Chương 17: Toàn cầu hóa – Bàn tay của chủ nghĩa cộng sản phía sau toàn cầu hóa

Mục lục
Giới thiệu
1. Toàn cầu hóa và Chủ nghĩa Cộng sản.
2. Ma quỷ đằng sau toàn cầu hóa kinh tế.
Toàn cầu hóa tạo thành thể kinh tế mô thức CNCS.
Toàn cầu hóa tạo ra môi trường CNCS ở các nước đang phát triển.
Toàn cầu hóa tạo ra “phân hóa giàu nghèo” tại các nước phát triển, khuyến khích trào lưu tư tưởng CNCS.
“Phản toàn cầu hóa” ngưng tụ lực lượng cánh tả, truyền bá CNCS.
Trung Cộng mạnh lên, dùng dinh dưỡng của chủ nghĩa tư bản để tăng cường cho cơ thể của CNXH.
3. Ma quỷ đằng sau toàn cầu hóa chính trị.
Lợi dụng Liên Hợp Quốc để khuếch chương thế lực chính trị của CNXH.
Đảo lộn lý niệm nhân quyền của Liên Hợp Quốc.
Lợi dụng Liên Hợp Quốc thúc đẩy lý niệm chính trị CNCS.
Khuynh hướng cực quyền của chính phủ thế giới.
4. Toàn cầu hóa về văn hóa trở thành công cụ truyền bá của tư tưởng biến dị.
Cơ chế tà linh làm bại hoại truyền thống trong toàn cầu hóa về văn hóa.
Lợi dụng các quốc gia phát triển phương Tây để xuất khẩu văn hóa biến dị phản truyền thống.
Lợi dụng văn hóa công ty doanh nghiệp đa quốc gia để truyền bá quan niệm biến dị.
Nhờ vào các tổ chức và công ước Liên Hợp Quốc khuếch tán quan niệm biến dị đến toàn cầu.
Lời kết

=========

Giới thiệu
Từ thời văn nghệ phục hưng đến nay, lịch sử nhân loại đã tiến nhập vào một thời kỳ biến động kịch liệt. Cách mạng công nghiệp bắt đầu vào cuối thế kỷ 18 đã nâng sức sản xuất lên cực đại, sức mạnh tương quan giữa các quốc gia phát sinh thay đổi cự đại, bố cục của thế giới bắt đầu xáo trộn kịch liệt, đồng thời kết cấu xã hội, lĩnh vực tư tưởng và tôn giáo cũng phát sinh biến đổi chóng mặt. Sự suy thoái của tín ngưỡng chính thống, đạo đức nhân loại trượt dốc, xã hội rối loạn, hành vi của con người mất đi quy phạm, CNCS chính là sinh ra trong một điều kiện lịch sử như vậy.

Sau cách mạng Bolshevik ở Nga năm 1917, Quốc tế III có ý đồ xuất khẩu cách mạng ra toàn cầu. ĐCS Mỹ thành lập năm 1919, ĐCSTQ thành lập năm 1921, đều là hiện tượng phát sinh trong bối cảnh lớn là thế lực của CNCS thăng lên trên toàn cầu. Đại suy thoái kinh tế trên phạm vi toàn cầu vào khoảng 20 năm cuối, 30 năm đầu thế kỷ trước, đã tạo điều kiện cho CNCS nhoi lên, hình thái ý thức kinh tế chính trị của các nước trên thế giới đua nhau dịch chuyển về phía tả, Liên Xô đặt vững được chân, Trung Cộng chớp cơ hội phát triển, vài chục năm sau, đến năm 1949, Trung Cộng đã soán đoạt được chính quyền Trung Quốc. CNCS bạo lực hoành hành một thời, Liên Xô và Trung Cộng cùng nhau chớp thời cơ thâu tóm mấy chục quốc gia, ⅓ nhân khẩu toàn thế giới, rồi hình thành thế đối đầu với thế giới phương Tây. Thế cục chiến tranh lạnh tiếp diễn đến nửa thế kỷ.

Khi bóng mây đen bạo lực CNCS uy hiếp toàn nhân loại, đại bộ phận người của thế giới tự do phương Tây đều không để ý đến nhân tố CNCS phi bạo lực đang âm thầm lớn mạnh trong nội bộ của mình. Chưa kể đến sự thâm nhập của Liên Xô, chỉ riêng những gì trong nội bộ của phương Tây như các loại trào lưu tư tưởng, lý niệm CNCS biến tướng và phần tử CNCS, hội Fabian, những người của Đảng xã hội dân chủ v.v., đã dùng các phương thức khác nhau để thâm nhập vào trong chính phủ, giới doanh nghiệp, giới giáo dục văn hóa, các loại đoàn thể xã hội. Cuộc vận động phản văn hóa ở phương Tây những năm 60 của thế kỷ trước, là nổi lên đồng thời với cuộc Đại CMVH của Trung Quốc, là một lần tổng bạo phát của nhân tố cộng sản dưới sự thao túng của tà linh. Sau những năm 70, những thanh niên chống đối ở phương Tây đã phát động một cuộc “Trường Chinh trong thể chế”, ý đồ ăn mòn văn hóa truyền thống từ trong nội bộ, cướp đoạt quyền lãnh đạo thể chế xã hội. Điều đáng buồn là, chỉ trong thời gian mười mấy năm, họ đã giành được cái “thành công” khiến cho người ta phải kinh tâm chóng mặt.
Bức tường Berlin sụp đổ, Liên Xô giải thể, có người hoan hô “lịch sử đã đến điểm chốt”, “hình thái ý thức đã đến điểm chốt”, có người lo lắng về “Xung đột văn minh”, nhưng rất ít người ý thức được rằng, CNCS đang dùng bộ mặt mới, dựng lên một cờ hiệu mới, tấn tốc chinh phục toàn bộ xã hội nhân loại.

Cờ hiệu đó chính là “Toàn cầu hóa”.
Thuận theo việc cách mạng công nghiệp và phát triển khoa học kỹ thuật, dân số lưu động giữa các quốc gia, sự giao dịch kinh tế cho đến giao lưu chính trị, kỹ thuật, văn hóa cũng ngày càng thường xuyên. Nhất là hôm nay, các công cụ giao tiếp, vận tải hiện đại hóa, máy vi tính, mạng lưới kỹ thuật số, khiến cho những khoảng cách rộng lớn về thời không, khu vực mà nhân loại trong quá khứ vài nghìn năm đều rất khó vượt qua được ấy, trở nên gần trong gang tấc, thế giới dường như biến thành rất nhỏ, sự hợp tác giữa các nước trở nên chặt chẽ hơn bao giờ hết, càng ngày càng hòa hợp làm một. Sự tăng cường hợp tác toàn cầu này, là kết quả tự nhiên của việc kỹ thuật phát triển, năng suất tăng cao, nhân khẩu lưu động. Đây là một sự toàn cầu hóa trong quá trình lịch sử tự nhiên.

Nhưng, còn có một loại toàn cầu hóa khác, đó là kết quả của việc tà linh cộng sản tước đoạt quy trình lịch sử tự nhiên của toàn cầu hóa hòng hủy diệt nhân loại. Loại toàn cầu hóa mà tà linh thao túng này là nội dung mà chương này thảo luận làm rõ.
Toàn cầu hóa mà tà linh cộng sản thao túng thực chất là, tập trung tất cả các nhân tố tà ác biến dị tích luỹ trong thời gian một thế kỷ vừa qua tại các quốc gia cộng sản và quốc gia phi cộng sản, lợi dụng các hoạt động văn hóa, tài chính, kinh tế, chính trị quy mô lớn, đột phá biên giới quốc gia, tấn tốc mở rộng ra toàn cầu, trong thời gian ngắn phá hủy con đê phòng thủ là tín ngưỡng và đạo đức, công phá thành trì truyền thống văn hóa-cũng là tấm bình phong cuối cùng mà con người có thể dựa vào để sinh tồn, để có thể được Thần cứu độ. Đây là thao tác chuẩn bị cuối cùng trước khi tà linh hủy diệt nhân loại.

Cuốn sách này nhấn mạnh nhiều lần, tà linh cộng sản không phải là lý luận, mà là một con tà linh, là có sinh mệnh, mục đích cuối cùng là hủy diệt toàn nhân loại. Tà linh cộng sản không cố định vào một loại hình thái ý thức chính trị nào, khi điều kiện đầy đủ, tà linh thậm chí lợi dụng học thuyết lý luận kinh tế chính trị tương phản lại với hình thái ý thức phổ biến của CNCS. Từ những năm 90 của thế kỷ trước trở lại đây, trên lá cờ toàn cầu hóa thông thường viết chính trị dân chủ, kinh thế thị trường, tự do thương mại, do vậy gặp phải kháng nghị của một số đoàn thể cánh tả. Nhưng những đoàn thể cánh tả này lại không biết, tà linh cộng sản lại ở trên một tầng diện cao hơn để tiến hành hoạt động, kinh tế toàn cầu hóa, chính trị toàn cầu hóa (global governance), chương trình thế kỷ 21, các loại công ước môi trường và công ước quốc tế, đều trở thành công cụ thuận tay để tà linh khống chế và hủy diệt nhân loại.
Toàn cầu hóa mà tà linh cộng sản thao thúng còn gọi là “chủ nghĩa toàn cầu” (globalism), chính trong phạm vi toàn cầu hóa, cũng phân ra nhiều lộ tuyến, dựa vào nhiều phương thức để thúc đẩy kế hoạch đó, ở một số lĩnh vực đã giành được những tiến triển khiến người ta phải tròn mắt kinh ngạc. Để tiện diễn giải, chương này sẽ từ 3 phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa để tiến hành phân tích đối với toàn cầu hóa.

