị của mình, dọn sạch chướng ngại. Việc thứ ba chính là bài kiểm tra kiêm con đường tắt mà Giang Trạch Dân hứa hẹn sẽ đưa Bạc Hy Lai lên đỉnh cao quyền lực.
Không lâu sau khi Vương Lập Quân bỏ trốn, nhà báo nổi tiếng người Mỹ Bill Gertz đã tiết lộ nội dung tài liệu Vương Lập Quân cung cấp liên quan đến việc Bạc Hy Lai, Chu Vĩnh Khang âm mưu lật đổ Tập Cận Bình.[1] Tuy nhiên, điều này không giải thích được vì sao Vương Lập Quân phải chạy trốn vào lãnh sự quán Mỹ. Tin tức này thuộc về mảng hoạt động thứ nhất của Bạc, chẳng phải đưa thẳng cho Hồ, Ôn, Tập thì tốt hơn sao?
Còn về mảng việc thứ hai, nếu Vương Lập Quân đưa thẳng những thứ này cho Hồ, Ôn, Tập chẳng phải cũng tốt hơn sao? Ít nhất cũng không đến mức bị quy kết là kẻ phản bội.
Nhưng riêng mảng việc thứ ba, tức là việc Bạc Hy Lai tham gia đàn áp Pháp Luân Công, thì Vương Lập Quân không những không thể đưa cho Trung ương Đảng, mà có đưa cũng vô ích! Bởi vì nút thắt chết người nhất của ĐCSTQ hiện nay chính nằm ở đây, không thể động chạm tới. Các chính phủ nước ngoài đã phát hiện ra rằng có thể đàm phán với ĐCSTQ về bất cứ vấn đề gì, như vấn đề Tây Tạng, vấn đề Tân Cương, vấn đề Đài Loan, nhưng tuyệt đối không được động đến vấn đề Pháp Luân Công.
Vì sao việc đàn áp Pháp Luân Công lại là nút thắt chết người không thể động chạm của ĐCSTQ? Trước hết, nếu đa số nội bộ ĐCSTQ đều đồng tình với cuộc đàn áp này, nó sẽ không phải là nút thắt chết người. Cùng lý lẽ đó, nếu tất cả đều phản đối, nó cũng không phải là nút thắt chết người. Chính vì đây là việc do Giang Trạch Dân phát động, nên ông ta buộc phải kiên trì đến cùng, nếu không sẽ đe dọa đến sự tồn vong của bản thân Giang Trạch Dân và toàn bộ phe cánh Giang, sẽ bị thanh toán, thậm chí bị xử lý theo pháp luật. Trong khi đó, những người kế nhiệm vị trí số một, số hai sau Giang là Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo, rồi đến những người kế nhiệm sau nữa là Tập Cận Bình, Lý Khắc Cường, đều không chịu gánh vác cái nồi đen này và vấn đề nảy sinh từ đó.
Vốn dĩ Bạc Hy Lai thuộc nhóm “thái tử đảng”, có thể giống như Tập Cận Bình, Lưu Nguyên, không cần lội vào vũng nước đục này mà vẫn có thể thăng tiến ổn định trên quan trường. Nhưng Giang Trạch Dân đã hứa hẹn với Bạc Hy Lai rằng chỉ cần ra sức đàn áp Pháp Luân Công thì sẽ bảo đảm cho ông ta lên chức Thủ tướng, và Bạc Hy Lai vì lòng tham lợi ích đã thực sự cắn câu.
Khi Giang Trạch Dân chuẩn bị đàn áp Pháp Luân Công, việc này không được ủng hộ trong nội bộ ĐCSTQ. Cuộc đàn áp dần dần trở thành gánh nặng khó gỡ của ĐCSTQ. Một trong những nguyên nhân là Bạc Hy Lai và một số kẻ tích cực tham gia đàn áp khác đã trực tiếp nếm trải hậu quả của việc làm ác. Bạc Hy Lai tích cực theo Giang Trạch Dân đàn áp Pháp Luân Công tại Đại Liên, tại Liêu Ninh, khiến ông ta nhanh chóng thăng tiến từ Đại Liên lên Liêu Ninh rồi lên Bộ Thương mại. Nhưng chính ở vị trí này, ông ta thường xuyên phải đi đàm phán thương mại ở các nước, và liên tiếp bị các học viên Pháp Luân Công kiện ở Úc, Tây Ban Nha, Canada, Anh, Mỹ… Rõ ràng, một kẻ ác bị kiện khắp nơi như vậy, dù xét về hình ảnh hay chức năng, đều không còn đủ tư cách làm Bộ trưởng Thương mại của một quốc gia, nên đến năm 2007 đã bị giáng chức thực sự xuống Trùng Khánh. Dĩ nhiên không chỉ có Bạc Hy Lai, mà cả bản thân Giang Trạch Dân cùng nhiều quan chức cấp cao khác của ĐCSTQ cũng bị các học viên Pháp Luân Công kiện ở nhiều nước. Chỉ riêng từ góc độ này thôi cũng cho thấy việc đàn áp Pháp Luân Công đã trở thành gánh nặng lớn của chính quyền ĐCSTQ, một cái nồi đen không ai chịu gánh.
Giang Trạch Dân thật thảm hại, đàn áp Pháp Luân Công suốt mười ba năm mà chẳng đàn áp ra được kết quả gì, cuối cùng rơi vào cảnh ngày đêm nơm nớp lo sợ. Trước tiên dựa vào La Cán, sau đó dựa vào Chu Vĩnh Khang, vơ lấy chức Bí thư Ủy ban Chính pháp danh không chính ngôn, không thuận để duy trì cuộc đàn áp của mình. Ngay cả Tập Cận Bình, người do chính thân tín số một của Giang là Tăng Khánh Hồng sắp xếp cũng không chịu gánh cái nồi đen này, kể cả bản thân Tăng Khánh Hồng cũng trốn biệt tăm không dám lộ diện. Nói thẳng ra, nếu Pháp Luân Công bị đàn áp thành công thì ĐCSTQ sẽ không phải đối mặt với tình cảnh khó xử này, thời gian có thể sẽ xóa nhòa dấu vết đàn áp. Nhưng trớ trêu thay, Pháp Luân Công không bị đàn áp gục ngã, còn Đảng Cộng sản thì đã thực sự phân liệt trên vấn đề có tiếp tục đàn áp Pháp Luân Công hay không. Nói cho dễ nghe thì là Ủy ban Chính pháp đã bắt cóc toàn đảng để tiếp tục cuộc đàn áp này; nói thẳng ra thì đàn áp Pháp Luân Công giờ chỉ còn là dự án riêng của một bộ phận là Ủy ban Chính pháp. Vào lúc cùng đường mạt lộ, tứ bề thọ địch như vậy, Giang Trạch Dân từng trông cậy vào Bạc Hy Lai để kế nhiệm vị trí Chu Vĩnh Khang bỗng nhiên mất hết hy vọng. Có thể hình dung đây là mối đe dọa, khủng hoảng, thậm chí là tai họa như thế nào đối với phe Giang? Nếu ngay cả cứ điểm cuối cùng là Ủy ban Chính pháp cũng bị mất, thì chính sách đàn áp Pháp Luân Công của Giang Trạch Dân sẽ trở thành con chó mất chủ, không chốn nương thân. Trước tình cảnh đó, liệu Giang Trạch Dân có thể không liều mạng được không?
Trong tình huống này, giả sử lại có thêm bằng chứng trực tiếp về việc mổ cướp nội tạng sống từ học viên Pháp Luân Công bị phanh phui, mà lại do chính Vương Lập Quân, kẻ trực tiếp gây ra những tội ác này tại Liêu Ninh tiết lộ ra, thì cả những người trong nội bộ ĐCSTQ ủng hộ lẫn phản đối đàn áp Pháp Luân Công đều không dám nói trước được điều đó sẽ dẫn đến biến cố kinh thiên động địa nào. Đây chính là lý do thực sự khiến Vương Lập Quân đoán chắc rằng ĐCSTQ không dám dễ dàng lấy mạng ông ta, nên dám ngang nhiên tuyên bố “cá chết lưới rách” (cùng chết). Đương nhiên, ông ta chỉ có thể để lại bằng chứng này ở lãnh sự quán Mỹ mà không thể giao cho Trung ương Đảng, bởi Trung ương Đảng không dám công bố nó ra.
Vận số của ĐCSTQ đã cạn kiệt. Đến thời Giang Trạch Dân, ông ta buông lỏng tham nhũng để xây dựng nền tảng quyền lực của mình, dùng chống tham nhũng có chọn lọc để đả kích đối thủ chính trị, từ việc Trần Hy Đồng đến Trần Lương Vũ bị “chống tham nhũng”, đến việc Bạc Hy Lai lấy danh nghĩa chống tham nhũng để xử bắn Văn Cường, nội bộ ĐCSTQ thanh trừng lẫn nhau ngày càng không còn giới hạn, các chiêu trò “bị tự sát”, “bị đau tim” cũng ngày càng nhiều. Đồng thời, việc buông lỏng tham nhũng đã dẫn đến tình trạng quyền lực bị tư bản hóa, xã hội đen hóa, khiến mỗi quan chức suy đồi đạo đức từng giữ chức Ủy viên Bộ Chính trị trở lên đều kéo theo phía sau một mạng lưới lợi ích quan – thương – phỉ khổng lồ, một hệ thống kiểu “hụi” khổng lồ. Một khi có quan chức cấp Bộ Chính trị nào ngã ngựa, thì những người liên lụy không chỉ là một gia đình vô tội như thời Cách mạng Văn hóa nữa, kết cục cũng không chỉ dừng lại ở việc bị quản thúc tại gia như Triệu Tử Dương, mà là cả mạng lưới lợi ích bị xóa sổ. Vì vậy, khi nguy hiểm ập đến với bất kỳ mạng lưới lợi ích nào, bất kể họ đang ở thế yếu hay không, những người trong đó đều có thể thà liều lĩnh liều mạng còn hơn ngồi chờ chết. Sự việc đến nước này, ai nấy đều trở thành chim sợ cành cong, chó nhảy tường, không còn theo ý chí con người điều khiển nữa, một khi tia lửa được kích hoạt, không biết sẽ nổ tung đến đâu.
Giang Trạch Dân, Chu Vĩnh Khang trong lòng hiểu rõ hơn ai hết rằng, ngày nào họ không thể sắp xếp được người kế nhiệm chức Bí thư Ủy ban Chính pháp để tiếp tục đàn áp Pháp Luân Công, giống như hiện nay họ không thể sắp xếp được cho Bạc Hy Lai thì bức màn đen của cuộc đàn áp sẽ bị vén lên. Tâm lý đen tối tất yếu này định sẵn rằng họ phải luôn tìm cơ hội gây chuyện, nhất định phải lật ngược thế cờ.
Đứng trước tình thế như vậy, một biến động kinh thiên động địa đã hình thành, chỉ còn xem nó sẽ diễn ra như thế nào. Nếu Hồ, Ôn giành phần thắng, có thể vứt bỏ nồi đen, rửa sạch tội trách, để Đảng Cộng sản bớt làm điều ác. Còn việc người ta kỳ vọng họ có thể thay đổi hiện trạng của ĐCSTQ, thì còn tùy vào lương tri còn lại của họ nhiều hay ít. Nếu Giang, Chu tiếp tục đắc thế, thì đảng – quốc chắc chắn sẽ loạn, chắc chắn sẽ diệt vong, không thể nào chuyển giao hòa bình được.
PHẦN 2: SỰ KIỆN TRẦN QUANG THÀNH
Bạc Hy Lai bị đình chỉ chức vụ Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương, hai ngày sau đó, hàng loạt tin tức tiêu cực về Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Bí thư Ủy ban Chính pháp Chu Vĩnh Khang xuất hiện ồ ạt. Chu Vĩnh Khang là Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị duy nhất công khai ủng hộ Bạc Hy Lai trong kỳ họp Nhân đại. Giả Khánh Lâm không dám bày tỏ lập trường, những người khác thì càng ngả về phía Hồ, Ôn, điều này cho thấy thế lực đen tối tà ác của phe Giang cắm rễ ở cấp cao trung ương đang bị suy yếu và loại bỏ ở mức độ rất lớn. Tốc độ nhanh hay chậm còn tùy thuộc vào đạo đức, dũng khí, bản lĩnh và trí tuệ của các nhà lãnh đạo đương nhiệm.
Ngày 22 tháng 4, luật sư khiếm thị bảo vệ nhân quyền ở Sơn Đông là Trần Quang Thành đã trốn thoát một cách thần kỳ khỏi thôn Đông Sư Cổ, huyện Lâm Nghi, tỉnh Sơn Đông, nơi bị Ủy ban Chính pháp địa phương kiểm soát nghiêm ngặt. Với sự giúp đỡ của bạn bè, ngày 27 tháng 4, ông đã trốn vào Đại sứ quán Mỹ, gây ra một sự kiện ngoại giao lớn giữa Trung Quốc và Mỹ.
Ngày 2 tháng 5, phía Mỹ tuyên bố, “theo nguyện vọng của Trần Quang Thành là không muốn rời khỏi Trung Quốc mà muốn ở lại để thúc đẩy sự nghiệp dân chủ của Trung Quốc”, ba kết quả đàm phán Trung – Mỹ đạt được là: phía Trung Quốc sẽ bảo đảm Trần Quang Thành được tự do ở lại Trung Quốc; đưa ông đến học luật tại một trường đại học ở Thiên Tân; đồng thời phía Trung Quốc cam kết sẽ điều tra xử lý những kẻ vi phạm pháp luật trong sự kiện Trần Quang Thành, và đồng ý để phía Mỹ định kỳ kiểm tra sự an toàn của Trần Quang Thành. Sau khi đến Bắc Kinh, Trần Quang Thành từng đưa ra ba yêu cầu, đề nghị Ôn Gia Bảo điều tra Ủy ban Chính pháp.
Trần Quang Thành, có nhân viên phía Mỹ tháp tùng, rời sứ quán để vào điều trị chấn thương chân tại Bệnh viện Triều Dương ở Bắc Kinh. Ngay tối hôm đó ông đã không thể liên lạc được với các quan chức Mỹ nữa, lực lượng an ninh quốc gia, cảnh sát… đã vây kín Bệnh viện Triều Dương nơi Trần Quang Thành đang ở.
Bộ Ngoại giao Trung Quốc đột nhiên phá vỡ im lặng, lên án việc Mỹ can thiệp vào vụ việc này, và yêu cầu Mỹ phải xin lỗi.
Vụ án Trần Quang Thành do Ủy ban Chính pháp Trung ương định tính, việc đàn áp Trần Quang Thành cũng do chính Chu Vĩnh Khang trực tiếp thao túng. Chu từng đích thân đến Lâm Nghi để sắp xếp việc giám sát, đàn áp, hỏi han về thời hạn giam giữ của Trần, quy định sự kiện liên quan đến Trần Quang Thành là “vụ án 905”, truyền đạt trong nội bộ chính quyền và công an, đồng thời khẳng định cách làm giám sát, đàn áp Trần Quang Thành tại Lâm Nghi, Sơn Đông. Năm 2011, khoản kinh phí giam giữ Trần lên tới 60 triệu nhân dân tệ, Chu yêu cầu phải trừng trị nghiêm khắc tất cả những ai đến Lâm Nghi quan tâm, thăm hỏi Trần Quang Thành giống như “đối xử với Pháp Luân Công”.[2]
Trần Quang Thành buộc phải chọn lại con đường ra nước ngoài, khiến thỏa thuận ba điểm mà Mỹ và chính quyền ĐCSTQ đạt được không còn hiệu lực. Tình thế đột ngột đảo ngược đã đặt cả chính phủ Mỹ lẫn chính quyền ĐCSTQ vào một tình cảnh hết sức khó xử.
