Một quyển sách
đã truyền cảm hứng cho hơn 300 triệu người
thoát khỏi Đảng Cộng sản Trung Quốc

Chương 8: Thói quen tư duy kiểu Văn hóa đảng(phần thượng)

Mục lục

1. Mọi người cảnh giác lẫn nhau, trong ngôn ngữ có ý thức tranh đấu

2. Thói quen sáng tác không tách rời đảng

========

Để hình thành nên một thể hệ văn hóa thông thường cần một khoảng thời gian dài, thế nhưng chỉ trong mấy chục năm ngắn ngủi, Đảng Cộng sản đã kiến lập nên Văn hóa đảng tại Trung Quốc, dựa vào sự  tuyên truyền với một cường độ cao bất thường, và dựa vào thực tiễn đẫm máu kinh động đến tinh thần người ta; tiêu chí cho sự thành công của việc tuyên truyền nhồi nhét này là biến người ta từ tiếp nhận tư duy Văn hóa đảng một cách bị động sang tư duy Văn hóa đảng theo thói quen. Một khi thói quen đã trở thành tự nhiên, Văn hóa đảng sẽ trở thành một phần của sinh mệnh con người, người ta cũng khó mà nhận ra được nó là một thứ ngoại lai, mà lại tin rằng nó xuất phát từ sâu thẳm tâm hồn của họ. Tư duy Văn hóa đảng đã trở thành “bản tính” của dân tộc chúng ta. Có dân tộc thích suy ngẫm, có dân tộc thích âm nhạc, có dân tộc thích sáng tạo, mỗi dân tộc có thể có các phương thức tư duy rất khác nhau, nhưng đều xuất phát từ nhân tính tự nhiên của con người. Nhưng cái “bản tính” mà Đảng Cộng sản nhồi nhét cho chúng ta lại không phải là nhân tính tự nhiên mà là đảng tính. Văn hóa đảng đã làm biến dị dân tộc chúng ta, khiến cho con người trở nên đề phòng cảnh giác khi giao tiếp với nhau, ngôn ngữ mang đầy tính tranh đấu; các sáng tác văn học, nghệ thuật đều đã hình thành một thói quen là không tách rời đảng; trong cuộc sống, người ta cảm thấy lo sợ khi họ có tư tưởng nào đó không phù hợp với quan niệm của đảng; họ nói theo thói quen ngôn ngữ văn phong dập khuôn của đảng; nhầm lẫn khái niệm đảng với chính phủ, đảng với quốc gia và đảng với dân tộc, v.v..

Kiểu tư duy Văn hóa đảng này đã thành quen thuộc đến mức tự nhiên đối với toàn xã hội, hình thành nên một kiểu “lực thói quen” ảnh hưởng đến mọi mặt tư duy, ngôn ngữ cho đến hành động của con người. Chúng tôi nhận thấy rằng, cho dù tổ chức Đảng Cộng sản có giải thể thì “thói quen tư duy” hình thành trong Văn hóa đảng cũng khó mà giải thể được, vậy thì trong tương lai Trung Quốc vẫn sẽ là một xã hội dù không có Đảng Cộng sản nhưng vẫn bị dư âm sâu sắc của Đảng Cộng sản. Nếu “thói quen” Văn hóa đảng trong tư duy, lời nói và hành động của chúng ta không thể được tẩy sạch, thì nó vẫn sẽ ảnh hưởng đến những phán đoán đúng sai, phân tích tin tức và các quyết sách của chúng ta, chúng ta có thể sẽ vẫn cảnh giác lẫn nhau, vẫn khai thác cạn kiệt tự nhiên, đấu với Trời đấu với Đất, vẫn cảm thấy “các thế lực phản Hoa trên thế giới chết hết thì mới yên tâm”, v.v.. Điều này ví như một chiếc xe hơi đang chạy tốc độ cao, cho dù động cơ của nó có cháy nổ thì nó vẫn có thể theo quán tính mà trượt thêm một đoạn dài nữa. Do vậy vào chương cuối cùng này, điều đặc biệt cần thiết là phải thanh trừ thói quen tư duy Văn hóa đảng của chúng ta.

1. Mọi người cảnh giác lẫn nhau, trong ngôn ngữ có ý thức tranh đấu

1) Mọi người cảnh giác lẫn nhau

Người Trung Quốc từ xưa đã rất hiếu khách. Khổng tử viết: “Có bạn từ xa đến, không vui mới lạ?” Thế nhưng người Trung Quốc ngày nay, nếu có người lạ muốn làm quen với bạn, bạn liền nghĩ rằng có thể họ không “vô duyên vô cớ” mà quan tâm đến bạn, đoán xem liệu người ấy có âm mưu gây rối không; trông thấy người mang theo trẻ nhỏ đến nhờ giúp đỡ, có lẽ bạn sẽ đoán rằng liệu hắn có phải “kẻ lừa đảo” định dùng đứa bé đó để lừa gạt mình không; trên đường có người gọi bạn lại nhờ giúp đỡ, bạn sẽ cảnh giác ngay liệu có đồng bọn của hắn ở gần đó không, kẻo lại tự mình chui đầu vào rọ.

Ngược lại, người Trung Quốc khi sang các nước phương Tây thì cảm nhận sâu sắc nhất chính là sự thân thiện của người dân. Đi trên đường, đến người không quen biết cũng có thể mỉm cười với bạn, chào hỏi bạn; nếu bạn bị hỏng xe dọc đường thì thường có người dừng lại hỏi bạn có cần giúp gì không; nếu bạn mang theo trẻ nhỏ thì người ta lại càng sẵn lòng giúp đỡ.

“Người quân tử biết cung kính lễ nghi, coi bốn biển đều là anh em”. Người Trung Quốc xưa rất coi trọng lễ nghi. Tại sao ngày nay ở đất nước vốn là quê hương của lễ nghi này lại không còn thấy cách cư xử nhã nhặn giữa người với người nữa, mà chỉ thấy “không thể không có tâm lý đề phòng người khác”, mang đầy tâm lý cảnh giác lẫn nhau? Kiểu tâm lý cảnh giác này không chỉ giới hạn với những người lạ, mà giữa cấp trên với cấp dưới, hàng xóm, đồng nghiệp, thậm chí là giữa bạn bè thân thiết với nhau, cũng thường có tâm lý phòng bị này. Ngay cả khi người ta đang chén chú chén anh, dốc hết tâm tình với nhau trên bàn tiệc thì họ vẫn không quên tâm lý cảnh giác, tự bảo vệ lấy mình, đề phòng người khác thay lòng đổi dạ.

Có thể nói mỗi người Trung Quốc ngày nay đều tự xây dựng cho mình một bức thành trì kiên cố bao quanh. Tâm lý cảnh giác lẫn nhau đã trở thành thói quen tư duy. Trong xã hội bình thường, người ta cũng không phải hoàn toàn không có chút cảnh giác gì, khi nhìn thấy có kẻ lét lút vụng trộm thì mang tâm lý cảnh giác cũng không có gì quá đáng. Nhưng tâm lý cảnh giác của người Trung Quốc hiện nay lại không đến từ những tín hiệu của đối phương, họ cảnh giác không phải vì đối phương biểu hiện ra sao, mà cứ nhìn thấy người là tự họ đã dấy lên tâm lý cảnh giác, họ tự giả dụ rằng đối phương có ý đồ không tốt. Ai ai gặp nhau cũng đều có tâm lý cảnh giác, đề phòng người khác, đây không phải là trạng thái bình thường của con người. Có người nói người Trung Quốc sống thật mệt mỏi. Quả đúng là như vậy.

(1) Thói quen cảnh giác là hậu quả do Văn hóa đảng gây nên

Con người đều đã từng chất phác, từng tin tưởng, chân thành với nhau. Nhưng trải qua các cuộc vận động chính trị đầy phong ba bão táp, bản thân người ta hoặc đã đấu tố người khác, hoặc bị người khác đấu tố, hoặc hôm nay đấu tố người khác ngày mai lại bị người khác đấu tố, hoặc đã nhìn thấy người này đấu tố người kia, hoặc hôm qua bị người khác đấu tố hôm nay lại đấu tố lại chính người đó, … Lịch sử của Trung Cộng suốt mấy chục năm qua là lịch sử của các cuộc đấu tranh, người người đấu tố lẫn nhau.

Người Trung Quốc xưa đời đời kế tiếp nhau, dựa trên chế độ gia tộc tự quản để duy trì các mối quan hệ giữa người với người, nhưng triết học đấu tranh của Trung Cộng đã cứng nhắc xé nát các mối quan hệ này, thay thế bằng các mối quan hệ đối lập giữa các giai cấp (quần thể) được xác lập theo địa vị kinh tế, xã hội. Người ta bắt đầu nhìn mọi người xung quanh bằng con mắt thù địch, dùng các thủ đoạn bạo lực của Đảng Cộng sản để đối xử với những người bất đồng ý kiến. Đảng tính, thú tính, tính giai cấp đã thay thế cho nhân tính, sự chuyên chính thay thế cho tình yêu thương, thù địch thay thế cho thân thiện, cảnh giác thay thế cho tin tưởng. Người ta bị buộc phải luôn luôn đề phòng với những gì bị gọi là sự “thâm nhập”, “công kích”, “phản công” của “kẻ thù”, do đó họ đã gánh vác trách nhiệm phòng bị “kẻ thù”, đồng thời họ cũng sản sinh ra tâm lý lo sợ “kẻ thù” làm tổn hại đến lợi ích thiết thân của mình. Trong một xã hội không tin tưởng vào đạo đức, không tin vào Thần Phật minh hiển, không tin vào Thiên lý, dường như chỉ suy đoán người khác bằng ác tâm, phải đề phòng người khác mới có thể đổi lại một chút cảm giác an toàn cho bản thân mình. Trường kỳ như vậy, kiểu tâm lý đề phòng kẻ thù này đã trở thành thói quen suy nghĩ trong tiềm ý thức của người ta, phòng bị người khác trở thành tâm lý thường thấy trong xã hội. Tâm lý cảnh giác với người khác có thể nói là hậu quả tất yếu của việc tín ngưỡng và đạo đức truyền thống bị đập nát và sự tiêm nhiễm quan niệm đấu tranh giai cấp của Trung Cộng.

Những trò hề đấu tố với những thủ đoạn bỉ ổi, vô nhân tính như: đặc vụ, mật báo, mách lẻo, tố giác, chỉ điểm, phản chiến, hai mặt, trung lập (tát nước theo mưa), phân chia ranh giới, “đại nghĩa” diệt thân, vợ chồng phản nhau, cha con đấu đá nhau, hàng xóm thù hận nhau, thầy trò tương đấu, nghe lén nhau (tai vách mạch rừng), v.v.. đã khiến cho tâm lý đề phòng trở thành bản năng sinh tồn của người ta.

