Một quyển sách
đã truyền cảm hứng cho hơn 300 triệu người
thoát khỏi Đảng Cộng sản Trung Quốc

Chương 10: Pháp luật- Ma quỷ hợp pháp hóa và bình thường hóa tà ác

Mục lục

1. Pháp luật và tín ngưỡng

2. Pháp luật là công cụ bạo lực chính quyền của các quốc gia cộng sản

2.1 Chủ nghĩa khủng bố quốc gia đứng trên cơ điểm thù hận và vượt trên pháp luật

2.2 Tiêu chuẩn đúng sai liên tục biến hóa

2.3 Đảng cộng sản không bao giờ nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật

3. Ma quỷ cộng sản làm biến dị pháp luật phương Tây

3.1 Lật đổ cơ sở đạo đức của pháp luật

3.2 Tranh đoạt quyền khống chế quy định và thực thi pháp luật

3.3 Lợi dụng người đại diện quy định ra pháp luật không nhân văn và bóp méo pháp luật

(a) Cấm ca ngợi Thần

(b) Thông qua việc giải thích pháp luật và các phán quyết để thay đổi nội hàm của pháp luật

(c) Lấy danh nghĩa “tự do” để phát tán các thông tin khiêu dâm

(d) Hợp pháp hóa ma túy

(e) Hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính

(f) Vứt bỏ trách nhiệm cá nhân

3.4 Hạn chế việc chấp hành pháp luật, bật đèn xanh cho tội phạm

3.5 Dùng pháp luật nước ngoài làm suy yếu chủ quyền nước Mỹ

4. Trở về với tinh thần của pháp luật

=========

1. Pháp luật và tín ngưỡng

Pháp luật là công cụ cứng rắn để duy trì sự công bằng, chính nghĩa, trừng trị kẻ ác, khuyến khích người thiện, do đó người xây dựng pháp luật không thể không đưa ra định nghĩa về “thiện” và “ác”. Đối với những người tin vào Thần thì tiêu chuẩn thiện, ác nằm trong tay của Thần, vì thế các kinh sách trong tôn giáo tự nhiên đã trở thành căn cứ và nguồn gốc của pháp luật.

Bộ pháp điển đầu tiên trong lịch sử nhân loại được ghi chép thành sách là “Bộ pháp điển Hamurabi” của Babylon cổ đại. Phần đỉnh của bia đá khắc bộ pháp điển là hình vẽ miêu tả cảnh Thần Thái Dương Shamash (cũng là Thần Công Lý) của Babylon đang truyền thụ pháp luật cho vua Hamurabi, ngụ ý là Thần đã tuyển chọn Hamurabi và trao cho ông quyền lực để trị vì thần dân bằng pháp luật.

Người Hebrew coi “Mười điều răn của Moses” trong “Kinh Cựu ước” là lời răn của Thần và cũng là pháp luật. Pháp luật phương Tây cũng đi theo truyền thống này. Từ các hoàng đế La Mã vào thế kỷ thứ 4 sau công nguyên đến Justinian và những người kế tục ông vào thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 8 sau công nguyên, cho đến vua Alfred đại đế, “vị vua của người Anglo-Saxon” trong lịch sử nước Anh cũng đều lấy “Mười điều răn của Moses” và tinh thần giáo nghĩa của Cơ Đốc giáo làm căn cứ để xây dựng pháp luật. [1]

Trong mắt những người tín Thần, quy định pháp luật cụ thể phải phù hợp với quan niệm về thiện, ác mà Thần đặt ra và tinh thần giáo nghĩa trong tôn giáo, nếu không thì không nên tuân thủ mà nên xóa bỏ pháp luật này. Trong “Phong trào không hợp tác” ở Mỹ vào thế kỷ trước, nguồn tư tưởng của nó có thể bắt đầu từ tư tưởng của các tín đồ Cơ Đốc thời kỳ đầu, tức là khi hoàng đế La Mã ra lệnh cho các tín đồ Cơ Đốc phải thờ phụng Thần của La Mã hoặc đặt các bức tượng hoàng đế La Mã trong các giáo đường Do Thái giáo, thì tín đồ Cơ Đốc thà bị đóng đinh lên thập tự giá hoặc bị hỏa thiêu chứ không tuân thủ quy định pháp luật này, vì nó trực tiếp xung đột với điều răn thứ nhất và điều răn thứ hai trong “Mười điều răn của Moses”. Nói cách khác, quan hệ giữa pháp luật của Thần và pháp luật của con người thế tục là quan hệ giữa pháp luật bên trên và pháp luật bên dưới, pháp luật của Thần là tiêu chuẩn tối cao và không thể đi ngược lại.

Về cơ bản, “Mười điều răn của Moses” có thể phân thành hai phần, bốn điều trước nói về mối quan hệ giữa Thần và người, tức là con người nên yêu mến Thần và tôn kính Thần như thế nào, sáu điều sau nói về quan hệ giữa người với người, tức là điều mà Jesus nói cần “yêu người khác như yêu bản thân mình”. Trong đó, căn bản là con người cần phải kính Thần, nguyên tắc công bằng, chính nghĩa mà Thần chủ trì là vĩnh hằng, bất biến. Có như vậy thì nền tảng đạo đức pháp luật của con người mới có thể ổn định, vững chắc, nguyên tắc công bằng, chính nghĩa tối căn bản của pháp luật qua các thời đại mới không bị bóp méo, bẻ cong thậm chí biến đổi hoàn toàn.

Ở Trung Quốc cũng vậy. Trong lịch sử, người đặt định ra pháp luật là thiên tử, phải tuân theo thiên ý, tuân theo quy luật vận hành của thiên địa, cũng chính là “Đạo” mà Hoàng Đế và Lão Tử giảng. Nhà đại Nho học thời Hán Đổng Trọng Thư nói: “Đạo chi đại nguyên xuất ư thiên, thiên bất biến đạo diệc bất biến” (Đạo bắt nguồn từ trời, trời bất biến Đạo cũng bất biến).[2] (“Thiên” trong quan niệm của người xưa Trung Quốc không phải là lực lượng tự nhiên trừu tượng mà là Thần, chúa tể của vạn vật). Tín ngưỡng đối với thiên đạo là cơ sở đạo đức của văn hóa Trung Quốc, bởi vậy chế độ chính trị pháp luật sinh ra từ đó đã ảnh hưởng tới lịch sử hàng nghìn năm của Trung Quốc.

Berman, học giả pháp lý người Mỹ cho rằng, tác dụng của pháp luật phụ thuộc vào việc nó tuân theo quan niệm đạo đức xã hội phổ biến và các chuẩn mực trong tín ngưỡng. Ông cho rằng pháp luật và tôn giáo mặc dù là hai lĩnh vực khác nhau, nhưng sự phát triển thịnh vượng của bất cứ lĩnh vực nào cũng không thể tách rời lĩnh vực kia. Trong bất cứ xã hội nào, pháp luật luôn cần nhờ vào những quan niệm của con người – những quan niệm liên quan đến những sự vật thần thánh, để khích lệ con người hết mình cống hiến cho chính nghĩa [3] .

Nói một cách đơn giản, pháp luật phải có tính quyền uy, tính quyền uy của nó đến từ sự “công bằng, chính nghĩa”, mà “công bằng, chính nghĩa” là do Thần mang lại, vì thế mà pháp luật không chỉ có tính chính nghĩa mà còn có tính thần thánh. Sở dĩ pháp luật trong xã hội hiện đại vẫn còn giữ được rất nhiều nghi thức trong tôn giáo, cũng bởi tính thần thánh đã làm tăng thêm uy quyền của pháp luật.

2. Pháp luật là công cụ bạo lực chính quyền của các quốc gia cộng sản

Đảng cộng sản là tà giáo phản lại Thần, vì thế nó chắc chắn sẽ không lấy những lời giáo huấn của chính Thần làm căn cứ để quy định pháp luật. Đảng cộng sản cũng phải cắt đứt mối quan hệ với văn hóa của tổ tiên trước đây, vì thế nó phản đối các giá trị đạo đức truyền thống. Điều này khiến cho pháp luật của đảng cộng sản ngay từ đầu đã bị mất đi khả năng duy hộ sự công bằng và chính nghĩa.

2.1 Chủ nghĩa khủng bố quốc gia đứng trên cơ điểm thù hận và vượt trên pháp luật

Trong xã hội truyền thống, Cơ Đốc giáo dạy “thương người như thể thương thân”, Nho gia giảng “nhân giả ái nhân” (người nhân nghĩa yêu thương người khác), yêu thương ở đây không phải bó hẹp trong tình yêu nam nữ hoặc tình yêu giữa bạn bè, gia đình, mà bao hàm cả lòng từ bi, cảm thông, công bằng, chính nghĩa và sự hi sinh bản thân v.v.  Quy định pháp luật xuất phát từ quan điểm này không chỉ thể hiện tính thần thánh mà cũng thể hiện tinh thần tương thân tương ái với mọi người.

Không pháp luật nào có thể bao quát hết tất cả những tranh chấp đã và sắp xảy ra và đưa ra các phán quyết phù hợp. Vì thế pháp luật không chỉ là những quy tắc, điều khoản cụ thể, mà còn cần thêm vào những nhân tố chủ quan của tất cả những người tham gia, điều này yêu cầu quan tòa phải xuất phát từ tinh thần pháp luật để đưa ra phán quyết trên nguyên tắc thiện.

Jesus từng đứng trong thánh điện Jerusalem mà lên án mạnh mẽ những người Pharisees ngụy thiện, bởi vì những người này mặc dù nghiêm túc tuân thủ những quy tắc bề mặt của luật pháp Moses, nhưng lại bỏ qua những phẩm chất, đức hạnh cần có trong pháp luật như công bằng, chính nghĩa, cảm thông, thành thật v.v.. Còn Jesus lại không câu nệ những ý tứ bề mặt, ông hành y cứu người vào ngày Sa Bát, sống cùng những người không phải người Do Thái, bởi vì điều ông quan tâm là tinh thần thiện trong pháp luật.