Ba phương diện của toàn cầu hóa, hợp thành hình thái ý thức ở thế tục của “Chủ nghĩa Toàn cầu”. Loại hình thái ý thức này biểu hiện ra các diện mạo khác nhau ở các trường hợp khác nhau, có lúc thậm chí còn bao hàm những diễn giải hoàn toàn ngược lại, nhưng trong thực tiễn, lại biểu hiện ra đặc trưng tương tự cao độ nơi CNCS. Nó lấy thuyết vô thần, thuyết tiến hóa làm cơ sở, hứa hẹn mang đến cho con người một xã hội không tưởng (Utopia) mỹ hảo, một thiên đường trên mặt đất giàu có, bình đẳng, không có bóc lột, áp bức và kỳ thị, cổ xuý và đẩy mạnh việc [mở rộng thành] một đại chính phủ trên thế giới. Loại hình thái ý thức như vậy tất sẽ bài xích văn hóa truyền thống của các dân tộc vốn lấy cơ sở dựa trên sự tín thần, trọng đức. Những năm gần đây, điều ngày càng hiện rõ là, loại hình thái ý thức này dựa vào sự “đúng đắn chính trị”, “xã hội chính nghĩa”, “giá trị trung lập”, “chủ nghĩa bình quân tuyệt đối” của cánh tả, làm nội hàm cụ thể. Đây chính là sự toàn cầu hóa về hình thái ý thức.

Văn hóa của các nước không giống nhau, nhưng đều là truyền thống được đặt định dựa trên giá trị phổ quát, mà chủ quyền quốc gia và văn hóa truyền thống của các dân tộc khởi tác dụng trọng yếu đối với sự truyền thừa của dân tộc, quyền tự quyết của dân tộc, khiến các dân tộc tránh bị các cường quyền bên ngoài và CNCS thâm nhập. Nhưng một khi đại chính phủ của thế giới được hình thành, tà linh cộng sản sẽ có thể đạt được mục đích tiêu diệt tài sản tư hữu, tiêu diệt quốc gia, tiêu diệt dân tộc, tiêu diệt văn hóa truyền thống của các dân tộc dễ như trở bàn tay. Toàn cầu hóa và chủ nghĩa toàn cầu hóa đang khởi tác dụng ác liệt trong việc phá hoại truyền thống và đạo đức của nhân loại, dung túng cho các loại tà ác, nuôi dưỡng cho lực lượng cánh tả và CNCS toàn cầu mở rộng. Vạch trần toàn cầu hóa và căn nguyên của CNCS, tính đồng cấu của chủ nghĩa toàn cầu và CNCS, là một vấn đề hóc búa nhưng cũng cực kỳ cấp bách và cực kỳ trọng yếu.

1. Toàn cầu hóa và Chủ nghĩa Cộng sản. 
Trong các tác phẩm của mình Mác không dùng khái niệm toàn cầu hóa, nhưng dùng một từ có nội hàm hết sức gần là “lịch sử thế giới”. Trong “Tuyên ngôn của ĐCS”, Mác nói kết quả của việc chủ nghĩa tư bản mở rộng trên toàn cầu, tất nhiên sẽ sản sinh ra giai cấp vô sản số lượng cự đại, sau đó thuận theo việc cách mạng của giai cấp vô sản tràn ngập toàn cầu, mà tất sẽ lật đổ chủ nghĩa tư bản rồi tiến nhập vào “thiên đường nhân gian” của CNCS. [1] Mác viết: “giai cấp vô sản chỉ có thể tồn tại trong ý nghĩa lịch sử thế giới, cũng giống như sự nghiệp của nó – Chủ nghĩa Cộng sản – chỉ có coi là tồn tại ‘tính lịch sử thế giới’ mới có khả năng thực hiện.” Cũng là nói, hiện thực của CNCS phụ thuộc vào việc giai cấp vô sản áp dụng việc cùng nhau hành động trên phạm vi thế giới, cách mạng cộng sản tất nhiên là một cuộc vận động “toàn cầu hóa”.

Mặc dù Lenin đã sửa đổi học thuyết của Mác, đề xuất ra việc có thể ở một hoàn cảnh mà chủ nghĩa tư bản bạc nhược (nước Nga), mà trước tiên phát động cách mạng, những người theo chủ nghĩa cộng sản chưa hề vứt bỏ lý tưởng “cách mạng thế giới”. Năm 1919 nước Nga Xô-viết đã không thể đợi được mà thành lập Quốc tế Cộng sản ở Matx-cơ-va, các chi bộ đảng trải rộng ở 16 quốc gia. Lenin nói: “Mục tiêu của quốc tế cộng sản là thành lập nước cộng hòa Xô-viết thế giới.” [3] Nhà tư tưởng của nước Mỹ G.Edward-Griffin tổng kết 5 mục tiêu cách mạng toàn cầu mà Stalin đề xuất đến trong cuốn sách “Chủ nghĩa Mác và vấn đề dân tộc”:
① Làm xáo trộn, tan rã, và tiêu hủy các thế lực tư bản chủ nghĩa các nơi.
② Liên Hợp tất cả các quốc gia lại, hình thành một thể hệ kinh tế thế giới đơn nhất.
③ Cưỡng ép các nước phát triển cung cấp viện trợ trường kỳ cho các quốc gia kém phát triển.
④ Phân chia thế giới thành các khu vực tổ chức, để làm một mắt xích quá độ trong việc kiến lập chính phủ thế giới.
⑤ Sau đó các tổ chức địa phương đều có thể một mạch mang đến chuyên chính giai cấp vô sản thế giới [dưới hình thức] đơn nhất.
Chủ tịch toàn quốc của ĐCS Mỹ (William Z. Foster) viết: “Thế giới CNCS sẽ là một thế giới thống nhất, có tổ chức. Căn cứ theo quy hoạch của Liên Xô, cái thể hệ kinh tế thế giới có tổ chức này sẽ là một tổ chức vĩ đại. Chính phủ Xô-viết Mỹ sẽ trở thành bộ phận trọng yếu trong cái chính phủ thế giới này.” [5] Từ Mác, Lenin, Stalin, Foster cho đến “Khối vận mệnh chung của nhân loại” mà gần đây ĐCSTQ đề xuất, chúng ta có thể thấy được rõ ràng, CNCS tuyệt đối không thỏa mãn với việc nắm quyền ở một số ít vài quốc gia, trào lưu tư tưởng CNCS từ đầu đến cuối đền quán xuyến dã tâm chinh phục toàn nhân loại.

Cách mạng thế giới giai cấp vô sản mà Mác dự ngôn chưa hề đến; còn chủ nghĩa tư bản mà ông dự đoán là đang dãy chết lại cứ thế cất cao giọng hát, hưng vượng phát đạt, phồn vinh thịnh vượng. Thuận theo việc Liên Xô và phe cộng sản Đông Âu giải thể vang dội, chỉ lưu lại Trung Cộng và một vài anh em nhỏ, CNCS dường như đã bước vào giờ phút hấp hối. Trên bề mặt là thắng lợi của thế giới tự do.

Nhưng khi mà ở phương Tây người ta cho rằng CNCS sắp bị quét vào đống rác của lịch sử, thì tư tưởng XHCN(giai đoạn sơ cấp của CNCS) lại khởi lên trên toàn thế giới. U linh cộng sản chưa chết, nó ẩn mình đằng sau các loại chủ nghĩa và các cuộc vận động, ăn mòn, thâm nhập, khiến lý niệm và ý thức cộng sản mở động đến đủ các phương diện của thế giới tự do.
Điều này có ngẫu nhiên không? Đương nhiên là không. Toàn cầu hóa thấy thì như là một quá trình hình thành tự nhiên, nhưng tác dụng của bàn tay đen của tà linh cộng sản trong quá trình diễn biến ấy lại ngày càng rõ ràng. Có thể nói, CNCS đã trở thành một trong những tư tưởng chỉ đạo của toàn cầu hóa.

Sau chiến tranh thế giới 2, lực lượng cánh tả của các nước châu Âu không ngừng trưởng thành, “Quốc tế Đảng xã hội” với chủ trương dân chủ xã hội chủ nghĩa bao gồm chính đảng của hơn 100 quốc gia, những chính đảng này chấp chính ở các nước, tình hình như vậy thậm chí còn mở rộng ra đại bộ phận quốc gia châu Âu. Dưới bối cảnh như vậy, phúc lợi cao, thu thuế cao, quốc hữu hóa ảnh hưởng đến toàn châu Âu. Toàn cầu hóa dẫn đến tài sản của nước Mỹ trở nên trống rỗng, giai cấp trung sản thu hẹp lại, thu nhập thời gian dài không tăng trưởng, phân hóa giàu nghèo, xã hội bị xé nhỏ, những điều này đều thúc đẩy mạnh mẽ cánh tả và XHCN lớn mạnh ở nước Mỹ, khiến cho hơn 10 năm nay quang phổ chính trị trên toàn cầu dịch chuyển mạnh về phía “tả”. Mà lực lượng cánh tả trên toàn thế giới lại tuyên bố toàn cầu hóa tạo thành việc thu nhập bất bình đẳng và phân hóa giàu nghèo, rồi lại nhờ vào “phản toàn cầu hóa” mà tấn tốc phát triển, trở thành một đội quân hăng hái ngăn cản chủ nghĩa tư bản, kêu gọi chủ nghĩa xã hội.

Sau chiến tranh lạnh, tà linh cộng sản lại dựa vào toàn cầu hóa kinh tế, mà khiến cho kinh tế thâm nhập lẫn nhau, trong cái này có cái kia, trong cái kia có cái này, làm tiêu giảm đi chủ quyền quốc gia, phá hoại cơ sở kinh tế dân tộc. Mục đích là dẫn động hết mức bản tính tham lam của con người, từ sức mạnh tài chính phương Tây thực thi việc dịch chuyển tài nguyên, dùng tài nguyên mà nhân loại tích lũy mấy trăm năm để tấn tốc nuôi béo Trung Cộng, rồi lại bùng phát việc Trung Cộng dùng kim tiền trói buộc chặt chẽ đạo đức của các nước vào quỹ đạo trượt dốc không giới hạn.

