Một quyển sách
đã truyền cảm hứng cho hơn 300 triệu người
thoát khỏi Đảng Cộng sản Trung Quốc

Chương 8: Thói quen tư duy kiểu Văn hóa đảng(phần hạ)

Mục lục

3. Ý thức cảnh báo nguy hiểm đối với những tư tưởng không phù hợp với quan niệm của đảng

4. Văn hóa đảng sử dụng những lời rập khuôn theo thói quen

5. Làm nhầm lẫn khái niệm đảng và chính phủ, đảng và quốc gia, đảng và dân tộc

Kết luận

========

3. Ý thức cảnh báo nguy hiểm đối với những tư tưởng không phù hợp với quan niệm của đảng

“Những lời này sau này quyết không thể nói – đặc biệt là không thể nói ra ngoài.”

“Những tư tưởng này phản động, rất nguy hiểm, ngay cả nghĩ cũng không được nghĩ.”

“Chú ý, không được nói những chủ đề nguy hiểm này, không có lợi cho bạn đâu.”

“Chúng ta đổi chủ đề được không? Bạn biết không, nói về vấn đề này rất nguy hiểm…”

Đây là một số phản ứng mà chúng ta thường hay gặp phải. Đối với những cách nghĩ không phù hợp với quan niệm của đảng, mọi người đều có sự nhạy cảm cao độ, đó là khu vực cấm nguy hiểm.

1) “Ý thức cảnh báo nguy hiểm” không nơi nào là không có

Vào thời kỳ đầu mở cửa, một nhà sử học Đài Loan nhận lời mời tới tham dự buổi giao lưu học thuật tại Đại lục. Đứng trước mặt những nhà sử học Đại lục, ông trực tiếp kể lại lịch sử sai lệch của Đảng Cộng sản, đặc biệt là về lịch sử kháng Nhật của Quốc dân đảng. Người chủ trì hội nghị lúc đó, cũng là một nhà sử học nổi tiếng sau khi nghe thấy đã mau chóng nói: “Ông dám nói, nhưng tôi không dám nghe.”

Lại có một học giả Đại lục lần đầu tiên tại hải ngoại nhìn thấy đoàn diễu hành Pháp Luân Công mấy nghìn người, ông đã miêu tả cảm nhận của mình như sau: “Tôi ngay lập tức cảm nhận được  trên đầu hình như có một sợi dây ăng-ten, đang hoảng hốt thăm dò bờ bên kia của Thái Bình Dương. Tôi đang thăm dò cái gì? Tôi thăm dò đủ những cấm kỵ và quy định tại Đại lục. Tôi đang suy xét từng chữ mà tôi nhả ra, sau khi về nước chắc sẽ gặp phải phiền phức. Vào thời khắc đó, tôi đặc biệt cảm nhận được miệng và chân tôi dường như đang run lên, tôi đặc biệt cảm thấy sự gian nan khi làm một người Trung Quốc!”

Năm 2004, tại một phiên họp nhân dân xét xử Giang Trạch Dân tại Canada, người tổ chức mời một người cao tuổi tới xem. Trong điện thoại, ông cụ nghĩ một lát rồi nói tôi vẫn không đến được. Hỏi ông vì sao, ông nói: “Tôi đã ra nước ngoài 17 – 18 năm, chưa một lần về nhà, tôi vẫn muốn trong những năm tháng còn lại về nhà một chuyến. Lỡ ngày mai có người nhìn thấy đi tố cáo tôi, đời này chẳng phải xong hết rồi sao?” Ông đã 76 tuổi, dù đã sống ở Canada 16 năm, nhưng tâm hồn vẫn chưa thực sự được tự do.

Một khách du lịch tới Hồng Kông, khi thấy tin tức có liên quan tới “Cửu bình Đảng Cộng sản” phản ứng đầu tiên của cô là: “Ai da, những người này thật to gan lớn mật, dám nói những lời ‘phản động’ này, nếu ở Trung Quốc thì đã sớm bị bắt lại rồi.” Bởi vì mọi người biết rằng những tin tức này không phù hợp với quan niệm của Trung Cộng, cho nên dù cho không còn ở Trung Quốc nhưng vẫn không thể không nảy sinh ý thức cảnh báo nguy hiểm, trốn tránh “theo bản năng”.

Mọi người đều biết những vật nguy hiểm như điện cao áp, vượt đèn đỏ, hỏa hoạn, những thứ này sẽ khiến con người nảy sinh ý thức cảnh báo nguy hiểm. Nhưng đây đều là những thứ hữu hình, dù có đáng sợ nhưng cũng có thể tránh được. Mà nỗi sợ hãi với những thứ hữu hình của con người đôi khi còn xa mới theo kịp nỗi sợ hãi với những thứ vô hình. Biểu hiện cực đoan nhất của sự khống chế xã hội của Đảng Cộng sản trong tâm hồn người Trung Quốc chính là sự khống chế đã biến thành một công tố viên vô hình nhưng không nơi đâu không có mặt, giám sát khống chế nhất cử nhất niệm của con người bất cứ lúc nào. Những cách nghĩ không phù hợp với quan niệm của đảng trong ý thức của mỗi người đều có thể xuất hiện. Một khi nảy sinh ý thức cảnh báo nguy hiểm này, thường sẽ mang đến cho con người sự bất lực và tuyệt vọng cùng cực không nơi trốn chạy. Kèm theo đó là những ước tính và dự đoán về hậu quả có thể xảy ra, tự mình hù dọa mình lại càng làm tăng thêm sự hoảng sợ về loại nguy hiểm này.

Một biểu hiện điển hình nhất hiện nay là tâm lý khiếp sợ với tội danh “làm chính trị”. Theo cách nói của ông Tôn Trung Sơn, chính vốn là chuyện của dân chúng, trị chính là quản lý, cho nên chính trị chính là quản lý chuyện của dân chúng. Trong lịch sử Trung Quốc, cách nói “hữu học nhi ưu tắc sỹ” (có học để ra làm quan) chính là chỉ những người có học thức có năng lực nên trở thành bậc hiền tài trị quốc, đó là một việc làm rạng rỡ tổ tông. Trong lịch sử Trung Quốc có rất nhiều chính trị gia nổi tiếng, như Gia Cát Lượng, Lý Thế Dân, “nhà chính trị” xưa nay đều là từ mang nghĩa tích cực.

Nhưng với người Trung Quốc hiện đại, chỉ cần nghe tới “chính trị” có thể sẽ phát sinh phản cảm, thậm chí là sợ hãi. Nếu có người đòi hỏi quyền lợi chính đáng, hoặc giả có ý kiến về chính sách và hiện tượng xã hội, hoặc vừa nhắc tới Đảng Cộng sản ngay lập tức sẽ bị Trung Cộng chụp cho cái mũ “làm chính trị”. Trung Cộng dễ dàng khiến “làm chính trị” trở thành một tội danh dùng để vu khống danh dự của người khác, thỏa sức đả kích người khác, khiến mọi người cảm thấy nguy hiểm mà tránh xa những người hay đoàn thể bị chụp lên cái mũ này.

Điều khôi hài là mặc dù người Trung Quốc cho rằng “chính trị” là nguy hiểm, nhưng mọi người vẫn luôn sống trong chính trị từng thời từng khắc. Mọi chuyện của Trung Cộng đều do chính trị dẫn dắt. Từ cái gọi là giáo dục “đạo đức nhân phẩm tư tưởng” khi còn là học sinh cho tới khi lên đại học, đi làm, tham gia nghĩa vụ quân sự đều không thoát khỏi sự thẩm tra chính trị. Với những sự kiện quan trọng trong xã hội, lại càng không tránh khỏi việc phải biểu đạt thái độ. 40 năm trước, trong nhà có trồng vài cây cải, nuôi vài con gà cũng đều là vấn đề chính trị, phải bị cắt bỏ cái đuôi Chủ nghĩa Tư bản. Trong lịch sử, nếu không theo kịp tình thế của nước nhà thì những người “tư tưởng chính trị không tích cực, yêu cầu tiến bộ” thông thường sẽ trở thành đối tượng bị xã hội kỳ thị. Điều đảng phản đối không phải là bản thân việc làm chính trị, mà là xem bạn có nhất trí với đảng hay không. Khi nhất trí với đảng thì có làm chính trị mạnh nữa cũng đều là chính xác, khi không nhất trí với đảng dù không phải là chuyện liên quan tới chính trị cũng sẽ bị chụp lên cái mũ “làm chính trị”.

2) Sự cầm tù về tâm hồn do Văn hóa đảng gây nên

Tục ngữ có câu “Sơ sinh ngưu độc bất phạ hổ” (Chú nghé mới sinh không sợ hổ). Chú nghé nhỏ vì chưa từng gặp hổ nên tự nhiên sẽ không cho rằng hổ nguy hiểm. Còn rất nhiều người Trung Quốc hoàn toàn không trực tiếp bị Trung Cộng bức hại, nhưng tư tưởng này hầu như người Trung Quốc ai ai cũng có. Nguyên nhân do đâu? Chính là do Văn hóa đảng đã khiến người Trung Quốc nảy sinh ý thức cảnh báo nguy hiểm với những cách nghĩ không phù hợp với quan niệm của đảng, tạo thành sự cầm tù về tâm hồn cho người Trung Quốc.

Về mặt tâm lý, “ý thức cảnh báo nguy hiểm” bắt nguồn từ “nỗi sợ”. Trong đầu nghĩ gì không ai biết, sao lại sợ? Bởi vì ngôn luận và hành vi của con người bị tư tưởng của con người khống chế. Nếu trong tư tưởng có những quan niệm không phù hợp với đảng, không chắc vào một lúc nào đó sẽ lòi ra cái đuôi hoặc nói lỡ miệng, chẳng phải sẽ bị Trung Cộng trị hay sao? Biết bao nhiêu người trong lịch sử đã chịu thiệt thòi này. Cho nên mọi người vì bảo vệ mình, ngay cả tư tưởng bất đồng với đảng cũng đều không dám có, phải tự mình câu thúc. Không chỉ bản thân mình không được có mà còn phải khiến người khác cũng đều không được có. Cả một xã hội tạo thành một môi trường như vậy, môi trường này lại quay ngược lại gia tăng “ý thức cảnh báo nguy hiểm” của mình.

Những ý thức về sự nguy hiểm của những tư tưởng không phù hợp với quan niệm của đảng không thể tách rời khỏi sự nhồi nhét tư tưởng và đàn áp thống trị trường kỳ của Trung Cộng.

Trung Cộng từ ngày thành lập đảng tới nay đã tiến hành những cuộc giết người, đàn áp, làm vận động theo chu kỳ, mục đích chính là cường điệu ký ức khủng bố trong nhân dân, củng cố chính quyền của Trung Cộng. Đủ loại thủ đoạn đàn áp tàn khốc trong lịch sử Trung Cộng đã tạo ra tâm lý hoảng sợ khắc sâu trong mọi người. Trung Cộng khống chế mọi tài nguyên, nắm quyền sinh quyền sát, thủ đoạn bức hại của nó không có điểm dừng, cũng không có phạm vi có thể dự báo. Đặc biệt là những người có ý kiến bất đồng với “đảng” sẽ gặp phải tầng tầng đàn áp và bức hại từ nhỏ tới lớn, từ kinh tế, danh dự, tâm hồn, thể xác cho tới sinh mệnh. Những người không tin, hoài nghi tà thuyết Chủ nghĩa Cộng sản, bất mãn và phê phán sự chuyên chế một đảng của Đảng Cộng sản sẽ bị định đoạt trọng tội “tội phản cách mạng”. Ngay cả những cán bộ cao cấp của đảng, nếu như có những ý kiến bất đồng với đảng, cũng sẽ bị thanh trừ một cách khắc nghiệt.

