Một quyển sách
đã truyền cảm hứng cho hơn 300 triệu người
thoát khỏi Đảng Cộng sản Trung Quốc

Chương 2: Cải tạo tư tưởng một cách hệ thống (phần thượng)

Mục lục

1. Phê phán Nho – Thích – Đạo

1) Phê phán Nho giáo

(1) Phê phán Khổng Tử
(2) Phê phán phần tử tri thức

2) Phê phán Thích giáo và Đạo giáo

(1) Phủ định sự tồn tại của Thần, Phật, làm sai lệch động cơ tôn giáo
(2) Hủy hoại hoàn cảnh vật chất của tu hành
(3) Hủy diệt thân thể
(4) Làm lệch lạc kinh điển tôn giáo, dung tục hóa tôn giáo
(5) Thành lập hiệp hội tôn giáo Trung Cộng, khiến người được ủy quyền phê phán tôn giáo từ trong nội bộ
(6) Ngụy tạo giả tướng về tự do tôn giáo

2. Phê phán quan niệm truyền thống

1) Phê phán việc kính sợ Trời
2) Phê phán sinh mệnh và thiện ác báo ứng
3) Phê phán sự nhu thuận và nhẫn nhịn
4) Phê phán trật tự xã hội truyền thống
5) Lấy tài sản làm căn cứ quan trọng để đo lường đạo đức
6) Tuyên dương Văn hóa đảng thô bỉ
7) Những quan niệm bị phê phán khác

*************

Học tập chính trị, cải tạo tư tưởng, những sự việc loại này người Trung Quốc ít nhiều đều đã trải qua. Có lẽ rất nhiều người sẽ hỏi, sao lại phải cải tạo tư tưởng của con người? Nguyên nhân căn bản của nó chính là một hệ thống tiêu chuẩn tốt xấu, phương thức tư duy và ngôn ngữ của Trung Cộng đều là phản nhân tính, không những không thể sản sinh một cách tự nhiên trong đại chúng, mà còn dễ bị nhân tính bài xích. Huống hồ, Đảng Cộng sản là một thể hệ độc tài chính trị-tôn giáo hợp nhất đáng bị phỉ nhổ, hết sức đối nghịch với Văn hóa truyền thống Trung Hoa. Trung Cộng muốn có chỗ đứng ắt phải tạo ra một môi trường Văn hóa đảng, cải tạo tư tưởng đã trở thành một bước tất yếu mà bức thiết.

Một bước cải tạo quan trọng chính là phê phán cái gốc tín ngưỡng của văn hóa Trung Hoa – Nho giáo, Thích giáo, Đạo giáo. Đồng thời những quan niệm truyền thống trong nhân gian cũng  phản ánh trong thế tục của giá trị quan mà tam giáo xác lập. Những quan niệm này sớm đã trở thành một bộ phận trong cuộc sống thường ngày, cũng dễ khiến con người hướng về nguồn cội tôn giáo của nó. Do đó việc phê phán quan niệm truyền thống, cũng là một bước trọng yếu để Trung Cộng nhổ tận gốc văn hóa truyền thống Trung Quốc và tín ngưỡng trong tư tưởng người Trung Quốc. Như vậy, người Trung Quốc sẽ mất đi năng lực phân biệt và phán đoán đối với Trung Cộng và Văn hóa đảng.

Việc Trung Cộng phê phán Nho giáo, Thích giáo, Đạo giáo và phê phán bài trừ quan niệm truyền thống chỉ thuộc về bước “phá”. Trung Cộng đồng thời còn phải “lập” cái phương thức tư duy mà nó cần, ví như luật rừng gồm tư tưởng đấu tranh, cá lớn nuốt cá bé, kẻ mạnh sinh tồn cho đến thuyết tiến hóa cùng khoa học hiện đại. Từ đó khiến con người tiếp nhận một cách có hệ thống tà thuyết của Trung Cộng vốn dựa trên cơ sở là Thuyết vô Thần, từ đó tạo ra và duy trì hoàn cảnh xã hội thích hợp cho sự sinh tồn của Trung Cộng. Đây chính là hậu quả của việc Trung Cộng tiến hành cải tạo tư tưởng một cách có hệ thống.

 


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

1. Phê phán Nho – Thích – Đạo

Trong lịch sử mấy nghìn năm, ảnh hưởng của Nho Gia, Phật gia và Đạo gia đã thâm nhập đến từng giai tầng của xã hội Trung Quốc.

Nho gia Trung Quốc ca ngợi “Nhân”, ca ngợi “Nghĩa”. Khổng Tử nói “Kiến nghĩa bất vi, vô dũng dã” (Thấy việc nghĩa không làm không phải kẻ dũng), còn giảng: “Chí sỹ nhân nhân, vô cầu sinh dĩ hại [chữ] nhân, hữu sát thân dĩ thành nhân.” (Chí sỹ hiền nhân không mưu cầu sống mà hại nhân, có người mất mạng mà thành [chữ] nhân). Cách nhìn về mệnh Trời của Nho gia đã thâm nhập vào dân gian. Trong “Luận Ngữ” có nói: “Tử sinh hữu mệnh, phú quý tại thiên”, thiên mở đầu trong “Trung Dung” giảng “Thiên mệnh chi vị tính”, chỉ ra rằng đặc tính căn bản của con người là chịu mệnh trời. Theo cổ nhân, Trời là căn bản của vạn vật, là ngọn nguồn của mọi giá trị. Sinh mệnh của con người là do Trời ban tặng, mục đích của đời này là trở về với Thiên mệnh, thực hiện yêu cầu nội tâm hướng thiện. “Chu Dịch” – cuốn sách được Nho gia gọi là đứng đầu trong các kinh sách, giảng “Tam tài”, tức là Thiên – Địa – Nhân. Trời sinh con người, đất nuôi dưỡng con người; con người lại có thể lấy học theo Thiên Địa, “hợp với Đức của Trời, Đất”. Trời đất lại vận hành theo thiên lý bất biến. Người dân tin tưởng vào “ông Trời” trên cao ước chế tất cả mọi thứ tại thế gian, dùng thiên lý “bất biến” để đo lường mọi thứ tại nhân gian. Tư tưởng của Nho gia đã duy trì đạo đức và trật tự xã hội.

Phật gia giảng thiện, giảng từ bi, giảng nhẫn nhục, coi trọng sinh mệnh, tin tưởng rằng chúng sinh bình đẳng. Trước khi Trung Cộng nắm quyền, những tư tưởng như lục đạo luân hồi, tích đức hành thiện, nhân quả báo ứng của Phật gia đã trở thành nhận thức phổ biến của người dân trăm họ, chính là “Dục tri tiền thế nhân, kim sinh thụ giả thị; dục tri lai thế quả, kim sinh tác giả thị” (Muốn biết nhân đời trước hãy xem những thứ đắc được đời này; muốn biết quả đời sau hãy xem những việc làm đời này). Khách quan mà nói, quan niệm “thiện ác hữu báo” của Phật gia có tác dụng rất lớn trong việc ổn định xã hội, duy trì đạo đức con người.

Đạo gia nhấn mạnh “Chân”, nhấn mạnh thanh tĩnh vô vi, nhấn mạnh sự thống nhất hài hòa giữa con người và tự nhiên, đạt được mục đích phản bổn quy chân, tức là điều gọi là “Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên” (Người thuận theo đất, đất thuận theo Trời, Trời thuận theo Đạo, Đạo thuận theo tự nhiên). Trung y và khí công Trung Quốc đều bắt nguồn từ Đạo gia, ngoài ra phép hút khí nuốt khí, luyện đan chính là đạo dưỡng sinh của Đạo gia. Tính chính xác về quẻ bốc và dự đoán của Đạo gia khiến người ta không ngớt lời tán thưởng. Những người tu luyện Đạo gia lại có thần tích “nhục thân thành đạo, mọc cánh thành tiên”. Trên bề mặt thế gian, khi quan hệ giữa con người ngày nay và tự nhiên ngày càng trở nên đối lập, vấn đề môi trường đã trở thành một trong những chủ đề quan trọng nhất trên toàn cầu, thì tư tưởng của Đạo gia đã được học giả các nước coi trọng, càng thể hiện được giá trị đặc thù của nó.

Đối với Trung Cộng mà nói, “thiên mệnh” của Nho gia, nhân quả báo ứng của Phật gia, vô dục vô cầu, không tranh với đời của Đạo gia là chướng ngại ngăn cản Trung Cộng phát động “cuộc đấu tranh giai cấp”. Quan niệm đạo đức mà kinh điển Nho giáo, Thích giáo, Đạo giáo xác lập là chướng ngại cho việc gây dựng quyền uy đạo đức của nó, cũng là trở ngại cho những vận động chính trị của Trung Cộng như tạo phản, làm cách mạng, chuyên chính. Tu luyện Phật gia, Đạo gia đều khiến con người siêu việt khỏi sinh tử, Nho gia khiến con người xả thân vì nghĩa. Đây chính là chướng ngại cho việc Trung Cộng dùng thủ đoạn vật chất nhằm khống chế toàn xã hội. Những di tích như bờ bên kia niết bàn của Phật gia, mọc cánh biến thành tiên của Đạo gia, và Thiên mệnh quan của Nho gia đều bị Trung Cộng coi là chướng ngại để tuyên truyền vô Thần luận.

1) Phê phán Nho giáo

(1) Phê phán Khổng Tử

Trong tam giáo Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo thì tư tưởng Nho gia là thâm nhập vào cuộc sống sâu rộng nhất, cũng vì người Trung Quốc vẫn luôn lấy gia tộc làm trung tâm trong cuộc sống, mà điều văn hóa Nho gia quy phạm chính là luân lý gia đình, lại mở rộng luân lý gia đình ra ngoài cuộc sống xã hội và chính trị.

Gần 2.500 năm qua, phần nhập thế trong văn hóa Trung Hoa về cơ bản lấy văn hóa Nho gia làm chủ đạo. Bắt đầu từ khi Lỗ Ai Công lập miếu tế Khổng Tử, Hán Cao Tổ dùng lễ tiết Nho gia để chế định lễ nghi triều đình; Hán Vũ Đế phế truất bách gia, chỉ giữ lại Nho thuật; Đường Thái Tông truy phong cho Khổng Tử là Văn Tuyên Vương, đến Đại đế Khang Hy, Thanh Thánh Tổ tự tay viết bốn chữ “Vạn thế Sư biểu” trong miếu Khổng Tử tại Khúc Phụ, qua các triều đại Khổng tử đều được truy phong và tế tự. Dù là triều Nguyên với mức độ ít bị người Hán đồng hóa nhất, Nguyên Thành Tông cũng phong thêm cho Khổng Tử là “Đại Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương”. Ảnh hưởng của Khổng Tử tới nhân loại sớm đã vượt khỏi biên giới quốc gia, không chỉ những quốc gia Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam đã kế thừa tư tưởng của Nho gia, ngay cả Voltaire, đại triết học gia thời kỳ Khai Sáng tại Phương Tây cũng tự xưng là học trò của Khổng Tử.

Kể từ thời Hán, hương hỏa tế tự Khổng Tử không hề tắt. Vừa cướp đoạt chính quyền quốc gia lại lăng mạ Khổng Tử, đập Khổng miếu, thì chỉ duy có Đảng Cộng sản mà thôi.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Trung Cộng bắt đầu từ Mao Trạch Đông đã hết sức thống hận văn hóa Nho gia. Nguyên nhân này đã được phân tích trong chương 9 cuốn “Cửu Bình”, tại đây chúng ta không nhắc lại lần nữa. Một nguyên nhân quan trọng mà Mao thích Tần Thủy Hoàng, cũng là vì y và Tần Thủy Hoàng cùng dùng quyền mưu gian xảo của Pháp gia để họa loạn quốc gia, y đặc biệt tán thưởng, mô phỏng và vượt qua cả việc đốt sách và chôn sống nho sĩ của Tần Thủy Hoàng.