Chủ nghĩa cộng sản lại hoàn toàn tương phản lại, vì nó được kiến lập trên cơ sở thù hận. Nó không chỉ thù hận Thần, nó cũng thù hận luôn cả văn hóa, phương thức sinh sống và tất cả những giá trị truyền thống mà Thần tạo ra cho con người. Marx cũng không e dè nói rằng ông ta muốn phá hủy thế giới thành một đống hỗn độn và tưởng tượng bản thân là “một đấng tạo hóa sải bước đi trên đống hỗn độn này”.[4]

Nechayev, “người cách mạng” điên cuồng thời kỳ Sa Hoàng trong cuốn “Hỏi đáp về giáo nghĩa cách mạng” đã nói, người cách mạng “đã cắt đứt mọi liên hệ với xã hội, thế giới văn minh, pháp luật cùng thói quen, nghi lễ và quy phạm đạo đức xã hội. Người cách mạng là một kẻ tử thù, anh ta sống như vậy để có thể phá hủy cả xã hội”. [5] 

Nechayev thể hiện rõ sự thù hận của người cách mạng đối với thế giới này, ông ta không còn chịu ước chế bởi bất cứ luật pháp nào. Ông ta sử dụng những từ ngữ tôn giáo bề mặt như “giáo nghĩa” để thể hiện ông ta muốn kiến lập một tà giáo thù hận thế giới. Ông ta tuyên bố: “Những người còn có sự cảm thông đối với bất kỳ sự vật nào thì không thể được coi là người cách mạng”. Lenin cũng đã thể hiện quan điểm tương tự như thế: “Chuyên chính là sự thống trị trực tiếp dựa trên bạo lực và không chịu bất cứ hạn chế nào của pháp luật. Chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản là thông qua việc sử dụng bạo lực chống lại giai cấp tư sản để giành lấy và duy trì quyền thống trị, sự thống trị này không chịu bất kỳ hạn chế nào của pháp luật.” [6]

Sử dụng quyền lực quốc gia để tùy ý giết chóc, sử dụng cực hình, trừng phạt tập thể mà không chịu hạn chế nào của pháp luật, kỳ thực chính là chủ nghĩa khủng bố quốc gia cực kỳ tàn nhẫn, khốc liệt. Đây là bước đầu tiên mà những quốc gia theo chủ nghĩa cộng sản đều phải đi.

Ví dụ, năm 1917, một tháng sau khi những người Bôn-sê-vích nắm quyền, số người bị sát hại do nguyên nhân chính trị đã lên tới hàng trăm nghìn người. “Ủy ban đặc biệt toàn Nga” được thành lập vào tháng thứ hai gọi tắt là “Cheka”, có quyền tùy ý giết người mà không cần qua xét xử. Từ năm 1918 đến năm 1922, Cheka đã giết ít nhất 2 triệu người. [7]

Yakovlev, nguyên cố vấn tổng thống, ủy viên bộ chính trị và bộ trưởng bộ tuyên truyền trung ương đảng cộng sản Liên Xô trong cuốn sách “Chủ nghĩa Bôn-sê-vich và phong trào cách mạng Nga là một chén rượu đắng” đã dự báo: “Chỉ trong thế kỷ này, nước Nga sẽ có khoảng 60 triệu người chết do chiến tranh, nạn đói và trấn áp”. Theo số liệu tính toán được công khai, số người chết do bị đảng cộng sản Liên Xô đàn áp và bức hại vào khoảng 20-30 triệu người.

Năm 1987, bộ chính trị Liên Xô đã thành lập một ủy ban để tra xét lại một số vụ án oan dưới thời đảng cộng sản Liên Xô, Yakovlev cũng là một thành viên trong ủy ban đó. Sau khi tra xét lại hàng trăm nghìn hồ sơ, Yakovlev viết: “Lâu nay tôi luôn không thể thoát khỏi một cảm giác, dường như những kẻ tổ chức những hành vi bạo lực là một nhóm người thần kinh không bình thường. Nhưng tôi biết rõ rằng giải thích như thế chỉ là đơn giản hóa một vấn đề nguy hiểm”. 

Nếu chúng ta dịch sát nghĩa hơn những phát ngôn của Yakovlev, có nghĩa là những hành vi bạo lực đó không phải xuất phát từ tư duy bình thường của con người, cũng không phải là sự kích động nhất thời, mà là kế hoạch tỉ mỉ; không phải xuất phát từ nhiệt tâm muốn xây dựng một thế giới tốt đẹp mà xuất phát từ lòng thù hận thấu xương đối với sinh mệnh. Những người thúc đẩy chủ nghĩa cộng sản này không phải vì thiếu hiểu biết mà vì họ quá tàn ác.

Sau Liên-xô, các quốc gia theo chủ nghĩa cộng sản, điển hình là Trung Quốc, Campuchia và Triều Tiên, đều thực hiện chủ nghĩa khủng bố quốc gia không chịu ước chế bởi pháp luật. 

Trong cuốn sách “Cửu bình”, bài bình luận số bảy “Lịch sử giết người của đảng cộng sản” đã liệt kê những hành vi còn tàn bạo hơn nữa, chỉ trước khi đảng cộng sản Trung Quốc tiến hành “cải cách mở cửa”, chúng đã khiến cho 60-80 triệu người chết bất thường, gấp đôi tổng số người chết trong hai cuộc chiến tranh thế giới.

2.2 Tiêu chuẩn đúng sai liên tục biến hóa

Nếu như nói, để hoàn thành mục đích cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản, để thực hiện chủ nghĩa khủng bố quốc gia trong nước, đảng cộng sản có thể tùy tiện dẫm đạp lên pháp luật, vậy thì khi giao lưu với xã hội tự do thông qua hợp tác thương mại, giao lưu văn hóa và chính trị, nó lại khoác lên mình chiếc áo pháp luật để tiến hành xâm nhập và lật đổ các quốc gia phương Tây. Ví dụ như “Bộ luật tố tụng hình sự” lần đầu tiên của ĐCSTQ được ban hành vào năm 1979, tức là được thông qua sau khi “cải cách mở cửa”, trên bề mặt là để đạt được “chính nghĩa có trật tự”, kỳ thực ĐCSTQ lại không hề nghiêm chỉnh chấp hành bộ luật này.

Marx cũng không e dè nói: “Pháp luật là thể hiện ý chí của giai cấp thống trị”, “là sản phẩm của xã hội giai cấp, là công cụ của giai cấp thống trị”. Vì thế, luật pháp của đảng cộng sản không hề bắt nguồn từ Thần, cũng không xuất phát từ tình yêu thương với con người, càng không phải là vì duy hộ công bằng, chính nghĩa. Phía trên luật pháp này không có sự cảnh tỉnh, ước thúc của Thần và của luân lý xã hội, mà chỉ có lợi ích của giai cấp thống trị, tức là lợi ích của đảng cộng sản. Mà lợi ích có thể biến động bất cứ lúc nào, tất nhiên nó cũng khiến cho pháp luật biến động bất cứ lúc nào. 

Bởi vậy chúng ta không khó lý giải việc ĐCSTQ khi vừa mới đoạt được chính quyền, để cướp đoạt tài sản của toàn dân, trên hình thái ý thức đã lấy “đấu tranh giai cấp làm cương lĩnh”, từ đó về pháp luật đã thiết lập ra “tội phản cách mạng”, quy tất cả những người chống lại hành vi cướp đoạt này vào nhóm người “phản cách mạng” để bắt giam thậm chí hành quyết họ. Sau khi hoàn thành việc cướp đoạt với danh nghĩa “chế độ công hữu”, ĐCSTQ cần phải tiếp tục nhét tiền đầy túi mình, vì thế trên hình thái ý thức đã sửa thành “lấy xây dựng kinh tế làm trung tâm” và đề xuất ra “luật pháp bảo đảm quyền sở hữu tài sản tư nhân”, về bản chất chẳng qua là bảo vệ sự giàu có của nó nhờ tước đoạt tài sản toàn dân, còn tài sản của người dân thường lại không hề được bảo vệ. Các “vụ án cưỡng chế phá bỏ nhà dân” nhiều vô kể chính là minh chứng cho việc chính phủ dùng bạo lực xâm phạm tài sản của nhân dân. Đầu năm 1999, ĐCSTQ đề xuất muốn “dùng pháp trị quốc”, nhưng không đến vài tháng sau, chúng lại mạnh tay đàn áp những người dân tu luyện Pháp Luân Công tin vào “Chân-Thiện-Nhẫn”, thành lập “Phòng 610” một tổ chức Gestapo đứng trên “ủy ban chính trị và pháp luật”, thao túng “ủy ban chính trị và pháp luật” và huy động mọi nguồn lực quốc gia để bức hại Pháp Luân Công mà hoàn toàn không đếm xỉa đến pháp luật.

Nhằm che dấu những tội ác đẫm máu của mình, ĐCSTQ cần không ngừng tạo ra những kẻ thù địch với mục đích uy hiếp và thẳng tay đàn áp dân chúng. Đối tượng đàn áp thay đổi từ địa chủ, nhà tư bản đến học sinh sinh viên trong sự kiện 4/6, cho đến những người tu luyện Pháp Luân Công và những luật sư nhân quyền, vì thế mà pháp luật cũng phải thay đổi theo. Trong vòng hơn 60 năm, ĐCSTQ đã ban hành bốn bộ hiến pháp, bộ hiến pháp thứ tư được ban hành năm 1982 nhưng cũng đã được sửa đổi bốn lần. Hết cuộc vận động chính trị này đến vận động chính trị khác đã được ĐCSTQ dùng danh nghĩa “pháp luật” để trang trí, tô vẽ thêm, thậm chí có lúc nó không buồn cả tô vẽ.

2.3 Đảng cộng sản không bao giờ nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật

Để thể hiện tinh thần “pháp trị”, “mở cửa kết giao với quốc tế”, đảng cộng sản vẫn quy định ra một số điều khoản pháp luật bề ngoài có vẻ đường hoàng. Nhưng nó không bao giờ thực sự chấp hành những quy định này, ví dụ như quy định về “tự do tín ngưỡng”, “tự do ngôn luận”, “tự do hội họp” v.v. trong hiến pháp của nó. 

Marx đã cho rằng pháp luật là thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, là công cụ của giai cấp thống trị, vậy thì việc tùy tiện dùng pháp luật để đàn áp và đối phó với kẻ thù, trong hệ thống pháp luật của đảng cộng sản cũng là tất nhiên và cũng là “chính đáng”.