Hiện nay trong thế giới CNCS, Trung Cộng đang là ông to cầm đầu, sự tăng trưởng kinh tế và quyền lực không ngừng gia tăng, liên tục tiêm những liều thuốc trợ tim cho cánh tả và ĐCS của các nước. Trung Cộng lợi dụng thống trị cực quyền, phá hoại quy tắc thương mại thế giới, trong toàn cầu hóa dùng sự cấp dưỡng của Chủ nghĩa Tư bản để làm cho cơ thể của CNXH trở nên lớn mạnh. Thực lực kinh tế của Trung Cộng bùng nổ, sau đó dẫn động dã tâm về chính trị và quân sự, ý đồ xuất khẩu mô thức Cộng Sản ra toàn thế giới. Do vậy, từ phạm vi toàn cầu mà nhìn, cho dù là phần tử cánh tả phản toàn cầu hóa, hay là chiếm hết lợi ích từ toàn cầu hóa như Trung Cộng, đều là nổi lên trên danh nghĩa toàn cầu hóa. Trên thực tế, tình huống hiện tại của thế giới hiện nay đã rất gần với mục tiêu mà Stalin đề xuất ra năm đó.

2. Ma quỷ đằng sau toàn cầu hóa kinh tế. 
Toàn cầu hóa kinh tế là chỉ sự thống nhất về lưu thông tư bản trên quốc tế, việc sản xuất, thương mại quốc tế, lưu thông tư bản trên quốc tế, bắt đầu vào những năm 40-50 của thế kỷ trước, những năm 70-80 thì thành hình, đến những năm 90 thì xuất hiện trên quy mô lớn, bàn tay chủ đạo là những cơ quan xuyên quốc gia và các công ty xuyên quốc gia, yêu cầu thả lỏng sự giám sát và quản lý quốc gia, để tư bản trên quốc tế được tự do lưu thông. Trên bề mặt mà nhìn thì là phương Tây chủ đạo, là con đường mà chủ nghĩa tư bản mở rộng trên toàn cầu. Điều bất hạnh là, toàn cầu hoá lại trở thành máy gieo hạt cho CNCS. Đặt biệt là toàn cầu hoá mang tới việc phương Tây bơm máu điên cuồng cho Trung Cộng, đồng thời khiến cho kinh tế thị trường của chủ nghĩa tư bản và kinh tế cực quyền của chủ nghĩa cộng sản dung hợp cao độ, phụ thuộc lẫn nhau, khiến cho phương Tây đứng trước phương diện lợi ích kinh tế, mà vứt bỏ đi đạo nghĩa lương tri và giá trị phổ quát, mà cực quyền Cộng Sản lại càng là lợi dụng sức ép kinh tế để uy hiếp thế giới từng bước một, như thể là CNCS sắp thống nhất thiên hạ.

2.1 Toàn cầu hóa tạo thành thể kinh tế mô thức CNCS. 
Toàn cầu hoá biến kinh tế toàn cầu trở thành một thể kinh tế lớn, trong quá trình này, cũng hình thành các tổ chức quốc tế lớn, các công ước và quy tắc. Điều này trên bề mặt nhìn thì như là sự mở rộng CNTB và thị trường tự do, nhưng trên thực tế, đã hình thành một cơ chế quản lý khống chế thống nhất toàn cầu, có thể phát lệnh chỉ huy đến rất nhiều quốc gia, công ty, có quyền sinh quyền sát đối với rất nhiều quốc gia, công ty. Điều này tương đương với việc trên lĩnh vực kinh tế hình thành cơ chế kinh tế kế hoạch Trung Ương tập quyền, cũng là nhất trí cao độ với điều mà phía trên nói về mục tiêu của Stalin là Liên Hợp tất cả các quốc gia lại, hình thành một thể hệ kinh tế thế giới đơn nhất. Sau khi các tổ chức tài chính được kiến lập, cũng hình thành hiện tượng các quốc gia phát triển cung cấp viện trợ trường kỳ cho các nước kém phát triển, mà đây cũng chính là mục tiêu thứ 3 mà Stalin đề xuất.
Các tổ chức tài chính quốc tế trên phương diện viện trợ cũng thông thường có can thiệp to lớn đối với kinh tế của các quốc gia đương sự, thủ đoạn là độc tài và đơn nhất, không chỉ cưỡng chế mà còn không suy xét đến tình huống của nước đương sự, điều này về mặt khách quan là đang làm cho nhân tố CNCS trở nên lớn mạnh. Đối với điều này, học giả Mỹ James Bovard tổng kết: “Các tổ chức tài chính có tính thế giới thúc đẩy mạnh mẽ sự quốc hữu hoá kinh tế ở các nước thế giới thứ 3, hơn nữa còn tăng cường việc thống trị quan liêu và chính trị đối với những người nghèo.”

Từ một phương diện khác mà nhìn, toàn cầu hoá kinh tế tạo thành thể kinh tế có tính toàn cầu, hình thành cơ chế sản xuất tiêu dùng thống nhất và khuynh hướng tiêu dùng ngày càng hội tụ, không gian sinh tồn của những công ty nhỏ, nhất là các nghề thủ công truyền thống bị chèn ép mạnh, rất nhiều ngành công nghiệp dân tộc và các xí nghiệp nhỏ bị làn sóng toàn cầu hoá làm sụp đổ, ngày càng nhiều người mất đi điều kiện và tính khả năng để tự do sản xuất, các quốc gia lạc hậu thường trở thành một khâu của chuỗi cung ứng, như vậy dẫn đến việc chủ quyền kinh tế của quốc gia bị yếu đi và sự thất bại của quốc gia trước thể kinh tế toàn cầu hoá. Một quốc gia thông thường vì thâm hụt ngân sách và tiền lợi tức mà trở thành con nợ quốc tế. Điều này trên thực tế là đang làm tan rã cơ sở của CNTB tự do.

2.2 Toàn cầu hóa tạo ra môi trường CNCS ở các nước kém phát triển.
Một nước nhỏ ở Trung Mỹ là Jamaica, sau khi mở cửa tự do thị trường, thì sữa bò giá rẻ ào ạt đổ vào, người dân phổ thông cũng đều có thể uống sữa bò. Nhưng, các nông trại sữa bò ở địa phương trở thành vật hi sinh, sữa bò của họ căn bản không cách nào cạnh tranh với sữa bò nhập khẩu, thế là các nông trại sữa bò địa phương đua nhau phá sản. Mexico từng hấp dẫn rất nhiều ngành công nghiệp chế tạo, dù đều là những loại kỹ thuật thấp. Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, ngành công nghiệp chế tạo chuyển dịch từ Mexico sang Trung Quốc như ong vỡ tổ. Một Mexico hoàn toàn không có kỹ thuật cao hoàn toàn trở thành vật hi sinh. Châu Phi có lượng tài nguyên khoáng sản lớn, sau khi tư bản nước ngoài đổ vào, đem những tài nguyên khai thác được ấy đi, lợi nhuận phát triển kinh tế của địa phương rất nhỏ, hơn nữa tư bản nước ngoài làm hỏng đi quan viên chính phủ. Toàn cầu hóa tự xưng là muốn mang đến dân chủ, nhưng lại mang đến một chính quyền độc tài tham nhũng. Trên thực tế, sự nghèo đói ở châu Phi không những không giảm mà còn gia tăng. Theo tư liệu của ngân hàng thế giới năm 2015, số người nghèo khó ở châu Phi phía nam sa mạc Sahara tăng 9 triệu người, mỗi ngày có 413 triệu người mà mức phí sinh hoạt không đến 1,9 USD. [7] Trong ký ức còn như mới của người ta, trong cuộc khủng hoảng tài chính, Thái Lan mở hệ thống tài chính yếu ớt của mình ra cho tư bản quốc tế, đem đến phồn vinh tạm thời. Nhưng khi sau khi tư bản quốc tế kiếm đầy túi tiền rồi, thì kinh tế quốc gia của Thái Lan cũng đình trệ, thậm trí còn lan rộng ra các quốc gia láng giềng xung quanh, hậu quả hết sức nghiêm trọng.

Sự phát triển của kỹ thuật thông tấn và giao thông, biến cả địa cầu thành một “thôn địa cầu”. Toàn cầu hóa nghe thì như là một kế hoạch hùng tâm tráng trí để phục vụ cho “thôn địa cầu”, đưa thành quả kinh tế mà giá trị dân chủ mở rộng ra cả thôn địa cầu. Nhưng, giáo sư Dani Rodrik của học viện chính phủ Kennedy, đại học Harvard đã đưa ra lý luận “tam giác bất khả năng” trong phát triển toàn cầu hóa, đã chứng minh rằng một nước không thể đồng thời thực hiện 3 mục tiêu dân chủ chính trị, chủ quyền quốc gia và toàn cầu hóa kinh tế. [8] Đây là nội thương của toàn cầu hóa, cũng là nơi mà tà linh cộng sản có thể dùi vào sơ hở, biến toàn cầu hóa thành công cụ của tà linh.

Rất hiển nhiên, những điều tốt và cơ hội toàn cầu hóa mang đến vẫn tập trung trong một số ít người, một cách nhân tạo mà đã tăng mạnh sự bất bình đẳng, không cung cấp biện pháp lâu dài để giải quyết nghèo đói, đồng thời còn làm yếu đi chủ quyền quốc gia, tạo thành sóng gió ở các nơi. Quá trình toàn cầu hóa tạo ra hai vai đối lập giai cấp là “kẻ áp bức” và “người bị áp bức”. Toàn cầu hóa mang đến “áp bức”, “bóc lộc”, “bất bình đẳng”, “nghèo khó”, chính là món lợi khí mà cánh tả lợi dụng để tấn công chủ nghĩa tư bản. Loại đấu tranh và phản kháng của “người bị áp bức” đối với “kẻ áp bức”, là một bộ sở trường của CNCS. Chủ nghĩa bình quân tài sản và ý thức đấu tranh của CNCS cũng thuận theo toàn cầu hóa mà mở rộng ra khắp nơi trên thế giới.