Khổng Tử đề xướng “Văn, Hành, Trung, Tín” bị Trung Cộng thóa mạ thành “Thầy của mọi lý luận cũ, linh hồn của thế lực ác”, còn nói “Từ khi có dân sinh đến nay, thực chưa từng có ai tội ác cực đại như Khổng Tử, là kẻ thù chung của đại đa số con người và những người lương thiện. Từ nay về sau nhân loại hãy cùng công kích nó, đúng thay! Từ cổ chí kim, từ trong ra ngoài, trong ngôn ngữ hành vi của mọi nhà tư tưởng, Khổng Khâu {Khổng Tử} có thể được coi là hoang đường nhất.”

Những ngôn luận thóa mạ kiểu đầu đường xó chợ đó đã chiếm vị trí chủ lưu trong những bài viết mà Trung Cộng phê phán Khổng Phu Tử. Bởi vì Trung Cộng ngoài việc dùng ngôn luận của Khổng Tử cắt riêng ra một đoạn tách khỏi toàn văn, giăng bẫy logic ra, thì xưa nay chưa hề lấy ra và cũng không thể lấy ra được chứng cứ khiến con người tin phục.

Sự phê phán của Trung Cộng đối với Nho gia là lấy đấu tranh giai cấp làm xuất phát điểm và cơ sở, nói Khổng Tử đại biểu cho lợi ích của giai cấp chủ nô. Ngày nay khi những nhà tư bản đã gia nhập Trung Cộng, hoặc quan chức Trung Cộng đã trở thành nhà tư bản quyền quý hoặc địa chủ quyền quý tiền bạc đầy kho, thìlý luận đấu tranh giai cấp đã phá sản tới mức độ Trung Cộng không muốn nhắc tới nữa. (Đương nhiên điều đó hoàn toàn không gây trở ngại cho việc Trung Cộng dùng thủ đoạn đấu tranh giai cấp để tiếp tục bức hại những người bất đồng với mình). Khi đó ngoảnh đầu lại chỉ thấy việc phê phán Nho gia đã trở thành trò hề, do đó Trung Cộng vì bảo hộ cho sự thống trị của mình, cũng không thể không giả vờ ca ngợi Khổng Tử. Vài năm gần đây nhằm tiến hành mặt trận thống nhất mà Trung Cộng lại chuẩn bị thành lập cái gọi là “Học viện Khổng Tử” tại hải ngoại, âm mưu lợi dụng Khổng Tử vốn từng bị chính nó phê phán nhằm lừa gạt những người hướng về văn hóa Trung Quốc. Mặt khác, trường học trong dân gian ở Đại Lục dạy học sinh đọc thuộc Thập tam kinh của Nho gia lại bị Trung Cộng thủ tiêu.

Ngay khi Trung Cộng mới cướp đoạt được chính quyền, nó đã cho xuất bản cuốn sách của Thái Thượng Tư tên là “Tổng phê phán về tư tưởng truyền thống của Trung Quốc” (dưới đây gọi tắt là “Phê phán”) của Thái Thượng Tư vu khống, lạm dụng nhằm bôi nhọ, lăng mạ và phê phán Khổng Tử. Trong đó cái bẫy logic mà Trung Cộng quen dùng cũng đáng để phân tích sơ bộ. Bởi vì những vấn đề logic này vẫn là thủ đoạn trọng yếu mà Trung Cộng dùng để phê phán gay gắt trong Văn hóa đảng.

Thủ đoạn thứ nhất là “đoạn chương thủ nghĩa”. Từ việc Khổng Tử phải thu học phí (lễ thầy học thời xưa) liền đoán định Khổng Tử chỉ phục vụ giới quý tộc, hoàn toàn không quan tâm tới chủ trương “học trò đều như nhau” của Khổng Tử. Trong số học trò của Khổng Tử thì có Tử Lộ xuất thân bần hàn.

Thủ đoạn thứ hai là “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, dùng lời của người khác gán cho Khổng Tử. Ví như “Xuân Thu Cốc Lương truyện” là đệ tử của Tử Hạ làm ra, “Phê phán” lại lợi dụng phần luận thuật có liên quan đến Bá Cơ trong đó để công kích Khổng Tử.

Thủ đoạn thứ ba là suy diễn không hợp lý. Từ câu nói của Khổng Tử: “Bất tại kỳ vị, bất mưu kỳ chính.” (Không ở vị trí đó, không mưu đoạt triều chính đó) lại kết luận vô lý thành “điều này không khác gì ‘Quốc gia hưng vong, thất phu vô trách’ (Quốc gia hưng vong, thất phu không có trách nhiệm)”. Như vậy đã suy diễn từ thái độ của cá nhân đối với quyền chức thành nghĩa vụ công dân.

Thủ đoạn thứ tư là so sánh không hợp lý, coi vị thế độc tôn của Nho thuật từ thời nhà Hán cũng giống như việc Tần Thủy Hoàng độc tôn Pháp gia, hoàn toàn không quan tâm đến sự khác nhau giữa việc Nho gia dùng đức cảm hóa con người, còn Pháp gia dùng thưởng phạt để dẫn dụ và uy hiếp con người.
Thủ đoạn thứ năm là gây nhầm lẫn mối quan hệ không tương đương giữa mệnh đề thuận và mệnh đề nghịch. Ví dụ trong “Phê phán” nói: “Nếu nữ giới đều là tiểu nhân thì có thể ngẫm mà thấy được nam giới toàn là quân tử.”

Thủ đoạn thứ sáu là chụp mũ “phản khoa học”, gọi Khổng Tử là “phản lại khoa học tự nhiên”. Trên thực tế, những điều mà Khổng Tử đàm luận đa phần đều là những chuyện ở tầng diện lý luận và chính trị. Những điều này đều không can hệ tới khoa học tự nhiên, cũng giống như không thể dùng thước mà đo trọng lượng, nguyên lý của khoa học tự nhiên cũng không thể đo lường được thiện ác trong hành vi con người. Huống hồ trong “Lục nghệ” mà Khổng Tử quy định đã bao gồm “toán học”, đây chính là cơ sở cho khoa học tự nhiên sau này.

Thủ đoạn thứ bảy là “nem đá dấu tay”. Người đề xuất “Tam cương” rõ ràng là những người như Hàn Phi Tử của Pháp gia, Đổng Trọng Thư của Hán Nho, cuốn “Phê phán” cũng thừa nhận điều này. Nhưng khi chỉ ra chuyện phụ nữ tự sát vì giữ tròn trinh tiết đã đưa ra một vài ví dụ rất thảm khốc. Những ví dụ này không hề liên can gì tới Khổng Tử, mà là điều ngược lại. Trong “Lễ ký” có ghi con dâu và cháu dâu của Khổng Tử đều là tái giá. Hơn nữa xuyên suốt bối cảnh chung phê phán Khổng Tử, khó tránh khỏi việc người đọc không tính những thảm kịch trong cuốn “Phê phán” lên đầu Khổng Tử.

Thủ đoạn thứ tám là kích động lòng đố kỵ của con người. Cuốn “Phê phán” tìm cách tô vẽ cuộc sống quý tộc của Khổng Tử để kích động lòng đố kỵ của con người. Kỳ thực, cho dù Khổng Tử làm theo “Ngư nỗi nhi nhục bại bất thực” (Cá ươn thịt rữa không ăn) thì đây chính là đạo dưỡng sinh cơ bản, hoàn toàn không phải cuộc sống quý tộc.

(2) Phê phán phần tử trí thức

“Tả truyện” viết: “Thái thượng hữu lập đức, kỳ thứ hữu lập công, kỳ thứ hữu lập ngôn, tuy cửu bất phế, thử chi vị bất hủ.” (Thái thượng lập đức, tiếp nữa lập công, tiếp nữa lập ngôn, dù lâu mà không bị phế bỏ, nên gọi nó là bất hủ) Văn hóa truyền thống Trung Quốc đã cung cấp cho phần tử trí thức vũ đài lịch sử vinh quang quần tinh chói sáng, địa linh nhân kiệt.

Việc cải tạo tri thức phần tử cũng được Trung Cộng coi là một bước vô cùng quan trọng. Xã hội truyền thống Trung Quốc nói về bốn giai tầng là “Sỹ, Nông, Công, Thương”. Trong đó “Sỹ” là gọi tắt của phần tử trí thức. Giai tầng “Sỹ đại phu” là người gánh vác truyền thống đạo đức. Do đó từ góc độ đạo đức mà xét, họ thậm chí còn có lời nói có trọng lượng hơn cả người thống trị. Trung Cộng không tán đồng với quan niệm đạo đức truyền thống mà phần tử trí thức đại biểu, nhưng phải dùng phần tử trí thức làm trung gian cải tạo tư tưởng của những người bình thường. Do vậy ngay khi vừa mới nắm quyền, việc đầu tiên Trung Cộng phải làm chính là cải tạo tư tưởng của phần tử trí thức.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Tháng 06 năm 1950, khi Mao Trạch Đông phát biểu tại trong phiên họp toàn thể thứ 3 của Đại hội đảng toàn quốc khóa 7 của Trung Cộng đã nhấn mạnh, đối với phần tử trí thức “phải dùng họ, đồng thời phải giáo dục và cải tạo họ. Phải để họ học một số chương trình học như lịch sử phát triển của xã hội, lịch sử thuyết duy vật…”. Cái mà Mao gọi là giáo dục và cải tạo không gì khác ngoài việc lệnh cho thầy cô giáo các trường trung học, đại học phải đọc ba văn kiện lớn về chính trị hiệp thương, lịch sử phát triển xã hội và bài luận Tân chủ nghĩa dân chủ. Bắt đầu từ mùa thu năm 1951, Trung Cộng đã tổ chức cho hàng loạt phần tử trí thức tham gia hoặc tham quan các cuộc vận động như kháng Mỹ viện Triều, cải cách ruộng đất và trấn áp cuộc vận động phản cách mạng. Chuỗi các cuộc vận động đẫm máu khiến rất nhiều phần tử trí thức nhìn thấy sự tàn nhẫn và độc ác của Đảng Cộng sản, khiến rất nhiều người sợ đến mềm cả cột sống. Tháng 01 năm 1952, Ban thường vụ Chính trị Hiệp thương Nhân dân toàn quốc đưa ra “Quyết định về việc triển khai vận động học tập cải tạo tư tưởng nhân sỹ các giới”, tức là đưa những phần tử trí thức sau khi được cải tạo, mở rộng những tư tưởng mà Trung Cộng nhồi nhét cho họ ra toàn quốc, cải tạo tư tưởng của tất cả người khác.

Từ sớm sau khi cuối thời nhà Thanh phế bỏ khoa cử, trong phần tử trí thức có rất nhiều người quay sang lệ thuộc vào đảng cầm quyền. Quá trình này là một quá trình thống khổ, cũng là quá trình phần tử trí thức “chủ động” tiến hành chuyển biến tư tưởng. Sự chuyển biến này đương nhiên sẽ không được Trung Cộng cho là đủ. Bởi vì cho dù phần tử trí thức cho rằng họ cần giương cao lá cờ dân chủ và khoa học, nhưng tuyệt đại đa số học vấn tu thân lập mệnh của Nho gia vẫn được cho là chuẩn tắc để xét đoán thị phi. Đây chính là điều mà Trung Cộng không thể dung nhân được.