Hệ thống này đã quyết định rằng bất kỳ ai một khi đã khiêu chiến với “ý chí của giai cấp thống trị” (tức là lợi ích của đảng cộng sản) thì lập tức trở thành đối tượng bị đàn áp “theo pháp luật”, cho dù đó là công nhân thất nghiệp, quân nhân chuyên nghiệp, nông dân mất ruộng đất, luật sư nhân quyền hay một người dân thấp cổ bé họng không may mắn nào đó.

Nhìn từ góc độ luật sư, quy định pháp luật trên bề mặt chưa bao giờ có hiệu lực mạnh mẽ hơn hiện thực. Bởi vì khi bạn viện dẫn các văn bản pháp luật và theo đuổi tính chính nghĩa trong đó thì những điều mà các thẩm phán và kiểm sát viên nói với bạn lại là “tinh thần pháp luật” của ĐCSTQ. Mặc dù họ không hiểu ngôn ngữ học thuật nho nhã, nhưng họ sẽ nói với bạn bằng ngôn ngữ trắng trợn, trần trụi rằng “tòa án là do đảng cộng sản lập ra”, vì thế phải nghe lời đảng. Những người này cho dù nói một cách vô thức, nhưng những lời họ nói xác thực là “tinh thần pháp luật” của quốc gia của đảng cộng sản.

Câu cửa miệng của các thẩm phán ĐCSTQ khi xử lý các vụ việc liên quan đến Pháp Luân Công là: “Anh giảng giải pháp luật với tôi làm gì, tôi nói cho anh hiểu về chính trị”, “Đảng không cho biện hộ”, “Lời nói của người lãnh đạo chính là pháp luật”, “Tòa án cũng do đảng cộng sản lãnh đạo, phải nghe theo đảng”, “Vấn đề Pháp Luân Công có thể không tuân theo trình tự pháp luật”, “Anh đừng nói với tôi về lương tâm” [8]. Nhà triết học người Anh Francis Bacon trong tác phẩm “Tư pháp luận” (Of Judicature) đã viết: “Một cuộc xét xử không công bằng gây ra hậu quả xấu thậm chí còn lớn hơn rất nhiều việc nhiều lần phạm tội. Bởi vì phạm tội tuy coi thường pháp luật nhưng chỉ giống như làm ô nhiễm dòng nước, còn xét xử không công bằng tức là phá hoại pháp luật, giống như làm ô nhiễm nguồn nước”. [9]

Do pháp luật của đảng cộng sản liên tục thay đổi, đảng có thể chấp hành một số quy định pháp luật nhưng có những quy định nó lại không hề chấp hành, vì vậy thứ pháp luật này có thể nói là không có tính thần thánh nào. Huống hồ thứ “công cụ của giai cấp thống trị” thể hiện “tinh thần pháp luật” do đảng cộng sản tạo ra này đã gây ra rất nhiều vụ án oan trong hơn 60 năm thậm chí gần 100 năm qua. Nó đã gây ra món nợ máu mà tất cả những người cầm quyền kế tục danh hiệu “đảng cộng sản” phải trả, đó là 80 triệu đến 100 triệu linh hồn oan khuất.

Nhìn từ nguyên tắc cơ bản nhất “giết người đền mạng, nợ tiền phải trả”, nếu đảng cộng sản muốn nghiêm túc thực thi pháp trị (cai trị bằng pháp luật) thì trước tiên nó phải đối mặt với việc chính nó phải bị truy cứu trách nhiệm trước pháp luật, vì thế, đảng cộng sản lại càng không dám thực sự chấp hành pháp luật mà nó quy định ra.

3. Ma quỷ cộng sản làm biến dị pháp luật phương Tây

Nếu như nói ở những quốc gia cộng sản, pháp luật là công cụ mà ma quỷ có thể tùy ý chơi đùa, dùng để duy trì sự thống trị, củng cố hình thái ý thức và đàn áp người dân, thì ở các quốc gia tự do, mưu đồ của ma quỷ chính là lật đổ nền tảng đạo đức và tín ngưỡng truyền thống của pháp luật, làm biến dị tiêu chuẩn thiện, ác, tranh giành quyền quy định và quyền chấp pháp, đồng thời xác lập chuẩn tắc và thực tiễn pháp luật mà ma quỷ kỳ vọng. Phần này tập trung thảo luận vấn đề quốc gia đứng đầu về pháp trị – nước Mỹ – đang bị xâm chiếm trên tất cả các phương diện trong lĩnh vực pháp luật. Pháp luật có quan hệ mật thiết với các lĩnh vực chính trị, tôn giáo, giáo dục v.v. Ngày nay khi tà linh cộng sản đã xâm nhập toàn cầu và vươn bàn tay đen đúa của nó đến mọi ngóc ngách, pháp luật phương Tây cũng không tránh khỏi bị tà linh thâm nhập làm biến dị trên tất cả các phương diện.

3.1 Lật đổ cơ sở đạo đức của pháp luật

Pháp luật bắt nguồn từ tôn giáo hoặc tín ngưỡng đều có tính thần thánh, nhưng cùng với việc đảng cộng sản và những người đồng hành với nó thúc đẩy thuyết vô thần, thuyết tiến hóa trên toàn cầu, pháp luật cũng bị cắt đứt mối liên hệ với Thần, bị hạ xuống thành một thứ công cụ để báo oán phục thù, giải quyết tranh chấp, mặc cả và phân phối lợi ích giữa người với người. Do bị cắt đứt nguồn gốc với tín ngưỡng, tinh thần của pháp luật bắt đầu thay đổi, từ duy hộ sự công bằng, chính nghĩa đã lệch sang hướng thuận theo quan niệm và dục vọng của con người. Điều này khiến cho tà linh cộng sản ở phía sau có thể lợi dụng những người đại diện cho nó mang theo quan niệm, lối tư duy biến dị, thông qua pháp luật mà nó mong muốn để thực hiện mục đích phá hủy xã hội và hủy diệt con người.

Lấy nước Mỹ làm ví dụ, các trào lưu tư tưởng như “chủ nghĩa tự do”, “công bằng xã hội” dưới ảnh hưởng sâu đậm của chủ nghĩa cộng sản đã thay đổi quan niệm đạo đức xã hội, từ đó cũng phá bỏ cơ sở đạo đức của pháp luật. Trong thực tế, những người đại diện cho nó lợi dụng các khẩu hiệu “tự do”, “tiến bộ”, “khoan dung” để đánh tráo khái niệm, bài xích và phá hủy nền tảng tín ngưỡng đạo đức của pháp luật, từ đó ảnh hưởng đến việc pháp luật nào được quy định, pháp luật được giải thích như thế nào và tòa án xét xử ra sao. 

Ví như, tín ngưỡng truyền thống cho rằng kết hôn là sự kết hợp của “người đàn ông và người đàn bà”, điều này đã được Thần quy định rõ ràng, “hôn nhân” đồng tính đi ngược lại với giáo huấn của Thần và là quan niệm vô đạo đức, điều này tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến giải thích và định nghĩa của pháp luật về hôn nhân. Nếu kiên trì tuân thủ quy phạm đạo đức do Thần xác lập, vậy thì đạo đức sẽ không suy chuyển, pháp luật ở thế tục cũng căn cứ theo pháp bất biến bên trên của Thần, nếu một hành vi nào đó vào 2000 năm trước theo giới lệnh của Thần bị coi là tội ác thì ngày nay cũng nên như vậy. Nhưng chủ nghĩa tự do lại bài xích tín ngưỡng truyền thống và đi ngược lại đạo đức, coi đạo đức là một sự ước định nơi thế tục nên được biến đổi theo sự phát triển của xã hội, do vậy kết hôn bị xem là “hợp đồng” kết hợp tự nguyện, thừa nhận “hôn nhân đồng tính” là phù hợp với nguyên tắc “tiến bộ” và “tự do”, điều này tất nhiên sẽ khiến pháp luật bị biến dị theo.

Ma quỷ lợi dụng chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa tiến bộ khiến các thẩm phán tách rời đạo đức truyền thống với pháp luật. Trong một vụ xét xử về phá thai năm 1992 của tòa án tối cao, có ba vị thẩm phán thể hiện quan điểm rất trực tiếp: “Có một số người sẽ cho rằng phá thai đi ngược lại với nguyên tắc đạo đức cơ bản của chúng ta, tuy nhiên điều này không thể ảnh hưởng đến quyết định của chúng tôi. Trách nhiệm của chúng tôi là định nghĩa “tự do” cho tất cả mọi người, chứ không phải cưỡng chế thực thi nguyên tắc đạo đức của bản thân chúng tôi.”[10]

Các thẩm phán nhấn mạnh “tự do” là trọng điểm chú ý của pháp luật, chứ không phải là nguyên tắc đạo đức của chúng ta. Điều này thực tế là tách rời “tự do” khỏi nguyên tắc đạo đức phổ quát của con người. Định nghĩa về tự do của những quốc phụ thành lập nên nước Mỹ, cơ sở của nó là giá trị phổ quát “mọi người đều biết”. Giá trị phổ quát của nhân loại không thể thay đổi theo văn hóa, bởi vì nó bắt nguồn từ Thần (“Sáng thế chủ” được nhắc đến trong “Hiến pháp Mỹ”). Xa rời giá trị phổ quát mà phóng đại một cách phiến diện cái gọi là “tự do” là thủ đoạn của ma quỷ làm biến dị pháp luật và dẫn dụ con người rơi xuống vực thẳm.

3.2 Tranh đoạt quyền khống chế quy định và thực thi pháp luật

Để thực thi pháp luật hiệu quả cần phải trải qua một loạt các bước gồm: cơ quan lập pháp thông qua pháp luật, cơ quan hành chính ký ban hành pháp luật, thẩm phán dựa trên pháp luật để đưa ra các phán quyết, cơ quan chấp pháp chấp hành pháp luật. Trong quá trình này, các đoàn thể và cá nhân khác nhau trong giới giáo dục, truyền thông, pháp luật thậm chí ngành giải trí … cũng đều tham dự vào, ảnh hưởng đến việc quy định và thực thi pháp luật. Trong tất cả các lĩnh vực, tà linh cộng sản đều tìm người đại diện cho nó để tranh đoạt quyền khống chế việc quy định và thực thi pháp luật. Vì thế các đoàn thể chính trị bị tà linh cộng sản lợi dụng đã tìm trăm phương ngàn kế để đưa những người có tư tưởng nhất quán với nó vào các cơ quan bộ ngành tương ứng, tranh giành các vị trí trọng yếu trong cơ quan đầu não chính phủ, tòa án, viện kiểm sát và hệ thống tư pháp.