2.3 Toàn cầu hóa tạo ra “phân hóa giàu nghèo” tại các nước phát triển, khuyến khích trào lưu tư tưởng CNCS.
Một lượng lớn ngành công nghiệp và công việc bị chảy ra nước ngoài, khiến cho giai tầng lao động ở tầng trung và hạ, chủ yếu bán sức lao động để mưu sinh trong các ngành công nghiệp, và giai cấp trung sản của các nước phương Tây trở thành những người chịu hại chủ yếu của toàn cầu hóa. Lấy nước Mỹ làm ví dụ, một lượng lớn tư bản và kỹ thuật chảy về Trung Quốc, khiến cho lượng việc làm bị mất một lượng lớn, ngành công nghiệp dần trở nên bị rỗng tâm, tỉ lệ thất nghiệp tăng. Từ năm 2000 đến năm 2011, nước Mỹ có 5,7 triệu công nhân chế tạo mất đi công việc, có 65 nghìn nhà máy đóng cửa. [9] Sự phân hóa giàu nghèo ở nước Mỹ tăng lên, mức lương thu nhập bình quân trong 30 năm trở lại đây (trừ đi lạm phát) tăng trưởng rất chậm, thậm chí xuất hiện “người nghèo làm việc”. “Người nghèo làm việc” là chỉ những người có ít nhất 27 tuần làm việc hoặc tìm việc, nhưng thu nhập vẫn thấp hơn mức chuẩn người nghèo của chính phủ. Năm 2016 nước Mỹ có 7,6 triệu những “Người nghèo làm việc” như vậy. [10]
Phân hóa giàu nghèo là mảnh đất để nuôi dưỡng CNCS. Kinh tế khó khăn, không chỉ giới hạn ở lĩnh vực kinh tế này, mà còn mở rộng ra các phương diện của xã hội. Yêu cầu giải quyết thu nhập bất bình đẳng, yêu cầu “công bằng xã hội”, dẫn đến việc trào lưu tư tưởng XHCN cuộn trào mãnh liệt, cũng ảnh hưởng cực đại đến các cuộc vận động yêu cầu quyền lợi bình đẳng khác, đồng thời cũng tạo thành nhu cầu đối với chế độ phúc lợi, mà chế độ phúc lợi sẽ dẫn đến nhiều nghèo khó hơn nữa, tuần hoàn ác tính. Nước Mỹ sau năm 2000, quang phổ chính trị tấn tốc dịch chuyển về phía tả, đến khi bầu cử tổng thống năm 2016, tiếng nói của CNXH không ngừng tăng cao, sự đối lập giữa các lợi ích đảng phái gia tăng, là hậu quả của việc toàn cầu hóa ở các nước phát triển trên mức độ lớn. Nhìn ngược lại, xã hội dân chủ phương Tây bị hãm nhập vào khó khăn ngày càng lớn, thế lực của CNCS trên phạm vi thế giới ngày càng thắng thế.

4 “Phản toàn cầu hóa” ngưng tụ lực lượng cánh tả, truyền bá CNCS. 
Đi kèm với tiến trình “toàn cầu hóa” chính là cuộc vận động “phản toàn cầu hóa”. Ngày 30/11/1999 tại Seattle phát sinh cuộc kháng nghị bạo lực quy mô lớn nhắm vào hội nghị bộ trưởng tổ chức thương mại thế giới (WTO), chính là một lần bùng nổ của cuộc vận động “phản toàn cầu hóa”. Ba lần hội nghị quốc tế quy mô lớn năm 2001 (Hội nghị Tổ chức các Quốc gia Châu Mỹ ở Quebec, Hội nghị Thượng đỉnh Liên minh Châu Âu ở Gothenburg Thụy Điển, và Hội nghị Thượng đỉnh G8 ở Genoa Italy) đều gặp phải kháng nghị diễu hành “phản toàn cầu hóa”, năm 2002 tại Florence Italy đã diễn ra một cuộc diễu hành “phản toàn cầu hóa” lớn chưa từng có với khoảng 1 triệu người tham gia.
Những người tham gia vận động “phản toàn cầu hóa” vốn do “toàn cầu hóa” sinh ra này có thành phần rất phức tạp, trong đó lực lượng cánh tả phản đối thể hệ CNTB là những người tham dự trọng yếu, bao gồm cả tổ chức công đoàn, người theo chủ nghĩa bảo vệ môi trường (cũng là bị CNCS thâm nhập và uy hiếp), cho đến những quần thể yếu thế và người bị hại trong toàn cầu hóa. Có thể nói “phản toàn cầu hóa” trở thành lực lượng trọng yếu ngưng tụ và kích thích thế lực cánh tả. Điều đáng chú ý là, bản thân “phản toàn cầu hóa” cũng là một cuộc vận động toàn cầu, thành lập nhiều tổ chức quốc tế, mượn “gió đông” của toàn cầu hóa, mở rộng cánh tả và XHCN ra toàn thế giới. Điều này khiến cho người ta đều trở thành trợ lực giúp tà linh cộng sản đạt được mục tiêu, dù là ủng hộ hay phản đối toàn cầu hóa.

5) Trung Cộng mạnh lên, dùng dinh dưỡng của chủ nghĩa tư bản để tăng cường cho cơ thể của CNXH.
Rất nhiều học giả khi đánh giá sự thành bại của toàn cầu hóa, thì thường đưa ra một ví dụ thành công là Trung Quốc. Trung Quốc dường như là được tất cả những chỗ tốt của toàn cầu hóa, trong thời gian ngắn mà vượt lên thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới, hơn nữa rất nhiều người cho rằng sắp sửa thay thế địa vị của nước Mỹ trong nay mai.
Khác với mô thức Mexico đưa về ngành chế tạo kỹ thuật hấp dẫn tới toàn cầu hóa, Trung Cộng ngay từ đầu đã ủ một dã tâm cực đại, chính là muốn có được những kỹ thuật tiên tiến nhất của phương Tây, cuối cùng thay thế vào đó. Do vậy Trung Cộng yêu cầu các nước tiên tiến và các công ty liên doanh, cưỡng chế yêu cầu các nước tiên tiến chuyển nhượng kỹ thuật nòng cốt để đổi lấy thị trường, sử dụng các loại thủ đoạn, từ việc cưỡng chế chuyển nhượng trắng trợn cho đến hacker ăn trộm kỹ thuật. Sau khi Trung Cộng có được kỹ thuật, thì lợi dụng ưu thế của ngành công nghiệp chế tạo của mình, lại thêm trợ cấp hoàn thuế xuất khẩu của chính phủ, bán ào ạt phá giá những sản phẩm sản xuất giá rẻ ra các nước trên thế giới, dùng giá thành thấp để đánh bại tất cả các đối thủ cạnh tranh, làm nhiễu loạn nghiêm trọng trật tự của thị trường tự do.

Không giống với những quốc gia kém phát triển khai mở thị trường quốc nội, Trung Cộng gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, lợi dụng luật chơi nhưng lại không tuân thủ quy tắc luật chơi, lợi dụng toàn cầu hóa bán ào ạt phá giá sản phẩm ra nước ngoài, nhưng đối với thị thường trong nước thì lại thiết lập thành lũy trùng trùng, dùng phương thức phá hoại quy tắc để đoạt về tiền của trên khắp thế giới. Những ngành quan trọng của Trung Cộng như thông tin, tài chính, năng lượng… đều căn bản không mở ra cho bên ngoài, khiến Trung Cộng chiếm hết những chỗ tốt của kinh tế toàn cầu nhưng lại không thực hiện nghĩa vụ.

Dưới sự dụ hoặc về lợi ích kinh tế, xã hội phương Tây nghe bỏ ngoài tai đối với việc Trung Cộng bức hại nhân quyền. Khi Trung Cộng ngang nhiên xâm phạm nhân quyền, xã hội quốc tế lại tập trung hết toàn bộ ân sủng lên Trung Cộng.

Đạo đức của xã hội Trung Quốc hoàn toàn bị phá hủy, Trung Cộng có thể lớn mạnh lên trong toàn cầu hóa, trong sự mở rộng của toàn cầu hóa nó tấn công tấn tốc và làm tan nát thể chế kinh tế thị trường và quy tắc thương mại mà xã hội phương Tây kiến lập.

Cứ như vậy Trung Cộng vào vai kẻ phá hoại quy tắc mà cướp lấy tất cả các chỗ tốt của toàn cầu hóa. Trên thực tế toàn cầu hóa chính là bơm máu cho Trung Cộng, khiến thế lực Trung Cộng sắp chết đến nơi lại cháy lên từ tro tàn. Tà linh cộng sản thao túng toàn cầu hóa có một mục đích ẩn tàng chính là thông qua việc dịch chuyển của cải một lượng lớn mà bơm máu cho Trung Cộng, khiến Trung Cộng có thể giàu lên nhanh chóng trong khi đạo đức tệ hại nhất, bức hại nhân quyền nghiêm trọng nhất. Toàn cầu hóa là quá trình vãn cứu Trung Cộng, là quá trình cấp cho Trung Cộng một tính hợp pháp. Khi Trung Cộng dùng sự cấp dưỡng của CNTB để làm lớn mạnh cơ thể của XHCN, hơn nữa sau khi thấy phương Tây đang trở nên yếu đuối dần, thì lại tăng cường cực đại niềm tin đối với Trung Cộng cực quyền, tiến thêm một bước mở rộng dã tâm toàn cầu của nó.