Truyền thông Mỹ khác thường lệ, dành nhiều trang lớn mỗi ngày để bám sát diễn biến sự kiện Trần Quang Thành. Truyền thông đưa ra trong các bài xã luận trọng điểm rằng sự an toàn và tương lai của Trần Quang Thành là trách nhiệm của nước Mỹ, Tổng thống Mỹ Obama phải đích thân đứng ra chịu trách nhiệm đến cùng. Việc Trần Quang Thành và gia đình thuận lợi ra nước ngoài, xét về mặt quốc tế, nhưng chủ yếu hơn cả là kết quả nhanh chóng của áp lực mạnh mẽ từ dư luận trong nước Mỹ đối với chính phủ Mỹ. Tờ Washington Post nêu ra: “Khi chính quyền Obama mới lên nắm quyền, Ngoại trưởng Hillary Clinton trong lần đầu thăm Trung Quốc đã tuyên bố rằng, dù hai nước không có sự đồng thuận ở một số mặt, chẳng hạn như vấn đề nhân quyền, nhưng điều đó không ảnh hưởng đến sự hợp tác giữa hai nước ở những mặt được ưu tiên hơn như kinh tế, an ninh.” Nhưng bài báo của tờ Post sau đó xoay chuyển hướng: “Sự kiện Trần Quang Thành không chỉ đưa vấn đề nhân quyền lên vị trí trung tâm sân khấu, dù đây là điều mà cả hai chính phủ đều cố gắng tránh né, mà còn cho thấy nước Mỹ và Ngoại trưởng Clinton không phải lúc nào cũng có thể kiểm soát được hướng đi của cuộc đối thoại. Những giá trị khác biệt và áp lực nội bộ mạnh mẽ ở cả hai nước có thể dễ dàng thúc đẩy nỗ lực tìm ra những giải pháp bổ sung. Tình huống tồi tệ nhất thường xảy ra khi áp lực trong nước là mạnh mẽ nhất.” Tờ Post kêu gọi chính phủ Mỹ trưởng thành hơn trong việc xử lý quan hệ Mỹ – Trung.[3] Vì vậy, việc Trần Quang Thành sang Mỹ nên được xem là thắng lợi mà nhân dân Trung Quốc và nhân dân Mỹ cùng nhau giành được, nó cho thấy sức mạnh của nhân dân.
Sự kiện Trần Quang Thành là một minh chứng rất rõ ràng: đơn kiện đã gửi thẳng lên trung ương, cả thế giới đều dồn sự chú ý vào một ngôi làng nhỏ, vậy mà những kẻ ác ở tầng đáy làng xã vẫn có thể ngang ngược lộng hành với tất cả mọi người, kể cả các phóng viên truyền thông quốc tế, bởi vì ông chủ Ủy ban Chính pháp Trung ương của chúng còn chưa đổ, tiền bạc bên dưới vẫn do “con chuột lớn” bên trên cấp phát. Mạng lưới lợi ích quan – phỉ xuyên suốt từ Ủy ban Chính pháp Trung ương cho đến tận làng xã, đây thực chất là một trường hợp ở Sơn Đông cho thấy mô hình mới mà Ủy ban Chính pháp Trung ương và Phòng “610” Trung ương đã bố trí chặt chẽ trong nhiều năm qua để đàn áp Pháp Luân Công: “việc nhỏ không ra khỏi làng, việc lớn không ra khỏi thị trấn, mâu thuẫn không đưa lên cấp trên, việc khó do huyện giải quyết”, cùng mô hình khen thưởng – trừng phạt – thăng tiến về chính trị, kinh tế kiểu “chi bộ xây dựng đến tận đại đội”, nay được áp dụng lên cả những người dân thường. Mạng lưới kiểm soát chặt chẽ như vậy đã vô hiệu hóa quyền lực của Trung ương ĐCSTQ, nên câu nói “mệnh lệnh chính trị không ra khỏi Trung Nam Hải” cũng không khó hiểu.
Do Chu Vĩnh Khang bị phanh phui là đã đích thân chỉ đạo đàn áp Trần Quang Thành, sự kiện Trần chạy vào đại sứ quán Mỹ bị bên ngoài xem là một sự nối dài của sự kiện Bạc Hy Lai – Vương Lập Quân, Chu đã không còn cách nào bịt kín được bức màn đen của cuộc đàn áp. Bắt đầu từ việc truy xét sâu vào cuộc đàn áp Trần Quang Thành, bước tiếp theo sẽ là khui ra thủ đoạn và nợ máu của Chu Vĩnh Khang trong việc đàn áp Pháp Luân Công, bởi rõ ràng trong những năm gần đây, hệ thống Ủy ban Chính pháp của Chu Vĩnh Khang dưới chính sách đàn áp Pháp Luân Công của Giang Trạch Dân đã chấp pháp loạn pháp, vô pháp vô thiên. Lối làm việc kiểu thổ phỉ, xã hội đen trong nội bộ đảng này giờ đây đã giăng kín các nút mạng lưới khắp Trung Quốc, khống chế toàn diện mọi ngóc ngách của xã hội.
Ngày 19 tháng 5 năm 2012, gia đình Trần Quang Thành đến New York. Hầu như toàn bộ truyền thông thế giới đều đưa tin: tại New York, Trần Quang Thành đã bày tỏ lòng biết ơn đối với chính phủ Mỹ và những người ủng hộ ở khắp nơi trên thế giới, đồng thời cũng hài lòng trước quyết định xử lý bình tĩnh của chính quyền ĐCSTQ đối với vấn đề ông ra nước ngoài. Ông gửi đến chính phủ các nước hy vọng về đại trí tuệ “làm lợi cho thiên hạ, trừ hại cho thiên hạ”. Lời kêu gọi của ông có bao gồm cả các nhà lãnh đạo đảng – quốc đương nhiệm của Trung Quốc hay không?
PHẦN 3: ĐẰNG SAU MÀN SƯƠNG
“Củ khoai nóng” của ĐCSTQ
Nhân sĩ dân chủ nổi tiếng đang sống tại New York là Đường Bách Kiều, khi trả lời phỏng vấn Đài truyền hình Tân Đường Nhân vào tháng 4 năm 2012, đã tiết lộ rằng vào năm 2009, một đặc phái viên của văn phòng Hồ Cẩm Đào đã đến gặp ông, mời ông làm cố vấn cho nhóm cố vấn (think tank) của Hồ Cẩm Đào.[4]
Đường Bách Kiều nói: “Người mang lời nhắn nói rất rõ ràng rằng nhóm cố vấn này làm việc trực tiếp với Hồ Cẩm Đào… Nếu ông làm cố vấn, bất kỳ ý tưởng nào của ông sẽ trực tiếp được đặt lên bàn làm việc của Hồ Cẩm Đào. Vì vậy ông ta nói như thế chẳng phải sẽ có ích cho vấn đề Pháp Luân Công, cho mọi vấn đề hay sao.”
Đường Bách Kiều nói: “Quan điểm của họ cho rằng, (vấn đề Pháp Luân Công) là chuyện không có lời giải, tức là (phía) Hồ Cẩm Đào cho dù có thành ý muốn giải quyết thì dường như cũng không giải quyết được. Họ (Pháp Luân Công) muốn Đảng Cộng sản sụp đổ, dù xử lý thế nào cũng là muốn Đảng Cộng sản sụp đổ, nhưng (Hồ Cẩm Đào) họ lại không muốn (ĐCSTQ) sụp đổ. Ông ta nói chúng tôi có muốn minh oan cho họ (Pháp Luân Công) thì họ (Pháp Luân Công) cũng không chấp nhận đâu, họ muốn giải thể Đảng Cộng sản kia (kiên quyết đòi xử lý theo pháp luật Giang, La, Lưu, Chu).”
Trước điều này, Đường Bách Kiều khi đó đã đề nghị với đặc phái viên của Hồ Cẩm Đào rằng, nếu đã không có lời giải, thì hãy thả tất cả học viên Pháp Luân Công ra, xem thử tình hình có biến chuyển gì không.
Kế hoạch ban đầu của Giang Trạch Dân là “tiêu diệt Pháp Luân Công trong ba tháng”, nhưng ông ta không thể ngờ rằng Pháp Luân Công đã ăn sâu vào lòng người. Hơn mười năm trôi qua, Pháp Luân Công trong và ngoài nước không những không bị đàn áp gục ngã, mà trái lại còn lan rộng đến nhiều quốc gia và khu vực hơn. Đúng như thế giới đã chứng kiến, mỗi lần đàn áp họ lại là một lần quảng bá cho họ. Ngay cả nội bộ ĐCSTQ cũng phải thừa nhận rằng sở dĩ phải che giấu, phải ngừng chiến dịch bôi nhọ ồ ạt trên truyền thông, là vì dù làm cách nào cũng chỉ giúp tuyên truyền cho Pháp Luân Công mà thôi.
Làm thế nào để giải quyết vấn đề Pháp Luân Công đã trở thành “củ khoai nóng” trong nội bộ ĐCSTQ. Bất kỳ ai muốn thực sự đối diện với các vấn đề xã hội Trung Quốc, dù là xây dựng một xã hội pháp trị, hay xây dựng một xã hội hài hòa, hay chỉ đơn giản là một xã hội bình thường, thì bất kỳ nhà lãnh đạo đảng nào cũng không thể né tránh vấn đề này. Hoặc là phải gánh cái nồi đen thay cho Giang Trạch Dân, nhưng đây là cuộc đàn áp nhắm vào một trăm triệu người, bất kỳ ai còn chút lương tâm cũng không thể gánh nổi sức nặng ấy!
Ngày 3 tháng 5 năm 1999, Giáo sư David Holm, chuyên gia nghiên cứu Trung Quốc người Úc, khi trả lời phỏng vấn truyền thông đã nêu ra cách hiểu của ông về Pháp Luân Công: “Đây không phải là một phong trào lật đổ Đảng Cộng sản, phong trào này thực chất chẳng hề liên quan gì đến việc lật đổ Đảng Cộng sản. Nếu nói rằng nó có thách thức Đảng Cộng sản, thì chẳng qua là vì Đảng Cộng sản tự cho rằng đây là một thách thức ở mức độ nào đó đối với mình mà thôi.”[5] Ông Holm đã nhìn thấy cốt lõi của vấn đề.
Trên thực tế, ngay từ giai đoạn đầu của cuộc đàn áp tàn khốc, các học viên Pháp Luân Công vẫn luôn dựa trên đức tin Chân – Thiện – Nhẫn to lớn để kêu gọi Giang Trạch Dân, hy vọng ông ta có thể sửa sai, chấm dứt đàn áp, gần như đã cho Giang gần hai năm thời gian. Nhưng Giang Trạch Dân đã mất hết lương tri, quyết đi đến cùng con đường sai lầm. Trong một tài liệu được tiết lộ sau này, Giang từng thẳng thắn thừa nhận vào ngày 7 tháng 6 năm 1999 rằng: “Pháp Luân Công đề xướng ‘Chân, Thiện, Nhẫn’, đã cho chúng ta cơ hội ra tay ‘khử độc’. So với nó, các tổ chức khí công khác lại không dễ giải quyết như vậy, rất có thể sẽ gây ra biến động dữ dội trên toàn quốc, thậm chí tạo ra các hoạt động khủng bố bạo lực như ám sát, khí độc, đánh bom”, “Pháp Luân Công giảng ‘Chân, Thiện, Nhẫn’, nên công tác đả kích của chúng ta có thể mạnh dạn tiến hành. Sau này có thể vận dụng hiệu quả kinh nghiệm đả kích Pháp Luân Công vào các tổ chức khí công khác.”
Sau đó, các học viên Pháp Luân Công lại tiếp tục cho ĐCSTQ thêm vài năm cơ hội nữa, hy vọng ĐCSTQ có thể ngăn cản sự cố chấp của Giang Trạch Dân. Không may là Giang Trạch Dân đã lợi dụng bộ máy ĐCSTQ này để phát động và thực thi cuộc đàn áp, hay nói cách khác, Giang Trạch Dân và ĐCSTQ đang lợi dụng lẫn nhau. Các học viên Pháp Luân Công không hề quan tâm đến chính quyền, đối với cuộc đàn áp của ĐCSTQ họ luôn áp dụng cách làm lý trí, ôn hòa, giảng rõ sự thật, mục đích duy nhất là chấm dứt cuộc đàn áp. Nhưng để phục vụ cho việc đàn áp, Giang Trạch Dân không ngại công khai tuyên bố rằng tiêu chuẩn đạo đức “Chân, Thiện, Nhẫn” là xấu, đây chính là hành vi gây hại cho nhân dân Trung Quốc, hủy hoại tương lai của Trung Quốc. Sự thật cho đến nay cho thấy cuộc đàn áp này của ĐCSTQ chưa từng dừng lại. Anh có bạo chính đàn áp của anh, tôi có quyền cơ bản nhất để phản đối đàn áp của tôi. Cuốn “Cửu Bình Cộng Sản Đảng” (Chín Bài Bình Luận về Đảng Cộng sản) đã được công bố trong bối cảnh như vậy, để giúp người ta nhìn rõ sự thật của cuộc đàn áp, nhận thức được bản chất của ĐCSTQ, không đánh mất giới hạn đạo đức tối thiểu của một con người trong phong trào đàn áp tàn khốc lương tri nhân loại này. Nếu việc giải thể ĐCSTQ mới có thể chấm dứt được cuộc đàn áp, thì đó chính là do Đảng Cộng sản đã ép buộc các học viên Pháp Luân Công phải đưa ra lựa chọn như vậy.
Yếu tố Pháp Luân Công
Nhìn bề ngoài, sự kiện Bạc Hy Lai – Vương Lập Quân là một cuộc tranh giành quyền lực trong nội bộ ĐCSTQ. Nhưng nếu đi sâu tìm hiểu, có thể thấy một mạch chính khác, mạch chính thường bị các nhà quan sát và truyền thông quốc tế bỏ qua, đó là tất cả những người liên quan trong trận động đất quan trường lần này, từ Vương Lập Quân đến Bạc Hy Lai, rồi đến Chu Vĩnh Khang, cùng với Giang Trạch Dân, kẻ ra mặt lượn một vòng nhằm giành lại quyền khống chế chính trường mà không thành, đều có liên quan trực tiếp đến việc đàn áp Pháp Luân Công. Vụ án giết Heywood chỉ là một hành vi phạm tội của Bạc, Bạc còn dính líu đến rất nhiều hành vi phạm tội trong việc đàn áp học viên Pháp Luân Công. Nhưng tội ác này thì cả ĐCSTQ lẫn phương Tây đều không dám và không muốn động chạm tới. Việc ĐCSTQ không muốn nhắc đến thì ai cũng hiểu. Còn việc phương Tây “giả ngu giả ngơ” chủ yếu là vì nếu thực sự từ tận đáy lòng thừa nhận sự tàn khốc của cuộc đàn áp này, thì chẳng phải ngày mai sẽ phải thay đổi toàn bộ chính sách đối với Trung Quốc hay sao! Những toan tính lợi ích, sự thờ ơ trước nhân quyền, chẳng phải đều sẽ phải được cân nhắc lại dưới áp lực của người dân Mỹ hay sao?