Ví dụ một tổng thống coi trọng chủ nghĩa tự do sẽ tìm cách bổ nhiệm thẩm phán có quan điểm gần với mình, tác động tới phán quyết pháp luật, hoặc sử dụng quyền hành chính để bào mòn pháp luật. Một vị tổng thống trong thời gian đương nhiệm đã giảm án cho 1385 phạm nhân, đồng thời đặc xá cho 212 người, trở thành vị tổng thống đặc xá cho nhiều phạm nhân nhất kể từ sau thời tổng thống Truman (vị tổng thống trong nhiệm kỳ của mình giảm án cho nhiều phạm nhân nhất trong lịch sử nước Mỹ cũng là vị tổng thống theo chủ nghĩa tự do)[11] Trước khi rời Nhà Trắng, ông đã ký ban hành một lệnh rút ngắn thời gian thi hành án cho 209 phạm nhân, ân xá cho 64 người, đại đa số những người được giảm án này là những tội phạm buôn bán ma túy phi bạo lực, trong đó bao gồm một người đã tiết lộ 700.000 trang tài liệu bí mật quân sự của nước Mỹ. Người này đã bị kết án 35 năm tù năm 2013, vì được tổng thống đặc xá nên chỉ bị giam 4 năm đã được thả. Mặc dù giảm án là công cụ hợp pháp mà hiến pháp trao cho tổng thống, nhưng số lượng tội phạm được đặc xá khiến người ta phải giật mình như vậy chắc chắn sẽ khiến pháp luật mất đi tác dụng khen thưởng người tốt, trừng phạt kẻ ác. [12]

Thượng nghị sỹ Linden Johnson, người sau này trở thành tổng thống Hoa Kỳ, đã đưa ra “Tu chính án Johnson” vào năm 1954, quy định những đoàn thể được miễn thuế, bao gồm cả giáo hội, khi tiến hành một số hoạt động nào đó sẽ không còn thuộc đối tượng được miễn thuế. Điều này dẫn đến một số giáo hội Cơ Đốc giáo vì sợ không còn được miễn thuế đã yêu cầu các mục sư khi giảng đạo luôn cố ý tránh nói về những vấn đề chính trị, đặc biệt là về một số vấn đề nghị luận xã hội đang gây tranh luận như phá thai, đồng tính luyến ái, cái chết nhân đạo, nghiên cứu tế bào gốc từ phôi thai v.v.

Tà linh cộng sản còn thao túng các đoàn thể chính trị, mưu đồ gây ảnh hưởng đến bầu cử để thay đổi việc kiểm sát viên chấp hành pháp luật. Một kiểm sát viên khu vực được một đoàn thể chính trị theo chủ nghĩa tiến bộ đưa lên, trong tuần đầu tiên nhậm chức, ông ta đã sa thải một loạt 31 kiểm sát viên cấp dưới, kêu gọi phải chấm dứt việc “bắt giam quy mô lớn”, ông ta còn ra lệnh cho văn phòng của mình dừng việc khởi tố những người tàng trữ cần sa. Các thành phố khác cũng có tình trạng tương tự. Một chủ tịch liên minh kiểm sát viên cho rằng điều này đồng nghĩa với việc  yêu cầu các kiểm sát trưởng chấp hành pháp luật có tính lựa chọn. Hiện tượng này vô cùng nguy hiểm, vì nó yêu cầu các quan chức do dân bầu phớt lờ lời tuyên thệ duy hộ pháp luật của họ. [13]

Thẩm phán còn có thể sử dụng đến quyền phán quyết để ngăn chặn các pháp lệnh của các cơ quan hành chính. Ví dụ, căn cứ pháp luật về di dân của Mỹ, trong tình huống cần thiết, tổng thống có thể hạ lệnh cấm tất cả người ngoại quốc nhập cảnh vào Mỹ. Nhưng những thẩm phán chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa tự do đã lấy lý do “kỳ thị tín ngưỡng” để ngăn cản lệnh cấm du lịch của tổng thống đến hơn bốn tháng, cho đến khi sắc lệnh này bị tòa án tối cao bãi bỏ.

Luật sư có ảnh hưởng rất lớn tới phán quyết của thẩm phán và bồi thẩm đoàn, khuynh hướng chính trị của tổ chức luật sư sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực thi ý chí pháp luật. Người sáng lập liên minh luật sư toàn quốc Mỹ từng thừa nhận rằng mình là một người theo chủ nghĩa xã hội, chủ trương theo chế độ công hữu, mục tiêu cuối cùng là xây dựng chủ nghĩa cộng sản. [14] Tổ chức này có 100.000 hội viên ở khắp nơi trên toàn nước Mỹ, kinh phí hoạt động mỗi năm lên đến hơn 100 triệu USD, hoạt động chủ yếu của nó bao gồm việc thông qua việc đệ đơn kiện lên tòa án Mỹ để ủng hộ hôn nhân đồng tính, quyền nhận con nuôi của người đồng tính, ủng hộ quyền phá thai cho đến loại bỏ cái gọi là kỳ thị người lưỡng tính và người chuyển giới. 

Sau khi “chủ nghĩa tự do” và “chủ nghĩa tiến bộ” trắng trợn chiếm lĩnh hệ thống chính trị Mỹ, khống chế giáo dục, truyền thông, các phong trào xã hội…, khả năng gây ảnh hưởng tới việc quy định và thực thi pháp luật của ma quỷ thông qua giới học thuật và dư luận đã trở nên lớn mạnh hơn bao giờ hết.

3.3 Lợi dụng người đại diện quy định ra pháp luật không nhân văn và bóp méo pháp luật

(a) Cấm ca ngợi Thần

Trong cuộc sống của người Mỹ, Thần có mặt ở bất cứ đâu. Châm ngôn của quốc gia này là: “Chúng ta tin vào Chúa” (In God We Trust), châm ngôn này không chỉ xuất hiện trong quốc ca Mỹ mà còn được in trên tờ tiền giấy mà người Mỹ sử dụng hàng ngày. “Tuyên ngôn độc lập” của Mỹ gọi Thần là Sáng Thế Chủ và nhận định rằng nhân quyền của con người chúng ta là do Sáng Thế Chủ ban cho. Tất cả quan chức chính phủ Mỹ, bao gồm cả thổng thống và thẩm phán, khi tuyên thệ nhậm chức đều phải nói câu cuối cùng là “Xin Chúa giúp đỡ con” (so help me God). Câu kết thường thấy trong bài diễn thuyết của tổng thống là “Chúa ban phước cho nước Mỹ” (God bless America). Và trong nghi lễ “lời tuyên thệ cống hiến” (Pledge of Allegiance) của các trường học công lập cũng mô tả nước Mỹ là “quốc gia ở dưới Chúa” (One nation, under God). 

Những truyền thống này đã được duy trì hơn 200 năm qua, nó gần như xuất hiện cùng với lịch sử thành lập nước Mỹ, nhưng trong 60 năm qua nó đã liên tục bị thách thức bởi những người theo đuổi chủ nghĩa cộng sản.

Một mục tiêu trọng yếu của liên minh luật sư mang tính toàn quốc được đề cập đến ở trên chính là xóa bỏ “Mười điều răn (của Moses)” trong công chúng Mỹ, trong đó vụ án nổi tiếng nhất xảy ra ở Montgomery, Alabama. Năm 2001, tổ chức này đã yêu cầu cưỡng chế di dời phiến đá ghi “Mười điều răn” được đặt tại đại sảnh hình bầu dục ở tòa án tối cao liên bang, họ đã tìm được một vị thẩm phán do tổng thống của đảng dân chủ bổ nhiệm để thụ lý vụ việc này. Vị thẩm phán này đã ra một phán quyết dài 76 trang giấy theo hướng có lợi cho tổ chức này với lý do nghe rất hoang đường, ví dụ như ông ta nói khung cảnh trang nghiêm ở đại sảnh hình bầu dục, bức bích họa ở đằng sau phiến đá và không khí thần thánh do thác nước nhân tạo tạo ra là lý do khiến ông ta muốn di rời “Mười điều răn”, ông ta còn nói phiến đá được đặt nghiêng trông giống như một cuốn “Kinh Thánh” đang mở, điều này khiến mọi người có lý do “cảm thấy Alabama đang ủng hộ, thừa nhận hoặc ca ngợi Cơ Đốc giáo”. [15] 

Trên thực tế, đây không phải là mở đầu, cũng không phải là kết thúc của câu chuyện. Từ năm 1980, Tòa án tối cao Mỹ đã từng cấm “Mười điều răn” xuất hiện trong giảng đường của các trường học công lập. Phán quyết này đã dẫn đến trào lưu xóa bỏ “Mười điều răn” trên toàn nước Mỹ. Tổ chức này thậm chí còn tuyên bố ở Utah rằng, nếu phát hiện ra ai vẫn còn “Mười điều răn”, hãy báo cho tổ chức này để có thể được thưởng. [16]

Một phán quyết ngày 26/6/2002 của tòa phúc thẩm Mỹ đã cấm nghi lễ “lời tuyên thệ cống hiến” tại các trường học công lập, vì trong đó có dòng chữ “ở dưới Thần”  (phán quyết này đã bị tòa án tối cao bãi bỏ vào ngày 14/6/2004). [17]

Những phán quyết kiểu này vẫn đang diễn ra, từ quốc ca Mỹ, châm ngôn của quốc gia, lời tuyên thệ cống hiến, lời cầu nguyện trong trường học v.v.. đều đang chịu sự công kích của những người theo thuyết vô thần hoặc những nhà hoạt động cánh tả.

Ở đây cần giải thích một cách đơn giản là “Thần” trong trường hợp nói trên là Thần nói chung, trong tuyên ngôn độc lập gọi là “Đấng Tạo Hóa”. Mỗi loại tôn giáo đều có định nghĩa và nhận thức của mình đối với Đấng Tạo Hóa, vì thế bản thân chữ “Thần” này không phải nhằm quảng bá cho một tôn giáo nào đó và cũng không đi ngược lại Tu chính án hiến pháp Mỹ. Âm mưu dùng pháp luật để cấm con người ca ngợi Thần một cách cực đoan ở một quốc gia có tín ngưỡng sâu sắc như Mỹ đã cho thấy mức độ nghiêm trọng của sự thâm nhập của ma quỷ vào lĩnh vực pháp luật.