Sự nổi dậy của Trung Cộng, cũng khiến cho những người CNXH của đủ các loại hình thái và những người cánh tả vui mừng khôn xiết. Đây cũng chính là an bài của tà linh cộng sản ở phía sau.

Trong khi tăng trưởng kinh tế, Trung Cộng cũng tăng cường thâm nhập vào các tổ chức kinh tế thế giới, bao gồm cả Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Tổ chức Tiền tệ Thế giới (IMF), Ngân hàng Thế giới, Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc v.v. Khi các quan chức của Trung Cộng tiếp nhận các vị trí trọng yếu của những tổ chức này, thì tích cực thúc đẩy họ hợp tác với Trung Cộng, thuộc lòng những mưu đồ của Trung Cộng, biện hộ cho các chính sách của Trung Cộng.

Trung Cộng không ngừng lợi dụng các tổ chức kinh tế thế giới để thực hiện ý đồ kinh tế và quy tắc hành sự của bản thân. Nếu dã tâm của Trung Cộng không bị ngăn chặn thì một khi nó đủ sức mạnh thao túng những tổ chức kinh tế kia, nó nhất định sẽ mang đến tai họa cực lớn cho kinh tế chính trị thế giới.

Trên đây liệt kê một số thí dụ về toàn cầu hóa kinh tế bị tà linh cộng sản lợi dụng để sinh sôi mở rộng CNCS. Do kỹ thuật giao thông và thông tấn phát triển, hoạt động kinh tế của nhân loại luôn dễ dàng vượt qua biên giới quốc gia, đây là một quá trình tự nhiên. Nhưng, quá trình này bị tà linh cộng sản lợi dụng sơ hở, biến toàn cầu hóa trở thành đòn bẩy để ma quỷ thống trị thế giới, hiện tại đã là lúc nhân loại phải cảnh giác sâu sắc và áp dụng hành động khẩn cấp rồi, bóc đi những nhân tố cộng sản trong toàn cầu hóa, trở về với mô thức phát triển kinh tế bảo đảm chủ quyền quốc gia và phúc lợi nhân dân như ban đầu.

3. Ma quỷ đằng sau toàn cầu hóa chính trị. 
Trong quá trình toàn cầu hóa, ma quỷ đằng sau toàn cầu hóa chính trị về biểu hiện thì là các nước tăng cường hợp tác chính trị, xuất hiện các loại tổ chức quốc tế mới, đặt ra các loại điều ước quốc tế và nghị trình chính trị, hạn chế chủ quyền quốc gia, chuyển dần quyền lực của chủ quyền quốc gia sang cho các tổ chức quốc tế. Sau khi phương thức quản lý giám sát, quy tắc và cơ cấu quốc tế siêu vượt khỏi quyền quản hạt của quốc gia, thì bắt đầu tiến hành thâm nhập toàn diện vào cuộc sống xã hội, văn hóa và chính trị của các nước, quyền lực quản lý tập trung hướng về một loại giống như một cơ cấu quốc tế chính phủ toàn cầu, có xu thế diễn biến thành “đại chính phủ thế giới”. Nó ăn mòn chủ quyền quốc gia, làm suy yếu cơ sở đạo đức và tín ngưỡng truyền thống của xã hội nhân loại, phá hoại văn hóa truyền thống, làm điên đảo các quy tắc quốc tế bình thường, chính là đang dựa vào phương thức tiệm tiến mà đẩy mạnh mưu đồ của tà linh cộng sản.

Trong quá trình này, tà linh cộng sản liên tục thúc đẩy và lợi dụng các tổ chức quốc tế để mở rộng thế lực cộng sản, mở rộng lý niệm tự do và nhân quyền biến dị, triết học đấu tranh ra toàn cầu, thúc đẩy lý niệm CNXH ra toàn cầu, tiến hành tái phân phối tài sản, thậm chí còn có ý đồ kiến lập một chính phủ toàn cầu, đưa nhân loại đến con đường cực quyền và bị nô dịch.

3.1 Lợi dụng Liên Hợp quốc khuếch trương thế lực chính trị của CNXH.
Tổ chức LHQ thành lập sau khi chiến tranh thế giới 2 kết thúc là tổ chức lớn nhất trên toàn thế giới, lúc đầu là để tăng cường sự điều phối hợp tác giữa các nước. Với khái niệm siêu quốc gia, LHQ phù hợp với mục đích tiêu diệt quốc gia của CNCS, do vậy trở thành đối tượng mà tà linh cộng sản thèm muốn, bị lợi dụng để khuếch trương hết mức CNCS. Ngay từ đầu LHQ đã trở thành công cụ lợi dụng cho phe cộng sản do Liên Xô chủ đạo, trở thành vũ đài để ĐCS tung hết tài nghệ, thúc đẩy “chính phủ thế giới” CNCS.

Khi LHQ thành lập và khởi thảo hiến chương, thì lúc đó Liên Xô là nước khởi động và sau đó trở thành một trong các thành viên thường trực của hội đồng bảo an. Người khởi thảo hiến chương, tổng thư ký hội nghị hiến chương LHQ (the United Nations Charter Conference), cố vấn quan trọng của Roosevelt, nhân viên bộ ngoại giao Alger Hiss là gián điệp của Liên Xô. [11] Hiến chương và công ước LHQ ẩn tàng “cửa sau” có lợi cho chính quyền cộng sản có quan hệ rất lớn với điều này.

Rất nhiều người phụ trách các cơ cấu trọng yếu trong LHQ là người của ĐCS hoặc là người cùng đường với CNCS. Nhiều nhiệm kỳ tổng thư ký LHQ là người của CNXH, thậm chí là người của CN Mác. Ví như người trúng cử nhiệm kỳ đầu tiên là Trygve Lie là người Na-uy theo CNXH, được Liên Xô ủng hộ mạnh mẽ, nhiệm vụ trọng yếu là đưa Trung Cộng vào LHQ. Người kế nhiệm Dag Hammarskjšld, là một người theo CNXH, giữ thái độ đồng tình với cách mạng thế giới, thổi phồng mạnh mẽ đối với nhà lãnh đạo Trung Cộng là Châu Ân Lai. [12] Tổng thư ký nhiệm kỳ thứ 3 U Thant, là người Myanmar theo CN Mác, cho rằng lý tưởng của Lenin là nhất trí với hiến chương của LHQ. [13] Tổng thư ký nhiệm kỳ thứ 6, Boutros Boutros-Ghali từng là phó chủ tịch của Quốc tế CNXH. [14] Từ đó không khó lý giải, vì sao thủ lĩnh của các chính quyền màu đỏ lại nhận được đối đãi cực cao của LHQ, rất nhiều công ước LHQ trở thành công cụ trực tiếp hoặc gián tiếp mở rộng lý niệm CNCS, khuếch trương thế lực của CNCS.

Sứ mệnh tối cao của LHQ là bảo vệ an toàn và hòa bình thế giới. Quân đội bảo vệ hòa bình của LHQ do “Phó Tổng thư ký các vấn đề của Hội đồng Bảo an và Chính trị” phụ trách, còn trong 14 người đảm nhận ví trí này từ 1946 đến 1992, có đến 13 người là người Liên Xô. Chính quyền Cộng sản Liên Xô chưa bao giờ từ bỏ khuếch trương thế lực của Trung Cộng, cũng không thể nào thực sự vì hòa bình thế giới mà ra tay nỗ lực, do vậy, mặc dù hô hào khẩu hiệu bảo vệ hòa bình thế giới, nhưng cách thực thi lại là phù hợp với lợi ích của các chính quyền cộng sản, những người được giúp đỡ là các tổ chức thân CNXH.

Thế lực của cộng sản tại LHQ thâm căn cố đế như thế, lại đến cả việc gián điệp của “đội quân đỏ” có mặt khắp nơi tại LHQ. Cục trưởng Cục điều tra Liên bang Mỹ (FBI), Hoover, năm 1963 nói: “Các cán bộ ngoại giao của cộng sản ở LHQ đại biểu cho lực lượng cốt cán của hoạt động tình báo của Liên Xô tại nước Mỹ” [15]. Cho dù sau khi chính quyền Liên Xô cũ giải thể, độc tố còn sót lại của cộng sản vẫn phổ biến tồn tại ở LHQ: “Rất nhiều người Tây phương làm việc ở LHQ phát hiện họ bị các mafia cộng sản bao vây.” [16]

Trung Cộng lợi dụng LHQ làm chỗ tuyên truyền. Mỗi nước trong 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an đều có một suất Phó tổng Thư ký LHQ. Mặc dù trên lý luận thì Phó Tổng Thư ký không thể lại đại biểu cho lợi ích của bất kỳ quốc gia nào, nhưng Phó Tổng Thư ký đại biểu cho lợi ích của Trung Cộng trên phương diện lợi ích và kinh tế lại thuộc lòng hình thái ý thức của Trung Cộng, tại diễn đàn kinh tế thế giới vào tháng 1/2018 tại Thụy Sĩ ông này nói, “Khối cộng đồng vận mệnh nhân loại” mà Trung Cộng đề xuất là phù hợp với trào lưu phát triển của thế giới. Chiến lược “Một vành đai một con đường” của Trung Cộng khiến rất nhiều quốc gia bị rơi vào khủng hoảng nợ trầm trọng. Như Srilanka không thể không cho Trung Cộng thuê một phần hải cảng để sử dụng trong 99 năm, để bồi thường khoản nợ; Pakistan vì vấn đề nợ mà không thể không cầu cứu trợ từ Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF). Sự khống chế đối với chính trị kinh tế của nước tham dự, xung kích đối với dân chủ nhân quyền “Một vành đai một con đường”, cũng là nguyên nhân khiến cho nhiều quốc gia phải dừng phanh. Nhưng dưới sự vận động chính trị của Trung Cộng, “Một vành đai một con đường” lại nhận được sự tâng bốc của một số quan chức cao cấp LHQ. [17]

2) Làm đảo lộn lý niệm nhân quyền của LHQ. 
Trong các tôn chỉ của LHQ thì có một mục là cải thiện nhân quyền và xúc tiến tự do. Điều này vốn dĩ là nguyên tắc phổ biến, nhưng Trung Cộng lại thông đồng với các chính quyền hủ bại khác, phủ định tính phổ quát của nhân quyền, biến nhân quyền thành sự việc của quốc nội, tức cái gọi là “việc nội bộ”, dùng đó để che đậy những thành tích nhân quyền tồi tệ trong nước của mình, thậm chí còn quảng cáo rằng quyền sinh tồn là công lao của bản thân mình. Tại LHQ, Trung Cộng cũng công kích giá trị dân chủ ở các nước phương tây, liên kết với các nước nhỏ ở thế giới thứ 3, làm đảo lộn nỗ lực thúc đẩy giá trị phổ quát thế giới của các nước tự do. Do sự khống chế của tà linh cộng sản, trên thực tế LHQ không làm được gì nhiều, hơn nữa còn thường trở thành công cụ để chính quyền cộng sản tô vẽ cho bảng thành tích nhân quyền ác liệt của mình.