Vương Lập Quân khi ở Cẩm Châu không phải là một Giám đốc Công an trung thành với pháp luật, mà là một kẻ xâm phạm nhân quyền tàn nhẫn. Ông ta đã lợi dụng sự thuận tiện của chức vụ Giám đốc Công an để tiến hành hoạt động phạm tội mổ cướp nội tạng sống từ học viên Pháp Luân Công một cách mất hết lương tri, và được tưởng thưởng vì việc này. Trong khi số lượng tử tù ở khu vực Cẩm Châu lại ít đến mức không thể giải thích được vì sao ông ta có thể tiến hành hàng nghìn ca cấy ghép trong hai năm. Một người không có chuyên môn y khoa như ông ta lại được gọi là chuyên gia cấy ghép nội tạng, và dùng ngân sách nhà nước để xây dựng viện nghiên cứu về cấy ghép.[6] Một cựu chiến sĩ cảnh sát vũ trang ở Cẩm Châu đã tiết lộ từ vài năm trước rằng Vương Lập Quân đã ra lệnh tận diệt học viên Pháp Luân Công, và đích thân tổ chức các ca phẫu thuật mổ cướp nội tạng sống từ học viên Pháp Luân Công. Chiến dịch đả hắc của Bạc Hy Lai không cần những người trung thành với pháp luật, tận tụy với chức trách, những người như vậy không thể quán triệt được chính sách đả hắc. Ông ta cần những tay sai chỉ nghe lệnh riêng mình, coi thường và chà đạp pháp luật.
Do đàn áp Pháp Luân Công trong thời gian tại nhiệm ở Đại Liên và Liêu Ninh, Bạc Hy Lai đã bị kiện ở nước ngoài 13 lần, chỉ đứng sau số lần bị kiện của Giang Trạch Dân là 21 lần và La Cán là 19 lần. Trong giới thân cận ở Bắc Kinh có một cách nói rằng khi đó, cấp trên trực tiếp của Bạc Hy Lai là Phó Thủ tướng Quốc vụ viện Ngô Nghi đã không thể chấp nhận thói xấu của Bạc, kiên quyết không để Bạc lên chức Phó Thủ tướng. Đây có thể là sự thật. Theo một nguồn khác, chẳng hạn theo một bức điện tín ngoại giao của Mỹ do WikiLeaks tiết lộ, Ôn Gia Bảo cho rằng Bạc bị Pháp Luân Công kiện ở nước ngoài quá nhiều lần, sự phơi bày tiêu cực trên trường quốc tế của ông ta không phù hợp để đại diện cho Trung Quốc tại các dịp quốc tế cấp cao hơn, nên đã không đồng ý cho Bạc thăng chức Phó Thủ tướng mà đưa ông ta ra ngoài làm Bí thư Thành ủy Trùng Khánh.[7]
Chu Vĩnh Khang khi làm Bí thư Tỉnh ủy Tứ Xuyên đã được Giang Trạch Dân để mắt tới vì đàn áp Pháp Luân Công một cách nghiêm khắc, nên đã phá lệ điều động một người chưa từng có kinh nghiệm công tác công an như ông ta về Bắc Kinh, thay thế Giả Xuân Vượng, người bị Giang cho là đàn áp Pháp Luân Công không đủ mạnh tay làm Bộ trưởng Công an, đồng thời kiêm nhiệm chức Phó Bí thư duy nhất của Ủy ban Chính pháp Trung ương. Khi La Cán về hưu, cần một người tương tự như mình, tức là có nợ máu đàn áp Pháp Luân Công, tàn nhẫn độc ác, để kế nhiệm, nhằm bảo đảm chính sách đàn áp có thể tiếp tục, nên đã chọn Chu Vĩnh Khang kế nhiệm chức Bí thư Ủy ban Chính pháp Trung ương của ông ta. Dù ở cương vị Bộ trưởng Công an hay sau này là Bí thư Ủy ban Chính pháp, Chu đều phải chịu trách nhiệm chính cho cuộc đàn áp trên phạm vi toàn quốc.
Sau Đại hội 18, Chu Vĩnh Khang sẽ về hưu, ông ta buộc phải chọn một người cũng có nợ máu đàn áp Pháp Luân Công và tàn nhẫn độc ác tương tự để kế thừa chức vụ cùng chính sách đàn áp của mình. Người này phải có động cơ, động lực và thủ đoạn. Ứng viên này không ai khác ngoài Bạc Hy Lai. Còn Bạc Hy Lai cũng cần bàn đạp này để phục vụ cho kế hoạch lớn hơn của mình. Hai người cấu kết với nhau như chó với sói, hình thành nên liên minh Bạc – Chu. Trong “Bè lũ nhà Giang” do Giang Trạch Dân đứng đầu, dĩ nhiên có những kẻ tham nhũng lớn như Giả Khánh Lâm, Hoàng Cúc, Trần Lương Vũ, nhưng ở cấp cao ĐCSTQ hầu như quan chức nào cũng tham nhũng, nên tham nhũng không thể là động lực chính để gắn kết “Bè lũ nhà Giang”. Những kẻ nợ máu trong vấn đề đàn áp Pháp Luân Công liên kết với nhau vì mục đích tự bảo vệ bản thân, loại lực gắn kết bằng “nỗi sợ hãi” này, theo cách nhìn của Giang Trạch Dân, đáng tin cậy hơn nhiều. Vì vậy nhóm người này đã hình thành nên một “Bè lũ nợ máu”, đây là một tập đoàn băng nhóm kiểu “đồng phạm tội ác”.
Khi Bạc Hy Lai bị hạ bệ, “Bè lũ nợ máu” muốn tìm được ở trung ương một người đáp ứng đầy đủ các điều kiện như Bạc để kế thừa vị trí kiểu Chu Vĩnh Khang kế thừa La Cán là điều không dễ dàng, hệ thống chỉ huy chính của cuộc đàn áp Pháp Luân Công ngay lập tức đối mặt với vấn đề không có người kế thừa. Đây chính là lý do vì sao trong kỳ họp Nhân đại, khi Bạc Hy Lai đã đối mặt với việc bị điều tra vì vụ Vương Lập Quân, Chu Vĩnh Khang lại đi ngược lại các Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị khác để công khai ủng hộ Bạc. Chỉ cần Chu Vĩnh Khang còn quyền lực, dù chỉ là trên danh nghĩa, ông ta cũng nhất định phải liều mạng phản kích, đây không phải là chuyện ông ta muốn làm hay không, mà là chuyện tất yếu phải làm.
PHẦN 4: BÈ LŨ NỢ MÁU
Sự hình thành của “Bè lũ nợ máu”
Để duy trì chính sách đàn áp, tránh tội ác bị phơi bày và nợ máu bị thanh toán, Giang Trạch Dân đã có ba sự sắp xếp tại Đại hội 16.
Thứ nhất, thay đổi cơ cấu Ban Thường vụ Bộ Chính trị, tăng số lượng từ bảy lên chín người, nhét cứng vào người thứ tám là Lý Trường Xuân, phụ trách tuyên truyền chống Pháp Luân Công; và người thứ chín là La Cán, phụ trách đàn áp bạo lực.
Thứ hai, Giang Trạch Dân đã bãi bỏ danh xưng “hạt nhân lãnh đạo”, mỹ miều gọi đó là “lãnh đạo tập thể”. Thực chất là tước đoạt quyền của Hồ Cẩm Đào trong việc can thiệp vào công việc của Lý Trường Xuân và La Cán.
ĐCSTQ từ thể chế độc tài đã biến thành thể chế “chính trị đầu sỏ”, chín Ủy viên Thường vụ mỗi người quản một mảng, không ai quản được ai. Chỉ khi Bí thư Ủy ban Chính pháp La Cán trở thành Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị thì mới có thể huy động nguồn lực toàn quốc để tiếp tục chính sách đàn áp; chỉ khi chín người mỗi người quản một mảng thì La Cán mới có thể sở hữu quyền lực không bị ràng buộc, đây đều là những điều chỉnh cơ cấu tổ chức quan trọng mà Giang Trạch Dân đã thực hiện nhằm đàn áp Pháp Luân Công.
Thứ ba, Giang Trạch Dân còn đưa ra một quyết định khiến cả thế giới phải sững sờ: bằng phương thức gần như một cuộc chính biến quân sự, Giang Trạch Dân đã tiếp tục giữ chức Chủ tịch Quân ủy sau Đại hội 16.
Trong việc lựa chọn nhân sự cho Ban Thường vụ Bộ Chính trị, Giang Trạch Dân tuân theo nguyên tắc “ba đa số”: Thứ nhất, quan chức do chính tay ông ta đề bạt phải chiếm đa số, những người này nếu chống Giang thì cũng đồng nghĩa với việc phủ định con đường thăng tiến của chính mình; Thứ hai, những kẻ tham nhũng phải chiếm đa số, để họ vì bảo vệ lợi ích bản thân mà không nghiêm túc chống tham nhũng, càng không thanh toán tội tham nhũng của Giang Trạch Dân; Thứ ba, những kẻ nợ máu chồng chất vì đàn áp Pháp Luân Công phải chiếm đa số, để Pháp Luân Công không thể được minh oan.
Trong việc sắp xếp nhân sự tại Đại hội 17 năm 2007, Giang Trạch Dân đã không còn có thể tùy ý làm theo ý mình nữa. Ông ta thông qua Tăng Khánh Hồng, dốc toàn lực đẩy Chu Vĩnh Khang, kẻ nợ máu chồng chất, lên vị trí Bí thư Ủy ban Chính pháp để kế nhiệm La Cán về hưu. Chu Vĩnh Khang, người đứng cuối danh sách Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, có thân thế và lai lịch phức tạp. Có người nói ông ta là con rể của cháu gái Giang Trạch Dân, là tay chân bẩm sinh của phe Giang, nên được cài vào vị trí then chốt. Ông ta lần lượt giữ chức Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Đất đai, Bí thư Tỉnh ủy Tứ Xuyên, Bộ trưởng Công an, cuối cùng vươn lên hàng lãnh đạo cấp cao ĐCSTQ, với danh xưng Bí thư Ủy ban Chính pháp kiêm Chủ nhiệm Văn phòng Quản lý Trị an Tổng hợp, tập trung vào tay mình quyền quản lý tình báo, mật vụ và an ninh của ĐCSTQ. Chu Vĩnh Khang liên tục tạo ra các vụ án lớn, nhân đó tập trung quyền lực vô hạn vào tay mình, lại thêm dung mạo hung thần ác sát, khiến ai ở Trung Nam Hải cũng khiếp sợ, thấy mặt là dè chừng ba phần, tựa như bóng ma của Beria đang lang thang ở Bắc Kinh.
Về việc chọn người cho vị trí Tổng Bí thư, Giang Trạch Dân buộc phải đạt được thỏa hiệp với Hồ Cẩm Đào. Hồ Cẩm Đào ban đầu sắp xếp để Lý Khắc Cường và Lý Nguyên Triều lần lượt kế nhiệm chức Tổng Bí thư và Thủ tướng, còn phía Giang Trạch Dân lại đưa ra Tập Cận Bình, người không mang màu sắc phe phái. Nhưng Giang Trạch Dân vẫn không hài lòng với kết quả thỏa hiệp này. Đạo đức cá nhân của Tập Cận Bình là điều mà Bạc Hy Lai hoàn toàn không thể sánh được, Giang lo sợ Tập Cận Bình sẽ chấm dứt chính sách đàn áp Pháp Luân Công, người mà ông ta ưng ý nhất làm người kế nhiệm chính là Bạc Hy Lai.
Giang Trạch Dân để mắt đến Bạc Hy Lai vì ba lý do. Thứ nhất, Bạc Hy Lai vô cùng hung tàn và mất hết luân thường đạo lý. Bạc Nhất Ba, khi hồi tưởng về Cách mạng Văn hóa năm 1983, đã mô tả con trai mình là Bạc Hy Lai như sau: “…Thằng ranh tàn nhẫn này còn đạp vào ngực tôi mấy cái, lúc đó gãy luôn ba cái xương sườn. Nhìn cái kiểu không nhận họ hàng, tay độc tâm ác, đến cả cha ruột cũng đánh cho suýt chết của nó, thằng này đúng thực là vật liệu tốt để làm người kế nhiệm tương lai của đảng ta. Đủ tàn nhẫn, có thể làm việc lớn.” Bạc Hy Lai từ Kim Huyện, Đại Liên, Thẩm Dương cho đến khi chủ chính Trùng Khánh, suốt dọc đường đều “đánh cho suýt chết” những chướng ngại trên con đường thăng tiến của mình, khi đến Trùng Khánh còn có kế hoạch giết ba nghìn người ở đó. Bạc Hy Lai từng nói: “Không giết mạnh tay một loạt thì không thể xây dựng được uy nghiêm của chúng ta… Sự kiện Lục Tứ (Thiên An Môn) chính là vì giết người quá ít nên bây giờ mới có kẻ dám lật lại vụ án, bài học này phải được tiếp thu.”
Thứ hai, Bạc Hy Lai rất giỏi vận dụng công cụ tuyên truyền. Do tốt nghiệp khoa Lịch sử Đại học Bắc Kinh, rồi lấy bằng thạc sĩ chuyên ngành báo chí quốc tế tại Viện Khoa học Xã hội, ông ta rất am hiểu cách dùng truyền thông để tô son trát phấn cho bản thân, lừa gạt dư luận, câu danh trục lợi.
Thứ ba, cũng là điểm quan trọng nhất. Trong thời gian làm Bộ trưởng Thương mại, Bạc Hy Lai cứ đến nước nào là bị học viên Pháp Luân Công kiện ở nước đó, bị đưa ra tòa tại 12 quốc gia như Mỹ, Canada, Úc, Hàn Quốc… Giang Trạch Dân biết rằng Bạc Hy Lai chính là kẻ duy nhất có thể đàn áp Pháp Luân Công không tiếc công sức, thủ đoạn tàn độc.
Nhiều người đầu quân dưới trướng Giang chỉ vì mục đích chiếm đoạt quyền lực và lợi ích, nhưng một khi quyền lực của Giang Trạch Dân suy yếu, khả năng những người này đầu quân sang chỗ khác cũng rất cao. Còn nhân vật cốt lõi của “Bè lũ nhà Giang” chắc chắn phải là những kẻ đã hình thành nên “Bè lũ nợ máu” do nợ máu trong vấn đề đàn áp Pháp Luân Công, điều này có thể được xác thực qua sự kiện Bạc Hy Lai và Vương Lập Quân xảy ra vào đầu năm 2012.
Ngày 29 tháng 3, tờ New York Times đăng bài viết của Jonathan Ansfield và Ian Johnson, dẫn lời nguồn tin cho biết trong việc xử lý vấn đề Bạc Hy Lai, Chu Vĩnh Khang bất đồng ý kiến với tám người còn lại, không đồng ý điều tra và cách chức Bạc Hy Lai. Ngày 31 tháng 3, tờ Bắc Kinh Nhật báo công khai đăng bài bình luận rằng: “‘Tổng Bí thư’ không phải là cơ quan tối cao đứng trên tổ chức trung ương của đảng, nhấn mạnh lãnh đạo tập thể.” Bí thư Thành ủy Bắc Kinh Lưu Kỳ công khai đứng ra ủng hộ Chu Vĩnh Khang, gây sức ép với Tổng Bí thư ĐCSTQ Hồ Cẩm Đào và người kế nhiệm tương lai Tập Cận Bình.
Chúng ta không ngại thử phân tích tâm lý hành vi của Chu Vĩnh Khang và Lưu Kỳ. Chu Vĩnh Khang đã ở vị trí Ủy viên Thường vụ, đã leo lên đỉnh kim tự tháp quyền lực của ĐCSTQ, không còn chỗ nào để tiến thêm nữa. Vì sao lại phải đối đầu với các Ủy viên Thường vụ khác, đặc biệt là Tổng Bí thư đương nhiệm Hồ Cẩm Đào và Tổng Bí thư kế nhiệm Tập Cận Bình, ngay trước nửa năm khi mình sắp về hưu? Lưu Kỳ đã gần bảy mươi tuổi, sắp sửa về hưu, vì sao cũng phải làm chuyện đắc tội với Hồ và Tập? Chẳng lẽ họ không biết đấu tranh trong nội bộ đảng là một mất một còn, làm như vậy có thể phải trả giá bằng cả tính mạng và gia sản hay sao? Nếu rủi ro cao mà lợi ích thu về lại nhỏ, thì họ làm như vậy là vì điều gì?