Ngày nay trong thế kỷ 21, Trung Cộng vẫn tiến hành thống trị bằng áp lực cao độ, thống trị bằng đặc vụ, và thống trị bằng xã hội đen. Thủ đoạn của nó bao gồm: phong tỏa sự tự do tin tức, nghe lén ngôn luận của mọi người, tiến hành bắt giam các văn nhân, không cần tội danh cũng bắt giam những người dân theo đuổi tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận và đấu tranh hợp pháp, khống chế những nhân sỹ từ hải ngoại tới Trung Quốc, ăn trộm tài nguyên quốc gia để tuồn ra hải ngoại.

Cảnh giác giữa người với người đã gia tăng thành tâm lý sợ hãi mọi người. Mọi người không biết là rốt cuộc ai sẽ đâm cho mình một nhát, tiết lộ bí mật của mình, thậm chí đó là người mình xả thân cứu sống. Chỉ điểm mật báo đã trở thành một bối cảnh văn hóa nhơ bẩn dưới sự thống trị của Trung Cộng. Vì đảm bảo an toàn cho bản thân mình, rất nhiều người đã áp dụng cách làm nhất trí với đảng, không dám bộc lộ suy nghĩ thực của mình về những vấn đề “hơi nhạy cảm”.

Cho nên, những người tiếp nhận Văn hóa đảng đã chủ động dùng tư duy của Đảng Cộng sản suy nghĩ vấn đề, cố gắng tìm kiếm tâm tư của Trung Cộng, lãnh ngộ quan điểm của Trung Cộng. Hình thức biểu hiện như: Đầu tiên giả thiết mình là Trung Cộng, luôn nhất trí với Trung Cộng, sau đó đoán định điều gì phù hợp với quan niệm của đảng hiện nay, tiếp đó dùng quy tắc này để đo lường cách nghĩ của bản thân và người khác, giống như tự khoanh vùng giam bản thân mình, nỗ lực bài trừ cách nghĩ nào của bản thân không phù hợp với quan niệm của đảng, đến nghĩ cũng không muốn nghĩ; còn ngăn trở và khuyên can khi người khác nói đến vấn đề “mẫn cảm”, thậm chí còn có người trực tiếp đi báo cáo hay mách lẻo, trực tiếp để cho đảng tới bức hại những người có cách nghĩ bất đồng; dù là người Trung Quốc đã ra nước ngoài không ở trong môi trường có đảng khống chế, vẫn sợ hãi một cách “bản năng”, mọi người giống người máy phục tùng mệnh lệnh của đảng.

3) “Ý thức cảnh báo nguy hiểm” nguy hại cho dân tộc

Sau khi có ý thức cảnh báo nguy hiểm với những cách nghĩ không phù hợp với quan niệm của đảng, tự động hình thành tư duy nhất trí với đảng, con người trở nên cẩn thận chi li mọi nơi, lo lắng tìm kiếm an toàn, quen với vâng vâng dạ dạ, vâng mệnh là cách để có được ân sủng của kẻ chuyên quyền và cấp trên từ xưa tới nay, giống như sống đời nô lệ, tôn nghiêm của con người đã mất đi một cách triệt để. Ngày 4 tháng 6, có một giáo sư tham gia đoàn diễu hành đã viết ra bức biểu ngữ với dòng chữ: “Quỳ quá lâu rồi, đứng lên đi dạo”. Có thể thấy người Trung Quốc bị nô dịch đã lâu, ngay cả kháng nghị cũng yếu ớt – đi dạo xong lại về quỳ. Điều đáng buồn là, có rất nhiều người quả thực lại quỳ tiếp.

Văn hóa truyền thống Trung Quốc nhấn mạnh tinh thần quan lại, Thôi Trữ – đại thần nước Tề thời Xuân Thu chiến quốc đã giết vua, bị quan sử ghi chép vào sử sách, Thôi Trữ giết chết quan sử này, nhưng quan sử thứ hai vẫn viết như vậy. Quan sử thứ hai, thứ ba đều bị giết, những quan sử khác vẫn kiên trì như vậy. Đây chính là kiểu khí tiết, là hạt nhân tinh thần khiến dân tộc có thể sinh tồn trường cửu, cũng là cội nguồn tâm hồn của dân tộc Trung Hoa. Nhưng sự nhồi nhét Văn hóa đảng và sự bức hại của Trung Cộng lại vô tình hủy hoại đi cái tinh thần này, các phần tử trí thức hoặc bị bức hiếp, hoặc là bị mua chuộc, “Trợ Trụ vi ngược”, giúp Trung Cộng bịa đặt ra nhiều lời lừa dối hơn nữa để lừa gạt dân chúng, để bảo vệ cho sự thống trị độc tài của Trung Cộng.

Cổ nhân Trung Quốc cũng nhấn mạnh khí khái đại trượng phu: “Phú quý bất năng dâm, uy vũ bất năng khuất, bần tiện bất năng di” (Giàu cũng không thể dâm loạn, uy vũ cũng không thể cúi đầu, bần tiện cũng thể thay lòng đổi dạ). Các triều đại đều xuất hiện không ít những người không sợ cường quyền, khinh thường quyền quý, vì tôn nghiêm và giá trị có thể không tiếc hy sinh sinh mệnh. Trong xã hội phương Tây cũng có câu danh ngôn “mất tự do, chi bằng chết đi còn hơn”. Nhưng Trung Quốc ngày nay, dưới chính quyền bạo lực và sự nhồi nhét Văn hóa đảng của Trung Cộng, dũng khí của người Trung Quốc lại tan biến vào hư vô, thay thế vào đó chính là tâm sợ hãi và khủng hoảng cực đoan.

Cho nên tôn nghiêm dân tộc Trung Quốc từ xưa đã tan biến, khả năng thay đổi vận mệnh của một dân tộc đã bị bóp nghẹt. Có người nói Trung Quốc sớm đã thành nô lệ mất nước, là vùng thuộc địa. Không sai, từ sau năm 1949 tới nay, Trung Quốc quả thực đã mất nước về mặt tinh thần. Đảng Cộng sản đã bóp chết tinh thần của dân tộc Trung Quốc, điều được thiết lập không phải là “Trung Quốc mới” mà là đế quốc chuyên chế tàn bạo về cả vật chất và tinh thần.

Một tác gia nổi tiếng bị mù từng nói: “Thân thể tôi không tự do, nhưng tinh thần tôi tự do.” Những người bình thường trong một xã hội bình thường có thể có đủ kiểu giá trị quan và phương thức tư duy, có quyền được lựa chọn một cách đầy đủ, cuộc sống phong phú đa dạng, mọi người là chủ nhân trong cuộc sống của mình. Còn người Trung Quốc hôm nay dù được tự do ăn uống cờ bạc trác táng, nhưng lại mất đi mái nhà tinh thần của mình. “Ý thức cảnh báo nguy hiểm” khiến người Trung Quốc nhốt mình trong nhà tù tư tưởng, nhất loạt không tiếp thu những điều không phù hợp với quan niệm của “đảng”, thậm chí là sợ hãi, trốn tránh. Người Trung Quốc sinh sống trong thể hệ hà khắc như vậy, rất khó có thể tư duy ngoài thể hệ của đảng. Chỉ có thể có những thứ phù hợp với Văn hóa đảng và quan niệm của Trung Cộng trong nhà tù linh hồn của mình, cách nhìn thế giới của bản thân cũng chỉ có một chút đó trong cái khung của mình mà thôi. Tư duy bắt nguồn từ trong Văn hóa đảng, chịu sự nô dịch về tinh thần của nó, mất đi tự do và niềm vui tư tưởng, đời người cũng chỉ là sống vì Trung Cộng mà thôi.

4) Giải thoát khỏi nỗi sợ vô hình, làm chủ đầu óc của chính mình

Chúng ta cần rõ ràng về một thường thức cơ bản: ý nghĩ về “ý thức cảnh báo nguy hiểm” trực tiếp vi phạm tinh thần pháp trị hiện đại. Điều mà pháp luật của bất kỳ một nước văn minh nào trừng phạt đều là hành vi phạm tội của con người, chứ tuyệt đối không phải là tư tưởng của con người. Cũng chính là vì pháp luật chỉ có thể căn cứ vào việc một người đã làm gì mà trừng phạt họ, chứ tuyệt đối không thể căn cứ vào điều họ nghĩ gì mà trừng phạt họ. Khi chúng ta cảm thấy một cách nghĩ nào rất nguy hiểm chúng ta nên ý thức được đây là di chứng của cách làm dã man quy tội cho tư tưởng của Trung Cộng.

Cách tư duy Văn hóa đảng theo thói quen và “ý thức cảnh báo nguy hiểm với những tư tưởng không phù hợp với quan niệm của đảng” này không hề có lý tính và vô căn cứ. Đại não của con người là do mình chi phối, nghĩ gì do mình quyết định; một người có tư tưởng độc lập của mình, Đảng Cộng sản cũng hoàn toàn không thể làm gì người đó. Nói về mục đích chủ quan của nó, Đảng Cộng sản quả thực muốn khống chế tư tưởng của con người. Nhưng dù vào thời kỳ điên cuồng nhất của tà linh cộng sản, mục tiêu này cũng không thể được thực hiện một cách hoàn toàn. Ngày nay Đảng Cộng sản mong muốn tiến hành kiểm soát tư tưởng của nhân dân mãnh liệt hơn bao giờ hết, nhưng khả năng khống chế của nó lại suy yếu hơn bao giờ hết. Người Trung Quốc phải bước ra khỏi nỗi sợ hãi vô hình do Trung Cộng tạo ra đó, nhất định có thể bước ra khỏi nỗi sợ hãi vô hình đó. Thoát khỏi tâm lý sợ hãi phi lý tính đối với Đảng Cộng sản, đã đến lúc phải làm điều này rồi.

Thoát khỏi nỗi sợ hãi, chúng ta mới có thể khôi phục tôn nghiêm làm người, mới có một xã hội tự do.

4. Văn hóa đảng sử dụng những lời rập khuôn theo thói quen

“Phải nỗ lực học tập những kỳ tích tiên tiến và tinh thần cao cả của xxx, không ngừng giữ vững và phát triển gì gì đó, tiếp tục đoàn kết dẫn dắt nhân dân các dân tộc trên toàn quốc dũng mãnh tiến trên con đường vĩ đại xxx.”

“Phải nhận thức sâu sắc về tính trường kỳ, tính phức tạp, tính gian khổ to lớn về…, coi công việc là nhiệm vụ chiến lược quan trọng, kiên trì giữ vững, một phút cũng không được buông lơi.”

“Các đồng chí trong toàn đảng phải đoàn kết mật thiết hơn nữa coi xxx là hạt nhân xung quanh trung ương đảng”, kiên trì xxx nhằm chỉ đạo quán triệt một cách toàn diện việc thực hiện xxx, nhằm xây dựng một cách toàn diện xxx, tiếp tục phấn đấu nhằm không ngừng khai sáng xxx.”

Đây là những đoạn trích trong báo cáo đại hội của Trung Cộng. Những lời rập khuôn rỗng tuếch, lời khuôn sáo thành văn như vậy của đảng tràn ngập trong những buổi họp lớn nhỏ, trên ti vi đài phát thanh, tạp chí báo chí. Những lời rập khuôn của đảng là hệ thống ngôn ngữ điển hình, nhưng lời rập khuôn của đảng không chỉ giới hạn ở các quan chức, mà đồng thời còn phổ cập vào trong nhân dân. Từ giới quan chức cho tới nhân dân, nói lời rập khuôn của đảng đã trở thành một phương thức tư duy theo thói quen.

Điều cần chỉ ra là, Mao Trạch Đông, lãnh đạo Trung Cộng từng viết một bài “Phản đối lời rập khuôn của đảng” nhưng dụng ý chân thực của y hoàn toàn không phải là phản đối những lời rập khuôn của đảng, mà là mượn cớ dùng những lời mơ mơ hồ hồ như “mở miệng ra liền xưng ta là Hy Lạp”, nhằm ám chỉ và đả kích phái quốc tế cộng sản trong nội bộ đảng còn lưu giữ bối cảnh của Nga, chủ yếu là nhằm vào Vương Minh, người bị y cho là kẻ gây chướng ngại lớn nhất cho y trong cuộc tranh giành quyền lãnh đạo tối cao trong đảng. Nói cách khác, Mao không phải vì muốn phản đối những lời rập khuôn của đảng mà là muốn dùng những lời rập khuôn của đảng theo phương thức của Mao thay thế cho những lời rập khuôn của đảng theo các phương thức khác. Điều này đã giải thích vì sao trong Đại Cách mạng Văn hóa khi nhân dân toàn quốc rộ lên việc đọc “Lão tam thiên”, rộ lên việc đọc “Mao ngữ lục”, rộ lên việc “Tiểu hồng thư” (Cuốn sách nhỏ màu đỏ), Mao không bao giờ nhắc đến việc “phản đối những lời rập khuôn của đảng”.