Tháng 12 năm 1939, trong bài phát biểu “Cách mạng Trung Quốc và Đảng Cộng sản Trung Quốc”, chỉ bằng một nét bút Mao Trạch Đông đã khoanh phần tử trí thức vào “phạm trù giai cấp tiểu tư sản”. Trong những năm tháng coi đấu tranh giai cấp là nòng cốt, cái mũ “giai cấp tiểu tư sản” này đã khiến phần tử trí thức không thể ngóc đầu lên được.

Trung Cộng thông qua bộ máy tuyên truyền của mình ca ngợi công nhân và nông dân, biến kiến thức nông cạn của họ thành động lực cách mạng, tuyên truyền “sự thù hận của giai cấp chất phác” dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản sẽ có thể khiến cách mạng đi tới thắng lợi. Mặt khác, phần tử trí thức “được” điện ảnh gán cho bộ mặt với dấu hiệu đặc thù – đeo một cặp mắt kính, co ro cúm rúm, cố chấp vào sách vở, xem thường quần chúng, làm việc chủ quan…

Năm 1958, bộ phim “Cô gái Thượng Hải” trình chiếu không lâu liền bị phê bình gay gắt. Nguyên nhân rốt cuộc lại là: “Thứ nhất, phần tử trí thức không có một bí thư đảng ủy hay bí thư chi bộ nào phê bình, giáo dục, mà lại có thể kiên định nguyên tắc, phát huy tài cán của mình trong xây dựng, thì đây chính là thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng, phản đối sự lãnh đạo của Đảng; thứ hai, không viết về những khuyết điểm của phần tử trí thức như tính mềm yếu, hay dao động, thoát ly hiện thực, thoát ly quần chúng… Đó là tô vẽ cho giai cấp tư sản, phần tử trí thức; Thứ ba, biểu hiện ông chủ bị ảnh hưởng bởi một số tư tưởng lạc hậu của công nhân mới dẫn tới nôn nóng cầu thành công… Đây chính là bôi nhọ bộ mặt của giai cấp công nhân.” Nguyên nhân của điểm thứ ba cũng là cách gây gián cách cho quan hệ giữa công nhân và phần tử trí thức.

Sự tuyên truyền vu khống này nhắm vào phần tử trí thức đã khởi tác dụng cực lớn, vì nguyên nhân của nó là ở chỗ phần tử trí thức vẫn luôn là người lãnh đạo tư tưởng của xã hội, vẫn luôn là người phát ngôn trước những vấn đề của xã hội, vẫn luôn là người truyền thừa và phân tích trình bày  Văn hóa truyền thống. Sau khi hình tượng của phần tử trí thức bị bôi nhọ, những giá trị mà họ đại biểu cũng theo đó mà bị đảo lộn. Trong mắt quần chúng, phần tử trí thức không còn là đối tượng được trân trọng và xin chỉ giáo, mà là đối tượng để cười nhạo và phê phán.

Nếu như nói những lời vu khống trên thuộc về “bôi nhọ danh dự”, thì việc chặn đứng bát cơm của phần tử trí thức chính là “vắt kiệt tài chính”, từ cuộc vận động phản Hồ Phong đến phản cánh hữu, cách mạng Văn hóa lại là một phần của “hủy hoại thể xác”. Rất nhiều những nhân sỹ dân chủ cùng Trung Cộng vào sinh ra tử, dốc sức trợ giúp trong những năm cướp chính quyền, đã rất ngây thơ cho rằng mình là công thần khai cơ lập nghiệp, do đó Trung Cộng “thực tâm đối đãi, vinh nhục cùng hưởng”, cũng sẽ cho họ với tinh thần trách nhiệm xã hội cao cả và có hoài bão to lớn có cơ hội được thi triển. Trong lời mời trăm hoa đua nở “chân tình”, những cao nhân nghĩa sỹ “kẻ sỹ chết vì người tri kỷ” này, càng là chính nghĩa hừng hực, thì lại càng ngã một cách thê thảm hơn. Khi mọi người được chứng kiến những gì Trung Cộng làm, khi hàm nghĩa chân thực của “thiên hạ của Đảng” cuối cùng cũng hiện rõ cho thiên hạ: “chuyên chính dân chủ nhân dân hay còn gọi là độc tài dân chủ nhân dân”. Những văn nhân nổi tiếng như Chương Bá Bách, Chương Nãi Khí, La Long Cơ, Trữ An Bình,… dù là tiến sỹ hay du học sinh yêu nước mà quay trở về hay nhà tư bản hiến tài sản cho Trung Cộng, những vị trí từ bộ trưởng, giáo sư, nhà văn, tổng biên tập, phóng viên v.v.. đều lần lượt bị ném vào “chuồng bò” cánh hữu của Đảng Cộng sản, đến chết họ cũng không thể hiểu rõ “dân chủ” và “độc tài” có thể được Trung Cộng kết hợp thành “chuyên chế nhân dân” như thế nào trong hiện thực lạnh lùng đó. Những phẩm cách truyền thống được ca ngợi đời đời trong lịch sử Trung Quốc như “trung quân báo quốc”, “xả thân vì nghĩa”, “nhân cách tôn nghiêm”, “lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ” đều mất đi trên vũ đài lịch sử kể từ sau khi thế hệ cuối cùng của những nhân sỹ bác học học giả uyên thâm chết trong đơn độc . Mọi người hoảng sợ khi thấy rằng cái Đảng Cộng sản vốn tích cực treo lên miếng mồi thiên đường nhân gian ấy, nhưng điều nó gây dựng trước tiên lại là địa ngục nhân gian.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Những người may mắn sống sót, từ đó phải run sợ, không dám tiếp tục nhắc tới giá trị truyền thống, không dám tiếp tục kiên trì giữ tư tưởng độc lập và nhân cách của phần tử tri thức nữa. Ví dụ như Phùng Hữu Lan, Quách Mạt Nhược, chỉ vì một câu phê bình của Mao Trạch Đông mà sợ tới mức gấp rút thay đổi quan niệm học thuật của mình. Đối với phần tử trí thức mà nói, tư tưởng độc lập và nhân cách cũng như là sinh mệnh. Sự phá hủy này đã khiến nội tâm của phần tử trí thức vô cùng đau khổ, ngòi bút cũng không thể lột tả hết.

“Phần tử tri thức” đã từng là từ đồng nghĩa với “đạo đức”, đại diện cho hình tượng xã hội thanh bần, chính nghĩa, trí thức, hàm dưỡng, không nịnh nọt bợ đỡ. Đến thời Giang Trạch Dân, trong giới quan chức của đảng xuất hiện vai trò này – “thợ trang điểm chính trị”, quá khác biệt so với văn nhân chính thống. Họ là những người thợ thủ công, nịnh hót bợ đỡ trên vũ đài chính trị, không còn phò tá quân tử thánh hiền, mà là hùa vào cùng quân đầu trộm đuôi cướp Giang Trạch Dân.

Trong vũng máu thảm sát bởi xe tăng và súng máy, trong tiếng sóng phản đối và lên án của cộng đồng quốc tế, kẻ lên nắm quyền là Giang Trạch Dân cần phải bôi trát một lớp sơn màu chính trị thật dày. Vậy là nhóm văn nhân này phát minh ra cái gọi là “Ba đại diện”. Họ không chỉ tống táng vận mệnh của đất nước về chính trị, màvề phương diện đạo đức còn làm vấy bẩn sự thanh bạch cần có của phần tử trí thức

Tới nay, các “học giả chuyên gia” của Trung Quốc sớm đã không còn giống với phần tử trí thức đã kế thừa văn hóa chính thống và phương thức hành vi sâu dày đó. Trong đó tuyệt đại đa số đều bị tẩy não bằng Thuyết vô Thần, triết học đấu tranh và lịch sử phát triển xã hội của Trung Cộng. Họ chỉ là những nhân viên chuyên nghiệp nắm vững khoa học kỹ thuật, hoàn toàn chưa từng nghiên cứu sâu về văn hóa Nho – Thích – Đạo, lại càng chưa từng dung nhập nó vào cuộc sống.

Trung Cộng ngày nay làm ra thứ biểu ngữ “Tôn trọng tri thức, tôn trọng nhân tài”, biểu diễn cái gọi là “Đảng ân hạo đãng”. Phần tử ngụy trí thức thì dồn hết sức biên đạo, lặp lại những lý luận để làm luận chứng cho tính hợp pháp về sự thống trị của Trung Cộng, hay là các loại tính hợp lý cho những thảm kịch trong xã hội. Trung Cộng đã thành công trong việc tạo ra tam giác sắt “Tinh anh chính trị, tinh anh kinh tế và tinh anh văn hóa”, điều nó cần là phần tử trí thức giống như Hà Tộ Hưu khi đối diện với công nhân mỏ bị chết trong hầm mỏ đã nói rằng: “Ai bảo anh bất hạnh sinh ra tại Trung Quốc”.

Còn có một số phần tử trí thức bị ô nhiễm nghiêm trọng bởi Văn hóa đảng, dẫu vẫn còn giữ được lương tri cơ bản làm người, nhưng lại chỉ biết lo cho nước cho dân, nhưng khổ nỗi không có đường báo quốc an dân nên đành phải tranh thủ thân phận “trong thể chế”, mong muốn rằng “cải cách trong thể chế”, gặp phải chuyện gì tìm cách “giải quyết trong thể chế”. Giải quyết trong thể chế chẳng qua là trước tiên xưng thần (bề tôi) với Đảng Cộng sản, thừa nhận quyền khống chế và quyền sử dụng tùy ý của Đảng cộng sản và Văn hóa đảng với mình, từ đó mà xin được một chút quyền phát ngôn đáng thương. Trong một môi trường xã hội không có sự lựa chọn, một số người lớn lên trong sự thấm đẫm của văn học Liên Xô và những tác phẩm “to” của Đảng Cộng Sản, họ trân quý những gì tích lũy trong quá trình bản thân mình trưởng thành, không hề biết rằng đó là thuốc độc, khó có thể vứt bỏ nút thắt trong tâm về lý tưởng với Đảng Cộng sản, ngoài việc gào thét trước những bất công trong xã hội, cũng không thể giúp mọi người nhận rõ Trung Cộng mới thực sự là ngọn nguồn của vạn tội ác. Cách những người này ký thác hy vọng vào Đảng Cộng sản thực ra là dùng nghĩa cử cá nhân mình mà che giấu sự xấu xa của Trung Cộng, kéo dài thọ mệnh của Trung Cộng.