Chuyện này cùng chung một nguyên nhân với việc Giang Trạch Dân sau khi về hưu nhất định phải diễu cợt Hồ Cẩm Đào theo kiểu “Giang trước, Hồ sau”, và nhất định phải chủ đạo việc sắp xếp nhân sự. Đây không phải là sự lựa chọn của “Bè lũ nợ máu”, mà là vì “Bè lũ nợ máu” không còn lựa chọn nào khác, chỉ có thể đánh cược tất cả.
Các thành viên cấp cao của “Bè lũ nợ máu”
Ngoài bốn thủ phạm chính của cuộc đàn áp (Giang, La, Lưu, Chu), tập đoàn Giang Trạch Dân còn có một loạt thành viên quan trọng khác cũng tham gia đàn áp trong Ban Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương ĐCSTQ lúc bấy giờ, bao gồm Tăng Khánh Hồng, Lý Lam Thanh, Giả Khánh Lâm, Lý Trường Xuân, Ngô Quan Chính…[8] Về mặt số lượng người và phân chia quyền lực, những người này đã kìm kẹp Hồ, Ôn.
Tăng Khánh Hồng, Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương ĐCSTQ, Bí thư Ban Bí thư Trung ương, Hiệu trưởng Trường Đảng Trung ương, Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Từ năm 1999 đến cuối năm 2002 giữ chức Trưởng ban Tổ chức Trung ương ĐCSTQ. Tăng Khánh Hồng là kẻ có lòng tham quyền lực mạnh mẽ, mưu mô xảo quyệt, không chỉ bày mưu tính kế cho Giang Trạch Dân trong đấu tranh quyền lực như ly gián quan hệ giữa Đặng và Dương, đánh đổ Trần Hy Đồng…, mà còn đầy mưu ma chước quỷ trong việc đàn áp Pháp Luân Công, là “quân sư đầu chó” của Giang.
Thấy tình hình đàn áp tiến triển chậm chạp, Bạc Nhất Ba, cha của Bạc Hy Lai đã hiến kế cho Giang rằng: “Chính phủ làm việc rất không hiệu quả trong chuyện này, điều đó liên quan đến việc đồng chí Dung Cơ không coi trọng, không lên tiếng công khai.” Theo suy nghĩ của Tăng Khánh Hồng, việc Chu Dung Cơ đích thân tiếp kiến các học viên Pháp Luân Công trong sự kiện “25 tháng 4”, nếu ông không ra mặt phát biểu, sẽ khiến bên ngoài suy đoán rằng Trung ương Đảng đang bị chia rẽ. Ngoài ra, với uy tín và danh vọng của Chu Dung Cơ, nếu ông ủng hộ đàn áp, sẽ có thể khiến không ít người ngả về phía Giang Trạch Dân. Sau khi Tăng Khánh Hồng trình bày những phân tích này với Giang Trạch Dân, Giang lập tức gọi Chu Dung Cơ đến khiển trách, đại ý nói rằng phong trào “Tam giảng” ở các bộ ngành Quốc vụ viện tiến hành rất kém hiệu quả, yêu cầu Chu Dung Cơ phải coi trọng phong trào “Tam giảng” như một phong trào bảo vệ địa vị của đảng cầm quyền. Giang Trạch Dân trách cứ Chu Dung Cơ từ lâu đã “không biết phục tùng đại cục chính trị, có tâm lý chống đối với chính sách của Trung ương Đảng, đối phó tiêu cực. Phải biết rằng, trong ‘Tam giảng’ quan trọng nhất chính là ‘giảng chính trị’. Đàn áp Pháp Luân Công chính là vấn đề chính trị lớn nhất hiện nay.” Giang nói: “Đồng chí Dung Cơ, Trung ương Đảng yêu cầu Quốc vụ viện không những phải ‘giảng chính trị’, mà còn phải giảng cho tốt, phải kết hợp tốt việc phổ biến ‘Tam giảng’ với vấn đề chính trị lớn nhất hiện nay, nếu không chính là chia rẽ đảng!”
Rời khỏi văn phòng Giang, Chu Dung Cơ hết sức im lặng. Không lâu sau đó, Chu Dung Cơ vẫn phải trái với lòng mình mà lên tiếng ủng hộ quyết định đàn áp của Giang Trạch Dân.
Lý Lam Thanh, con trai ông ta từng phạm phải một vụ án lớn trị giá cả tỷ nhân dân tệ, được Giang Trạch Dân xóa sạch bằng một nét bút, Giang Trạch Dân lấy đó để uy hiếp và lợi dụng Lý Lam Thanh.
Khi đó, đa số Ủy viên Bộ Chính trị, thậm chí cả Ủy viên Thường vụ, đều khá thờ ơ với vấn đề đàn áp Pháp Luân Công, Lý Lam Thanh cũng không đồng ý với quyết định đàn áp Pháp Luân Công của Giang Trạch Dân. Giang Trạch Dân đã lấy “tính đảng” và chiếc mũ “mất đảng mất nước” ra để uy hiếp Lý Lam Thanh, cuối cùng lập trường của Lý Lam Thanh lung lay, đồng ý với quyết định của Giang, trở thành người đứng đầu cao nhất đầu tiên của cơ quan chuyên trách đàn áp Pháp Luân Công, Phòng “610”.
Giả Khánh Lâm, vào năm 1999, năm bắt đầu đàn áp Pháp Luân Công là Bí thư Thành ủy Bắc Kinh của ĐCSTQ, từng bị Giang Trạch Dân phê bình là “quá vô cảm.”
Giả Khánh Lâm là Bí thư Tỉnh ủy Phúc Kiến của ĐCSTQ vào thời điểm xảy ra đại án buôn lậu Viễn Hoa của Lại Xương Tinh, đã được Giang Trạch Dân giữ nguyên chức vụ bằng thủ đoạn quen thuộc “mua chuộc quan tham để phục vụ cho mình”, rồi điều chuyển làm Thị trưởng, Bí thư Thành ủy Bắc Kinh, để Giang Trạch Dân khống chế địa bàn trọng yếu là Bắc Kinh. Giả Khánh Lâm hết lòng theo đuổi chính sách đàn áp của Giang Trạch Dân, nên tại Đại hội 16 năm 2002 của ĐCSTQ, Giả Khánh Lâm với tư cách thân tín của Giang đã thăng chức lên Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, còn được Giang Trạch Dân giao “phụ trách” Chính Hiệp, lên làm Chủ tịch Chính Hiệp. Giả Khánh Lâm cùng với La Cán, Hoàng Cúc, Lý Trường Xuân, Ngô Quan Chính… cùng nhau kìm kẹp Hồ Cẩm Đào, và tiếp tục thực thi chính sách đàn áp mà Giang Trạch Dân đã đặt ra.
Lý Trường Xuân, từ năm 1998 đến 2002 giữ chức Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương ĐCSTQ, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông; từ năm 2002 đến nay giữ chức Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương ĐCSTQ, phụ trách tuyên truyền.
Lúc đầu Lý Trường Xuân cũng tiêu cực, làm cho có, xử lý kín đáo, không muốn giống như Giang bị trói vào cột ô nhục của lịch sử. Giang Trạch Dân không còn cách nào khác, tháng 2 năm 2000 đành phải đích thân đến Quảng Đông đốc chiến. Ông ta phê bình Quảng Đông “đàn áp không mạnh tay”, “yếu mềm” với Pháp Luân Công, yêu cầu Lý Trường Xuân phải “kiểm điểm” tại cuộc họp Bộ Chính trị, còn đích thân gửi fax cho Thành ủy Thâm Quyến yêu cầu họ phải “giữ vững trận địa”. Dưới áp lực cao độ của Giang Trạch Dân và La Cán, Quảng Đông cuối cùng cũng bắt đầu đưa học viên Pháp Luân Công vào trại lao động cải tạo.
Tháng 10 năm 2002, theo chỉ ý của Giang Trạch Dân, Lý Trường Xuân khi đó là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông đã đăng bài viết trên tạp chí “Đời sống Chi bộ Quảng Đông”, bàn nhiều về việc Giang Trạch Dân bịa đặt thân phận “con nuôi liệt sĩ”. Một tháng sau, tại Đại hội 16 của ĐCSTQ vào tháng 11 năm 2002, Lý Trường Xuân, người có công tẩy trắng xuất thân cho Giang Trạch Dân đã được đề bạt vào Ban Thường vụ Bộ Chính trị.
Dịch SARS ban đầu bùng phát ở miền Nam Trung Quốc vào tháng 11 năm 2002. Sau khi ca bệnh SARS đầu tiên được phát hiện ở Quảng Đông, các cơ quan tuyên truyền do Lý Trường Xuân (Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, khi đó là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông) đứng đầu đã tìm mọi cách che giấu, khiến dịch bệnh dần dần lan sang các tỉnh khác.
Ngô Quan Chính, vào năm 1999 khi cuộc đàn áp bắt đầu, giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Sơn Đông của ĐCSTQ. Theo kế sách của Tăng Khánh Hồng, Giang Trạch Dân đã gây sức ép để Ngô Quan Chính gia tăng đàn áp. Ngô Quan Chính vì muốn thăng quan nên đã biến Sơn Đông thành một trong những tỉnh có mức độ đàn áp nghiêm trọng nhất cả nước. Trường hợp học viên Pháp Luân Công Trần Tử Tú bị đàn áp đến chết đã xảy ra ở Sơn Đông, tờ Wall Street Journal đã đưa tin sự thật về việc này, đồng thời chỉ ra rằng Ngô Quan Chính và Lý Trường Xuân đều là “ứng viên” cho Ban Thường vụ tại Đại hội 16 của ĐCSTQ, nhưng số học viên Pháp Luân Công đi khiếu kiện ở Quảng Đông không nhiều, trong khi số học viên đi khiếu kiện ở Sơn Đông lại rất đông, thế là giới lãnh đạo cấp cao ĐCSTQ đã gây áp lực lên chính quyền Sơn Đông. Ngô Quan Chính, để thuận lợi thăng chức lên Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị ĐCSTQ, đã gia tăng đàn áp ở tỉnh Sơn Đông, trực tiếp dẫn đến vụ án mạng đầu tiên đối với học viên Pháp Luân Công.
Để tìm hiểu thêm về tình hình “Bè lũ nợ máu”, xin truy cập trang web Minh Huệ (minghui.org) để xem các vụ án những kẻ bạo hành bị học viên Pháp Luân Công kiện.
PHẦN 5: LUYẾN TIẾC QUYỀN LỰC VÀ TIẾP TỤC LỘNG QUYỀN
“Chính biến cung đình”
Đó là vào nửa đầu năm 2002, Giang Trạch Dân đã bắt đầu lo lắng về khả năng phải thoái vị tại Đại hội 16, và còn một mối bận tâm lớn khác là Chủ tịch Chính Hiệp Lý Thụy Hoàn. Tiếng nói bên ngoài kêu gọi Lý lưu nhiệm đặc biệt cao, một là vì bất kể đi đến đâu ông cũng công khai lẫn ngấm ngầm phê phán Giang Trạch Dân, rất được lòng dân; hai là vì Lý Thụy Hoàn chưa từng công khai phát biểu ủng hộ đàn áp Pháp Luân Công, cả hai điều này đều khiến Giang Trạch Dân bất an. Điều khiến Giang Trạch Dân khó xử là không thể dùng lại chiêu đã dùng với Kiều Thạch để đối phó với Lý Thụy Hoàn, bởi ông chưa đến tuổi về hưu theo quy định bảy mươi tuổi. Nếu ông vẫn còn trong Ban Thường vụ Bộ Chính trị tại Đại hội 16, thường xuyên đưa ra những chủ trương trái ngược với Giang, điều đó sẽ tạo thành mối đe dọa cực lớn đối với Giang Trạch Dân đã thoái vị, cũng sẽ tạo thành lực cản đối với việc thực thi chủ trương của Giang từ những thân tín mà Giang muốn đề bạt vào Bộ Chính trị. Vì vậy Giang không tiếc bất cứ giá nào để hạ bệ Lý Thụy Hoàn. Còn bản thân Lý Thụy Hoàn lại không hề bận tâm đến quyền lực, ông thậm chí còn đề nghị sẵn sàng cùng Giang Trạch Dân thoái vị.
Để phục vụ chuyến thăm Mỹ năm 2002, Giang Trạch Dân đã lùi ngày tổ chức Đại hội 16 của ĐCSTQ từ tháng 9 sang tận tháng 11.
Nhiều người chú ý đến một hiện tượng thú vị: theo lịch trình ban đầu, chín Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị mới đắc cử sẽ gặp gỡ báo giới vào lúc 11 giờ sáng ngày 15 tháng 11 năm 2002, nhưng phải đến tận 11 giờ 38 phút họ mới ra mắt. Đây là một tín hiệu vô cùng bất thường, bởi ĐCSTQ thông thường đã hoạch định xong danh sách phân chia quyền lực và thứ tự ngồi ngay từ Hội nghị Bắc Đới Hà mùa hè. Cái gọi là Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương chẳng qua chỉ là một hình thức tổ chức mà thôi. Việc ra mắt Ban Thường vụ khóa 16 bị trì hoãn chính là do Giang Trạch Dân tạm thời điều chỉnh số lượng Ủy viên Thường vụ và tạm thời đề xuất động nghị tiếp tục giữ chức Chủ tịch Quân ủy.
Ban Thường vụ Bộ Chính trị, Bộ Chính trị đã trải qua năm lần tranh luận gay gắt và biểu quyết, thông qua nghị quyết về việc Giang Trạch Dân nghỉ hưu hoàn toàn. Lý Thụy Hoàn tự nhiên đã thực hiện lời hứa của mình, không lưu nhiệm nữa.
Các bậc lão thành cùng các thành viên Bộ Chính trị đều thở phào nhẹ nhõm. Trong mắt họ, chỉ cần Giang Trạch Dân xuống đài thì mọi việc sẽ dễ dàng, nên khi thông qua nghị quyết, họ đã dành cho Giang Trạch Dân không ít lời tâng bốc. Giang nhân cơ hội này đề xuất đưa thân tín của mình vào Bộ Chính trị. Mọi người thậm chí còn hồ đồ đồng ý. Họ không ngờ mức độ nghiêm trọng của việc này: trong Bộ Chính trị và Ban Thường vụ khóa 16, người của Giang chiếm đa số, vậy chẳng phải Giang đã trở thành ông chủ hậu trường của Bộ Chính trị hay sao? Kết quả này còn thảm hại hơn cả Đại hội 15, ít nhất ở khóa trước Giang còn bị Lý Thụy Hoàn, Úy Kiện Hành và những người khác ràng buộc, một số đề xuất của Giang không phải lúc nào cũng được thông qua suôn sẻ.
Điều duy nhất Giang có thể làm là nắm chặt họng súng, giữ lại chức Chủ tịch Quân ủy, để chi phối Hồ Cẩm Đào. Thế là Giang đã để Tăng Khánh Hồng ra mặt, tìm gặp Phó Chủ tịch Quân ủy Trương Vạn Niên, người lẽ ra phải về hưu tại Đại hội 16 để bàn mưu về vấn đề Giang lưu nhiệm, đồng thời nói với Trương rằng sau khi việc thành, Giang sẽ để ông ta làm Bộ trưởng Quốc phòng.