1) Bộc lộ những lời rập khuôn của đảng theo thói quen trong mọi thời điểm

Mỗi lần họp đại hội gì đó, nhất định cần phải biểu đạt thái độ chính trị, nói gì cũng không thoát khỏi những lời lộng ngôn sáo rỗng kiểu như hạt nhân kiên cường của đảng, không thoát khỏi chủ nghĩa gì đó, tư tưởng gì đó, lý luận gì đó, quan điểm gì đó; hoặc giả lịch sử chứng minh điều gì điều gì chính xác. Còn những lời đao to búa lớn như phải kiên trì sự lãnh đạo nào đó, dùng tư tưởng gì chỉ đạo, dùng cái gì đó để vũ trang nhân dân, tiến theo con đường đặc sắc nào đó, hoặc là đoàn kết mật thiết xung quanh những người nào đó, giương cao lá cờ gì đó, cống hiến hơn nữa cho sự nghiệp gì đó.

Mỗi lần gặp phải lãnh đạo phát biểu liền nịnh nọt nói nào là “phát biểu quan trọng”, để làm nổi bật địa vị của người phát ngôn, nâng cao nội dung diễn thuyết, nói một loạt những lời hay ý đẹp như thuyết minh một cách sâu sắc cái gì đó, tạo thành ảnh hưởng trọng đại nào đó, có ý nghĩa trọng đại nào đó…

Đại diện cấp trên phát ngôn thì nhất định phải nói tới trung ương đảng vô cùng quan tâm, vô cùng coi trọng.

Quan chức qua đời, những lời điếu văn điển hình chính là trong suốt một đời của đồng chí nào đó là một đời cách mạng, một đời chiến đấu đã cống hiến một cách vĩ đại cho sự nghiệp gì gì đó.

Quan chức xuất hiện vấn đề gì đó, nhất định là do xa rời khỏi lý luận gì gì đó, không thấu hiểu tinh thần gì gì đó của đảng, thể hiện quyết tâm rằng nhất định sẽ làm tốt hơn nữa.

Được biểu dương nhất định sẽ biểu thị sự cảm kích do đảng bồi dưỡng, không thể tách rời sự quan tâm và chăm lo của tổ chức, cuối cùng phải cống hiến nhiều hơn nữa cho sự nghiệp gì gì đó.

Trong xã hội hoặc trong đảng xuất hiện vấn đề gì đó, nhất định sẽ thêm vào những từ như “một số rất ít”, “trường hợp cá biệt”, “một nhóm phần tử gì đó”.

Với cách nhìn về xu thế quốc tế, đều là “Chúng ta nên chú ý đến thế lực nào đó của phương Tây…”

Còn có một bộ những lời rập khuôn như phải dùng cái gì đó chỉ đạo, lấy cái gì đó làm cơ sở, làm động lực nào đó, chứng minh điều gì đó, lấy gì đó làm mục tiêu, lấy gì đó làm trung tâm… những bài phát biểu của lãnh đạo hầu như bài nào cũng như vậy, đưa ra một bộ những lời này nhằm biểu thị sự khắc sâu và toàn diện.

Còn phải theo sát khẩu hiệu tuyên truyền chính trị, mở miệng nào là “tam giảng” (ba bài giảng), “tam đại biểu”, “trị quốc bằng pháp luật”, “dùng đức trị quốc”, “kinh tế thị trường chủ nghĩa xã hội”, “giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội”, “nghèo khó không phải là chủ nghĩa xã hội”, “ổn định áp đảo tất cả”, “chiến lược phát triển ba bước”, “hướng tới hiện đại hóa”, “hướng tới thế giới”, “hướng tới tương lai”, “chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc của Trung Quốc”, “một nước hai chế độ”, “kiên trì cải cách mở cửa”, “kiên trì bốn nguyên tắc cơ bản”, “tiến bước cùng thời đại”,“xã hội hài hòa”…

Có người đã từng tổng kết “Sáo thoại đại toàn” (Đại toàn thư về những lời sáo rỗng) như họp không lần nào không long trọng, bế mạc không lần nào không thắng lợi, diễn thuyết không ai không quan trọng, nghị quyết không cái nào không thông qua, vỗ tay không lần nào không nhiệt liệt, lãnh đạo không ai không coi trọng, đi thăm không ai không gần gũi, tiến triển không cái nào không thuận lợi, kết thúc không việc nào không viên mãn, thành tựu không cái nào không to lớn, công tác không cái nào không thiết thực, hiệu suất không cái nào không rõ nét, lòng người không ai không phấn chấn, không lớp nào không đoàn kết, quần chúng không gì không mãn nguyện… đều là những lời rập khuôn điển hình.

Đoạn kết khi viết văn khó tránh khỏi việc xuất hiện câu: “Chúng tôi tin rằng, dưới sự nỗ lực của xxx., xxx nhất định sẽ xxx.”

Trong văn nghệ, giải trí, trong đời sống thường ngày cũng tràn ngập những lời rập khuôn như vậy.

Trong vở kinh kịch nổi tiếng “Tứ Lang thám mẫu” (Tứ Lang thăm mẹ) trên đĩa CD “Tứ Lang thám mẫu” trình diễn những vở kịch kinh điển chúc mừng Viện kinh kịch Trung Quốc tròn 50 năm, ghi một đoạn ấn tượng như sau:

“Nửa thế kỷ nay, dưới phương châm chỉ đạo nghệ thuật của Viện kinh kịch Trung Quốc, sáng tác và trình diễn một loạt những vở kinh kịch hiện đại và truyền thống xuất sắc được nhân dân đón nhận nồng nhiệt, thành tựu một loạt nhân tài nghệ thuật. Là một đoàn thể biểu diễn nghệ thuật cấp quốc gia, Viện kinh kịch Trung Quốc đã có những cống hiến tích cực trong việc truyền thừa nghệ thuật của dân tộc, hồng dương tinh thần dân tộc, thúc đẩy xã hội phát triển, xúc tiến giao lưu văn hóa Trung Hoa.”

Sáng tác “Tứ Lang thám mẫu” là việc của vài trăm năm trước, được hát trên sân khấu kinh kịch gần 200 năm không ngừng nghỉ. Nguyên nhân thành công là do kịch bản tốt, diễn đạt, không hề có quan hệ gì với Trung Cộng. Ngược lại, kinh kịch còn bị Trung Cộng phá hoại thảm hại. Mã Liên Lương, Hề Khiếu Bá, Chu Tín Phương trong bốn diễn viên kinh kịch lớn, Tấn Huệ Sinh, Thượng Tiểu Vân trong 4 tên tuổi lớn, những nhân vật nổi tiếng của giới kinh kịch đều bị bức hại. Do đó, đoạn giới thiệu đó thực chất chính là sự báng bổ kinh điển kinh kịch truyền thống, đằng sau đó phản ánh tư duy nịnh bợ chính quyền mà nói lời rập khuôn của đảng.

Món ăn Triều Châu đã có trong lịch sử mấy nghìn năm của Trung Quốc. Nhưng trong lời mở đầu của công thức nấu ăn trong “Món ăn Triều Châu chính tông của Trung Quốc” có một đoạn như sau: “Sau khi Trung Quốc mới thành lập ẩm thực  …. Lại có một bước phát triển mới. Đặc biệt là gần 10 năm qua, làn gió xuân cải cách mở cửa đã mang đến bước nhảy vọt về kinh tế của khu Triều Sán… ngày nay món ăn Triều Châu đã tiến nhập vào một thời kỳ phát triển đỉnh cao.” Dù là ẩm thực chính tông, đương nhiên thương hiệu khẩu vị đó càng lâu càng tốt, càng truyền thống càng tốt, không biết vì sao làn gió xuân cải cách có thể thổi vào trong nồi, khiến món ăn Triều Châu tiến nhập vào “thời kỳ phát triển đỉnh cao”. Điều này phản ánh một lối tư duy nói lời rập khuôn của đảng theo thói quen.

Có thể nói, ai cũng biết những lời rập khuôn của đảng không tốt, ai cũng đều thấy lời rập khuôn của đảng khiến người khác muốn ói mửa. Nhưng vì sao mọi người lại hay nói lời rập khuôn của đảng với tần suất cao như vậy? Thậm chí rất nhiều người còn không cho là chuyện đáng xấu hổ, ngược lại cho đó là vinh quang, cảm thấy hợp thời? Vậy rốt cuộc đằng sau đó phản ánh tâm thái nào?

2) Tâm thái đằng sau những lời rập khuôn của đảng

Đằng sau những lời rập khuôn của đảng ẩn chứa một loại tâm lý sợ hãi. Mọi người hình thành tư duy nói lời rập khuôn của đảng, mọi lúc mọi nơi thuận miệng là nói lời rập khuôn của đảng, về một ý nghĩa nào đó chính là đang nói với chính quyền rằng: anh ấy phục tùng trật tự độc tài đó, không hề có bất kỳ ý đồ phản kháng nào. Dưới sự chuyên chế của Trung Cộng, mọi người không biết tư tưởng độc lập và ngôn luận tự do của mình khi nào sẽ mang tới những hậu quả không tốt cho mình, thậm chí là mang tới họa sát thân. Cho nên lặp lại lời của đảng chính là một biện pháp phòng hộ tốt nhất, ngoài những từ đảng đã dùng, mọi người không dám dùng tùy tiện. Còn nếu đảng nói ra lời nào đó, thì lại phải “theo sát xu thế”, như vậy mới có cảm giác an toàn. Khi mọi người nói những lời rập khuôn của đảng, thì ít nhất về chính trị là chính xác, không chỉ là người khác không thể tìm lỗi mà còn có thể đứng trên điểm cao mà công kích người khác. Tâm lý sợ hãi này là nguyên nhân trực tiếp khiến mọi người nuôi dưỡng tư duy quen nói lời rập khuôn của đảng.

Những lời rập khuôn của đảng cũng là kết quả sự nhồi nhét cưỡng chế của Trung Cộng. Tivi, báo đài, lãnh đạo giảng nói, khắp nơi đều tràn ngập những lời rập khuôn của đảng, còn có “Thời báo”, “Tài liệu nội bộ”, “thông tấn”, “tin tức” rối rắm phức tạp do ban ngành quan liêu các cấp phát hành, khiến những từ này đã chiếm cứ tư duy của mọi người. Khi mọi người dùng ngôn ngữ để trần thuật sự thật hoặc nói lên cách nghĩ của mình thì sẽ tự động nhớ tới những câu này trước. Còn rất nhiều những người không biết sự nguy hại của những lời rập khuôn của đảng lại quen bắt chước như vẹt, đảng nói gì thì mình nói đó.