(b) Thông qua việc giải thích pháp luật và các phán quyết để thay đổi nội hàm của pháp luật

Những quốc phụ thành lập nước Mỹ khi quy định ra “Hiến pháp” đã xác định nguyên tắc “tam quyền phân lập”, trong đó quyền tư pháp vốn là quyền lực nhỏ nhất. Quốc hội phụ trách lập pháp, tổng thống phụ trách hành chính, còn tòa án tối cao không có quyền lập pháp cũng không có quyền hành chính. 

Trong thời gian tòa án tối cao thẩm tra, xét xử vụ việc “lời tuyên thệ cống hiến”, điều tra dân chúng cho thấy 90% số người tham gia đều ủng hộ giữ lại nội dung “ở dưới Thần (under God)”. Còn quốc hội có 416 phiếu ủng hộ và 3 phiếu phản đối, thượng nghị viện có 99 phiếu ủng hộ và 0 phiếu phản đối “lời tuyên thệ cống hiến”, điều đó cho thấy rằng những đại biểu đại diện cho ý nguyện của dân chúng đã phản ánh đúng ý nguyện chân thực của người dân.

Nhiệm kỳ của nghị viên quốc hội do dân bầu và tổng thống do dân bầu là từ hai năm đến không quá sáu năm, sau đó lại phải tuyển cử lần mới. Nếu ý nguyện của người dân tầng lớp chủ lưu phù hợp với quy phạm đạo đức do Thần đặt định ra, thì việc tổng thống và nghị viên có thể nghiêng sang không gian của cánh tả là hữu hạn (nếu ý nguyện của người dân tầng lớp chủ lưu phản đối “hôn nhân đồng tính”, thì dù cho các quan chức tham gia tuyển cử có ủng hộ kế hoạch “hôn nhân đồng tính” của tà linh cộng sản như thế nào đi nữa, thì cũng khó được thực thi), nếu dám đi ngược lại ý nguyện của người dân thì sẽ có nguy cơ thua cuộc trong tuyển cử. Ngược lại thẩm phán của tòa án tối cao không bắt buộc phải nghe theo ý nguyện của người dân, nhiệm kỳ của thẩm phán là suốt đời, một khi được nhậm chức thì có thể làm việc đến 30 năm thậm chí còn lâu hơn. Mà thẩm phán tòa án tối cao chỉ có chín người, gây ảnh hưởng đến quyết định của chín cá nhân này thì dễ dàng hơn so với gây ảnh hưởng đến ý nguyện của người dân thuộc tầng lớp chủ lưu.

Thẩm phán căn cứ theo quy định của pháp luật để phán xử, mà quy định pháp luật lại căn cứ theo hiến pháp. Vì thế nếu muốn dùng pháp luật để cải biến xã hội, thì thay đổi hiến pháp là nhiệm vụ cần hoàn thành. Ở Mỹ, việc sửa hiến pháp cần phải được 2/3 số nghị viên đồng ý và được 3/4 các bang tiếp nhận, đây là quy định rất khắt khe.

Vì thế, sách lược của những người theo chủ nghĩa tiến bộ không phải là sửa hiến pháp, mà là thông qua việc giải thích hiến pháp để thay đổi nội hàm nguyên gốc của câu chữ trong hiến pháp. Họ coi hiến pháp là một văn bản “linh hoạt” và liên tục “tiến hóa”, họ thông qua thẩm phán dùng hình thức “phán lệ” để biến ý kiến của phe cánh tả thành pháp luật, cách làm này thực chất là biến tướng của việc phá bỏ hiến pháp, cũng đồng nghĩa với đi ngược lại hiến pháp.

Giới lệnh của Thần không còn là nguyên tắc tối cao, hiến pháp lại bị cây chùy của những thẩm phán theo phái tự do đánh cho thương tích đầy mình. Vì phán quyết của thẩm phán là phán quyết cuối cùng, ngay cả tổng thống cũng phải tuân thủ, vì thế dân chúng tự trị (self-governing) và “tam quyền phân lập” mà những quốc phụ của nước Mỹ đã đề xướng có khuynh hướng trở thành bị quyền tư pháp độc chiếm. Điều này khiến cho nước Mỹ xuất hiện “chủ nghĩa tư pháp tối cao” ở một mức độ nhất định, đã trao cho thẩm phán một phần quyền lập pháp thậm chí là quyền hành chính.

Thẩm phán theo phái tự do đã mang tới cho nước Mỹ hậu quả vô cùng nghiêm trọng, hơn nữa khó có thể xóa bỏ. Tình huống hiện thực là thẩm phán của tòa án tối cao có thể dùng án lệ yêu cầu các trường học công lập và những nơi công cộng như công viên xóa bỏ “Mười điều răn”; làm lại trình tự tố tụng hình sự; tăng thuế; thừa nhận quyền phá thai, thừa nhận quyền kết hôn đồng tính, quyền đăng và in ấn những tranh ảnh khiêu dâm v.v.

“Chủ nghĩa tư pháp tối cao” và thẩm phán theo phái tự do đã trở thành công cụ quan trọng mà tà linh cộng sản dùng để thực hiện chủ trương của nó.

(c) Lấy danh nghĩa “tự do” để phát tán các thông tin khiêu dâm

Những năm 60 của thế kỷ trước là thời kỳ mà xã hội Mỹ xảy ra biến đổi sâu sắc. Các phong trào của cánh tả đi ngược lại với truyền thống như phong trào học sinh, phong trào chống chiến tranh, nhạc rock, hip-pi, phong trào nữ quyền, giải phóng tình dục … nổi lên ầm ầm. Chánh án tòa án tối cao lúc đó là Earl Warren cũng là người theo phái tự do.

Trong thời gian Warren làm chánh án, Tòa án tối cao đã đưa ra rất nhiều phán quyết có tầm ảnh hưởng sâu sắc, bao gồm cả việc cầu nguyện trong các trường học công lập bị coi là bất hợp pháp. [20] Một phán quyết khác lại hoàn toàn cho phép việc phát hành, xuất bản các ấn phẩm có nội dung khiêu dâm. [21]

Học giả người Mỹ Phyllis Schlafly trong cuốn sách “Sự chuyên chế của thẩm phán và làm thế nào để chấm dứt điều đó” (The Tyranny of Judges and How to Stop It)  đã đưa ra các số liệu thống kê, theo đó trong những năm 1966-1970, Tòa án tối cao đã đưa ra 34 phán quyết, bãi bỏ các phán quyết cấm các nội dung khiêu dâm của tòa án cấp dưới. Những phán quyết này của Tòa án tối cao không những không được ký tên mà phần lớn chỉ có một hoặc hai câu. Nói cách khác, các thẩm phán không thể giải thích được tính hợp lý trong các phán quyết của mình. [22]

Sau phán quyết của Tòa án tối cao, năm 1966 Hollywood đã xóa bỏ quy định hạn chế các nội dung khiêu dâm trong quy định sản xuất phim. Sau đó, số lượng các bộ phim khiêu dâm tăng lên nhanh chóng, đến ngày nay đã trở nên phổ biến khắp nơi.

Ở đây cần nói rõ rằng, quyền tự do ngôn luận được quy định trong Tu chính án thứ nhất hiến pháp Mỹ vốn thể hiện quyền tự do biểu đạt ý kiến chính trị, chứ không phải “tự do ngôn luận” trong việc xuất bản các sản phẩm có nội dung khiêu dâm.

(d) Hợp pháp hóa ma túy

Ngày 31/12/2017, vào thời điểm toàn thế giới đang đón chào năm mới thì CNN đã phát sóng một bức ảnh mà sau đó đã bị chỉ trích rộng rãi, phóng viên của đài này đã nhiều lần đăng hình ảnh cô ta sử dụng cần sa, dường như tinh thần của cô ta đang hoảng hốt, không biết mình đang ở đâu.[23]

Cần sa là loại ma túy bị quản lý chặt chẽ theo Công ước của Liên hợp quốc về ma túy, lạm dụng cần sa sẽ khiến con người sinh ra ảo giác thậm chí gây nguy hiểm đến tính mạng. Ở Mỹ, từ năm 1996 Califonia đã cho phép sử dụng cần sa như một loại thuốc kê theo đơn, sau đó rất nhiều tiểu bang khác cũng cho phép việc này. Đến năm 2012, bang Washington và bang Colorado đã thông qua cái gọi là “điều luật” cho phép dùng cần sa để “giải trí” (tức là cho phép hút ma túy), ở hai bang này, việc trồng, sản xuất và bán cần sa cho người trưởng thành là hoàn toàn hợp pháp. California ngày nay cũng hợp pháp hóa cần sa. Chính phủ Canada cũng tuyên bố đến ngày 1/7/2018 sẽ hợp pháp hóa cần sa. 

Ma túy không chỉ gây tổn thương nghiêm trọng cho thân thể con người, quan trọng hơn nó còn gây ra sự phụ thuộc về tinh thần của con người. Khi lên cơn nghiện, con người có thể vứt bỏ tất cả giới hạn đạo đức để có ma túy. Tuy nhiên, người chủ trương hợp pháp hóa cần sa lại cho rằng, chỉ cần có được cần sa bằng con đường hợp pháp thì có thể giảm việc buôn bán ma túy bất hợp pháp, đồng thời thông qua việc hợp pháp hóa ma túy có thể tăng cường quản lý ma túy, hạn chế tỷ lệ tội phạm liên quan đến ma túy.