Ngày 8 tháng 11 năm 2002, Đại hội 16 của ĐCSTQ khai mạc. Ngày 13 tháng 11, tại phiên họp lần thứ tư của Ban Thường vụ Đoàn Chủ tịch Đại hội 16, Trương Vạn Niên, người được Giang Trạch Dân hứa hẹn cho làm Bộ trưởng Quốc phòng khóa tới đột nhiên đứng dậy với thái độ vô cùng cứng rắn để gây khó dễ, đưa ra “động nghị đặc biệt” do hai mươi thành viên Đoàn Chủ tịch, toàn bộ đều là quân nhân, cùng ký tên, đề nghị Giang Trạch Dân tiếp tục giữ chức Chủ tịch Quân ủy Trung ương khóa mới. Sau khi Trương Vạn Niên phát biểu, Lý Lam Thanh, người có vụ án con trai trị giá cả tỷ được Giang Trạch Dân xóa sạch cùng với Lưu Hoa Thanh, người có con gái trở thành con tin trong tay Giang Trạch Dân lập tức tuyên bố hoàn toàn ủng hộ “động nghị đặc biệt”.
Tiếp đó Trương Vạn Niên lại ép Hồ phải bày tỏ lập trường. Cả hội trường im phăng phắc, đến cả tiếng thở cũng nghe rõ, mọi người đều biết rằng nếu Hồ Cẩm Đào không đồng ý, ông có thể ngay lập tức bị quân nhân đưa đi quản thúc tại chỗ. Hồ Cẩm Đào nói khẽ: “Cá nhân tôi hoàn toàn tán thành đề nghị của hai mươi đồng chí Trương Vạn Niên, Quách Bá Hùng, Tào Cương Xuyên…”
Tiếp theo là biểu quyết giơ tay. Ngoại trừ ba người Lý Thụy Hoàn, Úy Kiện Hành, Tào Khánh Trạch bỏ phiếu trắng, “động nghị đặc biệt” của Trương Vạn Niên cùng hai mươi người khác đã được thông qua. Úy Kiện Hành tại cuộc họp đã bày tỏ lập trường: “Về mặt nguyên tắc tổ chức, chấp nhận thông qua động nghị đặc biệt tạm thời này”, nhưng về mặt ý chí cá nhân thì phản đối. Việc dùng “động nghị đặc biệt tạm thời” của Ban Thường vụ Đoàn Chủ tịch đại hội để phủ định nghị quyết đã được Ban Thường vụ Bộ Chính trị, Bộ Chính trị thảo luận năm lần và biểu quyết thông qua, là điều bất thường, không nghiêm túc, và phải chịu trách nhiệm trước lịch sử.
Vạn Lý, người khi đó xin nghỉ phép không có mặt, sau khi nghe tin này đã giận run cả người, đập bàn mắng chửi Giang Trạch Dân, và phẫn nộ rút khỏi Ban Thường vụ Đoàn Chủ tịch để bày tỏ sự phản đối.
Buộc phải xuống đài
Không ít người đầu quân “Bè lũ nhà Giang” vì mục đích phát triển cá nhân, những người này dần dần đủ lông đủ cánh, trở thành thế lực gió chiều nào theo chiều đó. Giang biết rõ những người này không đáng tin cậy, ông ta đã chứng kiến thủ đoạn của họ khi phải giao lại chức Chủ tịch Quân ủy vào năm 2004.
Giữa tháng 8 năm 2004, một năm rưỡi sau khi Giang tiếp tục giữ chức Chủ tịch Quân ủy. Các lão tướng như Hồng Học Trí, Lưu Hoa Thanh, Dương Bạch Băng… trong một buổi sinh hoạt tổ chức của Trung ương đã đề xuất kiến nghị Giang Trạch Dân nên từ chức Chủ tịch Quân ủy Trung ương tại Hội nghị Trung ương 4, được sự ủng hộ của Trì Hạo Điền — Ủy viên Bộ Chính trị khóa trước, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, cùng các Ủy viên Quân ủy Trung ương Vương Khắc, Vương Thụy Lâm… Quan điểm của các lão tướng được Văn phòng Trung ương chuyển đến các Ủy viên và Ủy viên dự khuyết Trung ương. Có hơn bốn mươi Ủy viên và Ủy viên dự khuyết Trung ương đã hồi đáp, gửi thư cho Bộ Chính trị, cho rằng đã đến lúc Giang Trạch Dân phải nghỉ hưu hoàn toàn.
Cuối tháng 8 năm 2004, tại hội nghị sinh hoạt tổ chức của Trung ương ở Tây Sơn, Bắc Kinh, Giang Trạch Dân đã trực diện phê bình Hồ, Ôn, chỉ trích việc điều tiết vĩ mô của Hồ, Ôn đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tăng trưởng kinh tế, còn nói rằng nếu tiếp tục gây ra hỗn loạn xã hội thì Hồ, Ôn phải chịu trách nhiệm trước lịch sử.
Nhưng lần này Hồ đã không nể mặt Giang, trái lại còn tranh luận dựa trên lý lẽ, đồng thời Kiều Thạch và Vạn Lý cùng các lão thành khác trong đảng đã kìm nén khí thế của Giang Trạch Dân. Như vậy, hội nghị Tây Sơn đã trở thành cuộc hội nghị Hồ, Ôn và Giang Trạch Dân ngã bài với nhau.
Lần này tình thế đã đảo ngược. Trước việc các lão tướng “ép cung” và Hồ, Ôn không nể mặt, Giang đành phải tuyên bố có thể xuống đài bất cứ lúc nào, quyết không luyến tiếc quyền lực, xin để Ban Thường vụ Bộ Chính trị quyết định. Ngày 1 tháng 9, Giang Trạch Dân gửi một bức thư cho Bộ Chính trị Trung ương, trong thư nhấn mạnh rằng “bản thân đã suy nghĩ thận trọng”, đề nghị từ chức Chủ tịch Quân ủy Trung ương. Ông ta tin rằng những người do mình đề bạt cuối cùng sẽ “níu giữ” mình lại, sau đó ông ta có thể lại lên ngựa, danh chính ngôn thuận tiếp tục buông rèm nhiếp chính. Nhưng tin tức này rất nhanh đã bị tiết lộ ra hải ngoại, ngày 6 tháng 9 tờ New York Times đã tiết lộ tin Giang tự xin từ chức. Tình thế của Giang trở nên hết sức bị động.
Theo thông lệ, ý kiến của Ban Thường vụ Bộ Chính trị phải được đưa ra Bộ Chính trị thảo luận, đồng thời trưng cầu ý kiến của các lão thành và các Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị khóa trước. Ngoại trừ Chu Dung Cơ, Lý Lam Thanh, Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị khóa 15 của ĐCSTQ, không bày tỏ ý kiến, Lý Thụy Hoàn, Úy Kiện Hành, Lý Bằng đều thuận theo tình thế mà bày tỏ tôn trọng yêu cầu của Giang, ủng hộ ông ta xuống đài. Các lão thành ĐCSTQ như Vạn Lý, Kiều Thạch, Tống Bình, Cốc Mục… cũng bày tỏ tôn trọng quyết định của Giang.
Năm ngày trước khi Hội nghị Trung ương 4 khai mạc, Bộ Chính trị liên tục thảo luận về vấn đề đi hay ở của Giang. Tại cuộc họp, một vài người có lợi ích cá nhân gắn chặt với Giang Trạch Dân đã yêu cầu Giang Trạch Dân lưu nhiệm đến năm 2005, với lý do tình hình eo biển Đài Loan nguy hiểm, Giang lưu nhiệm có thể gánh vác bớt trách nhiệm cho Hồ, vân vân.
Ngày 13 tháng 9, Bộ Chính trị Trung ương triệu tập hội nghị mở rộng, các Ủy viên Quân ủy Trung ương tham gia thảo luận. Tại cuộc họp, các Ủy viên Quân ủy Trung ương do chính tay Giang đề bạt như Từ Tài Hậu, Lương Quang Liệt, Liêu Tích Long, Lý Kế Nại… lần lượt lên tiếng ủng hộ việc Giang Trạch Dân xin từ chức. Ngày 14 tháng 9, còn một ngày nữa là Hội nghị Trung ương 4 khai mạc, cuộc họp Bộ Chính trị thảo luận về việc đi hay ở của Giang Trạch Dân kéo dài từ chiều đến gần 11 giờ đêm mới kết thúc, cuối cùng quyết định Giang phải xuống đài. Tăng Khánh Hồng, thân tín nhiếp chính của Giang Trạch Dân thấy tình thế không ổn cũng tán thành việc Giang xuống đài.
Trong những ngày cuối cùng, Giang Trạch Dân chỉ thị rằng nếu chẳng may bản thân buộc phải xuống đài, thì phải cố gắng để người của phe Giang nắm giữ càng nhiều thực quyền càng tốt. Tại cuộc họp Bộ Chính trị Trung ương ngày 14 tháng 9, người của phe Giang đề xuất bổ sung Tăng Khánh Hồng làm Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, cùng bổ sung Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông Trương Đức Giang, Bí thư Thành ủy Thượng Hải Trần Lương Vũ làm Bí thư Ban Bí thư Trung ương, nhưng cả hai đề án đều không được thông qua.
Ngày 19 tháng 9, ngày cuối cùng của Hội nghị Trung ương 4, Giang bị tuyên bố xuống đài. Ngày 21 tháng 9, Triệu Nham, trợ lý người Trung Quốc làm việc cho tờ New York Times của Mỹ bị bắt giữ và đưa về Bắc Kinh khi đang nghỉ phép ở Thượng Hải. Cơ quan an ninh quốc gia do Tăng Khánh Hồng nắm giữ đã cố gắng tìm đột phá khẩu từ ông ta, để truy tìm xem thế lực nào trong quân đội đã tiết lộ tin tức ra hải ngoại tạo dư luận, khiến việc giả của Giang Trạch Dân thành thật.
Năm 2004 là khởi đầu của việc Giang toàn diện rút khỏi vũ đài lịch sử. Trong việc sắp xếp nhân sự tại Đại hội 17 năm 2007, Giang Trạch Dân đã không còn có thể tùy ý làm theo ý mình. Chín Ủy viên Thường vụ được chọn là Hồ Cẩm Đào (Tổng Bí thư), Ngô Bang Quốc, Ôn Gia Bảo, Giả Khánh Lâm, Lý Trường Xuân, Tập Cận Bình, Lý Khắc Cường, Hạ Quốc Cường, Chu Vĩnh Khang. Giang thông qua Tăng Khánh Hồng, dốc toàn lực đẩy Chu Vĩnh Khang, kẻ nợ máu chồng chất lên vị trí Bí thư Ủy ban Chính pháp để kế nhiệm La Cán về hưu. Về việc chọn người cho vị trí Tổng Bí thư, Giang Trạch Dân buộc phải đạt được thỏa hiệp với Hồ Cẩm Đào. Hồ Cẩm Đào ban đầu sắp xếp theo “thể chế cặp đôi họ Lý kế nhiệm”, tức là Lý Khắc Cường và Lý Nguyên Triều lần lượt kế nhiệm chức Tổng Bí thư và Thủ tướng, còn phía Giang Trạch Dân lại đưa ra Tập Cận Bình, người không mang màu sắc phe phái. Phe cánh Giang luôn chiếm thế thượng phong cho đến trước khi Bạc gặp chuyện.
Khiêu khích Ôn Gia Bảo
Ôn Gia Bảo là người được Hồ Diệu Bang, Triệu Tử Dương và Chu Dung Cơ để mắt tới. Việc Ôn Gia Bảo kế nhiệm chức Thủ tướng của Chu Dung Cơ là kết quả của việc Chu Dung Cơ đề cử. Giang vốn muốn Ngô Bang Quốc kế nhiệm chức Thủ tướng. Những phát ngôn về cải cách chính trị và tác phong gần dân của Ôn đã bị phe cánh Giang căm ghét sâu sắc.
Tháng 2 năm 2007, Ôn Gia Bảo thông qua Tân Hoa Xã chính thức đăng bài viết ký tên chỉ ra rằng giá trị phổ quát “không phải là thứ riêng có của chủ nghĩa tư bản, mà là những giá trị quan mà nhân loại cùng theo đuổi và những thành quả văn minh cùng sáng tạo trong tiến trình lịch sử lâu dài.” Bài viết được các hãng thông tấn, báo chí Âu Mỹ chú ý rộng rãi. Cùng năm đó vào tháng 3, tại cuộc họp báo Nhân đại toàn quốc, khi trả lời câu hỏi của phóng viên báo Le Monde của Pháp, Ôn Gia Bảo đã tái khẳng định sự tán thưởng đối với giá trị phổ quát. Sau đó, các tờ báo do phe Giang kiểm soát như Bắc Kinh Nhật báo đã đăng bài bình luận phản bác.
Tháng 9 năm 2008, Ôn Gia Bảo phát biểu tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, thừa nhận giá trị phổ quát mà phương Tây đề xướng. Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Nhân đại toàn quốc Ngô Bang Quốc sau đó đã giận dữ phê phán thể chế chính trị phương Tây, đối đầu gay gắt.
Tháng 8 năm 2010, khi thị sát Thâm Quyến, Ôn Gia Bảo đã công khai kêu gọi cải cách chính trị một cách mạnh mẽ, nói rằng “không có cải cách chính trị, thành quả cải cách kinh tế cũng khó giữ được”, bị truyền thông Bắc Kinh phản bác. Khi kỳ họp Nhân đại toàn quốc được tổ chức vào tháng 3 năm 2009, Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Nhân đại toàn quốc Ngô Bang Quốc trong bài phát biểu đã nói rằng chính trị Trung Quốc không rập khuôn theo mô hình phương Tây. Các cơ quan truyền thông của đảng như Bắc Kinh Nhật báo đã đăng bài bình luận công khai phê phán “giá trị phổ quát”, mũi nhọn đều nhắm thẳng vào Ôn Gia Bảo.
Sau khi Ôn Gia Bảo đăng bài thể hiện quan điểm giá trị phổ quát của mình, Ngô Bang Quốc, Giả Khánh Lâm, Lý Trường Xuân và Chu Vĩnh Khang cùng nhau nhảy ra phê phán giá trị phổ quát. Họ còn lợi dụng Ban Tuyên truyền Trung ương ĐCSTQ và truyền thông báo đảng để phát động chiến dịch phê phán quan điểm giá trị phổ quát của Ôn Gia Bảo. Trong số các thành viên khác của Bộ Chính trị, chỉ có Lưu Vân Sơn tham gia vào hành động phê phán giá trị phổ quát của Ôn Gia Bảo. Phó Chủ tịch Chính Hiệp Trần Khuê Nguyên (Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội) và Phó Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội Chu Giai Mộc cũng tham gia vào hành động phê phán giá trị phổ quát của Ôn Gia Bảo.
WikiLeaks đã phơi bày một bức điện mật với tiêu đề “Thủ tướng Ôn chịu nhiều chỉ trích nhưng địa vị vẫn ổn định”, đây là nội dung điện tín mật do Đại sứ quán Mỹ tại Bắc Kinh gửi đi vào tháng 7 năm 2009. Nội dung chỉ ra rằng trong trận động đất lớn Vấn Xuyên năm 2008, Ôn Gia Bảo đã bất mãn vì Quân Giải phóng không kịp thời nhảy dù xuống vùng thiên tai, phía quân đội tuyên bố không thích hợp để nhảy dù, nhưng Ôn Gia Bảo đã nói: “Chính nhân dân đang nuôi các anh, các anh tự liệu mà làm.”