Những lời rập khuôn của đảng cũng là do hệ thống ngôn ngữ của Văn hóa đảng quyết định. Trong Văn hóa đảng, ca ngợi công lao, nịnh nọt theo đuôi, biểu đạt thái độ chính trị đã cấu thành ba đặc sắc lớn trong quan trường Trung Cộng. Giống như phân tích trong chương 6, lời của đảng của Trung Cộng có tác dụng kiểm duyệt thân phận như của xã hội đen. Biết nói những lời rập khuôn của đảng là yêu cầu cơ bản của các thành viên trong phe phái của nó, là thẻ thông hành để thành viên đó bay cao bay xa. Những người không nói những lời rập khuôn của đảng thì bị cho rằng không phải người trong cái vòng này, không được tín nhiệm, mà bị bài xích tập thể. Mọi người phải giả vờ, phải vắt óc suy nghĩ, hoặc chỉ vì sinh tồn một cách thấp hèn trong khe nứt, đều đành phải nói những lời rập khuôn của đảng. Còn có người cho rằng những lời rập khuôn của đảng mới phù hợp với giới “chủ lưu” trong xã hội do Trung Cộng thống trị, coi những lời rập khuôn của đảng như những lời chính thức có thể trích dẫn vài đoạn mọi lúc mọi nơi, thể hiện rằng bản thân mình rất hợp thời, có bản sự. Người khác cũng cảm thấy anh ấy biết ăn nói, rất khâm phục, như vậy lại càng làm trầm trọng thêm thói quen này, cả xã hội hình thành một phương thức sống như vậy.

3) Sự độc hại của những lời rập khuôn của đảng

Tư duy Văn hóa đảng quen nói những lời rập khuôn của đảng mang tới những hậu quả nghiêm trọng.

Khi mọi người truyền bá những lời rập khuôn của đảng, dù là mọi người cố tình hay châm biếm, đều khiến Văn hóa đảng trở thành một bộ phận trong cuộc sống sinh tồn của mọi người. Do đó không ngừng sáng tạo môi trường sinh tồn cho Trung Cộng, khởi tác dụng duy hộ tà giáo hắc phái Trung Cộng. Bởi vì mọi người sử dụng hệ thống ngôn ngữ của Văn hóa đảng cũng chính là tiếp nhận nhân tố của Trung Cộng, chính là tăng cường cho cái trường nơi Trung Cộng dựa vào đó mà tồn tại.

Tư duy nói những lời rập khuôn của đảng cũng khiến người Trung Quốc và xã hội quốc tế rất khó giao tiếp. Những lời rập khuôn của đảng là văn hóa bè phái giả tạo, nó khiến con người khó giao tiếp với người khác về mặt ngôn ngữ. Người những nước khác khi nói chuyện với lãnh đạo Trung Cộng, nghe những người ấy nói ra một bộ những lời rập khuôn của đảng thường choáng váng không sao hiểu nổi, không biết quốc gia lớn như vậy rốt cuộc xảy ra chuyện gì, vì sao lại không thể tìm ra một nửa người nói chuyện một cách bình thường trong cả tỷ người để quản lý đất nước này.

Đồng thời, mọi người khi đã quen với những lời rập khuôn của đảng có lẽ cũng không ý thức được nhân tố của Văn hóa đảng đã bắt đầu bóp nghẹt ngôn ngữ độc lập, bóp nghẹt tư duy độc lập, ngược đãi cho tới chết nhân cách độc lập của con người, làm ủ dột năng lực sinh sống của bản thân. Dù Trung Cộng làm hết thảy những chuyện xấu, thì hệ thống ngôn ngữ của Văn hóa đảng của Trung Cộng đều có thể dễ dàng khống chế tư duy con người, làm sai lệch tiêu chuẩn phán đoán của con người, đồng thời che giấu trách nhiệm tội ác của mình, kết quả đã khiến rất nhiều người biện hộ cho Trung Cộng như một thói quen. Do đó, dù cho Trung Cộng hết lần này đến lần khác mang tới những khổ nạn trầm trọng cho dân tộc Trung Hoa, phạm phải hết tội ác này đến tội ác khác không thể dung tha, vẫn không thể xua đuổi được Trung Cộng phụ thể dân tộc Trung Hoa và trường kỳ khống chế người Trung Quốc bằng ngôn ngữ như một cơn ác mộng.

4) Đột phá lồng giam ngôn ngữ, khôi phục tự do tâm trí

Ngôn ngữ của một người phản ánh thế giới tinh thần của người đó. Ngôn ngữ phản ánh ra lại có thể vun đắp thế giới tinh thần của con người. Những lời rập khuôn của đảng phản ánh một tâm hồn bệnh hoạn giả dối, xấu xí, cứng nhắc. Quá trình quen dần với những lời rập khuôn của đảng chính là quá trình dần vứt bỏ tư duy tự do và nhân cách độc lập, chính là quá trình trở thành thi thể mang Văn hóa đảng. Còn ngôn ngữ thành thật, hòa ái, lương thiện khoan dung, nhân nghĩa, tự do, linh hoạt, nho nhã lại phản ánh thế giới nội tâm tốt đẹp, đồng thời cũng hỗ trợ cho việc bồi dưỡng thói quen tư duy tự do và làm phong phú đa dạng cá tính.

Hãy cáo biệt những lời rập khuôn của đảng, cáo biệt lồng giam bó buộc ngôn ngữ và tâm trí của chúng ta. Chỉ có như vậy trí tuệ của nhân dân Trung Quốc mới có thể thực sự được phát huy, xã hội Trung Quốc mới có thể phục hồi lại sức sống.

5. Làm nhầm lẫn khái niệm đảng và chính phủ, đảng và quốc gia, đảng và dân tộc

Sau khi Đảng Cộng sản cướp đoạt chính quyền, đã gọi thay triều đổi đại là “kiến quốc”, tiếp đó còn dùng dáng vẻ “Chúa cứu thế”, “Đấng sáng thế” mà bắt đầu tiến hành tuyên truyền nhồi nhét mấy chục năm nay trên mảnh đất Trung Hoa rộng lớn, dường như 5.000 năm lịch sử của chúng ta hoàn toàn chưa từng tồn tại trên trái đất. Cho nên, chính phủ trở thành chính phủ mãi không thay đổi do đảng sáng lập, quốc gia trở thành quốc gia do đảng sáng tạo lãnh đạo trọn đời, dân tộc trở thành dân tộc do đảng tới cứu thế, đại biểu một cách vô điều kiện. Không có Đảng Cộng sản, chính phủ chắc sẽ trở thành vô chính phủ, quốc gia chắc sẽ trở nên hỗn độn, dân tộc chắc sẽ thành nô lệ mất nước. Đảng quy định cho mình quyền “chí cao vô thượng”, điều khiển “chính phủ”, “quốc gia”, “dân tộc”.

Nhằm ổn định sự thống trị của đảng, Trung Cộng kiểm soát xã hội và mọi phương diện trong cuộc sống của người Trung Quốc một cách nghiêm ngặt. Cơ cấu của đảng từ trung ương cho đến vùng xa xôi hẻo lánh không nơi nào không có mặt; hành sự từ việc sát nhân phóng hỏa đến đấu với Trời, đấu với Đất có thể nói là không gì không dám làm; dù là hôn nhân lễ tết hay phụ nữ sinh mấy con, đảng không việc gì không quản. Đảng ở khắp mọi nơi, “chính phủ”, “quốc gia” và “dân tộc” đã trở thành con rối trong tay đảng, cái dây nằm trong tay đảng, phục vụ đảng.

Nhiều người dân Trung Quốc ngày nay không phải là không biết đảng và chính phủ, quốc gia và dân tộc là hai chuyện khác nhau, đạo lý này mọi người đều hiểu, nhưng về tâm lý thì hình bóng của đảng nặng nề như vậy, vi quan như vậy, “đảng” trở thành bùa chú không thể phá giải nắm giữ vận mệnh người Trung Quốc. Vấn đề quan trọng nhất là mọi người cảm thấy tách rời Đảng Cộng sản mà nói tới chính phủ này, duy hộ quốc gia này, làm giàu mạnh dân tộc này thì không còn có ý nghĩa thực chất nữa, giống như cá tách khỏi nước, cảm thấy quả thực là nói chuyện phiếm. Cho nên sự khác biệt trên lý luận về những khái niệm đảng, quốc gia, chính phủ, dân tộc không thể ngăn nổi sự hỗn tạp trong phạm vi kinh nghiệm đó, tình cảm của nhân dân với quốc gia và dân tộc toàn bộ đều chuyển thành tình cảm dành cho đảng. Phản đảng chính là phản chính phủ, chính là không yêu nước, chính là phản Trung Hoa, chính là bán nước, chính là làm người Trung Quốc mất mặt, bôi nhọ dân tộc. Đảng ngụy trang thành quyền trượng của chính phủ, thành hóa thân của quốc gia, đại diện của dân tộc. Tóm lại, đảng chính là tất cả.

1) Đảng chính là “tất cả”

(1) Đảng tự phong cho mình là “người mẹ thân thương”

Khổng Tử nói: “Hiếu đễ dã giả, kỳ vi nhân chi bản ru” (Hiếu thuận là gốc của Nhân). Hiếu thuận là đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc Trung Hoa, trong đạo hiếu sự hiếu thuận với mẹ là nổi bật nhất. Đảng Cộng sản liền coi mình như mẹ, thậm chí là người thân còn thân thiết hơn cả mẹ, từ đó nhận được sự hiếu thuận vô ngần của nhân dân. Con cái không chê mẹ xấu, Đảng Cộng sản dù xấu xa thế nào mọi người cũng muốn duy hộ hình tượng của đảng.

(2) Đảng tự xưng mình dưỡng dục nhân dân

Đảng không trồng trọt không dệt vải, đâu có thể dưỡng dục nhân dân? Ngược lại, là nhân dân dưỡng dục đảng, là tiền của “người nộp thuế” đã nuôi sống đảng.

Nhưng đảng thông qua bộ máy quốc gia khống chế toàn bộ của cải và tài nguyên của người Trung Quốc, “cộng” toàn bộ tài sản của toàn Trung Quốc. Lấy đi những thứ vồn thuộc về người Trung Quốc rồi mang đi “thi ân” cho bách tính, mọi người tự nhiên cảm thấy là đảng cho mình đi học, sắp xếp công việc cho mình, giới thiệu đối tượng cho mình, phân nhà mới cho mình, phát lương hưu cho mình. Tình mẹ được tạo nên từ việc phong bế nhồi nhét trường kỳ này khiến mọi người phổ biến cảm nhận một cách đảo lộn rằng “dù Đảng Cộng sản không tốt ra sao, nhưng cũng có ân dưỡng dục mình.” Kỳ thực chính là ngược lại, mọi người trong xã hội bình thường đều phải đi học, làm việc, thành gia lập nghiệp, xưa nay không hề nghe nói đến công lao nào của đảng, tất cả đều là công lao và cống hiến mà bản thân mỗi người nên có, là trạng thái sinh sống bình thường. Sự cải thiện cuộc sống của người dân Trung Quốc tuyệt đối không phải bắt nguồn từ Đảng Cộng sản, mà là lao động cần lao của bản thân mình. Hơn nữa không có sự bóc lột và chèn ép của Đảng Cộng sản, cuộc sống của người Trung Quốc khẳng định là tốt hơn hiện tại. Những nước không có Đảng Cộng sản, chẳng phải có nhiều người đi học hơn, có càng nhiều công việc tốt, nhà càng rộng và tiền lương hưu càng nhiều hơn sao?

(3) Đảng khống chế bát cơm

Không phải ai ai cũng đều tin tưởng “người mẹ” ngoại lai tà ác đủ đường này, nhưng “người là sắt, cơm là thép, ba ngày không ăn đói phát hoảng.” “Mẹ đảng” có cách “đại nghĩa diệt thân” dành cho những người không biết nghe lời. Không cho bạn cơm ăn, bạn làm thế nào? Trước “cải cách mở cửa”, Trung Cộng đã lũng đoạn mọi tư liệu sản xuất, bất kỳ một người nào muốn tìm việc, đều phải tới tìm đảng, điều này tạo thành cảm giác sai lầm cho con người, dường như giống như đảng cho chúng ta bát cơm vậy. Tới tận ngày nay, chỉ cần đảng muốn, nó có thể không màng bất kể đạo lý nào mà cướp bát cơm của chúng ta. Điều này lại khiến mọi người cảm thấy: đảng vốn dĩ có thể cướp đi bát cơm của chúng ta, nhưng nó lại không cướp. Do đó mọi người lại “mang ơn mang nghĩa” với nó, cảm thấy bát cơm là đảng cấp cho, nhưng lại không nghĩ rằng bản thân tiền đề “đảng vốn dĩ có thể cướp đi bát cơm của tôi” chính là sự vô lý. Về góc độ tâm lý mà nói, đảng khống chế chặt chẽ bát cơm, mọi người cũng càng cảm thấy là đảng bảo đảm sự sinh tồn cơ bản cho mình. Nhân dân không thể rời xa bát cơm, khi con người coi đảng và bát cơm giống nhau, thì “phản đảng” chính là “phản lại nhân dân”.