Không ít học giả đã ghi chép lại một cách chi tiết LHQ đã phản bội lại lý niệm của chính mình như thế nào. Ví như LHQ “cũ” sinh ra trong bóng đen đại thảm sát người Do Thái trong chiến tranh thế giới 2, nhưng sau này LHQ “mới” lại không làm gì trước trước sự kiện giết người quy mô lớn; mục đích ban đầu nhất của LHQ là đánh kẻ xâm lược và bảo vệ nhân quyền, nhận định về đạo đức là tiền đề tất yếu trước khi chọn sử dụng hành động nào, mà LHQ lại cự tuyệt việc đưa ra nhận định đạo đức. [18]

Cựu đại sứ Israel tại LHQ (Dore Gold) khẳng định: “LHQ không phải là một tổ chức thế giới có động cơ tốt đẹp, mà là một tổ chức hoạt động không hiệu quả, trên thực tế nó làm tăng nhanh và còn làm lan rộng sự hỗn loạn.” [19] Ông Gold dùng một lượng lớn bằng chứng chứng minh rất nhiều sai lầm của LHQ, bao gồm cả “trung lập hóa giá trị”, “bình đẳng đạo đức” một cách không đạo đức, “Chủ nghĩa đạo đức tương đối”; hiện tượng tham nhũng phổ biến, những quốc gia có tình trạng nhân quyền kém cỏi được tuyển làm chủ tịch ủy ban nhân quyền, những quốc gia không dân chủ có đa số phiếu, chính quyền cộng sản có không gian thao túng lớn hơn. [20] Oliver Goldsmith nói, LHQ là một “thất bại đê hèn”, “bị thế lực phản phương Tây, chính phủ độc tài, các chính quyền trợ giúp chủ nghĩa khủng bố cho đến những kẻ địch xấu xa nhất của nước Mỹ làm chủ”, “phản bội lại những lý tưởng cao đẹp của những người sáng lập LHQ.” [21]

Nguyên tắc mà Ủy ban Nhân quyền LHQ thực hành là đa số phiếu bầu, mà quốc gia có lý lịch nhân quyền không tốt cũng có thể trở thành nước thành viên, thậm chí Chủ tịch Ủy ban Nhân quyền, khiến việc thẩm tra nhân quyền mất đi ý nghĩa. Trung Cộng thậm chí còn lợi dụng lợi ích đi mua chuộc rất nhiều nước thế giới thứ 3, khiến cho việc các lần Mỹ lên tiếng buộc tội vấn đề nhân quyền của Trung Cộng tại LHQ cứ bị treo hết lần này tới lần khác. Nguyên tắc “đa số thắng thiểu số” của LHQ, trở thành công cụ để tà linh cộng sản đối kháng với các nước tự do trong rất nhiều sự việc. Điều này khiến cho nước Mỹ rất nhiều lần rút khỏi Hội đồng Nhân quyền. Phương Tây muốn mở rộng tự do, nhân quyền, nhưng liên tục bị các nước Cộng sản ngăn cản. Cuối cùng Hội đồng Nhân quyền bị lưu manh thâu tóm, thông qua cái gọi là Công ước Quốc tế, không có ước thúc gì với các quốc gia cực quyền, những quốc gia này coi đó như tấm biển hiệu chứ không thực thi.

Từ đó người ta không khó lý giải vì sao “Hiến chương LHQ” và hiến pháp của Liên Xô hết sức tương tự, nhưng lại đối lập với hiến pháp của nước Mỹ. Mục đích của nó không phải là để bảo hộ cho quyền lợi của dân chúng, mà là để phục vụ cho nhu cầu của kẻ thống trị. Như hiến pháp Liên Xô có một số điều khoản mà sau khi liệt kê quyền lợi được hưởng thụ của công dân, thì đều có thêm một câu “trong phạm vi cho phép của pháp luật”. Trên bề mặt thì như thể hiến pháp Liên Xô cho công dân một số quyền lợi, nhưng trên thực tế rất nhiều pháp luật cụ thể lại quy định rất nhiều “phạm vi”, khiến cho chính phủ Liên Xô căn cứ vào điều khoản cụ thể “trong phạm vi cho phép của pháp luật”, mà tùy ý tước đoạt đi quyền lợi của công dân. Điều này cũng giống như “hiến chương LHQ”, khế ước và công ước giới định phương thức quyền lợi của người ta. Ví dụ trong “công ước quốc tế quyền lợi công dân và quyền lợi chính trị” của LHQ, sau một số điều khoản “ai ai cũng có quyền” gì gì đó, thì kèm thêm “chỉ chịu sự hạn chế do pháp luật quy định”. Đây không phải là một sự lựa chọn tùy ý và ngẫu nhiên một bản mẫu nào đó, mà là tà linh cộng sản ngay ban đầu đã cố tình giữ ngầm một “cửa sau” cho các chính quyền Cộng Sản.

Vấn đề là, nếu các chính trị gia cho rằng cần thiết, thì mỗi quyền lợi trong “Công ước nhân quyền LHQ” đều có thể bị tước đoạt trong pháp luật. “Các bạo chúa còn hi vọng có được cái cớ nào tốt hơn thế nữa? Đại đa số chiến tranh và quốc gia phạm tội đều là lấy một trong các danh nghĩa trong đó để tiến hành.” [22] Các nước tự do rất khó tước đoạt sự tự do của dân chúng, mà chính quyền cộng sản lại có thể ngang nhiên công khai mà khoét vào sơ hở của công ước nhân quyền.

3) Lợi dụng toàn cầu hóa để thúc đẩy lý niệm CNCS. 
Tà linh cộng sản thông qua những tay sai không ngừng đề xuất vấn đề toàn cầu hóa, nói rằng muốn thông qua hợp tác quốc tế hóa và kết cấu quyền lực để kiến lập chính phủ thế giới mới có thể giải quyết vấn đề này, từ đó các loại điều ước quốc tế không ngừng được đề xuất, các nước ngày càng phải chịu sự hạn chế và quản chế của các điều ước quốc tế, chủ quyền quốc gia trở nên yếu đi. Loại ngôn luận này xuất hiện ở các đoàn thể khác nhau, các hoàn cảnh khác nhau. Mặc dù họ không nhất định là người của ĐCS, nhưng chủ trương của họ lại hết sức nhất trí với ý đồ của tà linh cộng sản, chính là muốn tiêu diệt quốc gia, kiến lập chính phủ toàn cầu.

Năm 1960, một vị thành viên Ủy ban Liên minh Đại tây dương đã có một bài diễn thuyết “Mục tiêu là chính phủ thế giới (The Goal Is Government of All the World), và còn in thành cuốn sách nhỏ, cổ súy cho chính phủ thế giới. [23] Một vị khác là người trong giới truyền thông vào ngày Trái Đất năm 1970 nói: “Các quốc gia có chủ quyền hoàn toàn thì không thể ứng đối với độc hại môi trường… do vậy, sự quản lý địa cầu — cho dù là dự phòng chiến tranh, hay là sự cần thiết trong việc ngăn chặn những tác hại cuối cùng đến điều kiện sinh sống– thì đều cần một chính phủ thế giới” [24] “Tuyên ngôn chủ nghĩa nhân bản” (Humanist Manifesto II) cũng nói: “Chúng ta đã đi đến một bước ngoặt trong lịch sử nhân loại, lựa chọn tốt nhất chính là siêu việt chủ quyền quốc gia, kiến lập một xã hội thế giới, … do vậy, chúng ta trông đợi việc kiến lập một thể hệ pháp luật thế giới trên cơ sở chính phủ liên bang đa quốc gia và trình tự thế giới.” [25]

Trên thực tế, sự thành lập của Cơ quan Bảo vệ Môi trường LHQ, chính là vì năm 1972 một đoàn thể khởi xướng cho chính phủ liên bang thế giới cho rằng vấn đề môi trường là vấn đề thế giới, do vậy kêu gọi thiết lập phương án giải quyết toàn cầu và thiết lập cơ cấu bảo vệ môi trường có tính toàn cầu. Chủ quản nhiệm kỳ thứ nhất là một người Canada có xu hướng CNXH mạnh mẽ là Maurice Strong.