Giám sát khống chế Hồ Cẩm Đào
Mùa xuân năm 2002, Phó Tổng thống Mỹ Dick Cheney đã mời Hồ Cẩm Đào — khi đó là Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương ĐCSTQ, Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương — thăm Mỹ, và tiếp đón ông với tư cách gần như một Chủ tịch nước tương lai. Những người tham dự phía Mỹ có cấp bậc rất cao, bao gồm Ngoại trưởng Colin Powell, Bộ trưởng Tài chính Paul O’Neill, Bộ trưởng Thương mại Don Evans, Bộ trưởng Lao động Elaine Chao, Trợ lý An ninh Quốc gia của Tổng thống là bà Condoleezza Rice (sau này làm Ngoại trưởng), Thứ trưởng thường trực Bộ Quốc phòng Paul Wolfowitz (sau này làm Chủ tịch Ngân hàng Thế giới).
Cheney muốn tìm hiểu suy nghĩ thực sự của Hồ Cẩm Đào qua một cuộc trò chuyện riêng một – một. Sau bữa tiệc trưa, Cheney mời Hồ Cẩm Đào vào phòng làm việc, những lời xã giao còn chưa dứt thì cửa phòng bỗng mở ra, Thứ trưởng Ngoại giao ĐCSTQ Lý Triệu Tinh xông vào. Các trợ lý của Cheney sau đó thất vọng kể lại rằng họ đã lịch sự cố gắng ngăn Lý Triệu Tinh, giải thích rằng đây là cuộc gặp riêng một – một. Lý Triệu Tinh không nghe, cứ thế xông thẳng vào phòng làm việc của Cheney, không ai mời mà tự ý ngồi xuống, mà lại ngồi ngay giữa Cheney và Hồ Cẩm Đào. Có lẽ trên thế giới không có quan chức cấp bậc tương tự thứ hai nào dám làm như vậy, và đây chính xác là điểm mà Giang Trạch Dân đánh giá cao nhất. Để lấy lòng ông chủ Giang Trạch Dân, Lý Triệu Tinh đã đến mức không biết xấu hổ.
Đầu năm 2004, khi Giang Trạch Dân vẫn còn giữ chức Chủ tịch Quân ủy, Phó Tổng thống Mỹ lúc đó là Dick Cheney đã đến thăm Bắc Kinh. Trước khi khởi hành từ Washington, Tổng thống Mỹ Bush đã nhờ Cheney chuyển một thông điệp nhạy cảm đến Chủ tịch nước Trung Quốc Hồ Cẩm Đào. Chính vì sự việc liên quan đến vấn đề nhạy cảm, nên Bush đã yêu cầu Cheney chuyển đạt trong điều kiện gặp riêng một – một.
Trong chuyến thăm Bắc Kinh của Cheney, sau cuộc hội đàm chính thức, Hồ Cẩm Đào và Cheney đã tổ chức cuộc gặp riêng một – một tại một phòng khác, trong suốt cuộc gặp quả nhiên không bị ai quấy rầy, Cheney đã thở phào nhẹ nhõm, cho rằng mình đã hoàn thành trọn vẹn nhiệm vụ mà Tổng thống giao phó.
Sau khi Cheney tươi cười bước ra khỏi phòng họp, trợ lý đã khẽ nói với ông rằng ngay tại căn phòng bên cạnh, một nhóm người đang tụ tập quanh một chiếc loa, chăm chú lắng nghe toàn bộ nội dung cuộc gặp giữa ông và Hồ Cẩm Đào từ “cuộc gặp riêng tư” đã biến thành “phát sóng trực tiếp”. “Tôi cứ tưởng cuộc gặp diễn ra rất tốt đẹp”, Cheney sau này đã thất vọng viết trong hồi ký của mình.
Không những vậy, theo tường thuật của tạp chí Động Hướng ở Hồng Kông, Giang còn từng mưu sát Hồ Cẩm Đào, khiến Hồ suýt gặp nguy hiểm. Đầu tháng 5 năm 2006, “Hồ Cẩm Đào bí mật đến Thanh Đảo, thị sát Hạm đội Bắc Hải. Khi Hồ đi trên một tàu khu trục tên lửa tiên tiến nhất của ĐCSTQ để thị sát Hạm đội Bắc Hải trên biển Hoàng Hải, đã xảy ra sự cố: cùng lúc hai tàu chiến khác nổ súng vào tàu khu trục tên lửa chở Hồ, bắn chết năm chiến sĩ hải quân trên tàu khu trục. Tàu khu trục tên lửa lập tức chở Hồ rời khỏi khu vực diễn tập của hạm đội, tốc độ của nó không tàu nào trong toàn hạm đội đuổi kịp, cho đến khi vào vùng biển an toàn, Hồ mới chuyển sang trực thăng trên tàu để bay về căn cứ Thanh Đảo. Hồ không dừng lại, cũng không về Bắc Kinh, mà bay thẳng đến Vân Nam, một tuần sau, khi mọi thứ ở Bắc Kinh đã được sắp xếp ổn thỏa, mới quay về Bắc Kinh (lịch trình của Hồ Cẩm Đào trong mười ngày trước đó hoàn toàn trống trong thông tin công khai, Tân Hoa Xã đưa tin rằng từ ngày 11 đến 15, Hồ đi khảo sát ở Vân Nam).”[10]
PHẦN 6: VÌ SAO SÁU ỦY VIÊN THƯỜNG VỤ BỘ CHÍNH TRỊ KHÔNG THỂ CHỐNG LẠI ĐƯỢC GIANG TRẠCH DÂN
Quay trở lại, chúng ta còn cần phải bàn thêm về việc vì sao sáu Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị năm đó lại không thể chống lại nổi một mình Giang Trạch Dân.
Uy quyền tàn bạo của Giang Trạch Dân
Ngày 20 tháng 7 năm 1999, Giang Trạch Dân bắt đầu đàn áp Pháp Luân Công. Nhưng khi đó, sáu Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị còn lại đều không tán thành. Lúc đó Giang là Tổng Bí thư, sáu Ủy viên Thường vụ là Lý Bằng, Chu Dung Cơ, Lý Thụy Hoàn, Hồ Cẩm Đào, Úy Kiện Hành, Lý Lam Thanh. Vào thời điểm này, Giang Trạch Dân bị cô lập vô cùng.
Ngày 26 tháng 4 năm 1999, tức là một ngày sau khi Chu Dung Cơ xử lý một cách lý trí việc các học viên Pháp Luân Công đi thỉnh nguyện phản ánh tình hình, Ban Thường vụ Bộ Chính trị họp thảo luận về vấn đề Pháp Luân Công. Chu Dung Cơ vừa nói: “Cứ để họ luyện đi…” thì Giang Trạch Dân lúc này đã bị lòng đố kỵ không ngừng phình to hành hạ đến mức phát điên, lập tức đứng bật dậy, chỉ thẳng vào mặt Chu Dung Cơ mà quát: “Hồ đồ! Hồ đồ! Hồ đồ! Mất đảng mất nước rồi!” Trước chiếc mũ và cây gậy khổng lồ ấy, Chu Dung Cơ không thể chống đỡ nổi.
Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA) ngày 10 tháng 9 năm 2009 dẫn báo cáo của Trung tâm Thông tin Nhân quyền và Phong trào Dân chủ Hồng Kông cho biết: “Chu Dung Cơ đã hai lần tranh luận với Giang Trạch Dân tại cuộc họp Ban Thường vụ Bộ Chính trị, cho rằng nếu không xử lý thận trọng vấn đề Pháp Luân Công thì sẽ làm mâu thuẫn thêm gay gắt. Giang Trạch Dân cho rằng vào thời điểm hết sức nhạy cảm khi kỷ niệm mười năm sự kiện ‘Lục Tứ’ (Thiên An Môn) đang đến gần, nhất định phải áp dụng biện pháp cứng rắn để đối phó với Pháp Luân Công, nếu không sẽ mất đảng mất nước.” Trung tâm này cho biết thông tin này đến từ một nguồn tin khá đáng tin cậy.
Một quan chức Phòng “610” tiết lộ rằng, trong một bữa tiệc “mừng công” quy mô nhỏ, Lưu Kinh, khi đó là Thứ trưởng Bộ Công an đã tiết lộ với các quan chức Phòng “610” của Công an tỉnh Cát Lâm và thành phố Trường Xuân đang tiếp rượu ông rằng, về việc mở rộng quy mô lớn biên chế và kinh phí đàn áp của Phòng “610”, Giang Trạch Dân từng gào thét lớn tiếng với Hồ Cẩm Đào.
Lưu Kinh khi đó nói: năm 2001, tại một cuộc họp bố trí việc đàn áp Pháp Luân Công, Giang Trạch Dân chỉ ra rằng các Phòng “610” ở các địa phương ban đầu được thành lập dưới danh nghĩa chính quyền địa phương, nhưng do lợi ích và đặc thù nghiệp vụ khác nhau giữa các cơ quan như Sở Công an, Bộ An ninh Quốc gia, Công an, Sở Tư pháp…, các hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm, thoái thác, đối phó qua loa, không tuân lệnh, xử lý tiêu cực… đã khiến “sự kiện Pháp Luân Công ở các địa phương không những không có xu hướng giảm, mà trái lại còn ngày càng gay gắt hơn”. Tại cuộc họp, Giang Trạch Dân đề xuất phải tăng cường thành lập thêm các Phòng “610” tương ứng tại Sở An ninh Quốc gia, Sở Công an, Công an các địa phương. Lúc này Hồ Cẩm Đào nói: “Tăng thêm cơ cấu ‘610’ thì phải tăng biên chế nhân sự, kinh phí không ít.” Giang lập tức nổi giận, gào vào mặt Hồ Cẩm Đào: “Đều sắp cướp quyền của ông rồi mà còn biên chế với chả biên chế, kinh phí với chả kinh phí gì nữa!” Giang yêu cầu Hồ Cẩm Đào trong việc đàn áp Pháp Luân Công phải “cần tiền cấp tiền, cần người cấp người”.
Lợi ích của đảng thắng thế tất cả
Willy Lam, nhà phân tích cấp cao về vấn đề Trung Quốc của CNN, trong bài viết “Cái giá đắt đỏ của cuộc đàn áp ở Trung Quốc” đã chỉ ra rằng một số Ủy viên Bộ Chính trị không hề ủng hộ cuộc đàn áp của Giang Trạch Dân, điều này đã không còn là bí mật gì nữa. Bài viết còn dẫn lời một đảng viên cộng sản kỳ cựu nói rằng: “Thông qua việc phát động phong trào chính trị, Giang Trạch Dân đang ép buộc các cán bộ cấp cao phải tuyên thệ trung thành với đường lối của ông ta, điều này sẽ nâng cao uy quyền của ông ta. Giang Trạch Dân hy vọng rằng, cho dù Bộ Chính trị có ý kiến khác nhau về cách xử lý vấn đề Pháp Luân Công, thì cũng phải thể hiện sự ủng hộ công khai đối với ông ta.”
Uy quyền tàn bạo, trơ trẽn cá nhân của Giang Trạch Dân dĩ nhiên là một mặt, nhưng điều cuối cùng khiến Giang Trạch Dân có thể cố chấp làm theo ý mình lại do chính bản chất của ĐCSTQ quyết định. Dù Giang không có uy quyền như các đảng trưởng tiền nhiệm, các Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị tuy không đồng ý với việc đàn áp, nhưng không ai thực sự dám thách thức địa vị và quyết định của Giang chỉ vì một nhóm quần chúng tu luyện.
Kể từ khi thành lập, ngay cả trong giai đoạn yếu ớt bốn bề đều là địch, ĐCSTQ đã luôn đi kèm với các cuộc thanh trừng và tàn sát nội bộ. Sau khi lập chính quyền, ĐCSTQ lại thông qua các phong trào chính trị liên miên để đả kích tàn khốc, phê phán thậm chí tiêu diệt về mặt thể xác những tiếng nói và quan điểm khác biệt trong nội bộ. Nguyên nhân chính của việc bị thanh trừng là do đứng sai hàng ngũ, theo sai người về mặt chính trị. Những quan chức có thể sống sót qua bộ máy chính trị tàn sát của ĐCSTQ và bước vào vòng quyền lực tối cao, khi đối diện với việc phải bày tỏ lập trường về các quyết sách chính trị trọng đại, điều đầu tiên họ cân nhắc là làm sao để không vì đứng sai lập trường mà ảnh hưởng đến sự nghiệp của đảng và con đường quan lộ của bản thân. Còn trong các loại sự kiện cần phải ra quyết sách, điều ít có khả năng được đứng ra tranh luận dựa trên lý lẽ nhất chính là những quyết định liên quan đến quyền lợi cơ bản của người dân thường, đặc biệt là quyền tự do tín ngưỡng. Còn điều có khả năng bị kiên quyết phủ quyết nhất lại là những quyết định liên quan đến lợi ích của bản thân và gia đình họ, chẳng hạn như đề xuất về việc công khai tài sản cá nhân của quan chức được Bộ Chính trị thảo luận đã bị đa số Ủy viên Thường vụ phản đối kịch liệt và nhiều năm không được thông qua.
Trong việc hoạch định chính sách và ra quyết sách trọng đại của ĐCSTQ, dù lý luận, đường lối ở mỗi thời kỳ đều có điều chỉnh, thay đổi, thậm chí mâu thuẫn, phủ định lẫn nhau, nhưng ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa và việc tăng cường bảo vệ sự lãnh đạo của đảng luôn là tiêu chuẩn đo lường của “sự đúng đắn chính trị”. Một đề xuất có được chấp nhận như một chính sách cần thực thi hay không, không phụ thuộc vào số người đồng ý nhiều hay ít, mà thường được quyết định bởi việc nó có “đúng đắn về chính trị” hay không. Từ bức thư ngày 25 tháng 4 đến bài phát biểu ngày 7 tháng 6 năm 1999, thủ đoạn mà Giang dùng để ép buộc các Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị đồng ý đàn áp chính là nâng vấn đề Pháp Luân Công lên tầm một thách thức đối với ĐCSTQ. Các luận điểm chính mà ông ta đưa ra bao gồm: bao vây trung tâm quyền lực đảng và nhà nước, tổ chức chặt chẽ, tranh giành quần chúng với ĐCSTQ, tranh giành trận địa, thế lực thù địch phương Tây, bàn tay đen giật dây phía sau…, đồng thời so sánh việc Pháp Luân Công đi thỉnh nguyện với phong trào dân chủ sinh viên năm 1989. Những luận điệu này, trong hệ thống ngôn từ của ĐCSTQ, đều là những cáo buộc và tội danh nghiêm trọng nhất trong lịch sử đàn áp chính trị của ĐCSTQ qua các năm. Trong môi trường sinh thái chính trị của Trung Quốc, ngay cả lãnh đạo cao nhất trong đảng, một khi có thái độ, lập trường không rõ ràng đối với những vấn đề loại này, cũng không thể thoát khỏi số phận bị thanh trừng. Vì vậy, sau khi Giang nâng vấn đề Pháp Luân Công lên tầm sống còn của đảng, ý kiến của một mình ông ta, một ý kiến thiểu số tuyệt đối đã trở thành chính sách quan trọng nhất của ĐCSTQ trong hơn mười năm sau đó.
Tính đảng bóp nghẹt đạo đức cá nhân
Điều chí mạng là, một khi ở những vấn đề trọng đại, những người ở cấp cao lại từ bỏ trước tiên tiêu chuẩn đạo nghĩa, nhượng bộ trước quy định về tính đảng của Đảng Cộng sản, điều này đã đặt nhân dân và đất nước vào tình cảnh vô cùng nguy hiểm. Cái gọi là nguyên tắc tính đảng này chính là thứ vũ khí lợi hại nhất để bóp nghẹt lương tri đạo đức của đảng viên, kể cả các nhà lãnh đạo cấp cao.