Nếu ví tâm lý cảnh giác khi thấy người khác đấu tố lẫn nhau như một vết nứt nhỏ, thì những lời dối trá của Trung Cộng từ trên xuống dưới đã khiến cho vết nứt ngày càng sâu hơn. Xét về tâm lý học, nếu một người chân thành tin tưởng vào điều gì nhưng lại bị lừa gạt, thì sẽ gây cho người đó sự tổn thương sâu sắc về mặt tình cảm. Càng chân thành càng bị tổn thương mãnh liệt, họ càng biểu hiện ra tâm lý cảnh giác cao độ, thậm chí đi đến cực đoan, không tin tưởng bất kỳ ai. Người Trung Quốc lúc đầu đã tin tưởng vào Trung Cộng một cách mù quáng, nhưng sự trở mặt nhiều lần của Trung Cộng, sự xấu xa của những kẻ tham gia, kết cục tàn khốc của người bị hại, đã khiến người Trung Quốc bị tổn thương quá lớn về tinh thần. Bị bức hại, lừa gạt hết lần này đến lần khác, người ta đã hình thành nên một thái độ phòng bị đối với người khác theo bản năng. Người ta không còn dám tin tưởng vào bất cứ ai, làm việc gì trước tiên cũng phải hình dung ra người khác có ý đồ xấu, để nhắc nhở bản thân đề cao cảnh giác, bảo toàn tính mệnh của mình.

Tâm lý cảnh giác khiến người ta không còn tin tưởng người khác, hoài nghi tất cả. Sau khi tâm lý cảnh giác đã thành thói quen, người ta sẽ tự mình làm nó mạnh lên. Cũng có nghĩa là, “sự không tin tưởng” sẽ tạo nên tâm lý cảnh giác cao độ hơn.

Trong sách “Liệt tử” có kể một câu chuyện “Nghi ngờ hàng xóm lấy trộm rìu”. Có một người đánh mất rìu, anh ta nghi ngờ đứa con của nhà hàng xóm lấy trộm. Do đó anh ta quan sát kỹ lưỡng đứa trẻ, cảm thấy cậu ấy khi đi đường, nói năng đều có dáng vẻ giống như kẻ lấy trộm rìu, nét mặt, cử chỉ không có chỗ nào là không giống kẻ lấy trộm rìu của anh ta. Chỉ đến khi anh ta tìm lại được rìu của mình, lúc đó mới nhìn lại đứa con nhà hàng xóm, cảm thấy cậu ấy đi đường, nói chuyện, thái độ biểu đạt đều không giống kẻ lấy trộm rìu một chút nào.

Trung Cộng đã bồi dưỡng cho chúng ta một kiểu thói quen tư duy thế này: đầu tiên thấy mọi người không ai đáng tin, thế giới này đều không có người tốt, sau đó đứng trên lập trường giả định này để tìm kiếm chứng cứ. Lúc đó chúng ta cũng giống như người bị mất rìu, nhìn người khác bất luận thế nào đều không đáng tin. Văn hóa đảng là một kiểu văn hóa hoài nghi, “hoài nghi tất cả” đã trở thành tư tưởng chủ đạo trong tư duy và giao tiếp giữa con người, nó còn đề xướng, cổ xúy cho việc cảnh giác lẫn nhau. Câu trả lời của Karl Marx khi Jenny – con gái ông đến thăm có thể nói là “sặc mùi” Văn hóa đảng: “Lý giải về hạnh phúc – đấu tranh; màu sắc ưa thích – màu đỏ; lời răn dạy ưa thích – hoài nghi tất cả”.

Đấu tranh và dối trá mới chỉ là nhân tố hình thành bề ngoài của tâm lý cảnh giác. Đào sâu vào các tầng thâm sâu của quá trình hình thành nên Văn hóa đảng, chúng ta mới có thể thấy được tâm lý cảnh giác này đã được hình thành như thế nào. Trung Cộng phá hủy tín ngưỡng dân tộc, phủ nhận Văn hóa truyền thống, nhồi nhét triết học đấu tranh, tuyên truyền sự vĩ đại của Marx-Lenin-Mao Trạch Đông. Sau khi tất cả tín ngưỡng truyền thống bị phá hủy thông qua các cuộc vận động tạo Chúa của Trung Cộng, người ta đã bị tổn thương sâu sắc về tâm lý đến nỗi không dám tin vào bất cứ điều gì. Tất cả điều này đã tạo thành tâm lý cảnh giác cao độ khiến người ta không thể bài trừ được.

 (2) Sự kế thừa tâm lý cảnh giác

Có lẽ có người cho rằng bản thân mình chưa từng trải qua các cuộc vận động như thế, bây giờ có vẻ như không ai còn nhắc đến đấu tranh giai cấp như trước kia nữa. Nhưng trên thực tế, cơ chế xã hội tạo nên cho người ta thói quen cảnh giác thì vẫn tồn tại, mỗi thành viên trong xã hội đều không tránh khỏi bị nó ảnh hưởng.

Trên các kênh truyền thông miệng lưỡi của Trung Cộng, lúc nào cũng có thể đập vào mắt người ta những từ ngữ như: “nhận thức thanh tỉnh”, “đề phòng chặt chẽ”, “cảnh giác cao độ”, “phê bình nghiêm khắc”, “thế lực phản động”, “kẻ thù luôn muốn tiêu diệt chúng ta”, “khắc phục tư tưởng chủ quan, lơ là” v.v.. mọi thời khắc đều kích động tâm thái đấu tranh của người ta.

Cha mẹ hiện nay cũng dùng những bài học mà mình đã từng trải qua trong các cuộc vận động chính trị, để giáo dục đến nơi đến chốn cho thế hệ trẻ phải biết đề cao cảnh giác, khiến cho tư duy cảnh giác này được “kế thừa” đời đời. Bạn bè cũng thường xuyên nhắc nhở nhau: “Anh phải cẩn thận với người XX nào đó”, khiến cho ký ức về tâm lý cảnh giác càng được khắc sâu thêm, hiệu ứng của nó trong cuộc sống càng được khuếch trương.

Văn hóa tố cáo, mách lẻo lẫn nhau do Trung Cộng tiêm nhiễm, đến nay không những không mất đi, ngược lại còn tinh xảo hơn. Trẻ con từ khi học mẫu giáo, tiểu học đã bắt đầu được khuyến khích rằng bản thân chúng có thể có lợi thế hơn thông qua việc tố cáo người khác. Khi vào đại học, để được vào đảng và có được công việc tốt, các sinh viên dùng hình thức tố cáo lẫn nhau để thể hiện thái độ “cầu tiến”, quan hệ tốt với người phụ đạo. Trong đơn vị công tác, người phản lại lãnh đạo ghê gớm nhất lại thường là những “kẻ do thám” được chính lãnh đạo bổ nhiệm, cho rằng cấp dưới thân cận nên bớt đề phòng cảnh giác, mở rộng lòng thổ lộ những điều chân thật.

Tổ chức đảng của Trung Cộng có mặt khắp mọi nơi, kiểm soát mọi lĩnh vực. Từ báo giấy, tạp chí đến mạng Internet, từ học tập, làm việc đến cuộc sống sinh hoạt, khống chế, thao túng mọi mặt của xã hội. Nhất cử nhất động của người ta đều nằm dưới tầm giám sát của nó. Cuộc đàn áp ngày 4 tháng 6, các cuộc bắt bớ những người khiếu kiện, các cuộc đàn áp những người bất đồng ý kiến, cuộc bức hại đối với các đoàn thể tín ngưỡng, v.v.. đã nói lên rằng tư tưởng đấu tranh giai cấp của Trung Cộng vẫn được vận hành mọi nơi mọi lúc. Nhất là trong cuộc đàn áp Pháp Luân Công, nó đã dùng đến thủ đoạn phê phán, rợp trời dậy đất, huy động toàn dân tham gia, ai ai cũng phải qua kiểm tra, ai ai cũng phải bày tỏ thái độ, như vậy chẳng giống với cuộc Cách mạng Văn hóa là gì?

Hậu quả tất yếu của sự dối trá và hủ bại của chính quyền Trung Cộng, chính là khiến cho đạo đức xã hội ngày càng trượt dốc. Mà sự trượt dốc của đạo đức xã hội càng thúc đẩy người phải đề cao cảnh giác. Văn hóa đảng khiến người ta cảnh giác lẫn nhau đã thấm sâu vào tâm lý của người dân trăm họ, thể hiện ở tư duy và hành động của họ, họ lúc nào cũng mang tâm phòng bị người khác, lúc nào cũng phải phỏng đoán xem người ta có “rắp tâm” gì, lúc nào cũng lo lắng bị người khác “lợi dụng”. Một vị giám đốc người Hoa ở nước ngoài đã đến Trung Quốc vài năm trước để khảo sát, sau khi trở về đã cảm khái nói rằng: “Xã hội Trung Quốc đã trở nên cực kỳ phức tạp, người dân không còn giữ chữ tín và đạo đức nữa. Đối với bất kỳ ai mà nói, không có sự việc nào là đáng tin. Người với người  lừa dối nhau, chính phủ không tin nhân dân, nhân dân cũng không tin chính phủ, pháp luật không được thực thi. Đối với quốc gia thì tình trạng xã hội như vậy có phải là việc tốt không?

Một quá trình hình thành thói quen có thể phân thành ba giai đoạn, một là giai đoạn bị thế lực bên ngoài cưỡng ép làm một cách không tự nguyện, hai là giai đoạn tự giác hình thành nên các phản xạ có điều kiện một cách liên tục gia tăng, ba là giai đoạn phản ứng như là thói quen bản năng hoàn toàn từ bên trong. Toàn bộ tâm lý cảnh giác của người Trung Quốc ban đầu là do bị Trung Cộng cưỡng ép tuyên truyền và kích động, sau đó bị tăng cường lên qua các lần vận động chính trị, đến ngày nay, tâm lý cảnh giác của người ta đã hoàn toàn trở thành bản năng, tự động, không cần giám sát, cũng không cần sự nỗ lực của ý chí, nó là một thói quen tư duy rất tự nhiên.

 (3) Hậu quả của tâm lý cảnh giác

Tâm lý cảnh giác theo tư duy Văn hóa đảng đã khiến người Trung Quốc sống rất nặng nề. Cảnh giác có thể giúp người ta tạm thời bảo vệ mình hoặc giúp ích đôi chút, nhưng về lâu dài, vốn dĩ người ta có thể đối xử với nhau chân thành, tin tưởng lẫn nhau, sống nhẹ nhàng thanh thản thì nay lại phải luôn cảnh giác cao độ, nơm nớp lo sợ, đề phòng mọi thứ. Tâm lý cảnh giác này khiến họ cảm thấy mọi người đều là thù địch, đến những người thân yêu nhất bên cạnh mình cũng không dám tin tưởng hoàn toàn. Lâu dần làm cho chất lượng cuộc sống giảm sút nghiêm trọng, khó mà cảm nhận được niềm vui do sự tin tưởng và thanh thản mang lại, tỷ lệ mắc bệnh tâm thần và các loại bệnh tâm lý khác ngày càng gia tăng. Theo tính toán của các chuyên gia tâm thần học, Trung Quốc hiện nay có ít nhất 100 triệu người mắc các loại bệnh về tâm thần.

Trên chiến trường phải giữ cảnh giác là chuyện bình thường, nhưng trong cuộc sống thường nhật mà tâm lý lúc nào cũng căng thẳng, đề phòng người khác, thì đây không phải là cuộc sống của người bình thường. Tình trạng “mọi người cảnh giác lẫn nhau” này không hề tồn tại ở một xã hội bình thường. Ở rất nhiều nước, toàn xã hội đều khuyến khích phẩm chất trung thực, giữa người với người không cần phải câu nệ nhiều, không cần nhọc sức mà đi dò la người khác, quan hệ con người rất đơn giản, người ta cho rằng làm người phải sống thoải mái, nhờ đó mọi người đều có thể đạt được rất nhiều lợi ích. Tư duy cảnh giác cũng khiến người Trung Quốc rất khó hợp tác với nhau, do thường phát sinh nhiều mâu thuẫn. Đối với toàn xã hội mà nói, cái giá phải trả cho tâm lý cảnh giác quả là khó mà tính toán được.