Năm 1992, Hội nghị Thượng đỉnh Trái Đất của LHQ cử hành tại Rio De Janeiro (Còn gọi là “Hội nghị LHQ về Môi trường và Phát triển”), 178 chính phủ bỏ phiếu thông qua “nghị trình thế kỷ 21”, bản kế hoạch 800 điều này liên quan đến nội dung của rất nhiều các phương diện như môi trường, nữ quyền, y liệu v.v. Một vị nghiên cứu viên có ảnh hưởng lớn của Cơ quan Nghiên cứu Môi trường, sau này là quan chức của dự án môi trường LHQ có ý kiến với điều này như sau: “Thế giới hôm nay, biên giới quốc gia đã phải chịu sự lu mờ một cách thường lệ, sự xói mòn đến từ các vấn đề như thương mại quốc tế, giao dịch tiền tệ và người tị nạn, chủ quyền quốc gia —– quyền khống chế của quốc gia đó trên lãnh thổ của họ, đã mất đi ý nghĩa của nó trên một mức độ lớn …… Trên thực tế các quốc gia đang nhường một phần chủ quyền của mình cho xã hội quốc tế, và bắt đầu xây dựng một hệ thống mới để quản lý môi trường thế giới, coi đó là phương thức giải quyết vấn đề, nếu không thì những vấn đề đó sẽ không cách nào được giải quyết.” [26]

Những người kêu gọi chính phủ thế giới trên bề mặt thì xem như rất đường hoàng cao thượng, nhưng thúc đẩy CNCS nhất thống thiên hạ mới là mục đích chân thực. Như vấn đề bảo vệ môi trường, trong phần nói về “Chủ nghĩa Môi trường” đã bàn một cách chi tiết việc tà linh cộng sản lợi dụng nó để thúc đẩy âm mưu của mình như thế nào.
Cho dù như vậy, khi Gali làm Tổng Thư ký 1992-1996, LHQ bắt đầu thay đổi theo hướng cấp tiến chính phủ toàn cầu. Gali kêu gọi thành lập quân đội vĩnh cửu của LHQ, còn yêu cầu có quyền lực thu thuế. [27] Vì sự phản đối mạnh mẽ của nước Mỹ, Gali không thể tiếp tục giữ chức ở nhiệm kỳ sau. Nếu không hiện trạng của LHQ khó mà dự liệu. Mặc dù các chính quyền ĐCS vẫn luôn cự tuyệt nước khác can thiệp vào chính trị nội bộ của nước mình, nhưng lại tích cực gia nhập các loại tổ chức quốc tế, ủng hộ mở rộng vai trò của LHQ, không ngừng mở rộng lý niệm trị lý toàn cầu.

Năm 2005, lúc đó tổng bí thư LHQ Kofi Annan nói, “Trong thời đại mà nhân loại ỷ lại lẫn nhau, quyền công dân địa cầu (global citizenship) là một xương sống quan trọng và tiến bộ.” [28] Ông Robert Chandler, nhà tư tưởng chiến lược từng phục vụ trong không quân Mỹ, Nhà Trắng và nhiều cơ quan chính phủ khác cho rằng, cái gọi là “tiến bộ” của Annan sẽ tiêu hủy chủ quyền quốc gia, mở đường cho xã hội công dân địa cầu không biên giới. Mà dự án “giáo dục hòa bình” của LHQ trên thực tế do phái cực tả tổ chức và chỉ đạo, sẽ tiêu hủy chủ quyền quốc gia dân tộc, tạo thành một thế giới cực quyền XHCN không biên giới, tiến hành cai trị toàn cầu. [29]

Trên thực tế, tác phẩm “Người cộng sản trần trụi” (The Naked Communist) vạch trần chủ nghĩa cộng sản xuất bản năm 1958 đã liệt kê 45 mục tiêu của người cộng sản, một điều trong đó là “Tôn sùng Liên Hợp quốc thành hy vọng duy nhất của nhân loại; nếu như viết lại hiến chương, thì sẽ có thể thành lập một chính phủ thế giới có quân đội độc lập.” [30] Rất nhiều người đã ý thức được, kiến lập một chính phủ toàn cầu không phải chuyện một ngày một đêm, vì thế những người cộng sản và người theo chủ nghĩa toàn cầu đầu tiên lợi dụng một số chủ đề để thành lập một số cơ cấu đa quốc gia trong một số lĩnh vực, sau đó thúc đẩy sự thống nhất trong những cơ cấu này, đồng thời không ngừng cổ súy sự tôn sùng và ràng buộc đối với Liên Hợp quốc, cuối cùng đi đến kiến lập chính phủ thế giới.

Cổ súy chính phủ thế giới, cố sức thổi phồng vai trò của Liên Hợp quốc, khắc họa Liên Hợp quốc là “linh đan diệu dược” giải quyết được tất cả vấn đề trên thế giới, biến Liên Hợp quốc thành đấng cứu thế của thế giới; trên thực tế là con người mưu đồ đóng vai thượng đế thông qua thao túng quyền lực để an bài vận mệnh cho nhân loại tương lai, đây chính là Utopia với hình thức chủ nghĩa cộng sản – một tôn giáo mà con người tự gây dựng và kết quả của nó là có tính hủy diệt.

4) Chính phủ thế giới dẫn tới cực quyền
Nhân loại mơ tưởng về một viễn cảnh tốt đẹp cho thế giới tương lai, đây không có gì sai, nhưng thiết lập một chính phủ thế giới để giải quyết tất cả vấn đề của nhân loại, thì không còn nghi ngờ gì nữa, đây chính là Utopia thời hiện đại, cũng mang theo mối nguy của chủ nghĩa cực quyền.

Một vấn đề không thể tránh khỏi là chính phủ thế giới nếu muốn có năng lực để thật sự giải quyết các vấn đề toàn cầu, thì tất phải cần có khả năng thực hiện các chính sách, bao gồm chính trị, quân sự, kinh tế, v.v. Chính phủ thế giới thúc đẩy toàn cầu hóa, chắc chắn sẽ không phải chính phủ dân chủ tự do như của nước Mỹ, mà sẽ giống như chính phủ cực quyền siêu cấp Liên Xô hoặc Trung Cộng.

Một chính phủ thế giới tất nhiên sẽ lôi kéo các quốc gia bằng những lợi ích hấp dẫn, hứa hẹn phúc lợi, đưa ra bản mẫu về Utopia cho toàn nhân loại. Điều này không khác mấy so với chủ trương của chính trị chủ nghĩa cộng sản. Chính phủ thế giới lấy giải quyết các vấn đề làm mồi câu, mà khi đối mặt với nhiều quốc gia như vậy, những vấn đề phức tạp như vậy, muốn đóng vai là hy vọng duy nhất để đảm nhận một loạt các ý tưởng hấp dẫn mà Utopia tưởng tượng ra, thì bất kể là bảo vệ môi trường toàn cầu, an toàn hay phúc lợi, tất phải yêu cầu tập trung quyền lực để thi hành các chính sách, điều này chắc chắn sẽ khuếch đại quyền lực của chính phủ lên tới một mức độ chưa từng có trước đây, độ khống chế đối với xã hội cũng là chưa từng có. Nó sẽ không quan tâm các quốc gia thành viên có đồng ý không, có hứa thực hiện không, mà chỉ chuyên chú khả năng vào thực hiện những chính sách quyền lực của nó.

Ngày nay, sự khác biệt giữa các quốc gia rất lớn. Trên thế giới, có rất nhiều quốc gia không có tín ngưỡng chính giáo, cũng không phải thể chế tự do, càng không có nhân quyền tốt đẹp, đạo đức cao thượng, khi các quốc gia hợp lại thành một chính phủ thế giới, họ sẽ áp dụng tiêu chuẩn thấp nhất, chính là trừ bỏ tín ngưỡng, trừ bỏ đạo đức, trừ bỏ bất cứ yêu cầu tự do nhân quyền nào, cũng chính là không cần nhận định tất cả phương diện này, dùng các lí do thoái thác như cái được gọi là “trung lập tín ngưỡng”, “trung lập đạo đức”, “trung lập nhân quyền” để đạt được ước số chung lớn nhất. “Chính phủ thế giới” tất nhiên sẽ phổ biến một bộ gọi là văn hóa chủ lưu để kết nối toàn bộ cả thế giới, tuy nhiên mỗi quốc gia đều có văn hóa truyền thống và tín ngưỡng tôn giáo khác nhau. Nhìn quanh hết thảy những chuyên gia, học giả và chính phủ tích cực thúc đẩy chính phủ thế giới, đa phần là người thuyết vô thần hoặc có cách nhìn bằng chủ nghĩa tiến bộ đối với tín ngưỡng tôn giáo. Quá hiển nhiên, chính phủ thế giới nhất định là chính phủ lấy thuyết vô thần làm giá trị quan căn bản, đây cũng là kết quả tất yếu mà tà linh cộng sản ở sau lưng đã thúc đẩy tạo nên. “Chính phủ thế giới” vì để duy trì thống trị sẽ ép đặt thực hiện “giáo dục tư tưởng lại”, thậm chí dùng bạo lực để đạt được mục đích. Để đề phòng sự ly khai và độc lập, “chính phủ thế giới’ sẽ tăng cường cực đại lực lượng quân đội và cảnh sát của nó, và [đồng thời] chặt chẽ kiểm soát về tự do ngôn luận.

Một chính phủ và quốc gia mà không có tín ngưỡng và văn hóa đồng nhất thì chỉ có thể dựa vào quyền lực chuyên chế, cũng chính là chủ nghĩa cực quyền để duy trì, kết quả của nó tất nhiên là tự do của nhân dân các nước bị can thiệp và tước đoạt. Cũng chính là nói chính phủ thế giới nhất định là chính phủ cực quyền, bởi vì nó phải dựa vào quyền lực mạnh mẽ mới có thể duy trì một chính phủ thế này.