Ví dụ có thể minh họa rõ nhất vấn đề này là Hồ Diệu Bang, người được xem là một nhà lãnh đạo cải cách, có lương tâm. Nhưng có một câu chuyện như sau. Tháng 10 năm 1985, đoàn phóng viên trung ương đến tiền tuyến Lão Sơn trên chiến trường Trung – Việt để tác nghiệp, các phóng viên của các tờ báo lớn như Nhân dân Nhật báo, Trung Quốc Thanh niên báo vốn là đảng viên ĐCSTQ đã chứng kiến một số chỉ huy quân sự (phần nhiều là con em cán bộ cấp cao) ham lập công lớn, tổ chức một số trận đánh không cần thiết, cứ khăng khăng yêu cầu phải chiếm được một địa điểm nào đó vào một thời điểm nhất định, động một chút là nói “không tiếc bất cứ giá nào!”, chết bao nhiêu binh sĩ cũng chẳng hề bận tâm, bởi trong tính đảng của họ, con người chẳng đáng giá gì, chỉ cần thỏa mãn được cơn cuồng khát máu, có thể báo công là được. Trong bữa tiệc tiễn biệt, phóng viên Diệp Nghiên của báo Trung Quốc Thanh niên bưng ly rượu vang đỏ, đứng dậy chúc rượu các thủ trưởng quân đội và nói: “Đây không phải là rượu, mà là máu của các chiến sĩ đấy! Tôi không nói với tư cách phóng viên, mà với tư cách một người dân thường, thay mặt cho bà con hậu phương nói một câu: những thuật ngữ quân sự kiểu ‘không tiếc bất cứ giá nào’ như vậy liệu có thể không dùng hoặc ít dùng đi không!” Hành động táo bạo của Diệp Nghiên khiến các thủ trưởng quân đội vô cùng tức giận. Vì việc này, trạm phóng viên quân đội của Tân Hoa Xã đã viết một bản tin nội bộ gửi hỏa tốc lên trung ương, các bậc lão thành nổi giận đùng đùng, bởi đây là cuộc chiến mà Đặng Tiểu Bình, Dương Thượng Côn… đã quyết định phải đánh, động đến đầu ai đây? Văn kiện đến tay Tổng Bí thư Hồ Diệu Bang, Hồ Diệu Bang đã phê rằng: “Vấn đề của phóng viên Diệp Nghiên báo Trung Quốc Thanh niên là nghiêm trọng, phải kiểm điểm nghiêm túc, nếu biểu hiện nhất quán không tốt, lại không kiểm điểm nghiêm túc, chỉ cần một trong hai điều đó, thì điều chuyển khỏi vị trí báo chí.”[11] Dù là chủ động hay bất đắc dĩ, Hồ cũng không thoát khỏi sự khống chế của tính đảng cộng sản, trong xung đột giữa dân và đảng, ông bảo vệ lợi ích của đảng, chứ không phải nguyên tắc đúng sai chính đáng.
Đây chẳng phải chính là vùng lầm lạc về đạo đức, vùng lầm lạc về nhân tính mà tất cả đảng viên ĐCSTQ cần phải tự vấn bản thân, cần phải từ bỏ tính đảng để bước ra khỏi hay sao?
Các nhà lãnh đạo ĐCSTQ dĩ nhiên sẽ không liều mạng vì lợi ích của quần chúng để ngăn chặn sự cố chấp cá nhân của Giang Trạch Dân. Đặc biệt trước tập đoàn đảng ác tụ tập dưới ngọn cờ “đồng phạm tội ác”, những cá nhân có đạo đức không đến nỗi tồi tệ lại tỏ ra bất lực, tập thể gồm những cá nhân nhu nhược cũng vì thế mà bất lực — đây chẳng phải chính là sự trượt dốc về đạo đức hay sao? Dù những cá nhân này không âm mưu cấu kết với nhau, thậm chí trước thế lực đen tối tàn ác, càng phải tránh để đạo đức cá nhân sa xuống mức trơ trẽn của đối phương. Lúc này, tất cả cá nhân, cho dù là một tập thể có số lượng đông đảo, đều bất lực.
Nhưng, chẳng phải chính những nhà lãnh đạo có đạo đức khá hơn một chút này vẫn đang chống đỡ cho hình ảnh tấm da hổ “chính thống” cuối cùng, hời hợt bề ngoài của ĐCSTQ hay sao? Chẳng phải trong nỗi tuyệt vọng ngột ngạt của nhân dân, không còn lựa chọn nào khác nên đành gửi gắm vào sự thức tỉnh lương tri đạo đức cá nhân của các vị hay sao? Các vị đã bao nhiêu lần thức tỉnh lương tri của mình như vậy, đã vận dụng lương tri của mình như thế nào? Nếu không có, hoặc không thể, thì cái gọi là hình ảnh đạo đức khá hơn một chút của các vị chẳng phải vừa vặn trở thành vũ khí lừa gạt cho “tính hợp pháp” của ĐCSTQ, từ đó kéo dài thêm cái xác chết đã sắp tàn của ĐCSTQ, kéo dài thêm nỗi khổ đau của nhân dân hay sao? Đây chính là gọi là sự trượt dốc đạo đức. Sự trượt dốc đạo đức hủy diệt tiền đồ đất nước, tương lai dân tộc như vậy, chẳng phải chính là bắt đầu từ những người trung thành nhất với Đảng Cộng sản này hay sao? “Không đáng”, “không làm được” là trạng thái phổ biến của các vị. Giang Trạch Dân và đảng đã lợi dụng điểm yếu nhân tính như vậy để tác oai tác quái làm điều ác một cách tùy tiện. Việc dung túng nuôi giặc trong quyết định liên quan đến sự sống còn của một trăm triệu người dân, thực chất là buông thả cho cái ác của Giang. Điều này cũng để lại một tiền lệ xấu không thể ngăn chặn được cho các cuộc đàn áp sau này ngày càng leo thang, mở rộng ra toàn dân!
Sự lựa chọn của người dân
Gần đây các cơ quan truyền thông hải ngoại như Đại Kỷ Nguyên, Đài truyền hình Tân Đường Nhân… đã đưa tin về một loạt “sự kiện kiểu thôn Tiểu Cương” hiện nay.[12]
“Tháng 10 năm ngoái, người dân khu vực Triều Dương, tỉnh Liêu Ninh đã đồng loạt ký tên yêu cầu thả người tu luyện Pháp Luân Công cùng thôn là Trương Quốc Tường, hy vọng đồn công an có thể thả người và trả lại số tiền 6.000 nhân dân tệ đã bị tịch thu.
“Tháng 11 năm ngoái, Tòa án huyện Thanh Nguyên, thành phố Phủ Thuận, tỉnh Liêu Ninh đã mở phiên tòa xét xử học viên Pháp Luân Công Trịnh Hồng Anh, định kết án giam giữ bà. Sau khi biết tin, người dân trong thôn đã cùng nhau ký đơn kiến nghị, kêu gọi thả bà vô tội: ‘Người tốt không nên bị giam trong tù, chúng tôi những người dân thường kêu gọi công lý và lương tri, hãy để đồng hương Trịnh Hồng Anh của chúng tôi được về nhà.’
“Năm ngoái, tại quê nhà của học viên Pháp Luân Công Chu Hướng Dương là huyện Xương Lê, thành phố Tần Hoàng Đảo, hai nghìn ba trăm người dân lương thiện đã cùng ký tên ủng hộ đơn kháng cáo của ông. Sau khi chính quyền bắt vợ ông là Lý San San, lại có hơn năm trăm người dân cùng ký tên cứu giúp bà. Đây là một sự kiện trọng đại về việc người dân thường ở Đại lục tập thể ủng hộ Pháp Luân Công trong suốt mười hai năm Pháp Luân Công bị đàn áp.
“Sáng sớm ngày 25 tháng 2 năm nay, người tu luyện Pháp Luân Công Vương Tiểu Đông ở thôn Chu Quan Đồn, trấn Phú, thành phố Bạc Đầu, tỉnh Hà Bắc, đã bị công an vô cớ khám xét nhà. Từ trong nhà ông phát hiện một hộp đựng đĩa CD, liền quy kết ông sao chép đĩa CD sự thật về Pháp Luân Công. Họ đã tịch thu rất nhiều đồ vật của ông, bao gồm hơn 20.000 nhân dân tệ tiền mặt. Khi Vương Tiểu Đông bị bắt, trong nhà chỉ còn lại một người già và một trẻ nhỏ không ai chăm sóc, toàn thôn dân hết sức phẫn nộ, tự phát mỗi hộ cử một đại diện, ký tên vào đơn thỉnh nguyện yêu cầu thả người, đội trưởng thôn còn đóng cả con dấu chính thức vào đơn kêu gọi.
“Nhà kinh tế học Đại lục Kỳ Ngạn Thần cho biết: ‘Đảng cầm quyền cần phải kiểm điểm, sau khi Tập Cận Bình, Lý Khắc Cường lên nắm quyền tại Đại hội 18, cần phải xem xét lại chính sách mà Giang Trạch Dân để lại này, cần trao cho những người có đức tin Pháp Luân Công một địa vị hợp lý, một sự xác nhận địa vị của họ trên phương diện hiến pháp, đây là điều cần phải làm được. Chúng ta không thể để kiểu pháp luật trái pháp luật này tiếp tục kéo dài nữa. Có nhiều người dân thường như vậy đi điểm chỉ yêu cầu thả người này, đủ thấy việc chấp pháp của chính quyền và ý dân đối lập nhau đến mức nào.'”
Trang web Bác Tấn gần đây cũng đăng lại tường thuật của tạp chí Tham Dữ ngày 9 tháng 5 năm 2012: “Mười sáu đảng viên lão thành ĐCSTQ ở thành phố Chiêu Thông, tỉnh Vân Nam đã gửi thư lên Trung ương Đảng do Hồ Cẩm Đào đứng đầu: yêu cầu bãi miễn chức vụ Ủy viên Thường vụ và Bí thư Ủy ban Chính pháp của Chu Vĩnh Khang, buộc ông ta phải từ chức nhận lỗi, giao cho Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương xử lý; bãi miễn chức vụ Bộ trưởng Ban Tuyên truyền Trung ương của Lưu Vân Sơn, không được vào Ban Thường vụ khóa 18.”[13]
“Kính gửi Trung ương Đảng do đồng chí Hồ Cẩm Đào đứng đầu: Kính chào các đồng chí!
“Chúng tôi là đảng viên ĐCSTQ, còn có một số là đảng viên lão thành từ trước khi lập quốc. Năm xưa chúng tôi dấn thân vào cách mạng, đổ máu chiến đấu với Quốc Dân Đảng, là vì không chịu nổi cuộc sống bi thảm bị áp bức, bị bóc lột, bị nô dịch; là vì bất mãn với một xã hội bất công nơi người giàu ăn chơi xa hoa trong khi người nghèo đói rét, ‘cửa son rượu thịt ôi, ngoài đường xương chết rét’; là vì bất mãn với chế độ xã hội mà người dân không có quyền, bị người khác tùy ý định đoạt số phận. Nhưng đáng tiếc thay, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa mà chúng tôi dùng xương máu và sinh mạng để xây dựng nên và phục vụ, lại không phải là ‘nước Trung Hoa mới dân chủ, bình đẳng, công bằng, độc lập, giàu mạnh’ mà Mao Trạch Đông đã nhiều lần hứa hẹn, mà là một thể chế đế quốc còn tàn bạo, mục nát hơn, còn chuyên chế độc tài hơn cả Trung Quốc cũ dưới thời Quốc Dân Đảng. Trong hai mươi tám năm Mao Trạch Đông cầm quyền… đã hết lần này đến lần khác kéo đất nước và dân tộc chúng ta vào bờ vực diệt vong. Sau khi Mao Trạch Đông qua đời, những người kế nhiệm ông ta lại gây ra sự kiện Thiên An Môn ‘Lục Tứ’ và cuộc đàn áp Pháp Luân Công, những vết nhơ này khiến đảng ta không chịu nổi gánh nặng, hết lần này đến lần khác phải chịu ô nhục.”
Hôm nay, khi thế giới đang dồn sự chú ý vào biến động chính trường ĐCSTQ do sự kiện Bạc Hy Lai – Vương Lập Quân gây ra, ở Trung Quốc lại có người sử dụng thủ đoạn chuyển hướng hận thù quen thuộc trước đây, hướng sự chú ý của người dân trong nước sang lòng căm ghét đối với các hành vi “phi pháp” của người phương Tây tại Trung Quốc, nhưng số người Trung Quốc bị lừa gạt ngày càng ít đi.[14]
Thật vậy, Trung Quốc ngày nay, mâu thuẫn giữa ĐCSTQ và người dân đã đạt đến điểm tới hạn. Chỉ cần toàn thể người dân cả nước cùng một lúc ra đường, dù không có sự hẹn ước trước, dù không có yêu cầu chung nào, Đảng Cộng sản đều có thể bị bốc hơi ngay trong khoảnh khắc đó…
Hoặc là, Ủy ban Chính pháp và “Bè lũ nợ máu” là những khối u ác tính do chính thể chế ĐCSTQ sinh ra sẽ làm sụp đổ ĐCSTQ; hoặc là cuối cùng bị nhân dân ruồng bỏ. Thành hay bại, tốt hay xấu, tất cả chỉ còn cách lương tri đạo đức của các nhà lãnh đạo đương nhiệm đúng một bước chân.
PHỤ LỤC: DIỄN BIẾN SỰ KIỆN BẠC HY LAI – VƯƠNG LẬP QUÂN
Là thân tín của Bạc Hy Lai, Vương Lập Quân là kẻ cuồng nghe lén, lấy danh nghĩa đả hắc để tiến hành nghe lén, thậm chí còn nghe lén cả liên lạc giữa Bạc Hy Lai và giới lãnh đạo cao nhất Trung ương, nắm trong tay một lượng lớn bản ghi âm của Bạc Hy Lai, liên quan đến những bí mật của Bạc Hy Lai và gia đình ông ta. Bề ngoài, sự kiện Bạc Hy Lai – Vương Lập Quân là do Bạc Hy Lai và Vương Lập Quân trở mặt gây ra, nhưng hiện nay bên ngoài có nhiều cách nói khác nhau về nguyên nhân họ trở mặt với nhau.
Cách nói thứ nhất: Vương Lập Quân với tư cách Giám đốc Công an đã phát hiện vợ Bạc Hy Lai là Cốc Khai Lai có dính líu đến vụ án giết thương gia người Anh Neil Heywood, và đã báo cáo với Bạc Hy Lai, Bạc ngay tại chỗ đã tát ông ta một cái. Trong vòng hai ngày, mười một người trong tổ điều tra của Vương Lập Quân bị bắt giữ, hai người bị đánh chết, một người tự sát. Sau đó, Vương Lập Quân đã làm ra vài bộ tài liệu về những bí mật của Bạc Hy Lai và Chu Vĩnh Khang, và đe dọa rằng nếu Chu Vĩnh Khang không bảo vệ ông ta thì sẽ cùng chết chung. Truyền thông hải ngoại tiết lộ rằng nguyên nhân Heywood bị sát hại là do ông ta nắm được bí mật về việc gia đình Bạc chuyển tài sản ra nước ngoài, do tranh chấp lợi ích mà trở mặt, Cốc Khai Lai đã giết người diệt khẩu.
Cách nói thứ hai: Sau khi nắm được các hành vi xấu của Vương Lập Quân, Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương đã triệu tập Vương Lập Quân để làm việc, Vương Lập Quân vô cùng sợ hãi, muốn tự bảo vệ mình, nên đã đồng ý yêu cầu của Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương để thu thập tài liệu về Bạc. Có người trong giới lãnh đạo cấp cao ở Bắc Kinh đã báo tin này cho Bạc Hy Lai, thế là hai người trở mặt với nhau.