2) Phê phán Thích gia và Đạo gia

(1) Phủ định sự tồn tại của Thần, Phật, làm sai lệch động cơ tôn giáo

Tư tưởng của Lão tử từng được Khổng Tử cho là “Rồng trong mây”. Ngày nay giới học giả phương Tây vẫn luôn tôn sùng tư tưởng của Lão Tử. Những câu cách ngôn trong “Đạo Đức kinh” như “Phúc hề họa chi sở ỷ, họa hề phúc chi sở phục” (Trong phúc có họa, trong họa có phúc), “Thiên lý chi hành, thủy vu túc hạ” (Hành trình nghìn dặm bắt đầu từ dưới bước chân) vẫn có sức ảnh hưởng trường tồn cho tới tận ngày nay. Bắt đầu từ thời Hán, môn phái Phù Lục, và môn phái Đan Đỉnh của Đạo gia đều rất sùng kính Lão Tử, đã lưu lại thần tích của những người tu luyện Đạo gia như Trương Đạo Lăng, Khâu Hoằng Tế, Hứa Tinh Dương, Cát Hồng, v.v.. bạch nhật phi thăng. Những bậc Đế vương trong các triều đại thường để Đạo sỹ làm Quốc sư, Trương Lương từng tự xưng là “dùng ba tấc lưỡi làm thầy giáo của vua”, những người còn lại như Gia Cát Lượng thời Thục Hán, Viên Thiên Cương, Lý Thuần Phong thời nhà Đường, Miêu Quang Nghĩa thời Tống, Lưu Bá Ôn triều Minh đều được những vị vua khai quốc đối xử bằng nghi lễ dành cho Quốc sư. Thành Cát Tư Hãn những năm cuối cũng không ngại đường xa vạn dặm thỉnh mời Khâu Xử Cơ, hiệu Trường Xuân Tử tới giảng Đạo.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Thích Ca Mâu Ni ngồi dưới gốc cây Bồ đề bảy bảy bốn chín ngày, sau cùng khai công khai ngộ, thấu triệt mọi chân tướng về vũ trụ trong cảnh giới của ông. Ông dạy con người trọng đức hành thiện, nhảy thoát khỏi luân hồi. Thích Ca Mâu Ni có mười đại đệ tử, đều có thần thông rất cao. Đạt Ma, đệ tử đời thứ 28 của ông qua sông chỉ với một cọng lau, người phi thường mới có thể làm được như vậy. Sau đó ông ngồi quay mặt vào núi Tiểu Thất chín năm, mang thân hình in trên đá, trở thành kỳ quan thiên cổ. Huệ Năng, Lục tổ của Thiền Tông đã viên tịch hơn 1.000 năm mà nhục thân vẫn không bị hư nát, đến nay vẫn ngồi an nhiên trong chùa Nam Hoa tỉnh Quảng Đông.

Trung Cộng một mặt tuyên truyền lịch sử phát triển xã hội, phủ định sự tồn tại của Thần; mặt khác khiến những người đại diện trong nội bộ các tôn giáo phát tán những lời phủ định người sáng lập tôn giáo. Phật giáo cho rằng Phật là người sáng tạo ra thế giới thiên quốc, như thế giới Cực Lạc là do nguyện lực của Phật A Di Đà mà thành. Còn Triệu Phác Sơ – Hội phó Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc trong cuộc gặp gỡ với Tổng thống Sukarno của Indonesia vào đầu năm 1965 lại nói: “Phật Đà được thần thánh hóa”, “Phật không phải là đấng sáng thế ra vạn vật… không thể làm chủ được hung cát, phúc họa của con người.” Cũng giống như vậy, Ngô Diệu Tông Chủ tịch Giáo hội Tam Tự của Ki-tô giáo cũng chịu sự khống chế của Trung Cộng, đã nói rằng thần tích của Giê-su đã bị ông ta ‘vứt bỏ’ rồi, còn nói: Thượng Đế đã đoạt lại từ tay giáo hội chiếc chìa khóa giúp nhân loại được cứu vớt, và đã giao cho Đảng Cộng sản rồi.”

Thần Phật là cái gốc của tôn giáo. Vô luận là Phật giáo, Đạo giáo hay những chính giáo khác, các tín đồ đều nỗ lực đề cao cảnh giới của mình, cuối cùng cũng là vì để tới được thế giới thiên quốc của Thần Phật, như Tịnh Độ Tông của Phật giáo, hy vọng sau khi vãng sinh được tới thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà. Nếu phủ nhận sự tồn tại của Thần Phật, phủ định thế giới Thiên quốc, đối với tín đồ tôn giáo mà nói tu luyện hoàn toàn không còn chút ý nghĩa, còn đoàn thể tu luyện của tôn giáo này cũng sẽ tan rã.

Trung Cộng là kẻ tuyên truyền Vô Thần luận, mô tả tôn giáo là “sự phản ánh hư cấu của lực lượng tự nhiên và lực lượng xã hội trong ý thức của con người”, là “sự sợ hãi và tuyệt vọng của người lao động trước những khổ nạn to lớn do chế độ bóc lột gây ra”. Xét về tuyên truyền này, mọi giáo nghĩa liên quan tới Thiên quốc, Địa ngục, thiện ác báo ứng đều là đối tượng bị Trung Cộng phủ định trực tiếp.

Trung Cộng tuyên truyền rằng: “Khổ nạn của xã hội là mảnh đất phì nhiêu cho tôn giáo tồn tại và phát triển”, và cố tình coi chuyện một số người thường gặp khổ nạn, đau khổ tuyệt vọng mà gia nhập vào tôn giáo là chuyện thường tình của các tín đồ tôn giáo.

Kỳ thực, Trương Đạo Lăng (tức Trương Thiên Sư) của Đạo gia từng ba lần được Hán Hòa Đế thỉnh mời làm Thái phó (Trong chế độ quan cửu phẩm là quan đứng đầu nhất phẩm). Trương Đạo Lăng đều không nhận lời, mà ẩn cư tu luyện trong núi Hạc Minh. Trước khi Phật Thích Ca Mâu Ni xuất gia, ông là thái tử của nước Ca Tỳ La Vệ. Cha ông vì muốn ngăn trở ý niệm xuất gia của ông nên đã xây một đại hoa viên, tu sửa cung điện nguy nga tráng lệ, lệnh cho mấy trăm cung nữ ngày đêm ca múa đàn hát bầu bạn cùng ông và lấy cho ông đệ nhất mỹ nữ Ấn Độ Yaśodharā làm vợ. Vậy mà thái tử vẫn nửa đêm cưỡi ngựa vượt tường thành, tới khổ tu trong rừng núi. Sau khi Thái Tử thành Phật, 51 người trong 56 người đầu tiên được cứu độ đều là công tử gia tộc giàu có của nước Ba La Nại. Thế Tôn về nước thuyết giảng Phật Pháp, có 500 con em phẩm mạo đoan chính của các vương tộc quyền quý, đều theo Phật xuất gia. Do đó xuất gia tuyệt đối không phải là chạy trốn trước khổ nạn hiện thực (do thất tình hay kinh tế khó khăn), mà là phát tâm bồ đề, là đại nguyện dùng huệ kiếm cắt đứt duyên trần.

Trước khi Trung Cộng đoạt được chính quyền, dân gian có môi trường tín Thần. Những người tu hành trong Thích giáo và Đạo giáo được gọi là “Pháp sư”, “Đạo trưởng”, “Cao tăng đại đức”, là biểu tượng đức cao vọng trọng, cũng là đối tượng được mọi người tôn kính. Dù là Hoàng Đế trong những hoàng triều truyền thống gặp cao tăng cũng đều lễ độ và tôn trọng.

Sau khi Trung Cộng cướp chính quyền, nó bèn cưỡng chế quảng bá giáo dục “Lịch sử phát triển xã hội”, phá hoại môi trường tín Thần, miêu tả những người tu hành như những kẻ xuẩn ngốc, vô tri, mê tín, thậm chí còn lợi dụng tôn giáo để kiếm lợi. Lúc này, địa vị xã hội của người tu hành rớt xuống thê thảm, từ người được kính trọng thành đối tượng bị nhân dân chế diễu. Rất nhiều người xuất gia đã hoàn tục vì suy sụp tinh thần.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

“Làm người tất hướng chỗ cao mà đi,” trong tâm mỗi người đều đang âm thầm trân quý danh vọng bản thân mình, hy vọng gia nhập đội ngũ những người thành công. Trung Cộng miêu tả những giáo đồ của Phật, Đạo như kẻ thất bại, thậm chí là “giai cấp bóc lột”, miêu tả những người tín phụng Thần Phật thành những kẻ mê tín và tư tưởng lạc hậu. Điều này cũng sẽ khiến dân chúng giữ khoảng cách với các tín đồ.

(2) Hủy hoại hoàn cảnh vật chất của tu hành

Nếu người xuất gia không để ý tới cách nhìn của thế tục mà tiếp tục tinh tấn tu hành, vậy thì tiếp theo Trung Cộng sẽ phải cắt đứt nguồn lương thực của người tu hành.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Thường thì nguồn lương thực của người tu hành đến từ hai phương diện, một là từ sự cúng dường của nhân dân, hai là thu hoạch từ hoa màu trên đất của nhà chùa. Khi Trung Cộng phá hoại môi trường tín Thần tại dân gian, thì nguồn lương thực đầu tiên đã bị cắt đứt. Còn đối sách của Trung Cộng với nguồn cung cấp thứ hai là cải cách ruộng đất. Theo “Chỉ thị về vấn đề giải phóng nông nghiệp, ruộng đất tại khu vực ngoại ô” do Trung Cộng ban hành tháng 01 năm 1950 quy định, ruộng đất của đình chùa miếu mạo, nhà thờ đều thuộc về tài sản quốc gia. Tại đền chùa các nơi tất cả những tăng ni còn sức lao động bị chuyển tới làm việc tại ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủ công nghiệp, ngành dịch vụ hay những nơi như xưởng dệt, xưởng in, tổ may ni cô.

Theo truyền thống Phật giáo, những giáo đồ của Phật giáo tiểu thừa đều sống nhờ vào khất thực, hoàn toàn không sản xuất. Sau khi truyền giáo vào Trung Quốc, Tứ tổ Thiền Tông là Đạo Tín định cư tại núi Song Phong, tụ tập 500 người, vì nơi ở cách xa thành quách, khất thực khó khăn, nên phải tự cày ruộng, tự cấp dưỡng, dùng nông nghiệp để tu tập. Đạo Tín răn dạy những người trong môn đạo rằng “Chăm chỉ chịu khó là căn bản.” “Có thể làm 3-5 năm, chỉ cần ăn một miếng lót dạ liền đóng cửa ngồi thiền”. Từ đó có thể thấy, sản xuất nông nghiệp hoàn toàn không hề có mục đích, chỉ là vì có thể đả tọa ngồi thiền từ đó mà lao động nuôi thân. Hơn nữa chỉ cần có miếng cơm ăn liền muốn ngồi không đả tọa.

Vì sự lũng đoạn toàn diện của Trung Cộng về tư liệu sản xuất và hoạt động thương mại, tính chất sản xuất trong đền chùa đạo quán đã không còn giống chủ trương lấy nông dưỡng thiền như Đạo gia đề xướng, mà hoàn toàn trở thành đơn vị công tác bị thế tục hóa và chịu sự kiểm soát của Đảng Cộng sản về kinh tế, sinh tồn nhờ vào hơi thở của Đảng Cộng sản. Sự lệ thuộc vào chính quyền về kinh tế đã kết thúc tính độc lập của tôn giáo, đồng thời trở thành chư hầu cho Đảng Cộng sản. Đây là phá hoại lớn nhất đối với tôn giáo truyền thống.

(3) Hủy diệt thân thể

Ngày 01 tháng 07 năm 1955, Trung Cộng ban hành “Chỉ thị về việc triển khai đấu tranh loại bỏ những phần tử phản cách mạng từ trứng nước”, mà lịch sử gọi là “Cuộc vận động túc phản” đã gương cao cờ hiệu “Làm trong sạch đội ngũ Phật giáo, Đạo giáo”, giết một người đe trăm người, coi những tăng ni, đạo sỹ không hợp tác với Trung Cộng là phần tử phản cách mạng mà bắt giữ, bắn chết. Sự cướp đoạt về kinh tế, sự áp bức về chính trị và sự đe dọa do “thêu dệt tội danh, vạn người công thẩm, tuyên án, bắn chết” đã khiến rất nhiều tăng ni đứng về phía Đảng Cộng sản.

(4) Làm lệch lạc kinh điển tôn giáo, dung tục hóa tôn giáo

Phật giáo coi “Phật, Pháp, Tăng” là Tam bảo. Trong đó “Pháp” chính là Kinh Phật. Trung Cộng ngoài việc phủ định sự tồn tại của Phật, trấn áp bức hại cao tăng đại đức ra, thì việc phá hoại kinh điển Phật giáo còn kín kẽ và âm hiểm hơn nhiều.