Cảnh giác khiến người ta không tin vào bất cứ điều gì, tất nhiên ngoài việc không tin vào tất cả những gì ngoài thể chế của Trung Cộng ra thì ngay đến chân tướng của sự việc họ cũng không tin. Khi sự thực mà Trung Cộng vốn che đậy được tiết lộ và trở lại như cũ, người ta cũng vẫn giữ một thái độ hoài nghi, không tin, do đó lại khiến sự tuyên truyền giả tạo, sự thao túng và lừa dối của Trung Cộng phần lớn trở thành hiện thực.

Tâm lý cảnh giác cũng tạo thành trở ngại trong quan hệ giữa Trung Quốc với quốc tế. Việc Trung Cộng kích động tâm lý cảnh giác và thù hận với bên ngoài, không chỉ khiến các nước khác khó mà có cảm giác tin tưởng Trung Quốc, mà cũng không thể giúp Trung Quốc thực sự hội nhập thế giới. Mang theo cái nhìn thù địch, coi người khác đều là “thế lực phản động”, thì làm sao hiểu được chính xác thông điệp của người khác, làm sao hợp tác với các quốc gia trên thế giới đây?

Người ta có thể cho rằng, nếu tôi không đề phòng người khác, không tự bảo vệ mình, thì chẳng phải người khác sẽ coi tôi là đồ ngốc mà lừa bịp hay sao? Quả thực, ai dám thực sự là người đầu tiên từ bỏ sự cảnh giác đây? Có người ví von điều này với việc đứng kiễng bằng đầu ngón chân. Nếu mọi người đều đứng kiễng chân lên để xem kịch thì rất mệt mỏi, nếu mọi người cùng hạ chân xuống thì đều sẽ cảm thấy thoải mái mà vẫn có thể nhìn rõ. Thế nhưng không ai tin ai, nếu tôi hạ chân xuống mà người khác không hạ thì tôi không nhìn được gì, chẳng phải là chịu thiệt à?

Đi tìm đáp án từ Văn hóa đảng là điều không thể, bởi vì tâm lý “mọi người cảnh giác lẫn nhau” là do Văn hóa đảng tạo thành. Chỉ có giải thể Trung Cộng mới có thể xóa đi hoàn cảnh tạo nên tâm lý cảnh giác. Người ta sau khi thoát khỏi bức hại và tấn công của Đảng Cộng sản thì mới có thể được tự do tín ngưỡng, mới dần dần phục hồi các quan niệm truyền thống của Trung Quốc như nhân – nghĩa – lễ – trí – tín. Như vậy tự nhiên sẽ có người tự nguyện lựa chọn việc hạ chân xuống, chỉ khi con người đối đãi thiện với nhau, nói lời chân thật với nhau, mới có thể khiến cho đạo đức toàn xã hội thăng hoa, từ đó quay trở về trạng thái xã hội bình thường.

2) Ngôn ngữ mang ý thức tranh đấu

Năm 2001, một học giả về ngôn ngữ ở Trung Quốc Đại lục đã tiến hành một cuộc điều tra về các từ ngữ đang thịnh hành trong giới trẻ, những từ ngữ có tính đả kích sâu cay như “độc ác”, “ngớ ngẩn”, “biến thái” cũng được liệt kê vào 10 từ ngữ thịnh hành, thật ngạc nhiên là xếp vị trí thứ hai là từ “đi chết đi”.

Ngôn từ có tính tranh đấu không chỉ tồn tại ở giới thanh thiếu niên. Đến nay mọi mặt trong cuộc sống của người Trung Quốc đều tràn ngập những ngôn từ như vậy. Ví dụ, trên áo phông cũng in chữ “Đừng có chọc tôi, anh sẽ phiền phức đấy”; các ca từ cũng cổ động “Khi nào cần ra tay thì phải ra tay”; tên sách lại đặt là “Trung Quốc có thể nói không”; mấy chục nghìn fan hâm mộ bóng đá trên khán đài đồng thanh hô to: “XX ngu ngốc”; “Mày thần kinh à?” “Mày uống nhầm thuốc rồi?” “Não mày bị úng nước rồi?” những thể loại ngôn từ như vậy đâu đâu cũng có thể nghe thấy.

Trong cuộc sống thường ngày, rất nhiều người đã tận mắt chứng kiến sự việc như thế này: vấn đề thảo luận không phải là việc cần thảo luận, mà là việc đả kích người khác, lấy những điểm không tốt của người khác ra mà nói, việc chính thì không xử lý được. Lời nói hàm ý chế nhạo, ngôn từ gay gắt cay nghiệt, đầy tính công kích, không đếm xỉa gì đến cảm giác của người khác. Gặp sự việc gì cũng không bình tĩnh và nói lời có đạo lý, mà là phải tranh nhau cái khẩu khí đã, có khi cũng không buồn nghĩ đến những quan điểm khác nhau của người khác, dù thế nào cũng phản đối trước đã mới thấy thỏa nguyện. Kiểu ngôn ngữ đã toát lên ý thức về đấu tranh một cách không tự biết này, trong cuộc sống đâu đâu cũng gặp.

Khi đi mua vé ở nơi công cộng, đang đứng xếp hàng, có thể không biết từ đâu đột nhiên xuất hiện một vài người đứng chen vào. Nếu như bạn nói: “Xin anh hãy xếp hàng một chút”. Rất có thể người ta sẽ quay ra nhìn bạn hằm hằm, lạnh lùng nói một câu: “Việc gì đến mày! Đồ thần kinh!” Đi bộ trên đường không may đụng phải người khác, đang định xin lỗi thì một giọng the thé đã vang lên “Không có mắt à?” Khi nhìn thấy hai người cãi cọ nhau, người bên cạnh có khi không những không khuyên giải, lại còn đổ thêm dầu vào lửa: “Cứ làm tới đi!” Giữa bạn bè với nhau lúc trêu đùa cũng nói: “Đợi lúc nào đánh chết cậu đi”.

Khi cha mẹ giáo dục con cái, ngôn ngữ lại càng lạnh lùng, không kiêng nể gì, sẵn sàng thượng cẳng chân hạ cẳng tay. “Đã nói rồi, tan học về việc đầu tiên là phải làm bài tập. Bây giờ tốt rồi, bài tập làm không xong, đợi xem cô giáo ngày mai phạt thế nào!”. “Mày xem xem đứa XX nhà ấy, lúc nào cũng giỏi hơn mày.” “Còn khóc à, chỉ biết khóc thôi à? Có khóc cũng không ai giúp đâu”. “Con không chịu nghe lời, vậy thì đợi thi kiểm tra xong chúng ta sẽ tính sổ.” “Mày đợi đấy, tao sẽ cho mày một trận”. “Đồ thỏ đế, không trị nổi người khác, tao còn không trị nổi mày sao?”

Người Đài Loan phát hiện ra rằng, người Trung Quốc Đại lục nói chuyện, thường có thói quen dùng câu hỏi phản bác lại, mà ngữ khí nghe rất nặng. “Sao có thế này mà cũng không biết à?” “Tự mình không nhận ra à?” “Không trông thấy tôi đang bận sao?” “Ai nói vậy?” “Tôi chẳng đã nói với cậu rồi sao?” “Sao không làm trước đi?” “Ở đâu có kiểu như cậu?” Kiểu ngôn ngữ này sặc mùi tranh đấu và mang tính trách cứ người khác, hàm ý chê đối phương “ngu ngốc”, “không bình thường”, đồng thời do sử dụng câu hỏi nên ngữ khí lại càng nặng.

Ngôn từ mang tính đấu tranh đã trở nên rất phổ cập như vậy, thế cho nên trong các loại hình văn nghệ cũng coi trọng việc đả kích bằng ngôn từ. Vài năm gần đây thịnh hành rất nhiều loại tiểu phẩm mà nội dung chủ yếu là các màn đối thoại giữa nam nữ diễn viên nhằm công kích, lăng mạ, nói xấu, phàn nàn lẫn nhau, mà họ lại trở thành những nhân vật chính trong tiểu thuyết, phim điện ảnh, truyền hình, rất nhiều nhà văn coi chua ngoa là sâu sắc, các diễn đàn trên mạng càng trở thành mảnh đất của các thứ ngôn ngữ chua cay này. Nông dân, người nghèo, người tàn tật, người xấu xí, người có trình độ học vấn thấp, v.v.. đều trở thành đối tượng bị người ta công kích, dè bỉu.

Trong một xã hội bừng bừng khí thế cạnh tranh khốc liệt này, trong cuộc thi “giọng ca nữ siêu đẳng” từng thịnh hành một thời ở Trung Quốc Đại lục, ban giám khảo đã nói với các nữ thí sinh những lời như thế này: “Sai nhạc rồi! Cô thực sự không biết rằng mình đang hát sai nhạc à?”, “Cô đúng là chẳng có chút tố chất âm nhạc cơ bản nào”, “Đúng là một sự sỉ nhục cho thể loại dân ca”, “Cô hát mà không khác gì nói chuyện”, “Nếu cô chăm chỉ học tập thì còn có tương lai, chứ theo nghiệp ca hát thì chỉ có đường chết”, “Đừng có làm cho các thí sinh sau cô phát sợ”, “Người khác hát thì thỉnh thoảng mới sai nhạc, còn cô hát thì thỉnh thoảng mới không sai nhạc”, “Bỏ tiền cho cô học nhạc thật là lãng phí”, “Cô còn trẻ mà cứ như oán phụ vậy”. Những câu nói như vậy đã trực tiếp đánh vào lòng tự tôn của người khác, không còn sự tôn trọng tối thiểu nào đối với họ, nhưng lại được thể hiện một cách lộ liễu trên truyền hình, phát sóng đến hàng triệu khán giả, mà người ta lại trở nên quen thuộc, không cảm thấy có gì bất bình thường, thậm chí còn say sưa hưởng ứng.

Kiểu ý thức đấu tranh này của người Trung Quốc không chỉ thể hiện ở ngôn ngữ có tính đấu tranh. Trong ngôn ngữ thông thường cũng tràn ngập ý thức đấu tranh. Khi người ta thảo luận một vấn đề với nhau, thường là không dựa trên thái độ xây dựng, không đứng trên quan điểm tích cực để cùng nhau giải quyết sự việc tốt đẹp, mà lại đứng trên lập trường phản bác lại, cái này không đúng, cái kia không được, kiểu gì thì người khác cũng không thông minh bằng mình, cho dù bản thân mình định làm thế nào vẫn chưa nghĩ tới, thì cũng phải thể hiện bản thân cao hơn người khác, có tầm nhìn xa trông rộng.