Rất nhiều bang đã thông qua việc hợp pháp hóa cần sa cũng kỳ vọng ma túy có thể mang lại cho chính phủ thu nhập hàng tỷ USD. Nhưng chúng ta không khó để tưởng tượng, khi nhiều người phụ thuộc vào mà túy mà không quan tâm đến làm việc thì của cải xã hội sẽ ngày càng ít đi, từ đó các vấn đề sức khỏe phát sinh ngày càng nhiều, làm sao có thể nói đến tăng thu nhập cho chính phủ được? Điều này hẳn ai cũng có thể nhìn ra được. Huống hồ là khi đánh giá một sự việc là đúng hay sai thì không nên lấy hiệu quả và lợi ích kinh tế làm thước đo, mà nên dùng tiêu chuẩn của Thần để làm thước đo. Theo tiêu chuẩn đạo đức truyền thống, thân thể con người là Thần thánh, tôn giáo phương Tây cho rằng thân thể con người là “thánh điện linh thiêng”, phương Đông cho rằng chỉ có thân thể con người mới có thể tu luyện thành Phật và Đạo, hút ma túy là xấu xa và sỉ nhục thân thể mà Thần đã dùng hình tượng của mình để tạo ra cho con người, đó là hành vi trụy lạc, bại hoại.

Theo “Thời báo Los Angeles” đưa tin, một trong những nhân vật quan trong thúc đẩy việc hợp pháp hóa ma túy tại Mỹ là một đại gia theo chủ nghĩa tiến bộ. [24] Tháng 3/2017 sáu thượng nghị sỹ đã gửi thư đến Quốc vụ viện Mỹ yêu cầu điều tra nhân vật này do ông ta đã lợi dụng quỹ mà mình nắm giữ để thúc đẩy “chủ nghĩa tiến bộ” tại các quốc gia khác, lật đổ các chính phủ theo “chủ nghĩa bảo thủ”. [25]

Hợp pháp hóa ma túy chính là thứ vũ khí mà tà linh cộng sản sử dụng để khiến con người ngày càng mất khả năng khống chế bản thân, rời xa Thần, đồng thời gây ra sự hỗn loạn xã hội và kinh tế trượt dốc, từ đó khống chế quyền lực chính trị.

(e) Hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính

Trong “Sáng thế ký – Kinh Thánh” có giảng về sự hủy diệt của thành Sodom. Một trong những tội ác nghiêm trọng nhất của nó chính là đồng tính luyến ái. Vì thế mà cái tên Sodom của thành này đã trở thành từ sodomy – chỉ hành vi “đồng tính nam” – được biết đến rộng rãi trong tiếng Anh. Chỉ cần có chút kiến thức về “Kinh Thánh” thì đều biết đồng tính đi ngược lại giới lệnh của Thần. 

Tháng 6 năm 2015, trong chín thẩm phán của Tòa án tối cao Mỹ, có năm người bỏ phiếu đồng ý (trong đó có bốn thẩm phán theo phái tự do và một thẩm phán bị dao động) và bốn phiếu phản đối (bốn thẩm phán theo phái bảo thủ), họ đã đưa ra phán quyết hôn nhân đồng tính là “hợp pháp”. [26] Tổng thống khi đó đã thay đổi hình ảnh của Nhà trắng trên Twitter thành lá cờ sáu màu tượng trưng cho đồng tính luyến ái. Phán quyết của Tòa án tối cao cũng khiến lệnh cấm ở 14 bang cấm hôn nhân đồng tính trở nên vô hiệu lực.

Tháng 8/2015, một viên chức tòa thị chính quận Rowan, bang Kentucky xuất phát từ tín ngưỡng cá nhân đã từ chối cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn cho một cặp đôi đồng tính, đồng thời từ chối thực hiện mệnh lệnh phải cấp giấy đăng ký kết hôn của tòa án, vì thế mà bị bắt giam và bị kết án năm ngày tù giam. [27] Thực ra phán quyết này đã xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng của cô ấy được hiến pháp công nhận. Phán quyết tư pháp được đặt cao hơn giới lệnh của Thần. 

Sau khi Tòa án tối cao thông qua phán quyết “hợp pháp” hóa hôn nhân đồng tính, cựu thống đốc Arkansas và cựu ứng cử viên tổng thống của đảng Cộng hòa – Mike Huckabee đã so sánh đây là một “nền tư pháp bạo chính”. [28]

Phyllis Schlafly đã nêu ra chín vấn đề suy thoái đạo đức do thẩm phán gây ra. Đó là: 1) Sửa lại hiến pháp; 2) Cấm ca ngợi Thần; 3) Định nghĩa lại khái niệm kết hôn; 4) Xâm phạm chủ quyền nước Mỹ; 5) Khởi xướng các tác phẩm có nội dung khiêu dâm; 6) Khuyến khích chủ nghĩa nữ quyền; 7) Cản trở nghiêm trọng việc thi hành pháp luật; 8) Can thiệp vào bầu cử; 9) Tăng thuế.

Tính đến năm 2017, đáng kinh ngạc là có đến 25 quốc gia và vùng lãnh thổ chính thức thừa nhận hoặc chấp nhận hôn nhân đồng tính phù hợp với pháp luật, bao gồm cả các quốc gia phát triển chủ yếu ở phương Tây như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Na Uy, Đan Mạch, Phần Lan, Thụy Điển, Bồ Đào Nha, Bỉ, Áo, New Zealand, Canada … [29] Pháp luật có thể thể hiện đạo đức, ngược lại cũng ảnh hưởng đến xu hướng đạo đức của quần chúng. Hợp pháp hóa những hành vi đi ngược lại với đạo đức truyền thống, cũng đồng nghĩa với việc chính phủ và pháp luật đã dạy người ta quay lưng lại với đạo đức, đi ngược lại giới lệnh của Thần.

Mặt khác, dưới ảnh hưởng của cái gọi là “đúng đắn chính trị”, những ý kiến phê bình của các đoàn thể dân chúng xã hội, nhất là các đoàn thể tín ngưỡng đối với các hiện tượng hỗn loạn xã hội bị quy kết thành hành động gây cản trở chính trị và pháp luật. Sau khi các hành vi vô đạo đức được hợp pháp hóa thì những lời bình luận, phê bình các hành vi này rất dễ bị chỉ trích là vi phạm pháp luật, ví dụ như phân biệt giới tính. Quy định pháp luật này trở thành cái cớ khiến con người không phán xét những hành vi trái đạo đức, nghĩa là chấp nhận đồng tính luyến ái, khiến con người phóng túng dục vọng vô hạn, từ đó ngày càng sa đọa.

(f) Vứt bỏ trách nhiệm cá nhân

Các tôn giáo truyền thống đều coi trọng trách nhiệm cá nhân. Trong “Ezekiel -Kinh Thánh” đã kể câu chuyện về người cha và người con, một người tốt và một người xấu, họ chịu trách nhiệm về hậu quả do hành vi của mình gây ra không phải vì quan hệ cha con mà vì trách nhiệm đối với người kia. Câu chuyện này nói lên vấn đề trách nhiệm cá nhân, đúng như trong “Kinh Thánh” viết: “Con người trồng thứ gì thì thu hoạch được thứ ấy.” Người Trung Quốc tin rằng thiện ác hữu báo, cũng là đạo lý này.

“Tự do có nghĩa là trách nhiệm”, một cá nhân có quyền và được tự do lựa chọn suy nghĩ, nói năng và hành động, họ cũng cần có trách nhiệm với sự lựa chọn của mình. Một cá nhân khi phạm tội thì nên chịu nhận sự trừng phạt tương ứng, đây chính là nguyên tắc của chính nghĩa. Nhưng các thẩm phán theo phái tự do lại khuyến khích con người vứt bỏ trách nhiệm của bản thân, đẩy trách nhiệm cho hoàn cảnh xã hội, ví dụ lấy lý do kinh tế, chủng tộc, tâm sinh lý, giáo dục… để giúp những kẻ tội phạm thoát khỏi chế tài pháp luật.

3.4 Hạn chế chấp hành pháp luật, bật đèn xanh cho tội phạm

Dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa tự do, rất nhiều thẩm phán hoặc cơ quan lập pháp ra sức hạn chế quyền lực chính đáng của các cơ quan chấp pháp, bật đèn xanh cho những kẻ tội phạm. Mục đích cuối cùng của tà linh cộng sản là dùng nó để làm tê liệt bộ máy quốc gia, từ đó gây nhiễu loạn xã hội, lấy đó làm lý do để mở rộng quyền hạn của chính phủ, hoặc nhân cơ hội đó phát động chính biến hoặc cách mạng.

Rất nhiều bang ở Mỹ đã thông qua những đạo luật cực tả, điển hình nhất là pháp lệnh “Tiểu bang Bảo hộ”. Ví dụ một “Tiểu bang Bảo hộ” nào đó cấm quan chức liên bang bắt giữ dân nhập cư bất hợp pháp trong nhà giam ở địa phương, cấm cảnh sát bắt giữ theo lệnh bắt giữ dân nhập cư, và cấm cơ quan chấp pháp địa phương hợp tác với quan chức liên bang chấp hành pháp luật về nhập cư.

Lệnh bảo vệ các phần tử tội phạm đã mang đến nguy cơ mất an toàn nghiêm trọng cho công chúng. Tháng 7/2015, một tay súng nhập cư bất hợp pháp tên là Jose Ines Garcia Zarate đã được phóng thích khỏi nhà tù San Francisco theo lệnh bảo hộ của thành phố này, trong khi các quan chức nhập cư liên bang lại yêu cầu giao nộp anh ta và trục xuất anh ta lần thứ 6. Khi đó, Zarate đã phạm nhiều tội ở Mỹ, 7 lần bị cáo buộc trọng tội, 5 lần bị trục xuất, các tội danh của anh ta liên quan đến ma túy, trấn lột, nổ súng v.v., nhưng anh ta vẫn ngang nhiên nhận được lệnh tị nạn của Tòa thị chính San Francisco, và anh ta nghênh ngang xuất hiện trên đường phố San Francisco. Khi Cục nhập cư nhiều lần yêu cầu trục xuất anh ta, thì Cục cảnh sát San Francisco lại phóng thích anh ta, chỉ mấy giờ sau khi được thả, anh ta đã bắn chết một một phụ nữ đang đi bộ trên bến cảng của ngư dân.

Trong thời gian định tội, yêu cầu đối với việc truy tố rất nghiêm ngặt, bề ngoài là bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nghi phạm, nhưng kết quả cuối cùng lại thường tạo điều kiện cho các kẻ tội phạm lợi dụng sơ hở của pháp luật. Đặc biệt là những tội phạm gian xảo, có quyền thế và hiểu về pháp luật, hoặc những tội phạm có luật sư giỏi biện hộ, quá trình tố tụng cần nhiều thời gian, tiền bạc và sức lực, cho dù nghi phạm thực sự phạm tội cũng rất khó để buộc tội họ vi phạm pháp luật.