Trong “Đại Ban Niết Bàn Kinh”, Thích Ca Mâu Ni đã dự đoán được tình huống trong tương lai, tức là có ma vương chuyển sinh thành tăng ni và nam nữ cư sĩ nhằm phá hoại Phật Pháp từ trong nội bộ.

Những năm 20, 30 của thế kỷ trước, hòa thượng Thái Hư đưa ra cách nói “Phật giáo nhân gian”, cho rằng tam thừa cộng Pháp (Thiên thừa, Thanh Vấn, Viên Giác) nếu không thuộc về “Thần quyền mê tín” thì cũng thuộc về “tiêu cực lánh đời”. “Phật giáo nhân gian” lại tiến thêm một bước nữa khi chủ trương “cuộc sống hóa tu hành hiện đại” và “trường học hóa tu hành hiện đại”, “sự nghiệp Phật giáo hiện đại hóa nên bao gồm nhà xưởng, nông trường, bảo hiểm, ngân hàng, công ty, cái gọi là nông công thương .v.v..” Cách làm thế tục hóa, dung tục hóa Phật giáo bằng mượn cái mũ “Phật giáo nhân gian” trực tiếp đi ngược lại nguyên nghĩa của Phật Đà, hoàn toàn không phù hợp với cách tu hành của Phật giáo mấy nghìn năm nay luôn phát nguyện xa rời thế tục, theo đuổi sự thăng hoa về tâm hồn và siêu thoát. Tổ tiên của Bạch giáo Phật Milarepa của Phật giáo truyền từ Tây Tạng cũng nói với đệ tử của mình rằng: Trước khi Ông tu thành chính quả thì không nói tới sự nghiệp độ chúng sinh..


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Như loại hình thứ ba trong Văn hóa đảng mà phần giới thiệu đã chỉ ra, Trung Cộng “phát triển và quảng bá” cho trào lưu tư tưởng đã tồn tại, lại vận dụng nguồn tư nguyên quốc gia mà nó nắm được để tiến hành mở rộng trên cả bề rộng lẫn chiều sâu.

Trung Cộng cho rằng rất nhiều cách nói hư hư thực thực “Phật giáo nhân gian” chính là thứ có thể tăng cường lợi dụng, chỉ cần tín đồ chuyển ánh mắt chăm chú vào “Thiên quốc” sang quan tâm tới “nhân gian”, thì Trung Cộng có thể dễ dàng thêu dệt rất nhiều lời hoang đường, thao túng tư tưởng của giáo đồ. Cho nên truyền nhân của “Phật giáo nhân gian”, Triệu Phác Sơ [Hội trưởng Hội Phật giáo Trung Quốc], đệ tử của “Thái Hư” [trụ trì chùa Nam Phổ Đà, kiêm Viện trưởng Phật học viện Mân Nam] đã trở thành người đại diện lý tưởng nhất của Trung Cộng.

Dưới sự dẫn dắt của Triệu Phác Sơ, Hội Phật giáo Trung Quốc luôn miệng nhắc tới “trang nghiêm quốc thổ, lợi lạc hữu tình”. Thực tế Phật giáo nhắc tới “quốc thổ trang nghiêm” là chỉ mảnh đất tịnh độ nơi Phật quốc trang nghiêm (Như câu thơ “Nguyện dĩ thử công đức, trang nghiêm Phật tịnh thổ, tạm dịch: Nguyện mang công đức này làm trang nghiêm tịnh thổ nơi đất Phật” trong “Diệu Pháp Liên Hoa Kinh”), “Lợi lạc hữu tình” là chỉ “Chúng sinh hữu tình” được hóa độ tới bờ bên kia của cõi niết bàn, chứ tuyệt đối không giống với cách nói của Hội Phật giáo: “Tích cực tham gia kiến thiết tổ quốc, nỗ lực vì dân phục vụ.”

(5) Thành lập Hiệp hội tôn giáo Trung Cộng, khiến người được ủy quyền phê phán tôn giáo từ trong nội bộ

Vào những năm 50, Trung Cộng thành lập một Hiệp hội Phật giáo chịu sự thao túng của nó, để cho người ủy quyền của nó chiếm vị trí quan trọng, trở thành tổ chức chính trị giống với cái mà hiện nay được gọi là tám “Đảng phái dân chủ” phụ thuộc vào Trung Cộng. Trong thể hệ tổ chức của Đảng, những hiệp hội này được quy về dưới quyền kiểm soát của Ban Chiến Tuyến Trung ương, mục đích của nó không phải là nhằm phồn vinh tôn giáo, mà là khống chế tôn giáo.

Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc ngay trong thiên mở đầu của nó đã nhiệt liệt ca tụng Trung Cộng đàn áp phản cách mạng và “Cảm ơn tất cả những nhà lãnh đạo này – Chủ tịch Mao, lãnh tụ vĩ đại của chúng ta và Chính phủ nhân dân trung ương”, ngôn ngữ nịnh bợ, không hề thua kém bất kỳ một tổ chức thế tục nào.

Phật Thích Ca Mâu Ni là Thái tử Tất Đạt Đa của vua Tịnh Phạn nước Ca Tỳ La Vệ tại Ấn Độ. Sau khi xuất gia lại có vua Bình Sa muốn nhường lại vương vị, Thái tử Tất Đạt Đa đều không tiếp nhận mà vào trong rừng núi khổ tu. Có thể thấy ý nghĩa chân chính của Phật giáo không nằm ở sự phồn hoa của thế gian và chính trị của thế tục. Còn trong tôn chỉ được xác lập trong điều lệ thành lập của Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc dưới sự thao túng của Trung Cộng lại yêu cầu đệ tử Phật giáo tham gia cái gọi là “Kiến thiết văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa.”

Tình hình Đạo giáo cũng gần giống với Phật giáo. Trong điều lệ Hiệp hội Đạo giáo Trung Quốc được thông qua năm 2005 quy định rõ ràng rằng phải “Tăng cường…… học tập chính sách thời sự, nâng cao giác ngộ chủ nghĩa yêu nước của môn đồ Đạo giáo và tính giác ngộ tương thích với xã hội Chủ nghĩa xã hội ….. xúc tiến sự tương thích giữa Đạo giáo và xã hội Chủ nghĩa xã hội, nhằm cống hiến sức lực cho việc kiến thiết một xã hội hài hòa.” Nói một cách đơn giản, Hiệp hội Đạo giáo chính là muốn “Đạo Đức Kinh” thích ứng với chính sách của Trung Cộng, muốn cải biến nội hàm của tín ngưỡng một cách trắng trợn.

Hiệp hội Phật giáo, Hiệp hội Đạo giáo phụ thuộc Trung Cộng về mặt chính trị, ắt sẽ giải thích giáo lý theo cách nhìn của Trung Cộng. Tôn giáo cho rằng thế giới là khổ nạn. Khổ nạn này tự nhiên là so với sự mỹ hảo của thế giới thiên quốc , nếu không thì không cách nào giải thích được vì sao Thích Ca Mâu Ni vứt bỏ ngôi vua đi tu hành. Nhưng người đại diện tôn giáo [chỉ các hiệp hội kia] của Trung Cộng lại nói dối rằng dưới sự thống trị của Trung Cộng “không thể lại……. nói là đen tối, đau khổ nữa.” Mà tiến xa hơn một bước nữa là nhằm để các tín đồ hòa nhập vào thế tục thêm bước nữa, các hiệp hội đều phê phán cái gọi là “quan niệm tôn giáo tiêu cực chán ghét cuộc đời, chạy trốn hiện thực”, khiến giáo đồ tin vào việc xây dựng thiên đường giữa nhân gian. Cách nói này hoàn toàn khác với diệu pháp tứ đế “Khổ, Tập, Diệt, Đạo” mà Phật Đà nói.

Những người đại diện trong các hiệp hội tôn giáo này dùng những tài nguyên được tích cóp trong tôn giáo của mình để tiến hành phê phán từ trong nội bộ, ví dụ như chủ trương phá bỏ giới luật trong Phật giáo và nói rằng những điều lệ kinh điển này đã hại chết rất nhiều nam thanh nữ tú. Cách phê phán từ trong nội bộ này còn có sức phá hoại hơn nhiều so với sự phá hoại của Trung Cộng từ bên ngoài.

(6) Ngụy tạo giả tướng về tự do tôn giáo

Cái mà Trung Cộng gọi là “Tự do tôn giáo” là một loại ngụy tự do, nó có một tiền đề là phải nghe theo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Nói một cách đơn giản, một người thắp hương, dập đầu, sám hối, cầu nguyện, làm gì cũng được, nhưng khi tín ngưỡng của họ xung đột với Đảng Cộng sản thì nó phải phục tùng Đảng Cộng sản.

Biểu hiện của ngụy tự do tôn giáo là thế tục hóa tôn giáo, cơ quan hóa đoàn thể tôn giáo, thương nghiệp hóa các trường sở tôn giáo, chính trị hóa hoặc cán bộ hóa những người đứng đầu trong các tôn giáo.

Tại Trung Quốc, Cục Tôn giáo là một ban ngành mà chính phủ dùng để khống chế tôn giáo. Rất nhiều phương trượng trong đền chùa, những trụ trì trong Đạo quán đồng thời cũng là cán bộ của Trung Cộng, họ có cấp bậc hành chính, lĩnh lương, tham gia hội nghị chính trị và hợp tác hiệp thương, thậm chí còn được cấp xe cộ, máy tính, mỗi tuần đều tham gia học chính trị. Điều duy nhất khác với cán bộ Trung Cộng chính là những người này mặc áo cà sa hoặc áo đạo sỹ mà thôi. Tâm của họ không đặt vào cõi bồng lai, “tứ đại cũng chẳng giai không nữa”. Đền chùa cũng chỉ là đơn vị công tác của họ mà thôi.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Một biểu tượng khác của ngụy tự do tôn giáo chính là xây dựng một lượng lớn chùa chiền, tổ chức những cuộc đại hội tôn giáo, sửa tượng Phật giáo, in kinh sách, gây cho con người giả tượng về việc Trung Cộng tích cực hỗ trợ tôn giáo.

Trong Bài bình luận số 6 của Cửu Bình viết: “Một lần nữa, hãy lấy các ngôi chùa làm ví dụ. Các ngôi chùa là nơi để con người tu luyện, để nghe tiếng chuông chùa vào buổi sáng và tiếng gõ mõ lúc hoàng hôn, thờ Phật dưới ánh đèn dầu. Mọi người trong xã hội người thường cũng có thể xưng tội và thờ cúng ở đó. Tu luyện đòi hỏi một trái tim trong sạch không truy cầu bất cứ điều gì. Xưng tội và thờ cúng cũng cần có một môi trường nghiêm túc và trang trọng. Tuy nhiên, các ngôi chùa đã bị biến thành các địa điểm du lịch vì lợi ích kinh tế. Trong số những người thực sự thăm viếng các ngôi chùa ở Trung Quốc ngày nay, liệu có bao nhiêu người đến để suy nghĩ về những lỗi lầm của mình với một trái tim thành kính trước Phật ngay sau khi tắm gội sạch bụi trần và mặc lên mình bộ quần áo mới?”