Một thế hệ cũ người Trung Quốc đã bị đầu độc bởi Văn hóa đảng suốt một thời gian dài, thế hệ trẻ từ nhỏ đã lớn lên trong môi trường như vậy, mọi người đều tưởng rằng người Trung Quốc từ xưa đến nay đều nói chuyện như vậy, nên cũng không cảm thấy cách nói đó có gì không đúng, không hay. Thực ra người Trung Quốc xưa coi trọng lễ giáo ôn hòa lễ độ, ngôn từ dịu dàng, đôn hậu, tin tưởng vào những tiêu chuẩn làm người “nhân lễ nghĩa trí tín”, chú trọng thái độ “ôn lương cung kiệm nhường” khi xử lý công việc, thái độ và ngôn ngữ rất khác biệt so với người Trung Quốc ngày nay. Ở các nước phương Tây, thái độ và hành vi của con người chịu sự ước chế mạnh mẽ của tôn giáo, đạo đức, pháp luật và đạo đức nghề nghiệp, ngôn ngữ có tính đấu tranh chỉ được giới hạn sử dụng trong các trường hợp như ở tòa án, hay tranh luận với các ứng cử viên, trong cuộc sống hàng ngày người ta nói chuyện khiêm tốn nhún nhường, toàn bộ xã hội được đặt trong trạng thái ôn hòa. Ngôn ngữ của toàn dân đều mang ý thức đấu tranh, mà lại là ý thức đấu tranh mạnh mẽ, hiện tượng này chính là đặc trưng của Văn hóa đảng.

(1) Nguyên nhân của ý thức đấu tranh trong ngôn ngữ

Cũng như “mọi người cảnh giác lẫn nhau”, “ngôn ngữ mang ý thức đấu tranh” cũng là sản phẩm của triết học đấu tranh và thực tiễn đấu tranh của Trung Cộng. Trong mắt Trung Cộng thì bạo lực là một phẩm chất không có gì phải bàn cãi. Triết học đấu tranh của Trung Cộng thông qua sách giáo khoa, các chương trình truyền hình, các tiết mục văn nghệ, ca khúc, truyện ngắn v.v.. đã thâm nhập một cách vô thức vào trí óc và tâm hồn của các thế hệ người dân Trung Quốc. Hành vi của người ta là do tư tưởng quyết định, nếu tư tưởng bị nhồi nhét vào những thứ như bạo lực, thù hận, thì lời nói và hành vi mà người ta biểu hiện ra tất nhiên cũng mang theo bạo lực và thù hận. Cho nên ý thức đấu tranh trong ngôn ngữ của người Trung Quốc chính là thể hiện của triết học bạo lực, văn hóa bạo lực và thực tiễn bạo lực của Trung Cộng đã trở thành phản ứng bản năng của con người. Trong cuộc sống và giáo dục suốt mấy chục năm, tư tưởng và hành động người dân đã bị hun đúc bởi tinh thần đấu tranh đó, mà di chứng để lại của nó là rất rõ ràng.

Trong các cuộc vận động chính trị lặp lại cứ 7, 8 năm một lần cũng tràn đầy các ngôn từ bạo lực. Trên các phương tiện thông tin của Trung Cộng, người ta thường nghe thấy những từ có tính đả kích mạnh mẽ như “phê phán”, “đấu tranh”, “đả đảo”, “đập nát”, “quét sạch”, “yêu ma quỷ quái” v.v.. Kiểu ngôn từ bạo lực này được sử dụng rộng rãi trong các bài xã luận, bình luận, phê bình văn chương trên báo chí,…. Ví dụ như nào là “chặt đứt móng vuốt của XX”, “ai dám phản đối chủ nghĩa xã hội, chúng ta sẽ đập nát xương của chúng”, “XX sẽ không có kết cục tốt đẹp”, “chiên rán, hỏa thiêu, lột da, rút gân”, “dẫm đạp lên hắn, khiến cho hắn cả đời này không ngóc đầu lên được”, v.v.. đều là những từ ngữ đầy rẫy bạo lực, uy hiếp, đe dọa, sặc mùi thuốc súng. Kiểu ngôn ngữ này hoàn toàn phù hợp với nhu cầu của kẻ độc tài muốn hăm dọa người dân, muốn tạo nên các công cụ khủng bố để thuần phục người dân. Tràn ngập trên các phương tiện thông tin, văn kiện, sách giáo khoa, tác phẩm văn nghệ, thẩm thấu vào cuộc sống hàng ngày của người dân, những từ ngữ này đã khiến cho ngôn ngữ của người Trung Quốc bị cải biến rất nhiều.

Khi Trung Cộng phát động các cuộc đấu tranh chính trị tàn khốc, tính tà ác trong đấu tranh của người ta bị kích động lên. Những kẻ độc ác nhất, không từ thủ đoạn nào để công kích, miệt thị, hãm hại người khác, những kẻ rất giỏi quy kết tội danh cho người khác, thêm mắm thêm muối, trung thành với đấu tranh giai cấp, đâm sau lưng người khác, thường được lãnh đạo và “tổ chức” trọng dụng, có cơ hội thăng tiến vùn vụt; còn những người bị tố cáo, bị công kích mà không tự biện hộ được thì thường có kết cục bi thảm. Để tránh rơi vào hoàn cảnh bị động như vậy, người ta đã cố gắng làm cho ngôn từ của mình có bản lĩnh hơn, khiến bản thân trở nên khéo ăn khéo nói, có thể nhanh chóng phản bác lại người khác bất cứ lúc nào. Ngày nay, “to mồm cũng là một loại bản sự”, điều này đã trở thành bản năng trong tiềm thức của họ.

Ý thức đấu tranh trong ngôn từ phản ánh cảm giác mất an toàn sâu sắc của con người khi sống trong Văn hóa đảng. Trong một xã hội bình thường, người ta tin tưởng vào lời giáo huấn của người xưa “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (Việc mình không muốn, đừng làm với người khác), không có ý đồ xấu với người khác, cũng không cần phải lúc nào cũng đề phòng người khác, tâm lý ổn định vững vàng, càng không dùng ngôn từ để tranh đấu với người khác. Nhưng Văn hóa đảng khiến người ta trở nên lúc nào cũng lo lắng rằng bản thân bị ức hiếp, chịu thiệt thòi, do đó phải dùng hành động hoặc ngôn ngữ để chiến thắng người khác, mong có được cảm giác an toàn. Trung Cộng tuyên truyền “học thuyết Darwin” cá lớn nuốt cá bé, kẻ yếu nhược cũng giống như thực vật bậc thấp trong chuỗi tiến hóa trở thành thức ăn cho động vật, chỉ có kẻ mạnh giống như động vật bậc cao trong chuỗi tiến hóa mới được an toàn nhất. Tư tưởng này đã biến mối quan hệ vốn dĩ hài hòa giữa con người với nhau trở thành mối quan hệ đấu tranh. Trong đấu tranh thì việc có giành được thắng lợi hay không đã trở thành tiêu chí quan trọng để người ta đánh giá mức độ an toàn của bản thân. Do đó trong cuộc sống hiện nay, người ta cho rằng khả năng lấn át được người khác là thể hiện của sự năng động, nhanh nhẹn, sự thông minh tài trí hơn người. Người ta thấy mình cao hơn người khác một cái đầu, mình mạnh hơn người khác, và rồi trong lòng cảm thấy dương dương tự đắc.

 (2) Sự kế thừa ý thức đấu tranh

Có lẽ rất nhiều người tưởng rằng lịch sử đấu tranh đã qua đi, nhưng phương thức tư duy của con người một khi đã hình thành thì rất khó thay đổi. Mặt khác, hệ thống ngôn ngữ có tính cố định. Để hình thành nên một hệ thống ngôn ngữ phải qua một thế hệ thanh niên để hình thành nên thói quen ngôn ngữ của họ. Nói một cách khác, quá trình mà đứa trẻ học nói chính là quá trình học một phương thức sử dụng ngôn từ, cũng là quá trình học một phương thức tư duy. Trong các cuộc đấu tranh chính trị trường kỳ, cha mẹ, thầy cô và toàn xã hội đã hình thành nên một tâm thái đấu tranh, nó đã thể hiện ra thành một biến thể khác trong thế hệ trẻ. Trẻ con ngày nay từ nhỏ đã coi trọng sự giàu sang, coi thường người nghèo, tâm đố kỵ mạnh mẽ, đều là biểu hiện của tâm lý đấu tranh. Suy nghĩ kỹ một chút chúng ta sẽ phát hiện ra rằng, “ý thức đấu tranh trong ngôn ngữ” giống như sợi chỉ xuyên suốt trong lịch sử mấy chục năm thống trị của Trung Cộng.

Chúng ta có thể phân các từ ngữ mang tính đấu tranh thành những thể loại như sau:

Thể loại kẻ mạnh thắng kẻ yếu

Ví dụ 1: “Chả trách gần đây xảy ra nhiều hiện tượng kỳ lạ phe cánh tả và cánh hữu cùng tụ tập hô hào tạo phản. Nói cho các người biết, ngọc trai không thể lẫn lộn với mắt cá được. Chúng ta chỉ cho phép cánh tả tạo phản, không cho phép cánh hữu tạo phản. Các người dám cả gan tạo phản thì chúng ta sẽ lập tức trấn áp. Đây là lo-gic của chúng ta. Dù sao thì bộ máy nhà nước cũng ở trong tay chúng ta”. (Báo Hồng vệ binh Trung học thuộc Trường đại học Thanh Hoa, năm 1966)

Ví dụ 2: “Tôi là công chức, đánh hắn thì có sao, đánh bị thương thì trả 100.000 tệ, đánh chết thì trả 200.000 tệ” (Cuộc xung đột quy mô lớn hàng vạn người xảy ra tại Vạn Châu, Trùng Khánh năm 2004, khởi đầu có một người tự xưng là công chức đã gây ẩu đả với một công nhân chẳng may quệt cái đòn gánh vào người vợ ông ta. Câu nói này đã châm ngòi cho cuộc xung đột).

Ví dụ 3: “Ai bảo anh không may sinh ra ở Trung Quốc cơ chứ?” (Cuối năm 2005, Hà Tộ Hưu trả lời phỏng vấn báo chí, khi nhắc đến các vụ tai nạn do khai thác khoáng sản xảy ra liên tiếp ở Trung Quốc, ông ta đã nói câu này)

Các ví dụ khác như “Thiêu đốt Đài Loan thành mảnh đất khô cằn” v.v.. Cách nói này là điển hình cho thái độ kẻ mạnh lấn át kẻ yếu.

Đố kỵ điên cuồng

Ví dụ: “Cái mà giai cấp vô sản mất đi chỉ là xiềng xích; nhưng họ sẽ có được cả thế giới.” (Trích từ “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”. Câu nói này thể hiện điển hình cho tính lưu manh của giai cấp vô sản: muốn biến toàn thế giới trở thành một mớ hỗn loạn, lúc đó “người vô sản” mới có thể nước đục bắt cá, làm giàu trong một đêm)

Còn nhiều ví dụ hơn nữa: “Có gì mà tài giỏi cơ chứ?” (ý nghĩa là không tài giỏi chút nào cả), “Mới mẻ nhỉ” (ý là chẳng có gì mới mẻ cả), “Năm mới thì nhà ai chả làm cỗ” (người khác gặp việc tốt hoặc có được thành tích gì, cũng chỉ như là năm mới thì nhà ai cũng sắm sửa nhiều hơn một chút, chẳng có gì hệ trọng, chẳng có gì đáng ngưỡng mộ cả), “Anh thì giỏi đấy” (ý là không có gì phải mang ra khoe khoang cả, thực ra tôi còn giỏi hơn anh).