Cùng với sự mở rộng của phong trào “giải phóng tình dục”, tòa án đã trích dẫn cái gọi là kết quả nghiên cứu sinh lý học và tình dục học để chứng minh rằng hậu quả của việc xâm hại tình dục là không nghiêm trọng, thậm chí là vô hại, lấy đó làm căn cứ để xử nhẹ cho khá nhiều vụ án về tội xâm hại tình dục. [30]

Còn có rất nhiều tội phạm được phóng thích trước hạn, lấy lý do là không đủ kinh phí, hoặc bảo vệ quyền lợi của phạm nhân, nhưng thực chất là do “đúng đắn chính trị” khiến hiệu lực của pháp luật bị yếu đi, phá hoại trật tự xã hội, điều này đặt nền tảng để chính phủ mở rộng quyền lực trong tương lai. 

Tính công bằng, chính trực của pháp luật yêu cầu phải trừng phạt thích đáng những hung thủ phạm tội đại ác, giết người đền mạng là nguyên tắc phổ biến từ xưa đến nay, nhưng có những bang và quốc gia đã lấy danh nghĩa “nhân đạo”, “khoan dung”, “trân quý mạng người” để xóa bỏ tội tử hình.

Dưới sự công kích, phá hoại của chủ nghĩa tiến bộ và chủ nghĩa tự do biến dị, một số người luôn nhiệt tình quan tâm đến “quyền lợi” của tội phạm, cho dù họ có phạm tội hung ác như thế nào cũng phải lên tiếng bảo vệ quyền lợi của họ; nhưng họ lại vờ như không nghe thấy những tiếng kêu than của những người bị hại. Nếu một hung thủ dù có phóng hỏa giết người, giết người cướp của thế nào đi nữa mà vẫn không bị đền mạng, lại còn có thể được người đóng thuế nuôi dưỡng suốt đời, chỉ bị mất đi tự do thân thể, vậy thì đối với những oan hồn đã khuất, những đương sự và gia đình phải chịu đau khổ, thiệt thòi thì điều này có thể nói là công bằng sao?

Rất nhiều học giả ở Mỹ đã nghiên cứu và chỉ ra rằng, tử hình có “tính răn đe rất mạnh” đối với việc ngăn chặn tội phạm giết người. Nhà nghiên cứu David Muhlhausen thuộc “Quỹ di sản” từng phát biểu về vấn đề này tại Ủy ban tư pháp thượng viện chứng minh “Án tử hình có tác dụng răn đe tội phạm và cứu vớt mạng người”. Những năm 90, căn cứ dữ liệu nghiên cứu tội phạm của 3.000 thành phố ở Mỹ trong 20 năm, Paul Rubin cùng hai học giả khác đã chỉ ra rằng, trung bình cứ mỗi án tử hình được thực thi có thể cứu được 18 người khỏi bị đe dọa tính mạng. Ở Mỹ, ngay cả các học giả phản đối án tử hình cũng thừa nhận rằng tử hình có tác dụng ngăn cản mưu sát. [31]

Có câu châm biếm rằng: pháp luật biến dị rất khoan dung, phóng túng đối với những hành vi phản đạo đức, đồng thời lại vô cùng hà khắc đối với rất nhiều cách làm bình thường trong xã hội, ví dụ như hạn chế chặt chẽ việc cha mẹ quản giáo con cái, khiến cho các bậc cha mẹ không thể quản giáo được con cái, kỳ thực là khiến trẻ con từ bé đã không được gia đình giáo dục, phóng túng ma tính của bản thân, lấy danh nghĩa “yêu thương, bảo vệ” để phá hủy tương lai của rất nhiều trẻ em.

Nội hàm “tự do” và tính cưỡng chế của pháp luật đều bị đẩy đến cực đoan, đó là thủ đoạn quan trọng đã được suy tính kỹ lưỡng của ma quỷ để làm biến dị pháp luật, hủy hại tính thần thánh và tính hợp lý của pháp luật.

3.5 Dùng pháp luật nước ngoài làm suy yếu chủ quyền nước Mỹ

Khi không tìm được điều khoản nào trong hiến pháp ủng hộ quan điểm của mình, các thẩm phán theo phái tự do liền chuyển sang tìm căn cứ ở pháp luật nước ngoài. 

Chẳng hạn, một thẩm phán nào đó muốn lật ngược đạo luật chống tình dục đồng tính ở Texas, nhưng không tìm được điều khoản tương ứng trong hiến pháp, ông ta liền trích dẫn điều khoản “cơ cấu quyền lực” của các quốc gia khác trong đạo luật Lawrence v. Texas [2003], nói rằng “Ở rất nhiều quốc gia, nó đã trở thành một bộ phận hoàn chỉnh trong quyền tự do của con người”, và cho phép tự do trong hành vi tình dục giữa những người đồng tính. [32] Phán quyết trong vụ việc này cũng trực tiếp chấm dứt quy định pháp luật phản đối hành vi tình dục giữa những người đồng tính của 13 bang khác.

Trào lưu chủ nghĩa cộng sản đã truyền khắp thế giới bằng mọi phương thức, khuynh hướng chủ nghĩa xã hội hóa ở châu Âu và châu Á đã cực kỳ rõ ràng, tình hình ở châu Phi và châu Mỹ La-tin đã trở nên nghiêm trọng, Zimbabwe và Venezuela và nhiều quốc gia khác đều là quốc gia chủ nghĩa xã hội không mang danh của chủ nghĩa xã hội. Canada cũng không thoát khỏi xu thế đó.

Cùng với sự mở rộng của toàn cầu hóa và sự giao thương quốc tế, nước Mỹ ngày càng ràng buộc chặt chẽ với các quốc gia này. Các thẩm phán theo phái tự do dưới danh nghĩa thông lệ quốc tế, tất nhiên rất dễ đưa nhân tố của chủ nghĩa cộng sản thâm nhập vào nước Mỹ, và những nhân tố này sẽ thông qua các án lệ để cải biến tinh thần của hiến pháp Mỹ, điều này vô cùng nguy hiểm, hơn nữa bản thân nó cũng đi ngược lại hiến pháp Mỹ. Nước Mỹ là quốc gia đứng đầu thế giới về quyền tự do, nếu ngay cả nước Mỹ cũng không thể bảo vệ được ranh giới truyền thống, vậy thì toàn thế giới sẽ rơi vào vũng bùn của chủ nghĩa cộng sản.

4. Trở về với tinh thần của pháp luật

Phần trên bàn về sự xuất hiện của hàng loạt hiện tượng hỗn loạn trong lĩnh vực pháp luật để nói lên rằng pháp luật đã lệch rất xa khỏi việc tuân thủ những giáo huấn của Thần và tín ngưỡng đạo đức. Những đạo luật đi ngược lại đạo đức truyền thống đến mức không tưởng này vẫn có thể được thông qua và thi hành, chứng tỏ rằng nền tảng đạo đức truyền thống của pháp luật đã bị ma quỷ làm lung lay, đạo đức xã hội đã và đang đối mặt với nguy cơ toàn diện. Pháp luật phản truyền thống đã hợp pháp hóa và bình thường hóa các hành vi tàn ác, chẳng khác nào mở rộng cửa cho tà ác hoành hành, thậm chí là mở rộng cánh cửa tội ác mà đóng kín cánh cửa lương thiện, khiến cho xã hội lạc hướng, dấn sâu vào con đường hủy diệt và trượt dốc của đạo đức nhân loại.

Pháp luật phản đạo đức làm suy yếu quyền uy vốn có của pháp luật, làm suy yếu chức năng quản trị của pháp luật, dẫn đến trật tự xã hội hỗn loạn, cũng sẽ dẫn đến sự can thiệp mạnh mẽ của chính phủ.

Pháp luật biến dị sẽ tiếp tục phá hủy tín ngưỡng truyền thống, kết quả cuối cùng là đưa xã hội hướng đến cực quyền. Nhà tư tưởng người Pháp Tocqueville cho rằng, một xã hội không có bất cứ tín ngưỡng nào cũng chỉ có thể là một xã hội chuyên chế, bởi vì chỉ có một thể chế chuyên chế mới có thể tập hợp một nhóm người không có bất cứ tín ngưỡng nào lại với nhau. [33]

Một khi ma quỷ hoàn toàn khống chế pháp luật, pháp luật sẽ trở thành vũ khí cực mạnh của ma quỷ để làm bại hoại con người, nhân loại sẽ luôn luôn ở trong xiềng xích và gông cùm của ma quỷ. Trước tình cảnh khó khăn này, con người chỉ có hai lựa chọn: hoặc phải phản kháng, cự tuyệt chấp hành pháp luật; hoặc phải cải biến quan niệm đạo đức của bản thân cho phù hợp với yêu cầu của pháp luật biến dị. Nếu theo cách thứ nhất thì pháp luật chỉ như thùng rỗng kêu to. Đúng như học giả Tocqueville từng nói: “Pháp luật cần phải dựa vào tín ngưỡng, nếu không nó sẽ chỉ như thùng rỗng kêu to”. [34] Đồng thời xã hội sẽ xuất hiện phản kháng, chấn động và tê liệt, nhưng những người có thái độ khác nhau đối với pháp luật cũng sẽ kích động đấu tranh chính trị giữa các lực lượng khác nhau, dẫn đến gia tăng nhân tố bất ổn định chính trị và gia tăng sự quản chế của chính phủ. Nếu theo cách thứ hai sẽ dẫn đến đạo đức truyền thống liên tục bị vứt bỏ, đạo đức xã hội trượt dốc, pháp luật sẽ ngày càng biến dị hơn, thậm chí biến thành “pháp luật xấu cũng là pháp luật” mà không ai nhận ra. 

Nếu đi đến bước này, cho dù dân chúng xã hội có phản ứng như thế nào, cuối cùng đều rơi vào cạm bẫy của ma quỷ, khó có thể thoát ra được.

Trong cuốn “Người Cộng sản trần trụi” đã từng liệt kê ra 45 mục tiêu để xâm nhập nước Mỹ của đảng cộng sản. Chúng ta sẽ lấy ra vài mục tiêu có liên quan đến pháp luật và so sánh với thực tế.