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Như Thiếu Lâm Tự, gốc gác của Thiền tông Trung Quốc, ngày nay đã trở thành điểm đến du lịch và nơi quay phim chụp ảnh, phương trượng của Thiếu Lâm Tự bán đứng văn hóa Thiếu Lâm, gần đây y đã quyết định chi 350 triệu nhân dân tệ nhằm biến nơi đất Phật thanh tịnh thành nơi nghỉ dưỡng nên bị gọi một cách chế giễu là “CEO” (Giám đốc điều hành) Thiếu Lâm Tự. Y tôn sùng quan niệm “Thiếu Lâm Tự cũng nên có xí nghiệp”, thế là lái xe việt dã hào nhoáng, đi máy bay chu du thế giới, lên kế hoạch cho những buổi biểu diễn lớn, hàng ngày đều giao thiệp với đủ loại nhân sỹ trong xã hội như những ông chủ lớn của các doanh nghiệp, quan chức chính phủ, bạn bè quốc tế. Đa phần thời gian trong cuộc sống của ông này là dùng để tiếp đãi khách khứa và xử lý công việc. Phương pháp tu luyện “mặt nhìn vào vách núi” do Lão tổ Đạt Ma truyền lại cần có một hoàn cảnh thanh tịnh, đến nay đã không còn lại chút gì.

Tháng 08 năm 2006, giám tự của chùa Hóa Thành-tỉnh Giang Tây cử hành lễ siêu độ Phật giáo cho những nạn nhân bị chết trong vụ thảm sát Thiên An Môn “Ngày 4 tháng 6”, vậy mà bị chính quyền địa phương uy hiếp, bức bách ông phải rời khỏi chùa. Cục trưởng Hà của Cục tôn giáo huyện Quế Dương nói với vị giám tự này rằng: “Ông ăn, uống, chơi gái, đánh bạc đều được, chỉ là không được phản đối Đảng Cộng sản.”

Ngụy tự do tôn giáo đã khiến rất nhiều người không minh bạch chân tướng gia nhập vào những nơi tôn giáo do Trung Cộng tổ chức, những kinh điển mà họ học tập nghiên cứu bị Trung Cộng làm lệch lạc, chính tín của họ bị Trung Cộng dùng lợi ích thế tục để ăn mòn. Đây đều là cái thòng lọng mà Trung Cộng dùng để phá hoại Phật giáo, Đạo giáo một cách có hệ thống.

Đồng thời ngụy tự do tôn giáo cũng khiến hàng loạt những người có nhân phẩm hành vi độc ác xấu xa vốn nghe theo lệnh của Trung Cộng, trở thành người trụ trì tại những ngôi chùa và đạo quán và những người phụ trách hiệp hội tôn giáo các cấp. Một mặt họ tích cực hợp tác với yêu cầu của Trung Cộng, tô son trát phấn cho ngụy tự do của Trung Cộng ngoài quốc tế, mặt khác liều mình vơ vét của cải, thậm chí là ăn chơi, gái gú, cờ bạc. Như hòa thượng trong hai ngôi chùa tại Quảng Đông tới Tam Nguyên chơi gái tập thể; hòa thượng trong ba ngôi chùa cổ tại chùa Quang Hiếu, chùa Pháp Tràng, chùa Nam Sơn chơi gái tập thể; hội trưởng hiệp hội Phật giáo Quảng Đông, hòa thượng Minh Sinh là phương trượng của chùa Quang Hiếu mở một quán ăn chay tên là “Phường Cam Lộ” trong chùa, y dẫn mấy người trông như kỹ nữ đứng trước cửa chùa tiếp đãi thực khách…

Từ cổ chí kim Trung Quốc đã có truyền thống thờ Thần bái Phật, nhưng điều phải chỉ ra là những người tới thắp hương cầu nguyện đều tin là những điều không như ý hiện giờ gặp phải chính là do nhân quả báo ứng gây nên, với sự cung kính sám hối, cầu nguyện tương lai sẽ phải làm bao nhiêu việc tốt để bù đắp lại, hy vọng Thần Phật thương tình ban cho chút thuận lợi nhất thời, giải thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn trước mắt. Những ngụy nhân sỹ tôn giáo lại làm sai lệch ý nghĩa của việc khấn Thần bái Phật thành việc bố thí tiền tài có thể được bảo hộ, mà hoàn toàn không quan tâm xem những đồng tiền đó có phải là trộm cướp hay tham ô mà có được hay không. Lúc này cầu Thần bái Phật từ “sám hối” trở thành dùng tiền mua chuộc Phật, làm giao dịch với Phật.

Kiểu ngụy tự do tôn giáo “Tham quan bái Phật, hòa thượng gái gú” này có sức phá hoại lớn nhất với chính giáo, rất nhiều người vì vậy mà phê phán tôn giáo là nơi giả tạo, kiếm chác và dâm loạn, kiểu phê phán tự phát này có ảnh hưởng sâu rộng hơn cả việc Trung Cộng trực tiếp bôi nhọ Phật giáo.

Điều cần phải nhấn mạnh là sự phê phán của Trung Cộng nhằm vào Nho giáo, Đạo giáo, Thích giáo là trên nhiều tầng diện, bao gồm cả phê phán từ tầng diện lý luận, tôn giáo hóa khoa học, dùng cái gậy lớn gọi là “khoa học” để tiến hành phê phán Nho giáo-Phật giáo-Đạo giáo (dưới đây gọi tắt là Nho-Thích-Đạo); tổ chức biên chế giới tôn giáo, tiến hành phê phán Nho-Thích-Đạo từ trong nội bộ tôn giáo, tiến hành thanh lý tư tưởng từ trong Đảng, tiến hành yêu ma hóa Nho-Thích-Đạo. Kiểu phê phán này là phê phán kéo dài liên tục trong một thời gian dài, xuyên suốt trong giáo dục, trong cuộc sống, giúp cho việc cường điệu những cuộc vận động chính trị theo định kỳ, người người viết văn, hoặc sao chép văn, cưỡng chế tẩy não v.v… Đồng thời, kiểu phê phán này tiến hành theo kiểu phủ định toàn diện, không còn mảnh đất trống nào để con người có thể lưu giữ tư tưởng truyền thống. Trong sự tuyên truyền hình thái ý thức Vô Thần luận, Thuyết duy vật một cách cuồng nhiệt, trong sự yêu quái hóa ác độc đối với Nho-Thích-Đạo, trong sự uy hiếp bạo lực chính trị, trong sự điên đảo do Trung Cộng sắp xếp cài người vào làm loạn từ trong nội bộ một cách hiểm ác, Trung Cộng đã hoàn thành việc phê phán và thay thế một cách có hệ thống đối với Nho–Thích–Đạo giáo. Ngày nay, đa phần người Trung Quốc đã không biết Nho giáo – Thích giáo – Đạo giáo là gì, chỉ cần một câu “phong kiến mê tín” là đủ để tránh thật xa theo phản xạ có điều kiện, chỉ cần phê phán bằng khẩu hiệu, không cần chứng minh.

2. Phê phán quan niệm truyền thống

“Thiên hành Kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức”, “Địa thế Khôn, quân tử hậu đức tải vật” (Trời hành Kiện, quân tử không ngừng cố gắng vươn lên; Địa thế Khôn, quân tử đức dày chở vật), Hai quẻ đầu trong “Kinh dịch” đã chỉ ra được thái độ của người Trung Quốc với trời đất, quân tử thuận Thiên đạo mà hành mới có thể không ngừng vươn lên, dùng  đạo đức nhu thuận mà sâu sắc có bề dày để chứa đựng vạn vật. Đối với người thì thành tín hòa thuận, từ mình mà hiểu lòng người, từ sự tôn kính với người già và sự yêu thương bảo vệ với trẻ nhỏ trong nhà mà mở rộng ra tới tất cả người già và trẻ nhỏ, chính là điều gọi là “Giảng tín tu mục” (dạy điều tín, ăn ở hòa thuận), “Lão ngô lão dĩ cập nhân chi lão, ấu ngô ấu dĩ cập nhân chi ấu”(Tôn kính già nhà ta, cho đến người già trong nhà người, yêu mến trẻ nhà ta, cho đến yêu mến trẻ nhà người). Khi Tam Tài – “Thiên Địa Nhân” được định ra, thì căn bản của quan niệm truyền thống được định ra như vậy.

Người Trung Quốc kính Thiên, kính Địa, kính Thần, kính tổ tiên do đó đã hình thành một đạo xử thế trong cuộc sống đời thường, truyền lại cho muôn đời sau.

Còn Đảng Cộng sản lại “phải thực hiện việc cắt đứt đối với quan niệm truyền thống một cách triệt để dứt khoát nhất.” (Tuyên ngôn Đảng Cộng sản). Việc nó phê phán quan niệm truyền thống, là một bước tất yếu nhằm triệt để thanh trừ Văn hóa truyền thống cho đến tín ngưỡng trong cuộc sống của người dân Trung Quốc.

Từ khi Trung Cộng bắt đầu xây dựng chính quyền, nó đã thông qua giáo dục“Lịch sử phát triển xã hội” để tẩy não toàn dân một cách có hệ thống, quy kết “sự lạc hậu”, “ngu dốt” của Văn hóa truyền thống là nguyên nhân khiến Trung Quốc bị cường quốc xâm lược gần 100 năm qua, miêu tả xã hội truyền thống thành “xã hội cũ” “thối nát, lạc hậu”, dán nhãn “ngu dốt và mê tín” cho tín ngưỡng trong quan niệm truyền thống, dán nhãn cho đạo đức truyền thống trong đó là “lễ giáo ăn thịt người”. Theo cách như vậy, Trung Cộng đã lợi dụng tâm lý tự tôn dân tộc và nguyện vọng tự cường của người Trung Quốc mà toàn diện phát động cái gọi là cuộc vận động phá bỏ “mê tín phong kiến” trong xã hội, lấy khẩu hiệu “di phong dịch tục” (thay đổi phong tục), tiêu diệt tất cả những hoạt động dân gian liên quan tới tín ngưỡng truyền thống. Đồng thời Trung Cộng còn gán cho quan niệm truyền thống là công cụ chính trị giúp “kẻ thống trị phong kiến” mê hoặc nhân dân, “khiến họ bằng lòng với cuộc sống bị bóc lột”, phê phán trật tự xã hội truyền thống thành “chế độ dòng tộc phong kiến” áp bức bách tính, là cộng hưởng với “chế độ phong kiến chuyên chế”, khiến những cuộc vận động nhổ tận gốc Văn hóa truyền thống dâng lên thành cao trào chính trị, như vậy có thể thông qua các cuộc vận động quần chúng quy mô lớn mà “giám sát”,  “giám sát”, “tiết lộ”, “tố giác” những ngôn từ và hành vi theo quan niệm truyền thống vẫn lưu giữ trong dân gian, đạt được mục đích triệt để diệt tận gốc .

Dưới đây là một vài ví dụ về việc những quan niệm truyền thống bị Trung Cộng phê phán.

1) Phê phán việc kính sợ Trời

Người dân Trung Quốc vẫn luôn bảo trì tâm kính sợ đối với Trời. Dù những người không có tín ngưỡng rõ ràng cũng tin vào “ông Trời”. Trong quan niệm truyền thống của người Trung Quốc, Trời dù vô hình vô tướng, nhưng không chuyện gì không biết, không nơi nào không tồn tại.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Khi vương triều mạt thế hoặc đạo đức trụy lạc phổ biến trong xã hội, Trời liền giáng xuống tai họa, trước đó cũng sẽ có sự cảnh cáo hay điều gọi là “Thiên thùy tượng, kiến cát hung, thánh nhân tắc chi”(Nhìn thiên tượng biết điềm hung cát, thánh nhân thuận theo điều đó). Sau khi Hoàng Đế đăng cơ phải làm lễ tạ ơn Trời, ngày rằm tháng Giêng hàng năm và ngày Đông chí, Vua phải đăng đàn bái Trời, điều này đều thể hiện sự tôn sùng với Trời.