(4) Đảng đại biểu “sự tiên tiến”

Đảng Cộng sản rất hứng thú với việc vạch rõ “phần tử tiên tiến” và “phần tử lạc hậu”. “Phần tử lạc hậu” là đối tượng để đấu tranh, còn đảng viên phải là “phần tử tiên tiến”, là “đội tiên phong”, là “tinh anh của xã hội”, đại diện cho “năng lực sản xuất tiên tiến”, “văn hóa tiên tiến”. Cho nên, đảng trở thành “rường cột”, “tương lai”, “xu hướng” của quốc gia và dân tộc. Dưới thế tuyên truyền tấn công đường đường chính chính như vậy, ác đảng lại trở thành “người tốt”, cho nên trong ý thức của mọi người càng thêm ỷ lại vào Đảng Cộng sản.

(5) Đảng là “lối thoát”

Quyền lực của toàn xã hội đều bị khống chế trong tay đảng, không gia nhập đảng thì không được đề bạt, không gia nhập đoàn thì tiền đồ cá nhân sẽ bị ảnh hưởng, thậm chí không vào đội đều sẽ trở thành nỗi sỉ nhục to lớn. Gia nhập vào các tổ chức của đảng trở thành điều kiện tiền đề cho mọi người tìm được lối thoát trong xã hội. Đảng và sự nghiệp cũng như cuộc sống của mọi người có quan hệ mật thiết với nhau.

(6) Đảng trà trộn vào cuộc sống

Bí thư chi bộ đảng không cần nghề chính đáng, cũng không cần nghề gì chính đáng, ngoài việc tuyên truyền nhồi nhét phương châm chính sách, thêm vào việc nắm bắt công tác tư tưởng. Công tác tư tưởng này không chỉ có việc giám sát quần chúng xem có tư tưởng chính trị đoàn kết chặt chẽ xung quanh đảng hay không, mà điều này bao gồm những tranh chấp giữa hàng xóm, chức vụ và mâu thuẫn gia đình, đảng và cuộc sống thường nhật của mọi người, bao gồm đời sống riêng tư cũng không thể tách rời.

(7) Đảng quảng cáo mình là “hóa thân của đạo đức”

Mặc dù đạo đức xã hội của Đảng Cộng sản rất hèn hạ, đặc biệt là tại Trung Quốc Đại lục hiện nay, nguy cơ tha hóa đạo đức đã trở thành nhận thức chung của xã hội, nhưng Đảng Cộng sản trong khi tuyên truyền vẫn nhất quán dán nhãn cho mình là hóa thân của đạo đức. Mỗi một thời kỳ đều có một lô những khẩu hiệu đạo đức, nào là “ba kỷ luật lớn”, “tám điều cần chú ý”, “học theo hình mẫu Lôi Phong”, “ngũ giảng tứ đức”, “văn minh tinh thần”, “tam đại biểu”,“lấy đức trị quốc”, “bát vinh bát sỉ (tám điều vinh quang, tám điều sỉ nhục)”, “xã hội hài hòa”… Bởi vì quan niệm đạo đức mà nó đề xướng chỉ là những quan niệm như trung thành với đảng, duy hộ Đảng Cộng sản, còn bản thân Đảng Cộng sản lại không nói chuyện đạo đức, cho nên đạo đức càng ngày càng trượt dốc, đến nay nát như tương bần. Nhưng những cuộc vận động tuyên truyền đạo đức, chính trị này lại khiến mọi người nhầm tưởng rằng đảng nhấn mạnh đạo đức. Ở trường những bài học đạo đức là thuộc về bài học chính trị, cột chặt vào với đảng khiến con người tin rằng đảng yêu cầu con người học đạo đức, mặc dù mục đích cuối cùng mà đảng tuyên truyền đạo đức chính là để con người “nghe lời đảng, đi theo đảng, đảng bảo làm gì thì làm nấy.” Nhưng từ nhỏ đã bị nhồi nhét cái thể chế giáo dục mà trong đó đảng là “hóa thân của đạo đức”, khiến con người vẫn luôn tin rằng bản thân đảng là tốt, việc xấu là do cá nhân cá biệt làm. Tất cả đều tách rời với những đạo đức bại hoại do tự thân đảng tạo thành.

(8) Đảng tự đứng ở vị trí là người đại diện cho quốc gia, dân tộc.

Nhiệt tình yêu nước và cảm tình dân tộc là ý thức công dân chất phác nhất, nhưng Đảng Cộng sản lại thao túng sự biểu đạt những tình cảm này trong tay mình. Nền tảng cơ sở của giáo dục chủ nghĩa yêu nước và tự tôn dân tộc về cơ bản là được tuyên truyền thông qua những tổ chức của Đảng Cộng sản như Đội Thiếu niên Tiền phong, Đoàn Thanh niên Cộng sản và Chi bộ đảng. Khi tuyên truyền thì luôn lấy danh nghĩa giáo dục chủ nghĩa yêu nước cũng như hàng loạt những lời giả dối để nhồi nhét tình yêu Đảng Cộng sản. Như vậy, từ nhỏ tới lớn đã quen với việc tiếp nhận những tin tức về quốc gia dân tộc thông qua đảng, mọi người không chỉ cảm thấy Đảng Cộng sản yêu nước và duy hộ lợi ích của dân tộc, mà điều quan trọng là mọi người càng yêu đảng hơn, người tự đặt mình ở vị trí đại diện cho quốc gia, dân tộc.

Khi Trung Cộng tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước còn có một vốn từ chuyên dùng, gọi là “nhân sỹ tiến bộ yêu nước”. “Tiến bộ” ở đây chính là chỉ việc duy hộ Đảng Cộng sản. Hàm ý là gì? Chính là ý nói chỉ với những người ủng hộ Đảng Cộng sản thì yêu nước mới có ý nghĩa, mới là chính xác. Những kẻ phản đảng không xứng yêu nước, hoặc yêu nước là “lạc hậu”. Kiểu tuyên truyền này quả thực làm đảo lộn tư duy của con người. Yêu nước là yêu nước, là vượt khỏi chính trị. Chiêu này của Trung Cộng ngược lại đã nói rõ rằng Trung Cộng không yêu nước.

Trung Cộng còn có một từ gọi là “phản đảng, phản nhân dân”. Nó đã quàng hai chuyện không hề liên can tới nhau, sau một thời gian dài, mọi người cũng quen với việc phản đảng chính là phản nhân dân.

(9) Đảng là một ban quản trị

Trung Cộng nhiều năm kêu gọi “chính phủ và đảng phân khai”, nhưng đảng sẽ không vứt bỏ quyền lợi của mình, căn bản không thể phân khai. Từ trung ương tới địa phương tới làng xã thôn xóm, bí thư vĩnh viễn là một người cầm trịch. Cơ cấu quyền lực dày đặc những người cầm trịch từ trên xuống dưới khiến mọi người đành phải tiếp nhận hiện thực “đảng mới là người quản lý chân chính”, mọi người đã quen với việc nói “đảng và chính phủ” chứ không phải “chính phủ và đảng”, cảm thấy nói chuyện mà tách khỏi đảng sẽ không còn ý nghĩa.

(10) Đảng đồng thời khống chế chính phủ từ vĩ quan tới vi quan

Đảng Cộng sản hoàn toàn không phải cứ cử một bí thư xuống một đơn vị là xong việc, mà bản thân nó từ trung ương tới địa phương phải có một hệ cơ cấu điều khiển chính phủ. “Quân ủy trung ương” và “Quân ủy quốc gia”, “Trung ương đảng” và “Quốc vụ viện”, “Tỉnh ủy” và “Ủy ban nhân dân tỉnh”, “Huyện ủy” và “Ủy ban nhân dân huyện”, “Ủy ban nhân dân tỉnh”, “Xã ủy” và “Ủy ban nhân dân xã”. Chính phủ có “Công an kiểm sát hành pháp”, đảng có “Ủy ban Chính trị Pháp luật”, chính phủ có “Đài truyền hình và phát thanh”, đảng có “Bộ tuyên truyền”, chính phủ có “Bộ nhân sự”, đảng có “Bộ tổ chức”, chính phủ có “Bộ giám sát”, đảng có “Ban kiểm soát”. Đảng là một người cầm trịch, đảng vĩnh viễn lãnh đạo chính phủ. Mọi người không thể tưởng tượng được nếu không có đảng, các ban ngành chính phủ sẽ vận hành ra sao. Đồng thời, quan chức chính phủ đều nhận lệnh từ hệ thống đảng, quan chức chính phủ ngược lại tuyệt đại đa số đều là đảng viên. Tính hai mặt trong thân phận quan chức lại càng khiến đảng và chính phủ bắt rễ đan xen vào nhau. Trong một xã hội thông thường, đảng viên, cơ cấu tổ chức của các đảng phái không được những người nộp thuế cấp dưỡng. Nhưng Đảng Cộng sản lại trực tiếp làm phụ thể bám trên thân chính phủ, đủ loại cơ cấu đảng vụ chuyên trách, bán chuyên trách được cấp dưỡng từ những đồng tiền mồ hôi xương máu của những người nộp thuế một cách cưỡng chế.

Sự vận hành của một quốc gia vốn là dựa vào chính phủ, nhưng Đảng Cộng sản đã ký sinh chính phủ và khống chế chính phủ từ vĩ quan tới vi quan, nắm rõ mọi quyết sách lớn nhỏ của chính phủ. Xét về mặt vĩ quan, tầng tầng lớp lớp các ban ngành chính phủ do lãnh đạo đảng, “Trung ương đảng” lãnh đạo “Quốc vụ viện”, cho nên chính phủ phải nghe theo bí thư. Về mặt vi quan, quan chức chính phủ vốn là đảng viên, trong những cuộc họp nhóm đảng viên, cấp dưới phải phục tùng các cấp, toàn đảng phục vụ trung ương, cho nên những chuyện không thể dàn xếp về mặt vĩ quan thì đảng thông qua biện pháp vi quan nhất định sẽ dàn xếp ổn thỏa. Như vậy, một mặt đảng hoàn toàn khống chế chính phủ, biến chính phủ thành con rối của đảng, mặt khác lại khiến mọi người khó có thể phân biệt được rốt cuộc đâu là đảng, đâu là chính phủ, do đó thường hay lẫn lộn đảng và chính phủ.

 (11) Đảng lợi dụng mọi chuyện tốt đẹp để tô vẽ cho mình

Vận động viên đoạt giải, nhà khoa học đưa vệ tinh lên trời, nông dân có mùa bội thu, xin tổ chức Olympic, sửa hồ nước,… Trung Cộng đều tính công về phần mình. Sau một thời gian dài, mọi người quả thực còn công nhận tà thuyết này. Chèo kéo những người có biểu hiện nổi trội gia nhập đảng, như vậy việc tốt đều thành ra đảng làm. Cho nên xảy ra hiện tượng, chỉ cần nói một chút về những việc tốt của Trung Quốc, mọi người tự nhiên cảm thấy đang nói những việc tốt của đảng, đều trở thành bột màu cho Trung Cộng tô vẽ. Có một từ là “chính sách của đảng là tốt”. Đảng không quản nông dân, nông dân có cơm ăn, đảng không quản hộ cá thể, hộ cá thể cũng phát tài, không có đảng can nhiễu cuộc sống của người dân tốt đẹp hơn, điều này vốn đã vạch trần việc Trung Cộng không tốt như thế nào, nhưng Trung Cộng ngược lại lại gọi là “chính sách tốt”, nhân dân trăm họ liền cảm tạ ơn đức. Sự phồn vinh trên bề mặt trong nền kinh tế Trung Quốc hiện đại, cái gốc của nó chính là dựa vào sức lao động giá rẻ, là sự chăm chỉ và thông minh của những nhà đầu tư hải ngoại và người Trung Quốc, Trung Cộng lại coi tất cả những điều này là vốn của mình. Kỳ thực, ngược lại, thái độ muốn thành công mau chóng nhằm duy hộ tính hợp pháp của nó đã gây ra biết bao sự lãng phí tài nguyên, phá hoại môi trường và sự tha hóa về đạo đức xã hội. Chính vì Trung Quốc có thị trường lớn mấy tỷ người nên mới rộ lên trào lưu Trung Quốc, nhưng tuyên truyền của đảng thường là coi sự xem trọng của thế giới với Trung Quốc thành sự ủng hộ với Trung Cộng.