Điều 16, Sử dụng các quyết định kỹ thuật của tòa án làm suy yếu các cơ quan quan trọng của Mỹ, bằng cách tuyên bố các hoạt động của họ vi phạm quyền công dân.

Điều 24, Xóa bỏ tất cả các luật lệ quản lý các nội dung khiêu dâm bằng cách gọi các luật lệ đó là “kiểm duyệt”, vi phạm tự do ngôn luận và tự do báo chí.

Điều 29, Phản bác lại hiến pháp Mỹ bằng cách gọi đó là không phù hợp, lỗi thời, không thích hợp với nhu cầu hiện đại, cản trở sự hợp tác giữa các quốc gia trên toàn thế giới.

Điều 33, Xóa bỏ tất cả các quy định pháp luật can thiệp vào hoạt động của bộ máy đảng cộng sản.

Điều 38, Chuyển giao một số quyền bắt giữ của cảnh sát cho các tổ chức xã hội. Coi tất cả những vấn đề về hành vi là rối loại tâm thần và chỉ có bác sĩ tâm thần mới biết nên xử lý ra sao.

Điều 39, Khống chế hoạt động chuyên môn về bệnh tâm thần và sử dụng luật sức khỏe tâm thần như là biện pháp để kiểm soát tất cả những người phản đối các mục tiêu của chủ nghĩa cộng sản.

Điều 45, Hủy bỏ bảo tồn Connally (Connally Reservatin, cũng gọi là Connally Amendment, chỉ có Mỹ có khả năng quyết định vụ việc nào thuộc phạm vi quản lý của pháp luật nội bộ Mỹ) để Mỹ không thể ngăn cản tòa án quốc tế nắm quyền tài phán về các vấn đề trong nước. Cho phép tòa án quốc tế có thể quản lý các vấn đề trong nước. Cho phép tòa án quốc tế có quyền tài phán về các quốc gia cũng như cá nhân.

Đối chiếu thực tế hiện nay và các mục tiêu đã được trình bày ở trên sẽ phát hiện rằng, một số mục tiêu gần như đã hoặc đang được thực hiện. Tình trạng chủ nghĩa cộng sản thông qua thủ đoạn pháp luật để xâm lấn nền tư pháp hiện nay ở Mỹ đã ở mức thấy mà sợ.

Dù là hệ thống pháp luật dựa trên sự thù hận ở các quốc gia của đảng cộng sản, hay là hệ thống pháp luật phương Tây liên tục bị chủ nghĩa cộng sản xâm lấn, đều đánh mất đi tinh thần căn bản của pháp luật, đó là ”kính Thần” và đạo đức truyền thống.

Nếu chúng ta không thể giữ vững giới hạn đạo đức, không thể lấy điều của Thần làm tiêu chuẩn thiện ác cuối cùng, thì chúng ta chỉ có thể đánh mất giới hạn đạo đức và tư pháp độc lập dưới sự xâm lấn của tà linh cộng sản, và cuối cùng nghe theo những người đại diện bị tà linh cộng sản khống chế lợi dụng pháp luật để tấn công cái thiện và dung túng cái ác, một cách không tự biết mà thực hiện âm mưu cuối cùng của tà linh là hủy diệt nhân loại. Hãy mau chóng thoát khỏi sự khống chế của tà linh, thời gian không thể trì hoãn nữa.

*********

Tài liệu tham khảo:

[1] “Pháp luật và tôn giáo”, Harold Berman (Mỹ), Lương Trị Bình dịch (Nhà sách Tam Liên, Bắc Kinh, năm 1991)。

[2] “Hán Thư – Đổng Trọng Ni truyền”, Ban Cố

[3] “Pháp luật và tôn giáo”, Harold Berman (Mỹ), Lương Trị Bình dịch.

[4] “Cộng sản trần trụi”, W. Cleon Skousen (Salt Lake City: Izzard Ink Publishing, 1958, 2014).

[5] “Hỏi đáp về giáo nghĩa cách mạng”, Sergey Nechayev, 1869.

[6] “Cuộc cách mạng vô sản và cuộc nổi dậy Kautsky”, Vladimir Lenin,  https://www.marxists.org/archive/lenin/works/1918/prrk/common_liberal.htm.

[7] “Một tác phẩm có tính cách mạng: Lịch sử nước Nga thế kỷ 20”, Lý Ngọc Trinh, tạp chí “Viêm Hoàng xuân thu”, kỳ 10 năm 2010.

[8] “Những ngôn luận hoang đường của đảng cộng sản”, Âu Dương Phi, website Minh Huệ, 08/01/2015,http://www.minghui.org/mh/articles/2015/1/8/302850.html.

[9] “Of Judicature”, Essays, Civil and Moral, Francis Bacon, http://www.bartleby.com/3/1/56.html.

[10] Tổ chức kế hoạch hóa gia đình ở đông nam Pennsylvania v. Casey (Số 91-744, 91-902). “Có một số người sẽ cho rằng phá thai đi ngược lại với nguyên tắc đạo đức cơ bản của chúng ta, tuy nhiên điều này không thể ảnh hưởng đến quyết định của chúng tôi. Trách nhiệm của chúng tôi là định ra “tự do” cho tất cả mọi người, chứ không phải cưỡng chế thực thi nguyên tắc đạo đức của bản thân chúng tôi”.

[11] “Số lượng người được tổng thống ân xá”, Tom Murse, ThoughtCo, 09/3/2018, https://www.thoughtco.com/number-of-pardons-by-president-3367600.

[12] “Obama nhắc lại câu nói của Chelsea Manning trong đợt khoan hồng vào phút cuối”, Gregory Korte, USA TODAY, 17/1/2017, https://www.usatoday.com/story/news/politics/2017/01/17/obama-commutes-sentence-chelsea-manning/96678814/.

[13] “Đây là lý do tại sao George Soros, các nhóm tự do đang chi tiêu nhiều tiền để giúp quyết định ai là người tiếp theo của bạn”, Paige St. John and Abbie Vansickle, Los Angeles Times, 23/5/2018, http://www.latimes.com/local/california/la-me-prosecutor-campaign-20180523-story.html.

[14] Affidavit of Roger N. Baldwin, December 31, 1938, Investigation of Un-American Propaganda Activities in the United States. Hearings before a Special Committee on Un-American Activities, House of Representatives, 75th-78th Congress, 3081-3082.

[15] Phyllis Schlafly, The Supremacists: The Tyranny of Judges and How to Stop It (Minneapolis, MN: Richard Vigilante Books, 2006), 26-27.

[16] Phyllis Schlafly, “Pots of Gold Behind Crosses and Ten Commandments,” The Eagle Forum Report, June 4, 2004, http://eagleforum.org/column/2004/june04/04-06-23.html.

[17]  “The U.S. Pledge of Allegiance: Circuit Court Decision, Reactions, etc.,” Religious Tolerance, http://www.religioustolerance.org/nat_pled3.htm.

[18] Passed/agreed to in House: On Motion to Suspend the Rules and Agree to the Resolution Agreed to by the Yeas and Nays: (2/3 required): 416 – 3, 11 Present (Roll no. 273) https://www.congress.gov/bill/107th-congress/house-resolution/459.

[19] Submitted in the Senate, Considered, and Agreed to without Amendment by Yea-Nay, 99-0, June 26, 2002, https://www.congress.gov/bill/107th-congress/senate-resolution/292.

[20] Phyllis Schlafly, The Supremacists: The Tyranny of Judges and How to Stop It, 30.

[21] Phyllis Schlafly, The Supremacists: The Tyranny of Judges and How to Stop It, 58.

[22] Phyllis Schlafly, The Supremacists: The Tyranny of Judges and How to Stop It, 60-61.

[23]  “CNN Revels in Pot Smoke during New Year”s Eve Report from Denver,” Fox News, January 1, 2018,  http://www.foxnews.com/entertainment/2018/01/01/cnn-revels-in-pot-smoke-during-new-years-eve-report-from-denver.html.

[24] Patrick McGreevy, “Billionaire Activists like Sean Parker and George Soros Are Fueling the Campaign to Legalize Pot,” Los Angeles Times, November 2, 2016,  http://www.latimes.com/politics/la-pol-ca-proposition64-cash-snap-20161102-story.html.

[25] Adam Shaw, “GOP Senators Ask Tillerson to Probe US Funding of Soros Groups abroad,” Fox News, March 15, 2017, http://www.foxnews.com/politics/2017/03/15/gop-senators-ask-tillerson-to-probe-us-funding-soros-groups-abroad.html.

[26]  Ariane de Vogue and Jeremy Diamond, “Supreme Court Rules in Favor of Same-sex Marriage Nationwide,” CNN News, June 27, 2015, https://www.cnn.com/2015/06/26/politics/supreme-court-same-sex-marriage-ruling/index.html.

[27] Todd Starnes, “Kentucky Clerk: This is a fight worth fighting,”  Fox News, September 3, 2015, http://www.foxnews.com/opinion/2015/09/03/kentucky-clerk-am-prepared-to-go-to-jail.html.

[28]  “Attorney for Kim Davis Speaks out, Huckabee Blasts “Judicial Overreach” in Case,” Fox News, September 8, 2015, http://www.foxnews.com/transcript/2015/09/08/attorney-for-kim-davis-speaks-out-huckabee-blasts-judicial-overreach-in-case.html.

[29] “Hôn nhân đồng tính”, Wikipedia, https://zh.wikipedia.org/wiki/同性婚姻.

[30] The Stop the Kinsey Institute Coalition, “Kinsey Helped Undermine Laws Protecting Women & Children,”  http://stopthekinseyinstitute.org/more/undermining-laws/.

[31] “Không nên xóa bỏ án tử hình”, Tào Trường Thanh, Tuần báo Trung Quốc, ngày 7/6/2015, http://www.china-week.com/html/6405.htm.

[32] Phyllis Schlafly, The Supremacists: The Tyranny of Judges and How to Stop It, 49.

[33]”Luận bàn về nước Mỹ và dân chủ”, Tocqueville (Pháp), Đổng Quả Lương dịch (Nhà xuất bản Thương nghiệp Bắc Kinh, năm 1988)

[34] ”Pháp luật và tôn giáo”, Harold J. Berman, Lương Trị Bình dịch

Ngày đăng: 4-09-2019