Thể loại đối đầu

Ví dụ: “Anh không đánh thì hắn không ngã đâu”; “Gió đông đã thổi, trống trận đã vang lên, thế giới này rốt cuộc là ai sợ ai đây?”, “Tôi sẽ quyết chiến với hắn một phen”, “Muốn đấu với tao à? Mày sẽ không có kết cục ra gì đâu” .v.v..

Thể loại chê mình chê người (kẻ ác xoay chuyển tình thế)

Người sử dụng chiến lược này đầu tiên sẽ nói xấu bản thân mình (hoặc bất cứ ai) không ra gì, sau đó bắt đầu ra tay đả kích đối phương, mà không phải lo lắng đối phương sẽ phản kích lại. Sự tinh vi của chiến lược này là ở chỗ, người nói đặt mình vào vị trí đạo đức thấp nhất, nhưng lại tương đương với việc mình có quyền được nói nhất.

Ví dụ, khi có người dùng những chuẩn tắc đạo đức để phê phán Trung Cộng, Trung Cộng thường biện hộ rằng: “Trong xã hội giai cấp, đạo đức đều phải phục vụ cho giai cấp thống trị”, nói một cách khác, “Đạo đức, nhân quyền, tín ngưỡng tôn giáo, tự do tín ngưỡng ở các nước tư bản đều là dối trá, đều để phục vụ cho giai cấp tư sản; đã đều là dối trá thì cũng đừng trách cái mà Trung Cộng gọi là đạo đức theo chủ nghĩa xã hội, tự do tin tức mang bản sắc của Trung Quốc cũng là để phục vụ cho mục đích thống trị của Đảng Cộng sản”.

Một ví dụ khác: “Tôi là lưu manh thì tôi còn sợ ai?” v.v..

Thể loại hại người mà cũng không lợi ta

Triết học đấu tranh của Đảng Cộng sản sau khi phát triển đến cực điểm thì hình thành nên một kiểu tâm lý biến thái “anh sống thì tôi chết”, “chết thì cùng chết”.

Ví dụ 1: “(Chiến tranh) hạt nhân hiện giờ nếu xảy ra thì không biết sẽ phải chết bao nhiêu người, tốt nhất là còn lại một nửa, chí ít thì cũng còn lại 1/3; 2,9 tỷ dân còn lại 900 triệu dân, sau mấy đợt kết hoạch 5 năm là lại phát triển lên thôi, đổi lại là chủ nghĩa tư bản bị triệt tiêu hoàn toàn, chúng ta mãi mãi hòa bình. Chẳng có gì xấu cả.” (Mao Trạch Đông).

Ví dụ 2: “Bất luận thế nào, Đảng Cộng sản Trung Quốc chúng ta sẽ không rút lui khỏi vũ đài lịch sử. Chắc chắn rằng Đảng Cộng sản chúng ta trên toàn thế giới thậm chí toàn trái đất này cũng không rút khỏi vũ đài lịch sử. Hiện giờ chẳng phải có lý luận về “trói buộc hạt nhân” sao? Có nghĩa là vũ khí hạt nhân đã trói buộc sự an toàn của cả thế giới lại với nhau, phải chết thì mọi người cùng chết”. (Trì Hạo Điền – Chiến tranh không còn cách xa chúng ta, nó là người đỡ đầu của thể kỷ Trung Hoa)

Những ví dụ khác: “Tôi không khá giả thì cũng khiến anh không khá giả được”, “Tôi có chết cũng không để anh sống” v.v..

Thể loại “một liều ba bảy cũng liều”

Đây là kiểu ngôn ngữ đấu tranh đến mất lý tính, tự gây khó dễ cho bản thân. Người nói chuyện kiểu này bị chi phối bởi nhận thức “phục tùng một cách mù quáng”, khi kiên trì làm điều gì, họ không quan tâm điều mà mình kiên trì làm là sai lầm, không có ý nghĩa, chưa đâm vào tường thì không chịu quay đầu, chưa thấy quan tài thì chưa đổ lệ, thể hiện kiểu thái độ mất hết lý trí, vô trách nhiệm đối với bản thân.

Ví dụ 1: “Chỉ một chút khó khăn này thì đáng gì. Cứ đóng cửa đi, đóng cửa tám hay mười năm, mọi vấn đề của Trung Quốc sẽ được giải quyết hết. Người Trung Quốc có chết cũng không sợ, vậy còn sợ khó khăn sao? …” (Mao Trạch Đông).

Các ví dụ khác: “Tôi thế đấy”, “Anh thích gì nào?”, v.v..

Từ những ví dụ nêu trên, chúng ta có thể thấy rằng, mặc dù Đảng Cộng sản có sự thay đổi về chiến lược thống trị, ngôn từ của con người cũng ngày càng đa dạng, nhưng “ý thức đấu tranh” trong đó thì vẫn còn mãi.

Cần nhấn mạnh rằng, lời nói thẳng thắn không nhất định là bao hàm ý thức đấu tranh, tục ngữ có câu “Thuốc đắng giã tật, sự thật mất lòng”, những lời nói mang thiện ý thoạt nghe có thể không dễ vào tai. Vấn đề mấu chốt là, khi người ta nói chuyện phải mang một thái độ thiện lương với người khác, còn như có chủ tâm bới móc, phá đám, khiêu khích, có ý đồ đả kích, hạ nhục người khác, đề cao bản thân thì đó là mang tính đấu tranh.

 (3) Hậu quả của ngôn ngữ đấu tranh

Ngôn ngữ đấu tranh làm tổn thương người khác. Trung Quốc có câu ngạn ngữ “lời nói có thể cởi nút thắt trong lòng”, nhưng lời nói mang đầy tính đấu tranh chỉ có thể khiến tâm hồn người ta thêm tổn thương nghiêm trọng, chỉ có thể mở đầu cho các cuộc tranh cãi. Kiểu ngôn ngữ này không những không thể cởi nút thắt trong lòng, mà còn kết thêm nhiều nút thắt khó giải nữa trong tâm người ta. Một báo cáo nghiên cứu ở Bắc Kinh năm 2006 cho thấy, giáo viên sử dụng những từ ngữ bạo lực là một hiện tượng phổ biến. 72% số học sinh phổ thông cơ sở được điều tra đã thừa nhận rằng, giáo viên sử dụng những từ ngữ không văn minh đã gây nên nhiều sự tổn thương về tâm lý. Trong một báo cáo khác, 81,45% số học sinh tiểu học được điều tra cho rằng “sự tổn thương do ngôn ngữ” là vấn đề cấp bách nhất cần được giải quyết.

Bạo lực ngôn ngữ ở một thời điểm nhất định rất dễ chuyển thành hành động bạo lực. Bởi vì sự đấu tranh bằng ngôn ngữ khiến cho người ta từ không mâu thuẫn trở thành có mâu thuẫn, từ chuyện nhỏ có thể gây ảnh hưởng đến tính mạng. Năm 2005, có một cảnh sát đến Thái Nguyên, Sơn Đông, anh ta đứng trước ngã tư đèn xanh đèn đỏ nói vài câu cửa miệng với một cảnh sát ở Thái Nguyên, người cảnh sát ở Thái Nguyên cảm thấy chịu không nổi cái khẩu khí này, anh ta liền gọi một vài người đến đánh chết viên cảnh sát ở Bắc Kinh. Một thiếu niên 14 tuổi ở thành phố Tế Ninh, Sơn Đông, chỉ vì không vừa ý với một nickname trên mạng mà chửi mắng đối phương, sau đó đối phương đổi thành một nickname của con gái để làm quen với cậu ta, tìm ra được địa chỉ quán Internet mà cậu ta đang ngồi, rồi lập tức chạy đến cho cậu ta một nhát dao dẫn đến tử vong.

Ngôn ngữ đấu tranh định hướng người ta sử dụng nhãn quang về triết học đấu tranh để nhìn nhận vấn đề. Ngôn ngữ là công cụ tư duy của con người, ngôn ngữ quen mang ý thức đấu tranh hướng người ta dùng tư duy “đấu tranh” để giải quyết vấn đề. Giống như một người ban đầu định tìm một cái bào để kiếm sống bằng nghề thợ mộc, nhưng tìm mãi chỉ được một cái rìu, cho nên chỉ còn cách làm nghề đốn củi. Xã hội Trung Quốc ngày nay, người ta hục hặc nhau đều xuất phát từ tính đấu tranh trong ngôn ngữ. Ví dụ, lãnh đạo hất hàm sai khiến nhân viên, động một chút lại nói: “Tôi không tin rằng không trị nổi cậu.” Nhân viên không phục, trong lòng nghĩ: “Xem ông có thể làm gì được tôi nào?” Cứ như vậy người ta tranh đấu qua lại với nhau.

Trong môi trường chính trị và ngoại giao, kiểu ý thức đấu tranh này thể hiện ra càng rõ rệt, hậu quả lại càng khốc liệt. Ngày 19 tháng 05 năm 2003, bên ngoài hội trường đại hội y tế thế giới, phóng viên Đài Loan hỏi: “Ông có nghe nói rằng Đài Loan cần 20 triệu người (gia nhập tổ chức y tế thế giới) không? Sa Tổ Khang – đại biểu Trung Cộng tại Liên Hợp Quốc nói bằng giọng điệu khinh thường: “Đã sớm từ chối rồi,” còn nói với vẻ ngạo mạn: “Ai quan tâm đến bọn họ.” Cũng là Sa Tổ Khang, khi bị hỏi về việc các học viên Pháp Luân Công bị giam trong các bệnh viện tâm thần và bắt tiêm các loại thuốc hủy hoại thần kinh, ông ta không do dự trả lời “Đáng đời bọn chúng.”

Lý Triệu Tinh, được mệnh danh là “ngoại trưởng hồng vệ binh”, rất nổi tiếng về thái độ ngang ngược, vô lễ khi trả lời phỏng vấn của phóng viên. Một lần một phóng viên nước ngoài hỏi ông ta về tình trạng sức khỏe của Đặng Tiểu Bình, Lý trả lời: “Sức khỏe ông ấy rất tốt,” phóng viên lại hỏi: “Đặng Tiểu Bình ở nhà hay ở bệnh viện mới có được sức khỏe tốt như vậy?” Lý trả lời: “Một người có nhận thức bình thường cũng biết rằng người khỏe mạnh thì nên ở đâu. Tôi không biết là khi anh khỏe mạnh thì anh có ở trong bệnh viện không?” Câu hỏi của nhà báo không hề có tính châm biếm hay nói máy nói móc gì, hoàn toàn có thể trả lời bằng cách không mất phong độ ngoại giao, nhưng ý thức đấu tranh của ngoại trưởng Lý đã là thâm căn cố đế, cứ gặp thời là biểu hiện ra. Lại như, Đặng Tiểu Bình nói: “Học sinh nào mà không nghe lời, chỉ cần một khẩu súng máy là giải quyết được vấn đề.” Giang Trạch Dân nói: “Tôi không tin Đảng Cộng sản không thể chiến thắng Pháp Luân Công.” Những điều này đều là phản ánh trên ngôn ngữ của thói quen tư duy đấu tranh, bạo lực, trấn áp của Đảng Cộng sản.