(12) Đảng hễ một chút lại đại diện cho tất cả, lãnh đạo tất cả

Trung Cộng độc tài chuyên chế, nhưng lại rất thích mở miệng ra là nói “quốc gia”, “dân tộc” và “nhân dân”, động một chút là phát biểu nó phải “đại biểu” toàn thể nhân dân Trung Quốc như thế nào như thế nào đó. Nhân dân trăm họ không có phần phát biểu ngôn luận, đành phải bị “đại biểu”. Nhưng cứ bị “đại biểu” hết lần này đến lần khác cũng thành quen, dường như Trung Cộng là “đại biểu” thật.

Đảng không chỉ đại diện tất cả mà còn quản tất cả. Đảng quản chính phủ, đảng quản quân đội, đảng quản ngoại giao, đảng quản từ việc ăn ở đi lại vệ sinh của mỗi người. Đảng chính là tế bào ung thư, thâm nhập vào từng ngóc ngách trong toàn xã hội. Đây quả thực là điều đại bất hạnh cho dân tộc.

(13) Đảng dán nhãn “phản đảng” thành “phản Trung Hoa”

Mặc dù đảng không nơi nào không có mặt, khiến mọi người không thể phân biệt rạch ròi khái niệm giữa đảng và chính phủ, quốc gia dân tộc, nhưng “Con giun xéo lắm cũng quằn” lại là những tuyên truyền thị phi mà đảng muốn che giấu nên chủ động gây nhầm lẫn, tô trát “phản đảng”, “phản cộng” thành “phản Trung Hoa”.

Chính quyền bạo lực của Đảng Cộng sản trên thế giới đã mang tai tiếng rất không tốt, tại các nước phương Tây khi di dân có ba loại người không được chào đón là phát xít, chủ nghĩa khủng bố và Đảng Cộng sản. Nói có người phản cộng đó là chuyện rất đỗi bình thường. Nhưng khi Trung Cộng phê phán ngôn luận phản Đảng Cộng sản thường hay dán mác “phản Trung Hoa” cho đối phương, “Thế lực phản Hoa trên thế giới chết hết thì mới yên tâm”, những người kiên định phản cộng thì bị gọi là “thủ lĩnh phản Trung Hoa”. Nếu người Trung Quốc tự mình phản đối Trung Cộng lại càng bị mắng là “bán nước”, “bôi nhọ nhân dân Trung Quốc”…, ngấm ngầm nhồi nhét “Trung Cộng” chính là “Trung Quốc”, chính là “nhân dân Trung Quốc”.

Sau khi đảng trở thành tất cả, mọi người quả thực không thể phân rõ mối quan hệ giữa đảng và chính phủ, quốc gia và dân tộc.

2) Mọi người nhầm lẫn khái niệm đảng và chính phủ, đảng và quốc gia, đảng và dân tộc

Trong số những người phê bình tổng thống Mỹ, không có ai bị công kích là không yêu nước, người phê phán Đảng Cộng hòa của Mỹ cũng sẽ không bị ai công kích là không yêu nhân dân Mỹ; phản đối đảng cầm quyền, hoàn toàn không có nghĩa là phản đối chính phủ Mỹ; dù cho người Mỹ đứng trước tòa Bạch Ốc tại nước Mỹ hay ở bên ngoài nước Mỹ mà phản đối chính phủ Mỹ cũng sẽ không bị ai chụp mũ là không yêu nước, cũng không bị mọi người nghĩ rằng họ đang làm người Mỹ mất mặt. Phản đối bất kỳ một đảng nào đó lại càng không bị mang tội danh là kích động làm hỗn loạn quốc gia.

Nhưng khi có người vạch trần Đảng Cộng sản, phê bình những đen tối trong xã hội rất nhiều người lại lớn miệng mắng rằng: “Anh có phải người Trung Quốc không?” Ở hải ngoại nếu có người kháng nghị trước Đại sứ quán Trung Quốc, cũng sẽ có rất nhiều người phẫn nộ không kiềm chế được, cho rằng làm người Trung Quốc mất mặt. Khi chính phủ nước ngoài muốn phê phán Trung Cộng, Trung Cộng sẽ bất chấp tất cả, nhân dân cũng sẽ phụ họa theo. Sự phẫn nộ của những người này thường xuất phát từ nội tâm. Khi bạn đang vạch trần hành vi tà ác của Trung Cộng, họ cảm thấy bạn đang làm họ mất mặt từng thời từng khắc, họ cho rằng vì bạn vạch trần những chuyện xấu của Trung Cộng mà khiến họ bị người nước ngoài khinh miệt, xem thường họ, khiến họ không còn thể diện khi đứng trước người nước ngoài. Nhưng người nước ngoài căn bản lại không có phản ứng này. Người Trung Quốc dám vạch trần một chính quyền chuyên chế, ngược lại càng khiến người nước ngoài khâm phục dũng khí và lương tâm của bạn. Vì sao người Trung Quốc chúng ta lại mắc loại bệnh “chứng hoang tưởng mất thể diện” này? Chính là do nhầm lẫn khái niệm giữa đảng và chính phủ, đảng và quốc gia, đảng và dân tộc, coi mình là một phần tử của Trung Cộng. Rất nhiều người vô hình chung đã coi yêu nước đồng nghĩa với yêu đảng, cho rằng phê bình Trung Cộng chính là phê bình Trung Quốc, phản đối Trung Cộng chính là phản đối Trung Hoa, chính là đồng nghĩa với bán đứng người dân Trung Quốc.

Lãnh đạo Trung Cộng khi viếng thăm nước ngoài, hiện nay có một cảnh tượng rất đặc biệt, chính là có một nhóm người kháng nghị, lại cũng có nhóm người hoan nghênh do đảng tổ chức, nhưng nhóm người hoan nghênh cơ bản là không nhìn thấy người được hoan nghênh. Vậy vì sao vẫn đến hoan nghênh? Lý giải của họ là hoan nghênh không phải mục đích, vốn đã biết rằng lãnh đạo sẽ không gặp mặt họ, mục đích sắp xếp họ tới hoan nghệnh hoàn toàn là nhằm vào nhóm người kháng nghị. Năm 2006 khi Hồ Cầm Đào viếng thăm tòa Bạch Ốc của Mỹ, khi có hãng truyền thông phương Tây phỏng vấn người tổ chức thuộc đội ngũ tới hoan nghênh rằng: “Anh hãy nhìn phía đối diện xem, có cả một đội ngũ hơn 2.000 người kháng nghị, anh thấy chuyện này thế nào?” Người tổ chức đội hoan nghênh trả lời rằng: “Lãnh đạo Trung Quốc tới viếng thăm là những thời khắc rất khấn khởi, kháng nghị lãnh đạo vào lúc này quả thực là việc không đúng lúc.” Câu trả lời này thật nực cười, bởi vì anh nói lúc này không phải lúc, vậy anh có cho những người kháng nghị này cơ hội kháng nghị thích hợp không? Bạn ở Trung Quốc Đại lục căn bản là không có cơ hội gặp được lãnh đạo Trung Quốc, còn thỉnh nguyện vấn đề mẫn cảm là “làm loạn trật tự xã hội”, phải ngồi tù. Còn khi lãnh đạo Trung Quốc viếng thăm những nước dân chủ, nhân dân mới có cơ hội đi kháng nghị, thay mặt những đồng bào không có quyền ngôn luận trong nước biểu đạt, vậy mà lại có người nói “trong thời khắc khấn khởi” này đi kháng nghị là “việc không đúng lúc”, lãnh đạo viếng thăm nước ngoài lại đều rất khấn khởi, vậy thì không còn bất kỳ cơ hội nào để kháng nghị. Những người đi hoan nghênh cảm thấy họ đang biểu đạt nhiệt tình yêu nước nhằm đối phó với nhóm người kháng nghị. Nhưng không để cho những vị lãnh đạo nghe thấy tiếng lòng của nhân dân bị bức hại, Trung Cộng có thể sửa sai thế nào đây? Không thể sửa sai, tiếp tục bức hại nhân dân, đối với quốc gia và nhân dân mà nói chẳng phải là tai nạn hay sao? Hậu quả này là yêu nước hay hại nước? Nói thẳng ra, những người hoan nghênh đó cho rằng đang vì thể diện yêu nước, kỳ thực là vì thể diện yêu đảng.

Trong xã hội bình thường, mọi người ủng hộ chính phủ thì không cần biểu đạt, vì lá phiếu bầu cử của họ đã biểu đạt điều này. Ngược lại, mọi người cần biểu đạt sự bất mãn với chính phủ. Dù cho chính phủ có làm tốt thế nào đi nữa, đó cũng đều là những chuyện thuộc bổn phận của nó, chẳng phải ban đầu nhân dân thấy anh làm tốt mới chọn anh sao? Ngược lại, chính phủ làm không tốt, đó chính là mất quyền, thay chính phủ khác làm tốt hơn. Cho nên chúng ta xưa nay không hề thấy Tổng thống nước Pháp khi viếng thăm thì Đại sứ quán của Pháp phải tổ chức người nghênh đón ông. Lãnh đạo của chính phủ do dân lựa chọn cũng có sự tự tin này, ông không cần những hình thức bên ngoài như vậy để chứng minh quyền lực và tính hợp pháp của mình. Còn khi Đảng Cộng sản làm như vậy, bản thân nó không ý thức được, những người tới hoan nghênh cũng không ý thức được đây là cách làm chắp vá giả tạo do Trung Cộng thiếu tính cầm quyền hợp pháp.

Tư tưởng hỗn loạn không phân khai giữa đảng và nước là do Trung Cộng cố ý tạo nên. Trung Cộng biết rằng mình chỉ có cơ sở mấy chục năm, lại là thứ du nhập ngoại lai, cho nên phải tìm một chỗ dựa. Người Trung Quốc yêu nước xưa nay đều có lòng tự hào dân tộc rất mãnh liệt, cho nên mấy chục năm nay Trung Cộng vẫn luôn tự hào rằng mình là người yêu nước, tô điểm cho mình thành đại biểu cho lợi ích của dân tộc Trung Hoa, lừa gạt người dân trăm họ. Đồng thời nó vẫn luôn liên kết đảng và quốc gia, nhân dân, chính phủ, yêu đảng yêu nước, phản đảng phản nhân dân, phản đảng phản chính phủ, do đó đã tạo ra sự hỗn loạn giữa đảng và nước.

3) Trung Cộng không phải là Trung Quốc

Chúng ta cần xác lập một nhận thức chung là Trung Cộng không phải là Trung Quốc. Đảng chính trị và quốc gia, dân tộc vốn không phải là một khái niệm. Trung Quốc là một quốc gia, một dân tộc tồn tại đã mấy nghìn năm, còn Trung Cộng mới xuất hiện chỉ có hơn 80 năm lịch sử, thống trị Trung Quốc mới chỉ có hơn 50 năm.