Trong sinh hoạt chính trị, “Trời” biểu thị cho phép tắc trị quốc, Khổng Tử nói “Vi chính dĩ đức, thí như bắc thần, cư kỳ sở nhi chúng tinh củng chi” (Dựa vào đức mà cai trị quốc gia, giống như sao Bắc Cực vậy, ở một chỗ mà các ngôi sao khác phải xoay quanh). Trong sinh hoạt thường nhật, “mật thất tư ngữ, thiên văn như lôi” (Nói thầm trong mật thất, Trời nghe như sấm dậy), binh pháp, kiến trúc, nhạc khí cũng đều thể hiện quy tắc của Trời, ngay cả tạo phản cũng phải làm ra lá cờ lớn “thay Trời hành đạo”.

Đối với Trời, trong quan niệm truyền thống từ trước đến giờ chỉ có sự kính sợ, còn chỉ có Đảng Cộng sản mới tranh đấu với “Trời”.

Sự kính sợ Trời duy hộ đạo đức của con người, quan niệm “nhân mệnh quan thiên” (số mệnh con người liên quan tới Trời) duy hộ cho sự quý trọng đối với sinh mệnh, quan niệm “Thiên nhân hợp nhất” lại rất hữu hiệu trong việc bảo hộ tự nhiên. Đây đều là những chướng ngại ngăn Đảng Cộng sản giết người và hủy hoại môi trường, còn Trung Cộng lại cần dựa vào thủ đoạn giết người khiến con người khiếp sợ mà quy phục nó, phải dùng những lời đao to búa lớn “chiến  thiên đấu địa ” để kích động con người sùng bái nó và quyết tâm phá hoại tự nhiên.

Mao Trạch Đông nói: “Ta là hòa thượng che ô, vô Pháp vô Thiên.” “Vô Pháp vô Thiên” vốn mang nghĩa xấu lại trở thành ca ngợi sự dũng cảm, và cổ động con người tham dự vào cuộc đấu tranh chính trị “vô Pháp vô Thiên” và phá hoại môi trường.

2) Phê phán sinh mệnh và thiện ác báo ứng

Từ quan niệm kính sợ “Trời” của người Trung Quốc đã phái sinh ra “thiên mệnh” quan và “thiện ác báo ứng”.

“Nhận mệnh” là câu mà người Trung Quốc thường nói, lại bị Trung Cộng giải thích là sự tiêu cực và không biết nên làm thế nào khi gặp phải khó khăn. Thực tế, ý nghĩa chân thực của “nhận mệnh” là “làm hết sức mình và nghe theo Thiên mệnh” hoặc “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”. Khổng Tử đề xuất “Sinh tử hữu mệnh, phú quý tại Thiên”, nhưng khi 54 tuổi ông lại từ chức Đại Tư Khấu của nước Lỗ, 14 năm chu du liệt quốc ông thúc đẩy vương đạo, biết rõ rằng điều đó không thể làm nhưng vẫn cứ làm. Ở đây không hề mang hàm nghĩa tiêu cực lánh đời.

Trong cuộc sống cá nhân, tư tưởng “nhận mệnh” hoàn toàn không phủ định sự phấn đấu của cá nhân, chỉ là giải thích cho sự bất khả kháng trong kiếp nhân sinh. Nói sâu thêm một bước nữa, quan niệm truyền thống cho rằng vận mệnh của con người được quyết định bởi đời trước, thậm chí là thiện báo hay ác báo nhận được do vài đời trước đã hành thiện hay hành ác. Do đó, “vận mệnh” cũng thường có quan hệ với “thiện ác hữu báo”, “phúc báo”, “quả báo”.

Trong “Kinh Dịch” có nói: “Tích thiện chi gia, tất hữu dư khánh; tích bất thiện chi gia, tất hữu dư ương” (Nhà mà tích thiện, phú quý ắt có thừa, nhà mà tích điều không thiện, tai ương ắt có thừa). Quan niệm này khiến con người nỗ lực hành thiện, tích góp công đức cho cuộc sống sau này của mình, thậm chí là con cháu đời sau. “Thiện ác hữu báo” cũng dựa trên cơ sở những quan niệm như “Trên đầu ba thước có Thần linh”, “Nhân gian thì thầm, Trời nghe như sấm; phòng tối tâm đen, Thần nhãn như điện” v.v..

Tin vào vận mệnh và báo ứng khiến con người nỗ lực hành thiện, xem nhẹ dục vọng, thuận Thiên mà hành, không vì cái khoái lạc trước mắt mà không lường tới hậu quả. Tư tưởng này càng khiến con người tin rằng trong cõi u mê có Thiên ý, “Nhân tâm sinh nhất niệm, Thiên địa tất tương tri, Thiện ác nhược vô báo, Càn khôn tất hữu tư” (Nhân tâm sinh nhất niệm, thiên địa đều biết rõ. Thiện ác nếu không báo, Càn khôn ắt hữu tư).

Với sự thay triều đổi đại, kể từ khi Trung Quốc có chữ viết tới nay đã không ngừng lưu lại dự ngôn về những sự kiện lịch sử lớn của đời sau, mức độ chuẩn xác của nó đã khiến con người vô cùng kinh ngạc và tán thán. Thiên mệnh quan “Phụng thiên thừa vận” này cũng là ngọn nguồn cho tính hợp pháp cầm quyền của vua chúa.

Trung Cộng lại phê phán “vận mệnh” và “báo ứng” là “mê tín phong kiến” và cấm diễn xuất tuyên truyền những vở kịch có chủ đề này. Căn cứ của nó là giả thuyết về “Thuyết vô Thần” và “Chủ nghĩa duy vật lịch sử” vốn không thể nào chứng thực được. Trung Cộng hiểu rất rõ một điều là nếu một người sợ bị báo ứng, người đó quyết không dám theo Trung Cộng hành ác mãi được.

3) Phê phán sự nhu thuận và nhẫn nhịn

“Nhu thuận lợi trinh, quân tử du hành” (Kinh Dịch) dùng quẻ “Khôn” để miêu tả đại địa. Đại địa có đức “nhu thuận”. Tính nhu thuận này không phải là cúi đầu nhẫn nhục một cách vô nguyên tắc, mà là thuận theo Thiên đạo mà hành.

Trong “nhu thuận” có đức “nhẫn nhượng”, “nhẫn một lúc sóng yên gió lặng, lùi một bước biển rộng trời trong.” Điển cố Hàn Tín chịu nhục chui háng đã lưu truyền hơn 2.000 năm, điều này đều phản ánh sự tôn sùng của người Trung Quốc với chữ “nhẫn”.

Trung Cộng lại cổ động đấu tranh, “Triết học của Đảng Cộng sản là triết học đấu tranh”, “Người nếu phạm ta, ta ắt phạm người”. Phương pháp giải quyết vấn đề không phải là thỏa thuận và đối thoại, mà là dựa vào bạo lực và trấn áp, và còn dám miêu tả sự báo thù thành lòng dũng cảm.

Tô Đông Pha từng nói, hễ chịu nhục lập tức rút gươm mà đấu với người khác, đây là kẻ thất phu, về cơ bản không xứng được gọi là người dũng cảm hay dũng cảm chân chính, vốn phải luôn giữ được bình tĩnh không kinh động cho dù đột nhiên đối mặt với sự xâm phạm. Hơn nữa dù cho gặp phải sự nhục mạ vô cớ cũng có thể khống chế sự phẫn nộ của bản thân, là vì tấm lòng bao la, tu dưỡng sâu dày, ý chí cao xa.

“Nhẫn” trong Văn hóa truyền thống là tự kiềm chế, khoan dung, không ghi nhớ sai lầm của người khác, chứ tuyệt đối không phải là nhu nhược, nhượng bộ một cách vô nguyên tắc.

Trung Cộng chủ trương “người nếu phạm ta, ta ắt phạm người” kỳ thực là bụng dạ hẹp hòi, thù vặt cũng quyết báo. Điều này rất phù hợp với cái tinh thần “đấu tranh” ấy. Kiểu suy nghĩ này khiến con người trong xã hội ân oán không dứt, ai cũng giống như kẻ địch, đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến mối quan hệ giữa con người ngày nay trở nên căng thẳng.

Người Trung Quốc nhìn thấy Càn là cương, Khôn là nhu, cương nhu bổ trợ, vạn vật đều thông suốt, là lĩnh ngộ được đạo hài hòa. Trong quan niệm truyền thống rất coi trọng chữ “hòa”. Ba đại điện trong hoàng cung, lần lượt được gọi là “Điện Thái Hòa”, “Điện Trung Hòa”, “Điện Bảo Hòa” đã phản ánh sự tôn sùng với sự hài hòa và hòa thuận.

Hiện nay những từ như “đối thoại”, “thương thảo”, “hợp tác” thường xuất hiện ngoài miệng người phát ngôn của Trung Cộng, những lời lẽ dối trá này là mặt khác của sự trấn áp. Những kiện gần đây như sự kiện Sán Vỹ, sự kiện Hán Nguyên, sự kiện mỏ dầu Thiểm Bắc và những cuộc trấn áp tàn khốc các nhân sỹ đi thỉnh nguyện, nông dân mất đất, những hộ phải di dời, công nhân mất việc, thực chất cũng chính là sự tiếp diễn của tinh thần đấu tranh, lợi dụng thảm sát để xây dựng “xã hội hài hòa giả tạo”. Mặt khác, do đấu tranh đã trở thành cột trụ chủ yếu để Trung Cộng dựa vào mà tồn tại, chỉ cần tìm được cách đối thoại và hòa giải, tự thân Trung Cộng cũng sẽ giải thể.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

4) Phê phán trật tự xã hội truyền thống

Trạng thái tự nhiên “Thiên tôn địa ti” trời cao đất thấp của người Trung Quốc và đối ứng về “Càn khôn” và “Âm dương” trong Kinh Dịch đã mở rộng ra một bộ lý luận về gia đình và xã hội, từ bộ luân lý này lại phát sinh ra trật tự xã hội.

“Tôn ti” (Cao thấp) là một phần quan trọng trong quan niệm truyền thống của người Trung Quốc. Theo Văn hóa truyền thống, “ti” không hẳn là chuyện xấu. Đạo gia vẫn luôn tôn sùng mỹ đức của nước, vì nước thường ở “chỗ thấp”. Phía “chỗ thấp” là phía được yêu mến và bảo hộ, phía “chỗ cao” là phía cần phó xuất. Nam mạnh, nữ yếu, nam cương, nữ nhu. Nhưng cương không nhất định có nghĩa là chuyện tốt. Đạo gia có cách nói “Binh cường tắc diệt”, “gỗ cứng tắc gãy”, “nhu nhược thắng cương cường”.

Trung Cộng vẫn luôn đảo lộn trật tự, khoác lác rằng muốn xây dựng một xã hội trong đó mọi người đều bình đẳng. Nhưng xã hội không tồn tại sự bình đẳng theo hàm nghĩa của Trung Cộng.

Trong cuộc sống xã hội, một quốc gia, xí nghiệp, đoàn thể hay gia đình, thường sẽ phải có người đi điều tiết một vài chuyện, có người đưa ra kế hoạch, có người chấp hành một cách cụ thể, đây là một trạng thái xã hội bình thường, cũng là do nhân tố tổng hợp về trí lực, thể lực của mỗi người quyết định. Còn Trung Cộng lại cực đoan hóa điều đó, miêu tả nó thành sự áp bức giai cấp và đấu tranh giai cấp. Cho nên Trung Cộng phải đảo lộn mọi tôn ti và trật tự, điều này thực tế là không thể làm được. Thứ gọi là “giải phóng” kỳ thực là tạo ra “sự hỗn loạn”.