Thói quen sử dụng ngôn ngữ có tính đấu tranh khiến người ta không thể tiếp nhận thông tin một cách bình tĩnh, xem xét vấn đề một cách lý trí, khi thảo luận người ta chỉ chực lấn át người khác bằng ngôn ngữ, không có thiện chí khi nghe đạo lý, càng không chịu nhận sai để mà sửa.

Kiểu nói chuyện có tính đấu tranh một khi khởi lên sẽ không ngừng biến đổi theo chiều hướng xấu hơn, giống như một người thường xuyên ăn đồ ăn có mùi vị nặng, khi tuổi tác cao dần, khẩu vị của người đó sẽ ngày càng nặng. Thường xuyên sử dụng ngôn từ gay gắt, lâu dần người ta sẽ cảm thấy không đủ, lại phải đi tìm, sáng tạo ra những từ ngữ có tính kích động hơn nữa. Cứ như vậy, người ta trở nên ngày càng chai sạn đi.

 (4) Loại bỏ ý thức đấu tranh và làm trong sáng ngôn từ của chúng ta

Một người chân thành, lương thiện, khoan dung, tự tin sẽ không động một tí là hô đánh hô giết, càng không áp đảo đối phương bằng ngôn từ, nói những lời tàn nhẫn, ngụy biện, nghĩ trăm phương nghìn kế dùng ngôn từ để sỉ nhục người khác, khiến người khác xấu hổ bối rối, từ đó mà cảm thấy một tâm lý thỏa mãn. Đằng sau ngôn từ đấu tranh là sự kết hợp giữa triết học đấu tranh của Trung Cộng với tâm thái méo mó vừa tự ti, vừa tự đại và nhân cách biến dị.

Trong xã hội bình thường, người ta khi đối xử với người cùng địa vị  với mình thì nhã nhặn, lễ độ; khi đối xử với người yếu hơn hoặc người bất hạnh hơn mình thì lời nói hết sức nhẹ nhàng, ôn hòa, có tính an ủi; giữa vợ với chồng tôn trọng nhau như khách, khi giáo dục trẻ nhỏ thì hướng dẫn từng bước tỉ mỉ; khi giảng đạo lý thì cân nhắc từng sự việc, tỉnh táo lý trí, nếu sai cũng thẳng thắn thừa nhận. Đằng sau phong thái của người quân tử là tâm thái bình tĩnh, tự tin, lấy thiện đãi người.

Đề xóa bỏ đi ý thức đấu tranh trong ngôn từ, chỉ dựa vào sự nỗ lực về mặt ngôn ngữ thì không thể giải quyết được vấn đề, mà chúng ta cần phải cải biến từ căn bản tư duy đấu tranh kiểu Văn hóa đảng.

2. Thói quen sáng tác không tách rời đảng

Ngày 13 tháng 11 năm 2005, xưởng hóa chất của công ty hóa chất Cát Lâm bị nổ, sông Tùng Hoa bị ô nhiễm bởi một lượng lớn hóa chất gây ung thư, khi hóa chất ô nhiễm khuếch tán theo dòng sông, vùng hạ lưu phải lập tức đưa ra biện pháp ngăn chặn, thế nhưng chính quyền Trung Cộng lại liên tục che giấu thông tin với người dân đến gần 10 ngày sau mới thừa nhận vụ tai nạn xảy ra. Vậy mà cuối tháng đó, đài truyền hình Hắc Long Giang đã phát sóng một chương trình đặc biệt “Tình của nước” kéo dài trong ba ngày. Theo báo cáo, có sáu tiết mục đặc sắc “được sáng tác ngay trong đêm” là: biểu diễn “Nước xanh cuồn cuộn từ tám phương đổ đến”, tấu hài “Kiến thức cộng đồng”, ca khúc “Tôi muốn nói với bạn”. Ý đồ thông qua các hình thức văn nghệ đơn ca, biểu diễn, vũ đạo, tấu hài, tiểu phẩm để ca ngợi công lao của chính quyền tỉnh trong xử lý tai nạn bất ngờ này, ca ngợi chính quyền có tầm nhìn xa trông rộng, hết lòng vì dân, nhấn mạnh sự chấp hành mệnh lệnh của người dân, v.v..

Biến việc tai ương thành việc ăn mừng, biến người dân bị hại thành vai phụ để đề cao vai chính là Trung Cộng, đó là điều thật khó tin đối với người dân ở một xã hội bình thường, vậy mà dưới sự thống trị của Trung Cộng, người dân Trung Quốc lại trở nên quen thuộc với điều đó. Kiểu tư duy sáng tác này không chỉ thể hiện ở các tác phẩm văn nghệ, mà còn thể hiện trên báo chí, các kênh tin tức phát sóng. Ví dụ sau khi tai họa trên xảy ra, các tin tức trọng điểm trên mạng của tỉnh Hắc Long Giang – vùng Đông Bắc – đều liên tiếp đăng về “Học sinh trung học, tiểu học tranh thủ thời gian nghỉ học do mất nước để đến hiệu sách đọc sách”, “Các cán bộ thành phố Cáp Nhĩ Tân mang nước tặng mọi người trong những ngày mất nước”, “Cảnh sát vũ trang trung đoàn Hoàng Kim tặng nước cho khu chung cư của người cao tuổi”, “Trong thời gian mất nước, không một bệnh viện nào giảm cung cấp cháo và canh cho bệnh nhân.”, “Cáp Nhĩ Tân khai thông đường ống nước chuyên biệt để cung cấp nước đảm bảo cuộc sống của người tàn tật”… Nói tóm lại “nhìn bề ngoài thì rất tốt đẹp”, thậm chí còn tốt hơn cả khi chưa xảy ra tai nạn, mục đích để ca ngợi “chính quyền tỉnh luôn lấy dân làm gốc”.

Sau bốn ngày thành phố Cáp Nhĩ Tân ngừng cấp nước, vào ngày đầu tiên nước được cung cấp trở lại, tỉnh trưởng tỉnh Hắc Long Giang đã uống ngụm nước đầu tiên trước mặt người dân, phóng viên mạng Tân Hoa đã có “sáng ý” lăng xê một bài thơ mà một người dân thường sáng tác để ca tụng công lao của đảng, thể hiện rằng sự tán dương này xuất phát từ nguyện vọng của người dân. Trong bài báo cáo “Tỉnh trưởng tỉnh Hắc Long Giang uống ngụm nước đầu tiên, người dân làm thơ ca ngợi”, trước khi tỉnh trưởng uống nước ông ta còn nói rằng “Lời nói của tôi không đáng kể gì, chỉ có lời của Đảng Cộng sản mới có giá trị, lời nói của nhân dân và chính phủ mới có giá trị.” Câu nói này đã lộ rõ dụng ý của sự kiện tỉnh trưởng uống nước, cứ như thể là việc làm trước đó của chính quyền nhằm giấu giếm sự thật về tai họa này không phải do Trung Cộng chỉ đạo. Sau sự kiện tỉnh trưởng uống nước lập tức có một người dân viết bài thơ ca ngợi “Yên tâm uống một chén nước; Trong tim hạnh phúc ngập tràn; Đảng mang yên vui, ấm áp cho mọi nhà; Nhân dân đắm mình trong ánh hào quang của đảng”. Kết thúc báo cáo có đoạn: “Trong căn phòng nhỏ, tất cả mọi người cùng đứng dậy cất tiếng cười vui vẻ, những lo lắng về sự ô nhiễm của dòng sông Tùng Hoa suốt bốn ngày qua bỗng chốc tan biến như mây khói bởi những tiếng cười thoải mái.” Một tai nạn gây ô nhiễm nghiêm trọng ảnh hưởng đến tính mệnh của hàng chục triệu người dân vậy là đã “tan như mây khói”. Kết luận là người dân gặp hoạn nạn, thật may là nhờ sự giúp đỡ của “đảng” mới qua khỏi.

Thói quen sáng tác trong Văn hóa đảng này không tách rời tư duy của đảng, trong mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau, đối với mỗi nhóm người khác nhau đều có những nguyên nhân phức tạp đằng sau và biểu hiện ra cũng muôn hình muôn vẻ. Nhưng nói về quá trình tư duy sáng tác, nếu không có sự ảnh hưởng của đảng mọi nơi mọi lúc thì cũng không có nhân tố để sản sinh ra nó.

Trung Cộng công khai tuyên truyền rằng văn nghệ phải phục vụ cho mục đích chính trị, đồng thời lợi dụng bộ máy và tổ chức tuyên truyền các cấp để đảm bảo rằng văn nghệ phải phục vụ cho mình, cho nên xuất phát điểm của các sáng tác đều phải xác định rằng văn nghệ là công cụ tuyên truyền Văn hóa đảng; các sáng tác văn nghệ yêu cầu phải phản ánh và thể nghiệm cuộc sống, nhưng trong cuộc sống đã sớm bị ô nhiễm bởi Văn hóa đảng thì những nội dung phản ánh này vẫn chỉ xoay quanh Văn hóa đảng; còn đối với tác giả mà nói, bản thân họ đã chịu ảnh hưởng sâu đậm bởi tư duy và lý luận của Văn hóa đảng, nên chỉ biết đi tìm cảm hứng sáng tác theo yêu cầu và tư tưởng của đảng; quan trọng hơn là, đảng khống chế mọi vấn đề ăn, ở, khám bệnh và sự nghiệp của người sáng tác và gia đình của họ, nên nó có thể cưỡng ép người sáng tác quay lưng lại với nguyện vọng và lương tâm của họ, khiến họ tự mê hoặc bản thân, đứng về phía Trung Cộng, lâu dần trở thành thói quen. Do vậy, từ động cơ đến nội dung, đến tư duy của người sáng tác đều gắn chặt vào bức màn Văn hóa đảng, khiến cho sáng tác càng không thể tách rời đảng.

1) Động cơ sáng tác không tách rời đảng

Nói về động cơ sáng tác của tác phẩm, một phần lớn là để ca ngợi công lao của đảng. Chịu ảnh hưởng của lịch sử bị Trung Cộng lừa dối và triết lý về “lịch sử phát triển xã hội” của đảng, rất nhiều người tự mê muội bản thân, coi Trung Cộng là “đại cứu tinh” của dân tộc, hát những lời ca ngợi nó, rồi lại ảnh hưởng đến nhiều người hơn, toàn xã hội hình thành nên một kiểu tư tưởng sùng bái cuồng nhiệt đối với Trung Cộng và lãnh tụ của nó. Các tác phẩm điển hình như “Hồng kỳ phổ”, “Bài ca tuổi trẻ”, “Hoa cải đắng”, “Tam gia hạng”, “Hồng nham”, “Đội tự vệ Hồng Hồ Xích”, “Nam chinh Bắc chiến”, “Đổng Tồn Thụy”, “Đỉnh núi Thượng Can”, “Sống mãi trong ngọn lửa”, “Tiểu binh Trương ca”, “Đội quân tóc dài màu đỏ”, v.v.. các hình thức văn nghệ từ tiểu thuyết, thơ ca cho đến ca kịch, điện ảnh, đều không nằm ngoài việc phản ánh cái gọi là sự lãnh đạo của Trung Cộng là tính tất yếu của lịch sử, phản ánh “hình tượng quang vinh” của Trung Cộng, “đại ân đại đức” của Trung Cộng đối với nhân dân. Rất nhiều bài hát như “Ơi đảng, người mẹ thân yêu”, “Mao Trạch Đông và Đảng Cộng sản nuôi dưỡng chúng ta trưởng thành” đúng là thể hiện ý đồ một cách trần trụi khiến người ta phát ngấy.