Từ Trung Quốc này đã có từ xưa, sớm nhất là chỉ vùng đất trung nguyên nằm giữa trung tâm “thiên hạ” (thế giới), đặc biệt là sau năm 1912 khi Trung Hoa Dân Quốc thành lập, từ “Trung Quốc” này bắt đầu trở thành khái niệm mang tính pháp luật và chính trị với ý nghĩa là dân tộc quốc gia. Thông thường, từ góc độ lịch sử, “Trung Quốc” bắt đầu từ thời có truyền thuyết về tam hoàng ngũ đế, trải qua một chỉnh thể lịch sử liên hoàn với một loạt các triều đại và chính quyền gồm Hạ, Thương, Chu, Tần, Hán, Ngụy, Tấn, Nam Bắc Triều, Tùy, Đường, Ngũ đại thập quốc, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, Trung Hoa Dân Quốc và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Về góc độ địa lý, nằm tại phía đông Đại lục Châu Á, bên bờ Tây Thái Bình Dương, là quốc gia có nhân khẩu nhiều nhất (khoảng 1,3 tỷ người), diện tích quốc gia xếp thứ ba trên thế giới. Về góc độ chính trị và cầm quyền, hiện nay tồn tại hai thể hệ chính trị gồm “Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” tại Trung Quốc Đại lục, Hồng Kông, Ma Cao và Trung Hoa Dân Quốc tại khu vực Đài Loan.

Khi một người nhắc tới Trung Quốc, trong đầu bạn xuất hiện điều gì? Có lẽ là một tấm bản đồ Trung Quốc hoặc bạn bè người thân ở đó, một nhóm người đi lại nhộn nhịp, cũng có thể là Vạn lý Trường Thành, sông Hoàng Hà, những kiến trúc đánh dấu lãnh thổ, di tích văn vật hoặc là văn hóa Trung Hoa bác đại tinh thâm… chứ không phải là một đảng chính trị. Đây là phản ứng tự nhiên của con người. Nội hàm của quốc gia bao gồm quốc thổ, rất nhiều phương diện như nhân dân các dân tộc, kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa, ẩm thực, giáo dục, lễ tết, xã hội, tôn giáo và chính trị trên lãnh thổ đó. Trung Quốc là chỉ Trung Quốc trong lịch sử, về địa lý, về văn hóa về huyết thống, còn Trung Cộng không phải là Trung Quốc. Lấy một ví dụ đơn giản, hàng Trung Quốc hiện nay thịnh hành trên toàn thế giới, dán nhãn “Trung Quốc sản xuất”, không ai hiểu là “Trung Cộng sản xuất”.

Hơn nữa trong cuộc sống thực tế, người Trung Quốc quả thực đã coi Trung Cộng là Trung Quốc, yêu nước thành yêu đảng. Chỉ cần nhắc tới Trung Cộng, rất nhiều người đều trong tiềm thức của mình liền cảm thấy như đang nói Trung Quốc thế này thế kia, “không có Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ ra sao?”, “không có Đảng Cộng sản Trung Quốc làm thế nào?” những câu này vẫn còn thị trường rộng lớn.

Ngày nay khi đại đa số người Trung Quốc không còn tin vào Chủ nghĩa Xã hội, tham ô hủ bại lộng hành, những khẩu hiệu chính trị như “đảng luôn luôn chính xác”, “Chủ nghĩa Xã hội tốt” không còn đủ để khiến người Trung Quốc tin vào Đảng Cộng sản nữa. Nhằm duy trì sự thống trị của Trung Cộng, không để mọi người nghi ngờ vì sao phải để Đảng Cộng sản thống trị Trung Quốc, Trung Cộng lại một lần nữa làm nhầm lẫn khái niệm đảng và quốc gia, lợi dụng chủ nghĩa yêu nước hẹp hòi và chủ nghĩa dân tộc cực đoan nhằm dẫn dụ tình cảm của người Trung Quốc dành cho bản thân đảng. Hành vi và tư tưởng yêu đảng được Trung Cộng tuyên truyền là hành vi và biểu hiện của lòng yêu nước.

Mục đích quan trọng mà Trung ương Trung Cộng chế định ra “Đề cương tiến hành giáo dục chủ nghĩa yêu nước” chính là phải dùng thành quả kiến thiết kinh tế của Trung Quốc nhằm khiến con người kiên trì con đường của đảng, dùng nội dung con đường của đảng để tiến hành giáo dục lòng yêu nước. Đầu tiên là tự mình khẳng định, những việc đảng làm đều vì tốt cho Trung Quốc; sau đó đổi trắng thay đen nói rằng thành tựu của Trung Quốc đều do đảng tạo thành; cuối cùng định nghĩa lòng yêu nước thành kiên trì con đường của đảng; đạt được mục đích làm nhầm lẫn những khái niệm, khiến con người ta đánh đồng yêu đảng với yêu nước.

4) Yêu nước không phải yêu đảng

Từ cổ chí kim Trung Quốc đều không thiếu người yêu nước, nhưng yêu nước không đồng nghĩa với yêu đảng. Người yêu nước chân chính quan tâm tới khổ nạn của nhân dân, chứ không phải trung thành với một lãnh tụ, đảng chính trị hay đảng phái nào. Do đó người yêu nước thường chỉ thẳng ra vấn đề. Khuất Nguyên đã từng cảm thán “Trường thái tức dĩ yểm thế hề, ai dân sinh chi đa gian.” (Tiếng thở dài che đi dòng nước mắt, thương dân lành bao nỗi gian nan), Đỗ Phủ thì thổ lộ rằng “Chu môn tửu nhục, lộ hữu đông tử cốt.” (Cửa son trải đầy thịt thối, trên đường xương người đã đóng băng). Đây đều là những người yêu nước chân chính của Trung Quốc. Theo tiêu chuẩn ngày nay của Trung Cộng những tội danh như “công kích chính phủ một cách ác ý”, “phản đảng phản chính phủ” sẽ bị phê phán và tống vào nhà giam.

Quan niệm được lưu hành tại Trung Quốc Đại lục ngày nay kỳ thực chính là phải nằm trong ý chí của chính quyền Trung Cộng, hành động theo phương hướng đã định của nó và hoan hô thành tựu phù hợp với lợi ích của Trung Cộng, đây chính là yêu nước. Kỳ thực đây là ý thức yêu nước và hành vi yêu nước hoang đường, lệch lạc. Năm 2003, dịch Sars bùng phát, Trương Văn Khang, Bộ trưởng Bộ y tế đường hoàng đảm bảo rằng Trung Quốc rất an toàn, dịch Sars đã được khống chế. Nhưng điều mà ông thể hiện chính là sự trung thành với đảng chứ không phải trung thành với nhân dân. Ông ta yêu đảng, yêu cái mũ ô sa của mình, chứ không phải yêu nước, yêu dân tộc, cái giá phải trả cho lòng yêu đảng như vậy là sinh mệnh của người Trung Quốc. Người yêu nước chân chính phải giống như bác sỹ Tương Ngạn Vĩnh dám công bố chân tướng dịch SARS ra bên ngoài, khiến dịch SARS được chú ý đến, khiến mọi người có thể áp dụng những biện pháp phòng ngừa, cứu vãn thêm nhiều sinh mệnh. Lòng yêu nước chân chính không phải là biểu thị sự trung thành của mình với Trung Cộng mà làm ra đủ thứ biểu hiện “yêu nước”, mà là trách nhiệm với Trung Quốc xuất phát từ nội tâm. Phản đối sự bức hại của Trung Cộng với nhân dân Trung Quốc là biểu hiện chân chính của lòng yêu nước, là vì Trung Cộng vu khống, Trung Cộng làm nhầm lẫn khái niệm giữa đảng và chính phủ, Trung Quốc nên mới tạo nên tầng tầng lớp lớp những hiểu lầm về tư duy, khiến mọi người không thể lý giải được ý nghĩa chính diện của việc đấu tranh hòa bình của những người bức hại.

5) Ai đang làm tổn hại hình tượng của Trung Quốc?

Với những người phê bình Trung Cộng, Đảng Cộng sản thường dùng một từ chính là làm tổn hại hình tượng của Trung Quốc, làm tổn hại tới tình cảm của người Trung Quốc. Nhưng điều vô cùng rõ ràng là, Trung Cộng không phải là Trung Quốc, phê phán Trung Cộng đương nhiên không phải là phê phán Trung Quốc. Trên thực tế, kẻ làm tổn hại hình tượng của Trung Quốc chính là Trung Cộng. Cổ nhân Trung Quốc có câu “viễn nhân bất phục, tắc tu văn đức dĩ lai chi.” (Người ở xa không phục thì dùng lễ nghĩa đạo đức dẫn dụ người tới) Bản thân mình làm tốt, thì hình tượng trong mắt người khác tự nhiên sẽ trở thành tốt. Trung Cộng bức hại nhân dân Trung Quốc, bức hại nhân quyền của những người mang tín ngưỡng, những người có tư tưởng độc lập, những người dám phát ngôn, lợi dụng thể hệ của Đảng Cộng sản thống trị một cách tàn bạo, dung túng cho những kẻ độc tài trên quốc tế, những hành vi đó chính là nguyên nhân căn bản khiến quốc tế phê bình Trung Cộng. Do đó, chính những chính sách tàn bạo áp đặt của Trung Cộng, làm tổn hại hình tượng của Trung Quốc. Còn những người phê phán cách làm bức hại nhân dân của Trung Cộng, lại chính là những người duy hộ hình tượng Trung Quốc. Điều đó có nghĩa là người Trung Quốc dám bảo vệ tôn nghiêm của bản thân, dũng cảm sửa chữa sai lầm của bản thân.

Ngày 24 tháng 10 năm 2005, một người phụ nữ Mỹ da đen tên là Rosa Parkes tạ thế. 50 năm trước trên một chiếc xe buýt tại Alabama, bà đã cự tuyệt phục tùng pháp lệnh kỳ thị chủng tộc bất công, cự tuyệt “nhường chỗ” cho người da trắng. Nghĩa cử của bà đã làm dấy nên một cuộc vận động dân quyền ngùn ngụt, chế độ ngăn cách chủng tộc do đó bị phế bỏ. Trong đám tang của bà, Kennedy, nghị sỹ quốc hội đã nói rằng nước Mỹ mất đi một anh hùng chân chính. Cũng là người da đen, ngoại trưởng Mỹ đã phát ngôn rằng: “Không có bà, tôi hôm nay cũng không thể đứng đây với thân phận là bộ trưởng bộ ngoại giao”.

Một lãnh tụ dân quyền khác được nhân dân Mỹ vô cùng tôn kính là tiến sỹ Martin Luther Gold. Năm 1963, ông đã tổ chức một cuộc họp mặt gồm 250.000 người tại đặc khu Washington DC, thủ đô của nước Mỹ phản đối kỳ thị chủng tộc, yêu cầu bình đẳng chủng tộc. Chính tại buổi họp mặt này, ông đã phát biểu bài diễn thuyết nổi tiếng “Tôi có một giấc mơ”. Năm sau ông đã nhận được giải Nobel Hòa bình. 15 năm sau khi ông mất, nước Mỹ đã thiết lập ngày nghỉ toàn quốc – “Ngày Martin Luther Gold” để tưởng niệm vị lãnh tụ dân quyền này, ông là một người bình thường duy nhất nhận được vinh dự này ngoài tổng thống Washington.

Không ai cho rằng Rosa Parkes và Martin Luther Gold làm xấu mặt người Mỹ, làm tổn hại hình tượng quốc gia nước Mỹ. Ngược lại, họ đã mang lại vinh quang cho nước Mỹ, bởi vì họ đã dùng sự dũng cảm lớn lao của mình để bảo vệ tôn nghiêm nhân quyền, mang tới bình đẳng và công lý, giành được sự tôn trọng của mọi người. Nỗ lực của họ đã thay đổi vận mệnh của một chủng tộc, thay đổi nước Mỹ, thậm chí thay đổi thế giới.