Ví dụ như người đề xướng nam nữ bình đẳng cũng không thể phủ nhận rằng khi gặp phải tai họa, dịch bệnh, nạn đói, chiến tranh thì phụ nữ và trẻ em đều là những đối tượng được bảo vệ đầu tiên. Nếu đề xướng nam nữ bình đẳng, thì dường như phụ nữ nên nhận được sự đối đãi giống như đàn ông, điều này hiển nhiên là không đúng. Năm đó khi con tàu Titanic chìm xuống đáy biển thì phụ nữ và trẻ nhỏ là những người được ưu tiên lên tàu cứu hộ trước, dù là chồng của họ cũng phải cùng chìm xuống với con tàu như một nam tử hán. Không ai có dị nghị gì với quyết định này, điều này phản ánh rằng trong nơi sâu nội tâm của chúng ta không hề có sự bình đẳng tuyệt đối giữa nam và nữ.

Mở rộng ra trong cuộc sống xã hội, một xí nghiệp hay một quốc gia phải có người ra sách lược, quyết định của người ra sách lược phải được người thực thi chấp hành. Quân đội phải có tư lệnh, quan quân các cấp và binh sỹ bên dưới chịu trách nhiệm chấp hành mệnh lệnh. Nếu xét từ góc độ công tác xã hội, kỳ thực cũng tồn tại vấn đề “tôn ti”, nhưng “tôn ti” hoàn toàn không phải có nghĩa hiển nhiên là bóc lột và đàn áp, nó cũng cần có mối quan hệ đạo đức tốt đẹp là “nhân đạo” và “trung thành” ở giữa.

Mở rộng tới phạm vi gia đình, phụ “từ”, tử  “hiếu”, huynh “hữu –hữu hảo” đệ “cung – cung kính”, những luân lý truyền thống truyền tải sự hài hòa có trật tự của gia đình và xã hội một cách tự nhiên.

Còn nói về “công bằng” một cách căn bản chính là “chúng sinh bình đẳng” trong Phật Pháp, là “Thiên đạo vô thân” (Đạo trời không kể người thân) của Đạo gia, là “hữu giáo vô loại”(dạy dỗ không phân biệt loại người), là “trước mặt Thượng Đế mọi người đều bình đẳng” của phương Tây là bình đẳng về cơ hội, chứ tuyệt đối không phải sự bình đẳng về kết quả.

Những tuyên truyền lệch lạc của Trung Cộng về “bình đẳng” đã khiến xã hội vô cùng hỗn loạn, không còn tôn ti trật tự. Sự giải thích lệch lạc về “bình đẳng nam nữ” kỳ thực chính là sự bức hại đối với phụ nữ, ép buộc họ lao lực đảm đương những công việc không phù hợp với sức mình hoặc không phù hợp với phụ nữ. Ví dụ như trong cuốn sách “Quyết liệt triệt để với quan niệm truyền thống cũ” được Trung Cộng xuất bản vào tháng 04 năm 1976 đã liệt kê ra bài viết của 15 nữ thanh niên, trong đó nghề nghiệp mà các cô theo đuổi vốn dĩ nên do đàn ông gánh vác như công nhân đưa than, giết mổ, công nhân bốc xếp v.v.., “nắm chặt con dao mổ, có thể chịu đựng được cả nửa ngày” đã trở thành đối tượng được ca tụng.

Xã hội dưới sự thống trị của Trung Cộng đồng thời cũng là xã hội rất bất công bằng. Do Trung Cộng lũng đoạn mọi tài nguyên, nó tự xưng là công bộc của nhân dân, nhưng thực tế nhân dân đều bị coi như nô lệ, dù là quyền lợi chính trị hay quyền lợi kinh tế, giữa quan và dân hoàn toàn không hề có một chút bình đẳng nào để nói.


Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

5) Lấy tài sản làm căn cứ quan trọng để đo lường đạo đức

Mở chương đầu trong lịch sử Trung Quốc, “Ngũ Đế bổn ký” có ghi lại đức hạnh của Ngũ Đế, sự thừa nhận và tôn kính của người dân trăm họ với những đức hạnh này. Những đức hạnh này đã đi sâu vào lòng người, lưu truyền mấy nghìn năm, đồng thời từ vùng đất người Hán đã lan rộng khắp cả khu vực dân tộc thiểu số và những nước khác.

Trong quan niệm của người Trung Quốc, đạo đức và học thức là nguồn gốc của việc có được danh vọng và địa vị. Khổng Tử nói: “Đại đạo chi hành dã, thiên hạ vi công, tuyển hiền dữ năng, giảng tín tu mục” (Hành đại đạo, thiên hạ là của chung, tuyển người hiền tài, dạy điều tín, ăn ở hòa thuận), nhân phẩm của một con người trở thành tiêu chí quan trọng để tuyển chọn quan lại. Thời Hán thịnh hành chế độ Sát cử (quan sát, khoa cử), tiêu chuẩn để được tiến cử là phải có những phẩm chất như “đức hạnh cao, chí tiết thanh bạch; học thông và biết làm theo; am hiểu các kinh sách, hiểu rõ pháp lệnh, giải được nguy nan….“ ngoài ra còn phải có những mỹ đức như “chất phác, đôn hậu, khiêm nhường, tiết kiệm”. Đến thời Ngụy Tấn, quan phủ thực thi chế độ Cửu phẩm trung chính, đạo đức cũng trở thành một nhân tố quan trọng để tuyển chọn quan lại. Đến thời Tùy Đường mở khoa thi tìm sỹ tử thì cũng giống như vậy, trình độ lý giải đối với đạo đức của Nho gia là điều kiện tiên quyết để những người ứng thi có thể viết ra những bài văn hay từ đó mà bước lên con đường của kẻ sĩ.

Đến khi Trung Cộng xây dựng chính quyền, những vị thân sĩ nông thông, trưởng các phường hội và phần tử tri thức đức cao vọng trọng ngược lại lại trở thành đối tượng bị đàn áp và đả kích, còn một người xuất thân có phải là “bần hàn khốn khó – thành phần ‘trong sạch’ ” hay không mới là nhân tố quan trọng nhất xét xem liệu có được nắm giữ nguồn tài nguyên của xã hội hay không. Đạo đức của mỗi người vốn quyết định bởi tư tưởng và hành vi của người đó. Còn tới lượt Trung Cộng, đạo đức trở thành một tiêu chí mang tính quần thể của giai cấp. “Ai nghèo người đó vinh quang, ai giàu người đó chỉ bằng loài vật”. Nghèo khó đã trở thành đại diện cho tính chính xác và chính nghĩa của tạo hóa, đại diện cho những người bị bức hại, đại diện cho việc “làm phản có lý”, đại diện cho cách mạng kiên quyết nhất, triệt để nhất”.

 
Ảnh: Đại Kỷ Nguyên

Sự bần hàn và phú quý của một người vốn bất định, cũng có thể vì chăm chỉ chịu khó và nắm bắt được cơ hội mà thành giàu có, cũng có thể vì hoang phí mà khuynh gia bại sản, cũng có thể ai đó ruộng vườn rộng lớn, nhưng vài năm sau đó lại phải đi xin ăn. Nhưng Trung Cộng thực thi “một nhát dao” mà phân chia giai cấp kể từ ngay thời khắc nó cướp đoạt chính quyền đó.

Thù hận sự giàu có đã khiến người Trung Quốc mấy chục năm nay đều lấy nghèo khó làm vốn mà coi thường người khác. Mặt khác khi Trung Quốc đánh đổ một người nào đó, chỉ cần gọi những người này là địa chủ hay nhà tư bản, còn lại không cần phải tốn lời, giàu có đại diện cho “bóc lột”, đại diện cho “trấn áp”, đại diện cho “tội ác”.

Mấy chục năm sau, Đảng Cộng sản bản thân nó lại điên đảo càn khôn mà hiệu triệu mọi người thi nhau làm giàu. Con người ngày nay không còn coi giàu có là tội ác, ngược lại cho rằng nghèo khó mới đáng xấu hổ. Lúc này nhận định một người tốt hay xấu, thành công hay không cũng không liên quan gì tới đạo đức, mà là đo lường bằng mức độ giàu có của con người, ai có tiền người đó có bản lĩnh, dù cho đồng tiền này là ăn trộm, ăn cướp, lừa lọc, tham ô nhận hối lộ mà có hay bán thân xác hoặc bán đứng linh hồn mà có được. Kết quả của việc “Cười người nghèo, không cười kỹ nữ” đã khiến mọi người càng không từ thủ đoạn tìm kiếm tiền tài, sau đó là chìm đắm trong sắc và thanh (tiếng nói và ngoại hình của con người), lấy thân phận là người được hưởng những đặc quyền đặc lợi mà thừa nhận sự thống trị của Trung Cộng.

6) Những quan niệm bị phê phán khác

Những phê phán của Trung Cộng thường là những phê phán không có lý trí, mà biến việc phê phán tư tưởng thành công kích người khác. Sau đó dùng những tà thuyết lệch lạc như “Những điều kẻ địch phản đối thì chúng ta ủng hộ, những điều mà kẻ địch ủng hộ thì chúng ta phản đối” nhằm nhất loạt mắng chửi tư tưởng của người bị phê bình. Còn kiểu công kích người có tư tưởng kia lại chỉ là chụp lên những cái mũ như “giai cấp chủ nô”, “giai cấp địa chủ”, “giai cấp tư sản”, “tu chỉnh chủ nghĩa” một cách vô cùng đơn giản mà thôi.

Thông qua việc vu khống Khổng Tử, Trung Cộng còn theo đó mà phủ định luôn tư tưởng “Trung dung”, “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín”, “Khắc kỷ phục lễ”, “Ôn lương cung kiệm nhường” (Ôn hòa, lương thiện, cung kính, tiết kiệm, khiêm nhường) của Nho gia. Rất nhiều người khi nhìn thấy những chữ này, họ không nghĩ tới nội hàm của bản thân nó, mà là nghĩ tới tuyên truyền ầm ỹ, chụp mũ rợp trời rợp đất, báo chữ to, cho đến kết cục bi thảm của người bị người bị phê phán, từ đó vì sợ hãi mà phải tự giác “vạch rõ đường ngăn” với những tư tưởng này.

Nho gia giảng “nhân” chính là quan tâm tới người khác, “Kỷ sở bất dục, vật thi vu nhân” (Những điều mình không thích thì đừng nên làm cho người khác). Việc phê phán chữ “nhân” dẫn đến “Kỷ sở bất dục, yếu thi vu nhân” (Những điều mình không thích thì phải làm cho người khác).

Người Trung Quốc tôn sùng “Trung dung”. “Trung dung” tuyệt đối không phải là “ba phải”, dối trá, được lợi từ cả hai bên, hai mặt, mà nghĩa gốc của nó là “Thường thủ trung đạo” (Thường giữ mình ở trong đạo), tức là thuận theo Thiên mệnh, “không được xa rời dù chỉ một lát”. Trong đó còn bao hàm cả phương thức học tập “Bác học chi, thẩm vấn chi, thận tư chi, minh biện chi, đốc hành chi” (Học cho nhiều, hỏi cho sâu, suy nghĩ cẩn trọng, phân biệt cho rõ và dốc lòng thực hiện), xử lý tốt mối quan hệ “Quân thần, phụ tử, vợ chồng , côn đệ (anh em), bằng hữu”, đạt đến “chí đức”, hoàn toàn là đạo tu thân trị quốc. Còn Trung Cộng lại hoàn toàn bẻ cong nghĩa vốn có của “Trung dung” thành những kẻ khuyển nho vì bảo hộ bản thân mình mà vứt bỏ nguyên tắc

Bản gốc: http://www.epochtimes.com/gb/6/9/25/n1465288.htm

Ngày đăng: 24-11-2014