Nhìn lại các tác phẩm văn nghệ suốt gần 20 năm qua, dù thủ pháp nghệ thuật rất tinh tế, đề tài rất rộng, cũng rất chú trọng đến tính nhân văn trong tác phẩm, nhưng động cơ sáng tác của rất nhiều tác phẩm vẫn không thể tách rời quan điểm cơ bản của Trung Cộng, ví dụ như các bộ phim “Khai quốc đại điển”, “Chu Ân Lai”, “Đại quyết chiến”, “Tiêu Dụ Lộc”, “Ngày rời xa Lôi Phong”, “Khổng Phồn Sâm”, v.v..

Sau ngày “cải cách mở cửa” xuất hiện cái gọi là “văn học cải cách”, “văn học kinh tế thị trường”, động cơ sáng tác của các thể loại này là thông qua mô tả những thay đổi của xã hội sau ngày cải cách, để gián tiếp ca ngợi công đức của Trung Cộng. Bản thân việc cải cách là một trào lưu của lịch sử, là sự lựa chọn không thể nào khác của Trung Cộng sau mấy chục năm bế quan tỏa cảng. Nhưng trong các sáng tác nghệ thuật nó lại trở thành minh chứng cho sự vĩ đại của Trung Cộng, một thủ đoạn che giấu trách nhiệm và tội ác của nó trong lịch sử.

Một động cơ sáng tác nữa là phục vụ cho việc tuyên truyền tư tưởng Văn hóa đảng. Ví dụ: vào thời đại “Cách mạng Văn hóa”, khắp nơi đều có những “tấm gương cách mạng”, để phối hợp với cuộc Cách mạng Văn hóa, cổ vũ tinh thần đấu tranh giai cấp và bạo lực cách mạng. Một số từ ngữ đầy tính tuyên truyền chính trị trở thành những từ ngữ được lưu truyền trong dân gian, “làm người phải như vậy chứ”, “những con người xông xáo của thời đại tranh đấu”, “tay nâng quyển sách quý ấm lồng ngực”, “chưa tiêu diệt hết lũ lang sói thì không rời chiến trường”, “nợ máu phải trả bằng máu”, “rượu ngọt, máu nóng viết nên thiên sử”, “thù hận trong tim sắp nảy nở”, v.v..

Đồng thời nó huy động đội quân đông đảo người dân tham gia vào lĩnh vực điện ảnh, bộ phim “Anh hùng” tiêu tốn 30 triệu USD nói về chủ đề lịch sử, ca ngợi Tần Thủy Hoàng, thực chất là cổ xúy cho tư tưởng Văn hóa đảng coi thường sinh mệnh, độc tài chuyên chế. Điện ảnh đã gián tiếp trở thành người nhạc công đắc lực phục vụ cho giọng ca chính là Trung Cộng. Điện ảnh coi giang sơn của Đảng Cộng sản lẫn lộn với lợi ích của mọi người trong thiên hạ, từ đó mà đề cao những nhà chính trị không lùi bước vì quyền lực địa vị, giết người để duy trì chính quyền bạo lực được đặt lên hàng chính nghĩa, đại diện cho lợi ích của mọi người dân, nhồi nhét một cách vô thức vào đầu người dân rằng nên hy sinh tính mệnh cá nhân để bảo vệ chính quyền bạo lực.

2) Nội dung sáng tác không tách rời “đảng”

Ngay từ thời kỳ cuộc chỉnh phong ở Diên An, Trung Cộng đã đặt định cho sáng tác văn nghệ rằng: văn nghệ phải phục vụ cho chính trị. Sau khi Trung Cộng giành chính quyền, nó vẫn thực hiện “phương châm chỉ đạo nghệ thuật” này. Trung Cộng còn thành lập Bộ tuyên truyền để bảo đảm việc chấp hành nghiêm ngặt theo “phương châm nghệ thuật” của nó, điều này khiến cho nội dung của các sáng tác nghệ thuật không thể tách rời yêu cầu của đảng.

Các chương trình dạ hội năm mới hàng năm của đài truyền hình trung ương Trung Quốc tập hợp những diễn viên, nghệ thuật gia và các nhóm sáng tác hàng đầu trong cả nước, mấy trăm đài truyền hình khác trong nước phát sóng lại những chương trình này hoặc trực tiếp phát ra nước ngoài. Dạ hội năm mới là hình ảnh thu nhỏ của tình hình chính trị, xã hội và sáng tác nghệ thuật trong một năm, có thể gọi đó là sân chơi của Văn hóa đảng. Đến thế kỷ 21 mà các “chương trình dạ hội năm mới” vẫn hoàn toàn không được đả động chút nào đến những mảng tối trong tình hình chính trị Trung Cộng, nội dung đã được định trước, chủ yếu là viết những bài thơ ca phù hợp với “chương trình dạ hội năm mới”, “những ngày tươi đẹp”, “ngày càng tốt đẹp”, “ngũ phúc lâm môn”, “trăm họ vui mừng”, “chúc mừng thời kỳ thịnh vượng”, lấy chúc mừng đảng thay cho niềm vui của dân tộc, lấy Văn hóa đảng thay cho Văn hóa truyền thống. Nỗi thống khổ của người dân, những nguy cơ của dân tộc đã bị che lấp hết trong những chương trình nồng nặc bầu không khí chính trị như vậy.

Do đảng quy định nghiêm ngặt tư tưởng chủ đạo của các tác phẩm văn nghệ, cho nên người ta không thể không tuân theo những yêu cầu, quy định này, nếu không tác phẩm sẽ bị tiêu hủy.

Khắp nơi ở Trung Quốc đều có những giai điệu dân ca êm ái, trữ tình vẫn luôn được lưu truyền trong dân gian. Nhưng nội dung của dân ca chủ yếu là tình ca, một số bài dân ca có nội dung ca ngợi vẻ đẹp của quê hương đất nước, nhưng nói tóm lại là khác xa so với tư tưởng văn nghệ phải phục vụ cho chính trị của Trung Cộng, do vậy vào những năm 80 của thế kỷ trước, những bài hát này vốn phần lớn đều không nằm trong phạm vi cho phép lưu truyền của Trung Cộng. Nhưng những bài hát dân ca trữ tình này cũng bị giới văn nghệ sỹ, những người bị đầu độc bởi Văn hóa đảng, hoặc trực tiếp lấy cắp đưa thêm những ca từ ca ngợi công đức của đảng, hoặc viết lại theo yêu cầu Văn hóa đảng, “sáng tác lại” theo nội dung chính trị, trở thành những bài “dân ca mới” đầy dối trá mà người dân vừa thích truyền miệng nhau hát, Trung Cộng lại cũng thấy hài lòng, ví dụ bài hát “Đông phương hồng”, “Bài ca đổi đời”, “Hoa loa kèn nở đỏ thắm” có nguồn gốc từ dân ca vùng Thiểm Bắc, “Mặt trời mọc không lặn trên thảo nguyên”, “Tôi cưỡi ngựa băng qua thảo nguyên” bắt nguồn từ dân ca Mông Cổ, “Trên núi Kim Sơn ở Bắc Kinh”, “Chiếc khăn Hada tặng Mao chủ tịch” bắt nguồn từ dân ca dân tộc Tạng, “Bài ca lái đò trên sông Ô Tô Lý” có nguồn gốc dân ca Hách Triết, bài hát “Anh Ba Mao chủ tịch” có nguồn gốc dân ca dân tộc Ha Ni. Những bài hát này sau khi được “sáng tác lại” và quay trở lại dân gian thì gây ra cho người dân một kiểu giả tướng, như thể là những bài dân ca này đều ủng hộ nhiệt liệt cho Trung Cộng và người đứng đầu của nó. Mà những tác phẩm giống như phụ thể bám vào nền âm nhạc dân tộc này lại được Trung Cộng vô liêm sỉ tự thổi phồng lên thành cái gọi là “cống hiến” của nó cho sự nghiệp “phát triển nền âm nhạc dân tộc”.

Năm 2005, đài truyền hình Hồ Nam phát động cuộc thi “giọng hát nữ siêu đẳng” phổ biến toàn quốc, nhận được sự hoan nghênh nhiệt liệt của giới trẻ. Bởi vì chương trình này trực tiếp uy hiếp đến đài truyền hình trung ương – phương tiện truyền thông đầu não của Trung Cộng, cho nên chương trình chỉ mang tính giải trí này rất mau chóng đã chịu sự đả kích của các phương tiện truyền thông, đâu đâu người ta cũng la hét muốn tiêu diệt nó. Trong cuộc thi giọng hát nữ năm nay, ban tổ chức nhân tiện mời một “nghệ sỹ lão làng” vốn nổi tiếng nhờ hát các bài ca ca ngợi đảng lên hát song ca cùng thí sinh đạt giải quán quân, cùng hát bài “Màu đỏ kinh điển”, “Mẹ ơi, hãy đi chậm lại”, “Chỉ có sơn ca kính trọng người”, và mời “nghệ sỹ lão làng” chọn ra một thanh niên. Kiểu sáng kiến không tách rời đảng này rất có khả năng xuất phát từ việc không có cách nào khác là phải đồng thuận với âm điệu văn nghệ mà Trung Cộng kiểm soát.

Thói quen tư duy sáng tác không thể xa rời đảng còn thể hiện ở việc đảng phủ nhận điều gì thì cũng phải phủ nhận theo. Tín ngưỡng đối với Thần Phật bị coi là phong kiến mê tín thì còn phủ nhận hơn nữa; Văn hóa truyền thống trở thành từ đồng nghĩa với chuyên chính độc tài; các nhân vật lịch sử trước thời của Trung Cộng chắc chắn phải tồn tại “giới hạn lịch sử”, một câu “phong kiến” là đủ để đưa toàn bộ các đức hạnh truyền thống trung hiếu nhân nghĩa hàng nghìn năm của Trung Quốc, hoàng đế tướng quân, tài tử giai nhân, thánh hiền trung lương, v.v.. liệt vào hàng ngũ những phần tử bất hảo; sự phá hoại của cuộc Cách mạng Văn hóa suốt 10 năm đã trở thành sai lầm của “bè lũ bốn tên”; nạn đói do con người gây ra làm chết đói mấy chục triệu người dân trở thành ba năm “thảm họa tự nhiên”; trong cuộc thảm sát ngày 4 tháng 6, hành động của chính phủ là có thể lý giải được, ngược lại học sinh phải chịu trách nhiệm lớn cho sự kiện này; những lời lẽ phỉ báng Pháp Luân Công lại càng phô thiên cái địa; những đoàn thể chính đảng nào không nhất trí với Trung Cộng, thì rất hiếm khi không mang nghĩa xấu; ngược lại nghe lời Trung Cộng thì mới là yêu nước; phê bình Trung Cộng thì bị coi là phản quốc. Những đối tượng bị Trung Cộng phủ nhận này, trong các sáng tác nghệ thuật phần lớn bị phê bình, bị nói xấu, bị cố ý biến thành hình tượng phản diện méo mó.