Trung Cộng vu khống mọi người vạch trần chính quyền Trung Cộng và Trung Cộng bức hại người dân Trung Quốc, thường viện lý do là làm tổn hại hình tượng của Trung Quốc. Nhưng nếu chúng ta thực sự minh bạch tinh thần và mục đích của những người chính nghĩa, nếu chúng ta minh bạch rằng Trung Cộng mới thực sự là kẻ làm tổn hại hình tượng của Trung Quốc, vậy thì chúng ta sẽ dễ dàng hiểu được vô số những người kháng nghị chính quyền bạo lực Trung Cộng ngày nay, đặc biệt là nỗ lực giảng chân tướng và phản bức hại của hàng triệu học viên Pháp Luân Công. Duy hộ tín ngưỡng và ngăn chặn Trung Cộng bức hại bách tính vô tội là quyền chính đáng. Nỗ lực của họ, trên thực tế chính là duy hộ nhân quyền và sự tôn nghiêm thiên phú của tất cả người Trung Quốc, duy hộ hình tượng Trung Quốc.

6) Tiếng chuông báo tử vang lên vì Trung Cộng

Có một số người bị Văn hóa đảng tẩy não rất nặng, vừa nghe tới Trung Cộng sắp hết đời liền nghĩ rằng chúng ta nên làm thế nào đây? Dường như Trung Cộng hết đời, họ cũng hết đời.

Trong một “cuộc thảo luận nghiên cứu về Cửu Bình”, một bà lão đặt câu hỏi: Sau khi Đảng Cộng sản sụp đổ, ai sẽ phát tiền lương hưu cho chúng tôi? Một người dẫn chương trình đáp rằng: không có Đảng Cộng sản thì không có hệ thống quan chức khổng lồ này, mà hệ thống quan chức khổng lồ này là một đám viên chức hủ bại nhất thế giới, sau khi không có bọn họ, tiền lương hưu của nhân dân Trung Quốc sẽ tăng bội phần.

Dân tộc Trung Hoa là một dân tộc vĩ đại. Chỉ cần nhìn những người gốc Hoa tại hải ngoại là có thể thấy được, không có Đảng Cộng sản, cuộc sống hoàn toàn tốt đẹp hơn. Nếu Trung Quốc Đại lục không phải do Đảng Cộng sản thống trị, thì thu nhập bình quân của người Trung Quốc ngày nay có lẽ cũng tương đương với Đài Loan, vậy thì quy mô kinh tế ngày nay của Trung Quốc sẽ gấp hai lần nước Mỹ, bằng tổng bình quân của vài nước mạnh như Mỹ, Nhật, Nga cộng lại. Trung Quốc lẽ nào vẫn mang bộ dạng ngày nay sao?

Với những quan chức chính phủ của Trung Quốc, không có Đảng Cộng sản không phải là ngày tận thế của họ, mà là sự giải phóng chân chính dành cho họ. Không có Đảng Cộng sản họ mới có thể thi triển tài hoa, phát huy tài năng. Quan chức hiện nay đều đành phải chủ động thuận theo sự lãnh đạo thô bạo của Trung Cộng hoặc chắc chắn là bị hệ thống của đảng bó buộc tay chân, muốn làm việc chân chính cũng không thể làm được, muốn không trụy lạc cũng chẳng xong.

Người Trung Quốc ngày nay đều sinh sống tại Trung Quốc cộng sản nửa đời hay cả đời người. Tuy rằng giai đoạn lịch sử này đầy khủng bố và những lời dối trá, nhưng tuổi thanh xuân, lý tưởng, tình bạn, tình yêu, hôn nhân, gia đình thành tựu thậm chí là cả kiếp nhân sinh của rất nhiều người đều ràng buộc không thể tách rời khỏi đoạn lịch sử thống trị này của Trung Cộng. Trí huệ và đắng cay vất vả của những người đã phấn đấu bao nhiêu năm vì tự do dân chủ đó cũng đều cột chặt vào đoạn lịch sử này của Trung Cộng. Do đó, rất nhiều người mặc dù có thể nhận thức được phần nào tội ác của Trung Cộng, nhưng về tình cảm vẫn còn sức ỳ khá lớn vào Trung Cộng và Văn hóa đảng của Trung Cộng. Ví như có người hát “ca khúc cách mạng” một cách vô thức kết hợp với tình cảm trong lòng mình, hay coi “kinh điển màu đỏ” này nọ là nghệ thuật, bị đối xử bất công thì hoài niệm về bình quân tuyệt đối của thời “Mao chủ tịch”, với những người lo lắng về sự xung đột văn hóa ngoại lai thì lại lầm tưởng coi Văn hóa đảng là Văn hóa Trung Hoa mà duy hộ nó. Cảm xúc hoài niệm này ngược lại lại khiến con người không thể thực sự lý trí để xem xét lịch sử của Trung Cộng và hiện trạng của Trung Quốc. Bởi vì những trải nghiệm của bản thân mình đã được liên hệ với Trung Cộng, nên sự duy hộ và trân trọng bản thân mình vô hình chung lại dành một phần cho Trung Cộng. Một khi không có “đảng” những người này dường như không biết nói năng, lúng túng không biết làm gì, ý nghĩa nhân sinh cũng không biết nên ký thác vào đâu, trong tâm thậm chí còn thấy trống trải.

Kỳ thực, thành tựu của một cá nhân cũng chỉ là một sự nghiệp, giá trị nhân sinh hiện thực có rất nhiều phương thức khác nhau, chính Trung Cộng đã ép buộc con người tới hẻm nhỏ hoang tưởng và nguy hiểm “phấn đấu trọn đời vì Chủ nghĩa Cộng sản”. Thánh nhân từ cổ tới nay trong xã hội bình thường đều thông qua sự tu chỉnh và hàm dưỡng bản thân mà đạt được cảnh giới nhân sinh tôn quý, “Trời sinh ta ắt sẽ dùng”, tinh anh của các ngành các nghề cũng đều có thể dùng phương thức của mình cống hiến cho xã hội, từ đó lưu danh sử xanh. Xã hội Trung Quốc không có Đảng Cộng sản sẽ khôi phục lại những đạo đức truyền thống của Trung Hoa gồm Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, giữa người với người sẽ càng thêm ấm áp, yêu thương.

Sau khi những nước cộng hòa Đông Âu giải thể, nhân dân sống trong Văn hóa đảng đã được giải thoát khỏi cuộc sống bao bọc bởi những lời dối trá. Họ phát hiện ra rằng không cần phải tiếp tục xem những tin tức đã bị chính phủ thẩm duyệt, không cần phải dùng tới tư duy do Văn hóa đảng nhào nặn, mà có quyền lựa chọn cuộc sống mà mình muốn, đây mới là trạng thái sinh hoạt chân chính nên có của con người. Mặc dù hãng truyền thông Trung Cộng vẫn luôn tiến hành những tuyên truyền ma quái với những nước Đông Âu để chứng tỏ cho người dân Trung Quốc rằng quyết không thể lựa chọn vứt bỏ Trung Cộng và con đường quá độ hòa bình. Trên thực tế ngoài một số quốc gia khác, cuộc cải cách Đông Âu xét một cách tổng thể đã thành công. Đông Âu chuyển hướng tới nay đã gần 20 năm, dù cho Đảng Cộng sản có thể một lần nữa tham gia tranh cử, nhưng không có một quốc gia nào lại tiếp tục lựa chọn Đảng Cộng sản, cũng không có dân tộc nào tiếp tục lựa chọn Văn hóa đảng. Điều mà những người dân Đông Âu vứt bỏ Đảng Cộng sản và Văn hóa đảng mất đi chính là mất đi một nhà ngục và được an hưởng tự do một cách bình yên và cuộc sống của người bình thường, xã hội và quốc gia không những không hề sụp đổ, ngược lại còn ngày thêm phồn vinh.

Do đó, tiếng chuông báo tử dành cho Trung Cộng đã vang lên, vong đảng không có nghĩa là vong quốc. Trung Cộng là nguồn gốc khổ nạn của người Trung Quốc hiện đại. Hoài niệm một cách không lý trí sẽ chỉ làm mạnh thêm sự khống chế của Trung Cộng lên tâm linh của bạn, khiến bạn không thể thoát khỏi cơn ác mộng ngày hôm qua.

Đối với người Trung Quốc mà nói giải thể Trung Cộng, giải thể Văn hóa đảng đều có nghĩa là một cuộc sống mới.

Kết luận: Trở lại với tư duy bình thường

Đầu óc con người giống như một cái túi, đựng vào đó vàng thì anh ta là một túi vàng, đựng vào Văn hóa đảng thì người này là một túi tư tưởng Văn hóa đảng, vô hình chung trở thành cái loa truyền thanh của Trung Cộng. Những lời tuyên truyền của Trung Cộng đã bao trùm mọi lĩnh vực trong cuộc sống của người Trung Quốc, người Trung Quốc từ những học giả có thành tựu cho tới dân thường khi rời xa Văn hóa đảng đều không thể suy nghĩ một cách bình thường, không thể nói những lời bình thường.

Đảng Cộng sản chính là muốn Văn hóa đảng, muốn dùng hình thái ý thức, nỗi sợ hãi với đảng thẩm thấu tới nơi thâm sâu trong từng tế bào, nơi sâu thẳm trong tâm hồn của người Trung Quốc, hình thành nên phản xạ có điều kiện. Điều này không phải là sự sản sinh và truyền bá văn hóa theo hàm nghĩa thông thường, mà là “hệ thống chuyên chính mềm” cần thiết nhằm kiến lập chính quyền bạo lực độc tài Trung Cộng, cũng chính là hệ thống chuyên chế về tư tưởng. Trong Văn hóa đảng, dù là quan chức cấp cao nhất của Trung Cộng hay là người dân thường đều sinh sống trong Văn hóa đảng, khó có thể thoát khỏi ảnh hưởng tư duy mang Văn hóa đảng. Đây là hậu quá khá đáng sợ.

Tư duy Văn hóa đảng của người Trung Quốc không phải được hình thành ngày một ngày hai, đó không phải là vấn đề của một cá nhân hay một quan viên nào đó, mà là trạng thái phổ biến của toàn xã hội. Quá trình này là do Trung Cộng cố ý tạo thành một cách trường kỳ. Nó vận dụng một bộ những tiêu chuẩn đạo đức thiện ác lệch lạc, dùng bạo lực để nhồi nhét và khủng bố bằng máu tanh, dùng những lời tuyên truyền dối trá và lô gic méo mó khiến người Trung Quốc cảm kích một tập đoàn chiếm cứ tài nguyên của xã hội Trung Quốc một cách cưỡng chế, khiến con người khủng hoảng, khiến con người trở thành tù nhân và nô lệ của Văn hóa đảng, vui vẻ tiếp nhận những lời dối trá của Trung Cộng mà bài xích tư duy thông thường. Chính tư duy bất thường này, duy trì những lời dối trá lừa gạt, duy trì chuyên chế bạo lực, dẫn tới những bi kịch và khổ nạn cho người dân Trung quốc.

Muốn thay đổi một tư duy hoặc mô thức tâm trí đã định hình cần phản tỉnh một cách sâu sắc, một kiểu phản tỉnh tập thể. Nhưng tư tưởng Văn hóa đảng lại không phải là phản tỉnh nội tâm. Trong khi Trung Cộng phong tỏa tin tức, mọi người muốn nghe được các cách nhìn từ các giác độ khác nhau đều rất khó khăn, càng không nói tới đó lại là một góc nhìn mới xung đột với tư duy thông thường của mọi người. Nhưng muốn thoát khỏi cái bẫy Văn hóa đảng, trở về tới tư duy thông thường, thực sự làm chủ nhân tâm hồn và tư tưởng của mình, ngày nay chúng ta không thể không nhìn thẳng vào tư duy đã bị Trung Cộng làm lệch lạc, chủ động thay đổi quan niệm và phương thức tư duy đã hình thành dưới ảnh hưởng của Văn hóa đảng.

Muốn thực sự yêu nước, thực sự biết nghĩ tới tương lai của dân tộc, thì cần vứt bỏ tư duy Văn hóa đảng, tư duy theo phương thức của người bình thường. Muốn thực sự có được cuộc sống và xã hội lành mạnh, mỗi người cần phải thanh trừ tư duy Văn hóa đảng của mình. Bởi vì xã hội Trung Quốc do từng người Trung Quốc tổ hợp thành, trong đó bao gồm cả bạn.

Ngày đăng: 15-06-2015