Dù theo cách nói nào, có một điểm khá rõ ràng: đó là Vương Lập Quân nắm giữ bí mật chí mạng của Bạc Hy Lai. Bạc Hy Lai muốn giết người diệt khẩu, Vương Lập Quân muốn bảo toàn tính mạng, đây chính là động cơ khiến Vương bỏ trốn.
Ngày 1 tháng 2 năm 2012, cuộc “đấu đá nội bộ” giữa Bạc Hy Lai và Vương Lập Quân leo thang. Bạc Hy Lai đã cách chức Giám đốc Công an, Bí thư Đảng ủy của Vương Lập Quân tại Trùng Khánh, để ông ta với tư cách Phó thị trưởng phụ trách các mảng công thương, giám sát kỹ thuật, khoa giáo văn vệ. Vương Lập Quân đã mất đi thực quyền.
Ngày 2 tháng 2, chính quyền thành phố Trùng Khánh đã chính thức công bố tin tức này ra công chúng.
Trước khi Trùng Khánh tuyên bố điều chuyển Vương Lập Quân vào ngày 2 tháng 2, Bạc Hy Lai đã bắt giữ mười chín người thân cận của Vương Lập Quân như tài xế, đầu bếp, vệ sĩ, thư ký, và đánh chết hai người trong số đó, một người tự sát. Mọi hành động của Vương Lập Quân đã bị đặt dưới sự giám sát của Bạc Hy Lai.
Ngày 3 tháng 2, truyền thông tiết lộ rằng Vương Lập Quân đã dùng tên thật để tố cáo với Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương về vấn đề tham nhũng của vợ Bạc Hy Lai là Cốc Khai Lai, chẳng hạn như việc chuyển tài sản ra nước ngoài, cùng với vấn đề của con trai Bạc Hy Lai… Sau đó, truyền thông hải ngoại đưa tin rằng vợ chồng Bạc Hy Lai đã chuyển 6 tỷ đô la Mỹ tài sản ra nước ngoài, phân bố tại Mỹ, Anh và nhiều nơi khác.
Ngày 4 tháng 2, một tờ giấy chứng nhận mang tên Bệnh viện Đại Bình thuộc Đại học Quân y số 3 xuất hiện trên truyền thông, tuyên bố rằng Vương Lập Quân có khuynh hướng tự sát. Các nhà phân tích cho rằng đây là việc phía Trùng Khánh (Bạc Hy Lai) đã bắt đầu chuẩn bị dư luận cho việc thủ tiêu Vương Lập Quân.
Vương Lập Quân biết rõ Bạc Hy Lai lòng dạ đen tối, tay đoạn tuyệt tình, bản thân mình bất cứ lúc nào cũng có thể gặp nguy hiểm tính mạng. Nhân lúc Bạc Hy Lai đang ở Vân Nam, Vương Lập Quân đã qua mặt được những người giám sát, tối ngày 6 tháng 2, Vương Lập Quân cải trang thoát khỏi sự giám sát, lái xe từ Trùng Khánh chạy đến Thành Đô, vào Tổng lãnh sự quán Mỹ tại Thành Đô, lưu lại một ngày rồi rời đi. Vương Lập Quân đã điền vào mẫu đơn xin tị nạn chính trị bên trong lãnh sự quán Mỹ.
Ngày 7 tháng 2, sau khi biết tin Vương Lập Quân bỏ trốn, Bạc Hy Lai đã điều động hơn bảy mươi xe cảnh sát, bao gồm cả xe bọc thép, đến Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên, bao vây Tổng lãnh sự quán Mỹ tại Thành Đô. Thị trưởng Trùng Khánh Hoàng Kỳ Phàm đích thân đến chỉ huy tại tổng lãnh sự quán, muốn bắt cóc Vương Lập Quân đưa về Trùng Khánh.
Vương Lập Quân kiên quyết không quay về Trùng Khánh, bày tỏ sẵn sàng đến Bắc Kinh chấp nhận điều tra. Hoàng Kỳ Phàm và các quan chức cấp cao Bộ An ninh Quốc gia ở Bắc Kinh đã tranh cãi kịch liệt bên ngoài lãnh sự quán Mỹ, hai bên giằng co không ai chịu ai. Theo tin tức, chỉ sau khi Bạc Hy Lai nhận được điện thoại của Hồ Cẩm Đào thì phía Trùng Khánh mới chịu thả người. Trước khi rời khỏi lãnh sự quán Mỹ, Vương Lập Quân đã hét lớn rằng sẽ “cá chết lưới rách” với Bạc Hy Lai.
Việc Bạc Hy Lai điều quân truy bắt Vương Lập Quân và bao vây lãnh sự quán Mỹ đã ngay lập tức xé toạc luật ngầm của quan trường ĐCSTQ, khiến cuộc đấu đá nội bộ của ĐCSTQ bị phơi bày trước truyền thông quốc tế. Hoàng Kỳ Phàm dẫn đầu đoàn xe cảnh sát vũ trang, từ Trùng Khánh gấp rút đến Thành Đô và bao vây lãnh sự quán Mỹ tại Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên. Hành động này đã khiến Trung Nam Hải vô cùng phẫn nộ, cho rằng tình hình hết sức nghiêm trọng, có thể gọi là một cuộc “binh biến cảnh sát”, là một kiểu binh biến, hành vi của quân phiệt địa phương.
Ngày 8 tháng 2, chính quyền Trùng Khánh tuyên bố Vương Lập Quân đang tiếp nhận “điều trị kiểu nghỉ phép”. Tài khoản Weibo chính thức của Trùng Khánh tuyên bố: “Phó thị trưởng Vương Lập Quân do làm việc quá tải trong thời gian dài, tinh thần căng thẳng cao độ, sức khỏe khó chịu nghiêm trọng, sau khi được đồng ý, hiện đang tiếp nhận điều trị kiểu nghỉ phép.” Được biết, đây là lời lẽ do chính Bạc Hy Lai đích thân soạn thảo và công bố.
Ngày 9 tháng 2, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Victoria Nuland xác nhận Vương Lập Quân đã từng đến lãnh sự quán Mỹ, và nói rằng ông ta rời đi một cách “tự nguyện”.
Ngày 9 tháng 2, Bộ Ngoại giao ĐCSTQ buộc phải xác nhận Vương Lập Quân đã vào Tổng lãnh sự quán Mỹ tại Thành Đô ngày 6 tháng 2, lưu lại một ngày rồi rời đi.
Ngày 10 tháng 2, nhà báo kỳ cựu người Mỹ Bill Gertz đã đăng một bài viết dài trên trang Washington Free Beacon, dẫn lời các quan chức Mỹ cho biết trong số tài liệu Vương Lập Quân cung cấp cho phía Mỹ có kế hoạch Bí thư Thành ủy Trùng Khánh Bạc Hy Lai và Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Chu Vĩnh Khang âm mưu thông qua một cuộc chính biến để hạ bệ Tập Cận Bình, không để ông ta kế nhiệm thuận lợi.[1]
Ngày 13 tháng 2, Tập Cận Bình bay sang Mỹ, bắt đầu chuyến thăm Mỹ kéo dài năm ngày.
Ngày 8 tháng 3, Bạc Hy Lai vắng mặt tại cuộc họp Nhân đại hôm đó; Chu Vĩnh Khang đến đoàn đại biểu Trùng Khánh, công khai ủng hộ Bạc Hy Lai.
Ngày 9 tháng 3, lần đầu tiên nói với truyền thông về sự kiện Vương Lập Quân, Bạc Hy Lai đã viện dẫn đến Ủy ban Chính pháp, công khai bày tỏ rằng phía sau ông có sự ủng hộ của Chu Vĩnh Khang. Bạc Hy Lai tuyên bố chiến dịch đả hắc ở Trùng Khánh thực chất “là do Ủy ban Chính pháp điều phối, không phải là chuyện riêng của một mình Vương Lập Quân.” Có phóng viên nhắc đến việc Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo không đến Trùng Khánh ủng hộ “hát nhạc đỏ, đả hắc”, Bạc đã nói với phóng viên: “Chúng tôi tin chắc rằng Tổng Bí thư sẽ đến Trùng Khánh, và sau khi xem xong ông ấy sẽ vui mừng.” Rõ ràng mang ý vị ép cung.
Ngày 14 tháng 3, kỳ họp Nhân đại bế mạc, cuộc họp báo của Ôn Gia Bảo kéo dài khoảng ba tiếng đồng hồ, lập kỷ lục. Khi trả lời câu hỏi về Vương Lập Quân, Ôn Gia Bảo cho biết trung ương sẽ điều tra nghiêm khắc, và ám chỉ rằng phong trào hát nhạc đỏ, đả hắc ở Trùng Khánh là “di độc của Cách mạng Văn hóa”.
Ngày 15 tháng 3, Trung ương ĐCSTQ quyết định Bạc Hy Lai không còn giữ chức Bí thư Thành ủy Trùng Khánh, Vương Lập Quân bị bãi miễn chức Phó thị trưởng, Phó Thủ tướng Quốc vụ viện Trương Đức Giang kiêm nhiệm chức Bí thư Thành ủy Trùng Khánh.
Ngày 18 tháng 3, theo nguồn tin nội bộ ở Bắc Kinh tiết lộ, sau khi giới lãnh đạo cấp cao Bắc Kinh đưa ra quyết định giải trừ chức vụ của Bạc Hy Lai, Chu Vĩnh Khang lại muốn ra sức bảo vệ Bạc Hy Lai, đối đầu gay gắt, không bên nào chịu nhường bên nào. Toàn bộ các phe cánh trong giới lãnh đạo cấp cao gần như đã bị cuốn vào sự kiện này trên toàn tuyến, cuộc tranh đấu khốc liệt và phạm vi liên lụy rộng lớn chưa từng có.
Ngày 19 tháng 3, Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Mỹ đã tiến hành điều tra về sự kiện Vương Lập Quân vào lãnh sự quán Thành Đô.
Trong giai đoạn này, Baidu và một số truyền thông trong nước đã có lúc gỡ bỏ lệnh cấm đối với các từ khóa như “Chuyển Pháp Luân”, “mổ cướp nội tạng sống”, “Thần Vận”…
Ngày 29 tháng 3, trên Baidu, công cụ tìm kiếm lớn nhất Trung Quốc bất ngờ xuất hiện tin tức “Chu Vĩnh Khang, Bạc Hy Lai chỉnh Tập Cận Bình”; ngày 30, Baidu lại xuất hiện video “diễu hành thoái đảng” ở Hồng Kông.
Ngày 30 tháng 3, tờ báo Anh The Times cho biết một quan chức cấp cao của Anh đã thừa nhận rằng cái chết của thương gia người Anh Neil Heywood có liên quan đến Bạc Hy Lai, Bí thư Thành ủy Trùng Khánh vừa bị bãi chức không lâu trước đó.
Chiều ngày 10 tháng 4, Reuters là hãng tin đầu tiên đưa tin rằng cựu Bí thư Thành ủy Trùng Khánh của ĐCSTQ Bạc Hy Lai đã bị đình chỉ chức vụ Ủy viên Trung ương và Ủy viên Bộ Chính trị, đồng thời bị lập án điều tra. Khoảng 11 giờ đêm ngày 10 tháng 4, Tân Hoa Mạng, cơ quan ngôn luận của ĐCSTQ mới công bố tin tức, cho biết Trung ương ĐCSTQ “đình chỉ” chức vụ Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương của Bạc Hy Lai, quyết định lập án điều tra vấn đề vi phạm kỷ luật nghiêm trọng của Bạc Hy Lai. Ngay sau đó, Tân Hoa Mạng lại công bố rằng vợ Bạc Hy Lai là Bạc Cốc Khai Lai và Trương Hiểu Quân (người giúp việc của gia đình Bạc) do bị tình nghi giết công dân Anh Neil Heywood, đã bị chuyển giao cho cơ quan tư pháp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bill Gertz, “China Probes Police Official After Obama Administration Rejected Asylum Request”, The Washington Free Beacon, ngày 10/2/2012. http://freebeacon.com/china-probes-police-official-after-obama-administration-rejected-asylum-request/
[2] “Duy ổn Trần Quang Thành, Sơn Đông năm chi 60 triệu nhân dân tệ”, Nhật báo Trung Quốc, ngày 1/5/2012. http://news.sina.com
[3] William Wan, “End of Chen saga suggests maturing U.S.-China ties”, Washington Post, ngày 12/5/2012, A1.
[4] “Cưỡi hổ khó xuống, Hồ Cẩm Đào mời nhân sĩ dân chủ làm cố vấn”, Đài truyền hình Tân Đường Nhân. http://www.ntdtv.com/xtr/gb/2012/04/25/atext691667.html
[5] “The Movement that’s Got Beijing Worried”, Asia Pacific Transcripts. http://www.abc.net.ans/ra/asiapac/archive/1999/may/raap-4may1999-2.htm
[6] WOIPFG, “Investigative Report: China’s Public Security Bureau’s On-site Psychology Research Center Implicated in Live Organ Harvesting and Human Experimentation on Falun Gong Practitioners”, ngày 15/2/2012. http://www.zhuichaguoji.org/en/node/214
[7] “WikiLeaks: Bạc Hy Lai đàn áp Pháp Luân Công bị kiện ở nhiều nước, Ôn Gia Bảo ngăn cản việc thăng chức”, Đại Kỷ Nguyên. http://wikileaks.org/cable/2007/12/07SHANGHAI771.html ; http://www.epochtimes.com/gb/12/2/7/n3505635.htm
[8] Minh Huệ Net, “Tập đoàn Giang Trạch Dân khó thoát tội đàn áp Pháp Luân Công (kỳ 4)”. http://www.minghui.org/mh/articles/
[9] Long Tuyền Mặc Khách, “Vì sao Giang Trạch Dân gắn Pháp Luân Công với cái gọi là ‘thế lực phản Hoa hải ngoại’?”, Minh Huệ Net. http://blog.boxun.com/hero/200912/zhenxiangrenjian/51_1.shtml
[10] Phó Thanh, “Hoàng Hải suýt gặp bất trắc ép Hồ Cẩm Đào ‘lật biển đảo lộn sông’ — hé lộ bối cảnh lớn đằng sau cơn bão chống tham nhũng của ĐCSTQ”, tạp chí Động Hướng số tháng 11/2006 (số 255); “Hồ Cẩm Đào suýt gặp bất trắc ở Hoàng Hải, hé lộ bối cảnh lớn đằng sau cơn bão chống tham nhũng của ĐCSTQ”, trang Bác Tấn. http://boxun.com/news/gb/china/2006/11/200611292209.shtml
[11] Lô Dược Cương, “Thư ngỏ gửi Triệu Dũng, Bí thư Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc”. http://www.huanghuagang.org/hhgLibrary/july2008/open_letter_to_Zhao_Yong.htm
[12] Lạc Á, “Người dân liên tiếp lên tiếng ủng hộ Pháp Luân Công, làn sóng điểm chỉ đóng dấu công ngày càng lan rộng”, Đại Kỷ Nguyên. http://www.epochtimes.com/gb/12/5/22/n3594214.htm
[13] Dư Vĩnh Khánh và các tác giả khác, “Mười sáu đảng viên lão thành ĐCSTQ gửi thư yêu cầu bãi miễn chức vụ Chu Vĩnh Khang, Lưu Vân Sơn”, trang Bác Tấn. http://boxun.com/news/gb/china/2012/05/201205100932.shtml
[14] Keith B. Richburg, “In China, foreign-bashing draws scorn”, Washington Post, ngày 25/5/2012, A5.
Dịch từ: https://www.epochtimes.com/b5/12/5/27/n3598595.htm
Bản dịch có thể được chỉnh sửa trong tương lai để sát hơn với nguyên tác.
Từ khi cuốn sách