Trong lịch sử và trong cuộc sống hiện tại, mặt tối của Trung Cộng và đối tượng bị Trung Cộng đả kích bị coi là vùng cấm của sáng tác mà người ta nên tránh xa. Khi một số phóng viên, nhà văn vì thỉnh thoảng động chạm đến vùng cấm của Trung Cộng (ví dụ như các chủ đề về dân chủ, chính trị dân chủ, nhân quyền v.v..) thì đều lũ lượt bị bắt, rất nhiều người đã tự ước thúc bản thân, không động chạm đến những nguyên tắc của Trung Cộng nữa. Rất nhiều người cho rằng hiện nay phạm vi sáng tác rất rộng, tác phẩm rất phong phú. Đặc biệt là vài năm gần đây, cùng với việc phát triển công nghệ thông tin, số lượng quần chúng tham gia vào sáng tác văn nghệ ngày càng đông đảo, đề tài sáng tác ngày càng rộng, thậm chí rất nhiều chủ đề sáng tác mà người ta trước đây không dám nghĩ tới giờ cũng bắt đầu thịnh hành, ví dụ như cái gọi là “tác phẩm phơi bày hiện thực” đã được lưu hành. Điều này không phải bởi vì sáng tác của người dân có thể hoàn toàn tự do, tách khỏi đảng, mà do người ta biết rằng những chủ đề này không uy hiếp đến hình thái ý thức của Trung Cộng, nên nó sẽ có thể không bị để mắt đến. Trung Cộng cho phép người ta làm vậy cũng bởi vì “vùng cấm của đảng” đã dần dần thâm nhập vào ký ức của người dân, mon men ngoài vùng cấm đã trở thành một phần của thói quen tư duy sáng tác, thực ra nó là thể hiện cho sự phục tùng nguyên tắc sáng tác do Trung Cộng đặt ra.

3) Quá trình tư duy sáng tác không tách rời “đảng”

Ảnh hưởng lớn nhất của Văn hóa đảng đối với sáng tác văn nghệ, không gì khác chính là kiềm chế tư tưởng của con người.

Trong số rất nhiều bộ phim cổ trang đang thịnh hành, chốn hoàng cung thời cổ đại đều được xây dựng như là nơi đầy những thủ đoạn tranh đấu, chốn quan trường thời cổ đại cũng như vậy, thiên hạ ở đâu cũng đen tối như nhau. Kiểu tư duy sáng tác này chính là do bị ảnh hưởng trực tiếp bởi thế giới quan lịch sử của Văn hóa đảng, quan niệm truyền thống đã bị xóa bỏ, dùng quan niệm của người hiện đại để áp đặt cho cổ nhân. Mô tả bức tranh xã hội Trung Quốc truyền thống mấy nghìn năm lịch sử trở thành bức tranh đen tối, một xã hội mà người người đấu tranh với nhau, “người trừ khử người”, để làm nổi bật lên sự “quang minh” của Trung Cộng. Biến tham ô hủ bại trở thành căn bệnh biểu hiện của chốn quan trường từ xưa đến nay, để làm mờ đi sự hủ bại của Trung Cộng, lừa gạt người Trung Quốc rằng nguyên nhân sự cai trị độc ác của Trung Cộng bắt nguồn từ Văn hóa truyền thống.

Các tác phẩm ký sự cũng theo hình thức như vậy: nếu như xảy ra thảm họa tự nhiên, thì ngay từ những tình tiết nhỏ sẽ nói về việc đảng quan tâm đến người dân thế nào; nếu là quan chức, sẽ là phục vụ nhân dân dưới sự lãnh đạo của đảng như thế nào, kiểu như “Khổng Phồn Sâm” vậy; nếu là quan chức làm điều xằng bậy, cuối cùng đảng sẽ duy trì được chính nghĩa; nếu là chính sách sai lầm, cuối cùng đảng sẽ cải chính lại như thế nào; nếu là mặt tối của xã hội, sẽ quy trách nhiệm cho sự vô năng của cá nhân quan chức, cuối cùng vẫn phải làm nổi bật lên sự “vĩ đại, quang minh, chính xác” của đảng. Bất cứ thành quả kinh tế nào cũng nhất định không thể tách rời “chính sách anh minh” của đảng; bất cứ sự phát triển của doanh nghiệp nào, nhất định không thể tách rời sự “quan tâm sâu sắc” của đảng và nhà nước; bất cứ thành quả giáo dục, kỹ thuật nào, đều không tách rời “sự lãnh đạo đúng đắn” và “sự quan tâm sâu sắc” của “trung ương đảng”. Bất cứ người tài nào xuất hiện, cá nhân có thành tích gì, nhất định không tách rời sự “bồi dưỡng” của đảng; thắng lợi của quân đội lại càng “không tách rời sự lãnh đạo của đảng”. Đến một người công nhân “thôi giữ vị trí” (thực ra là thất nghiệp) cuộc sống được cải thiện đôi chút, cũng không tách rời sự “quan tâm và hỗ trợ” của đảng; đến giới tôn giáo cũng là “mỗi thành tựu đều không tách rời sự quan tâm giúp đỡ, sự lãnh đạo của đảng, chỉ có giữ vững sự lãnh đạo của đảng, đi theo con đường Chủ nghĩa Xã hội, mới có được tương lai tươi sáng”, v.v..

Do sự hủ bại của Trung Cộng ngày càng nghiêm trọng, những oan ức của người dân nổi lên ở khắp nơi, cho nên gần đây những bộ phim về sự hủ bại được người dân rất hoan nghênh, điển hình như “Lựa chọn sinh tử”, “Đại án đầu tiên của Trung Quốc mới”, v.v.. Kỳ thực những tác phẩm này cũng giống với nền văn học bị sứt mẻ và những bộ phim tương ứng vào thời kỳ mới kết thúc cuộc Cách mạng Văn hóa, “Truyền kỳ Thiên Vân Sơn”, “Du khách mang xiềng xích”, “Đứa bé sơ sinh nước ngoài”, v.v.. bất luận là các bộ phim này đào sâu vào những vấn đề gì, suy nghĩ thế nào về lịch sử và hiện thực, có ý đồ chọc phá một chút vào vùng cấm tư tưởng của Trung Cộng thế nào, quan tâm đến cuộc sống sinh tồn của con người thế nào, mở rộng hình thức biểu đạt nghệ thuật thế nào, thì đều không thể tách rời ảnh hưởng của tư duy Văn hóa đảng, tác phẩm cuối cùng cũng chốt lại là phải tin tưởng vào tổ chức, tin tưởng vào đảng, đảng có quyết tâm sửa chữa sai lầm; còn những tệ nạn xã hội, nỗi thống khổ của người dân do Trung Cộng tạo nên lại bị quy kết một cách mơ hồ cho “bi kịch thời đại”, nhằm giảm nhẹ tội lỗi của Trung Cộng.

Trong dân gian Trung Quốc, thường thịnh hành các sáng tạo có tính châm biếm. Ví dụ doanh nghiệp nào đó in hình ảnh Lôi Phong và lời Mao (Mao ngữ lục) lên bao bì của sản phẩm bao cao su. Có vẻ như đây là sự đối nghịch lại với việc Trung Cộng nhồi nhét Văn hóa đảng trong nhiều năm, thực ra vẫn là sự thừa nhận những thần tượng và quyền uy do Trung Cộng xây dựng nên, vẫn là không thể xa rời ảnh hưởng của đảng. Văn hóa đảng ở khắp mọi nơi, ngày nay mọi phương diện về cuộc sống của người dân Trung Quốc đều bị “đảng” chiếm lĩnh, điều này dẫn đến tư duy của người dân không cách nào bài trừ được những yếu tố ngôn ngữ mang Văn hóa đảng, người ta không thể không dùng những yếu tố này để suy nghĩ và biểu đạt. Một vài ngôn ngữ quảng cáo có sự sáng tạo đặc biệt như “làm … đến cùng”, “… nhất định thành hiện thực” cũng là những ví dụ về yếu tố ngôn ngữ không thể tách rời Văn hóa đảng trong quá trình tư duy sáng tạo.

Bắt đầu từ cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, rất nhiều người dân Trung Quốc đều mê muội với cái gọi là “nhạc cũ lời mới”, nghĩa là phối khí lại theo các nhạc cụ hiện đại, hoặc biểu diễn lại theo lối hiện đại những “bài hát nhạc đỏ” ca ngợi Trung Cộng một cách trơ tráo. Rất nhiều người cho rằng làm như vậy thuần túy chỉ là gợi lại chuyện xưa, chứ không phải xuất phát từ sự “yêu mến lãnh tụ vĩ đại”. Nhưng có học giả chỉ ra rằng, thật khó tưởng tượng rằng nhân dân nước Đức sau năm 1945 có thể dùng âm nhạc để gợi lại hình ảnh Hitle, hoặc Liên Xô cũ sau đại hội lần thứ 20, nhân dân Liên Xô có thể thông qua bài hát để gợi nhớ lại sự kiện Stalin đã tàn sát 20 triệu người dân Liên Xô cũ. Người ta sở dĩ có thể yêu thích những bài hát cũ, thực ra là vì những cái gen của đảng đã được cấy vào từng tế bào văn hóa của người dân, khiến người ta cảm thấy chúng là một phần của bản thân họ.

Những biểu hiện của thói quen tư duy không tách rời đảng này có nguyên nhân là do trong một xã hội tràn ngập Văn hóa đảng, trong trường kỳ bị tiêm nhiễm Văn hóa đảng đã hình thành nên thói quen như vậy, cũng trong tình cảnh chịu áp lực trong thời gian dài mà như vậy, cũng có người vì muốn giành được lợi ích, lợi thế trong chính trị mà hữu ý làm như vậy, còn có người muốn thoát khỏi Văn hóa đảng mà không thoát được, mà thói quen tư duy sáng tác không tự giác mà cứ gắn bó với đảng (những tác phẩm “châm biếm xã hội” vẫn xoay quanh Văn hóa đảng). Nói tóm lại, đảng thông qua các thủ đoạn cưỡng bức để làm bảo đảm, lấy Văn hóa đảng làm “món ăn tinh thần” duy nhất mà người dân có thể có được để nuôi dưỡng các nghệ sỹ hết thế hệ này đến thế hệ khác; ngược lại các tác phẩm của họ lại ảnh hưởng lại quần chúng và bản thân họ, cuối cùng khiến cho Văn hóa đảng trở thành hình thức cố định trong thói quen tư duy sáng tác của người dân, khiến người ta không thể tách rời đảng.

Cần phải nói rằng, văn nghệ chỉ là một phương diện rất điển hình trong sáng tác, phương thức tư duy sáng tác không thể tách rời đảng đã thâm nhập vào mọi ngành nghề. Các sáng tác cụ thể có thể không giống nhau, nhưng người ta chịu ảnh hưởng của Văn hóa đảng, từ lựa chọn đề tài đến tư duy đến sáng tác cụ thể, mỗi bước đều không qua khỏi cái khung của Văn hóa đảng. Nếu muốn có sáng tác thực sự tự do, phát huy được tài năng của bản thân, đầu tiên phải nhảy thoát ra khỏi tư duy Văn hóa đảng đã.

 


Bản tiếng Hán:

http://www.epochtimes.com/gb/6/11/14/n1520631.htm

http://www.epochtimes.com/gb/6/11/19/n1526477.htm

Ngày đăng: 15-06-2015