Suy cho cùng, “chính phủ thế giới” chính là một phiên bản giống hệt như chính phủ cộng sản cực quyền, kết quả của nó không khác gì chính quyền cộng sản đương thời đang nô dịch và tàn hại người dân dưới quyền, nhưng từ một quốc gia mở rộng thành toàn bộ thế giới, cả thế giới đều nghe theo một mệnh lệnh, dễ dàng làm biến dị và hủy diệt nhân loại hơn. Trong quá trình duy trì chính phủ khổng lồ này, tất cả những thủ đoạn tà ác mà chính quyền cộng sản sử dụng đều sẽ xuất hiện trở lại, đây là quá trình cưỡng chế, quá trình phá hủy truyền thống và đạo đức con người, mà đây chính là kết quả mà tà linh cộng sản hy vọng.

4) Toàn cầu hóa văn hóa trở thành công cụ truyền bá tư tưởng biến dị
Theo sự mở rộng của giao lưu văn hóa và dòng chảy tài chính toàn cầu, các hình thức văn hóa biến dị mà tà linh cộng sản đã tạo ra trong gần 100 năm trước, bao gồm mỹ thuật hiện đại, văn học hiện đại, trào lưu tư tưởng hiện đại, truyền hình và điện ảnh hiện đại, phương thức sinh hoạt biến dị, chủ nghĩa công lợi (utilitarianism), chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa tiêu thụ, v.v. bị đẩy ra toàn cầu. Trong quá trình đó, hình thức bề mặt của văn hóa truyền thống các dân tộc bị lợi dụng, nội hàm bị cắt xén, hình thức văn hóa hỗn tạp biến dị, đồng thời trong khi đạt được mục tiêu trục lợi, nó đi đến đâu là nhanh chóng phá hủy đạo đức người dân đến đấy.

Nước Mỹ đóng vai trò là người dẫn đầu chính trị, kinh tế, quân sự toàn cầu, điều này cũng khiến văn hóa nước Mỹ tự nhiên dễ được các khu vực khác tiếp nhận và hấp thu. Sau cách mạng công nghiệp, cùng với tín ngưỡng của xã hội hiện đại bị thất lạc, kỹ thuật phát triển đã không ngừng đưa chủ nghĩa duy vật vào nhân tâm, người ta cho rằng liên hệ giữ sự phát triển vật chất với sự phát triển của văn minh là chuyện đương nhiên. Ma quỷ chính là lợi dụng điểm này, đầu tiêu tập trung lực lượng thông qua chủ nghĩa cộng sản phi bạo lực đánh hạ nước Mỹ. Sau khi nó thâm nhập vào các gia đình Mỹ, chính trị, kinh tế, pháp luật, nghệ thuật, truyền thông, và đủ các phương diện của văn hóa đại chúng, biến dị và phá hoại đạo đức truyền thống, thì tà linh cộng sản lại đưa loại văn hóa bại hoại này với tiêu đề là “văn hóa tiên tiến” đến từ nước Mỹ, lợi dụng toàn cầu hóa văn hóa để bành trướng và khuếch tán nó ra thế giới. Phong trào “Chiếm lấy Phố Wall” ở New York (Occupy Wall Street) trong chớp mắt đã được chiếu lên TV ở một nông thôn xa xôi ở Ấn Độ; Một làng miền núi xa xôi và bảo thủ tại tỉnh Vân Nam Trung Quốc, thông qua điện ảnh Hollywood đã được biết rằng trong cuộc sống có mẹ đơn thân, tình yêu ngoài hôn nhân, giải phóng tình dục là chuyện “bình thường”; tư tưởng của giáo trình “nòng cốt cộng đồng” do những người theo văn hóa Mác biên tạo ra, hầu như tức khắc đã được đưa vào sách giáo khoa trung học của Đài Loan; Châu Phi là nơi bị người ta thường cho rằng là nơi lạc hậu nhất, nhưng trái lại là bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi AIDS. Từ Ecuador ở Nam Mỹ tới Malaysia ở Đông Nam Á và đảo quốc Fiji ở Thái Bình Dương, nhạc rock-and-roll trở nên cực kỳ thịnh hành…

Nhà hoạt động chủ nghĩa cộng sản người Đức, một trong những người sáng lập Trường phái Frankfurt, Willi Munzenberg, đã nói: “Chúng ta phải tổ chức phần tử tri thức, để họ làm cho văn minh phương Tây biến dị tới mức thối nát. Sau khi tất cả giá trị của họ bị bại hoại, cuộc sống không còn tiếp tục được nữa, chúng ta mới có thể thực hiện chuyên chính giai cấp vô sản”. [31] Từ góc nhìn của cánh tả, “làm văn minh phương Tây biến dị tới mức thối nát” là con đường đi tới chủ nghĩa cộng sản; nhưng đối với tà linh cộng sản ở phía sau họ mà nói, làm bại hoại văn hóa truyền thống Thần lưu lại cho con người, khiến con người rời xa Thần, là con đường để nó đạt được mục đích hủy diệt nhân loại.

Nếu chúng ta ví văn hóa biến dị của phương Tây và văn hóa đảng đến từ chính quyền cộng sản là rác, thì toàn cầu hóa văn hóa giống như một cơn lốc xoáy hung bạo thổi tất cả rác rưởi này ra toàn thế giới, và còn quét sạch những giá trị truyền thống Thần đã lưu lại cho con người một cách không thương tiếc. Ở đây, chúng tôi đã tập trung trình bày sự ảnh hưởng của nền văn hóa biến dị phương Tây đối với toàn cầu, trong chương tiếp theo, chúng tôi sẽ phân tích về sự lan rộng của văn hóa đảng cộng sản ra toàn cầu.

1) Cơ chế tà linh làm bại hoại truyền thống trong toàn cầu hóa văn hóa
Văn hóa truyền thống của các dân tộc trên thế giới đều mang theo đặc trưng của dân tộc mình, mang theo dấu ấn sâu đậm trong quá trình phát triển lịch sử. Tuy nhiên, bất luận văn hóa các dân tộc khác nhau thế nào, giá trị phổ quát Thần lưu lại cho con người trong truyền thống nhân loại là tương thông. Nhưng sau cách mạng công nghiệp, kỹ thuật phát triển đã trực tiếp mang lại tiện nghi trong cuộc sống vật chất cho con người, lại thêm ảnh hưởng của trào lưu tư tưởng chủ nghĩa tiến bộ, truyền thống bị phổ biến thành “lạc hậu”, việc dùng “hiện đại”, “cách tân”, “tiến bộ” và giá trị thương nghiệp làm tiêu chuẩn đo lường giá trị đã trở thành một xu thế. Trong bối cảnh lịch sử như thế này, “Giá trị chung” mà sự giao lưu văn hóa trong quá trình toàn cầu hóa xúc tiến không phải truyền thống mà là hiện đại; những yếu tố và tiêu chuẩn giá trị được chấp nhận trên toàn cầu đều chỉ là bộ phận những tiêu chuẩn thấp nhất của văn hóa các dân tộc sau đi bị bỏ đi truyền thống và đặc sắc dân tộc, hoặc là những bộ phận có thể bị thương nghiệp hóa. Những khái niệm về “vận mệnh chung của nhân loại” và “tương lai chung của chúng ta” thì chúng đều là đại biểu cho “Giá trị chung”. Nhưng những giá trị mà tà linh cộng sản đã tung hô thành cao thượng, trên thực tế là khiến người ta từ bỏ văn hóa và giá trị truyền thống, đưa văn hóa biến dị truyền ra toàn thế giới.

Tiêu chuẩn thấp nhất được toàn thế giới công nhận trong quá trình toàn cầu hóa văn hóa này cũng thể hiện ở việc văn hóa tiêu thụ và chủ nghĩa tiêu thụ đã trở thành chủ đạo văn hóa toàn cầu. Bị dẫn động bởi lợi ích kinh tế. Thiết kế bao bì và nội hàm của sản phẩm văn hóa hoàn toàn nhằm vào người tiêu dùng, lấy người tiêu dùng làm trung tâm. Một trong những thủ đoạn mà ma quỷ thường hay dùng để khống chế con người, chính là mê hoặc, phóng túng, thoả mãn các loại dục vọng của con người. Kiểu văn hóa tiêu dùng nhằm vào ham muốn của con người này, đã trở thành thủ đoạn tà linh lợi dụng để bại hoại truyền thống của nhân loại, nó thể hiện ít nhất trên ba phương diện như sau:

Thứ nhất, để thu hút người tiêu dùng nhiều nhất có thể, trong quá trình sản xuất và đóng gói các sản phẩm văn hóa, người ta đã cố gắng không làm cho bất kì dân tộc nào bị xúc phạm, chính vì vậy đã làm cho các sản phẩm toàn cầu hóa bị loại bỏ các đặc điểm và nội hàm ý nghĩa vốn có của văn hóa dân tộc, cũng có nghĩa là lợi dụng sự “rỗng ruột hóa” hoặc “loại bỏ văn hóa” (deculturalization) của các sản phẩm văn hóa để bóc đi nội hàm truyền thống; còn đối với giới không chủ lưu của xã hội, nhóm người trình độ văn hóa giáo dục thấp và khả năng tiêu dùng thấp, thì do giá tiền thấp nên càng chịu sự chi phối của mô thức tiêu dùng mà trong đó văn hóa bị đơn nhất hóa ấy, cũng chính là họ chỉ có thể tiêu dùng bộ phận giá thành rẻ nhất trong toàn cầu hóa của văn hóa thương mại.

Thứ hai, toàn cầu hóa trong ngành công nghiệp truyền thông đã dẫn đến sự độc quyền của các công ty lớn. Trong bối cảnh này, tà linh cộng sản rất dễ dàng lợi dụng những ý tưởng biến dị của những người sáng tác về sản phẩm văn hóa, dùng đề tài văn hóa dân tộc vốn có làm giấy đóng gói, còn nội hàm bên trong thì đưa vào các loại CN Mác biến tướng mà phát tán rộng ra, cũng chính là lợi dụng sử dụng tính hỗn tạp văn hóa (hybridization) trong toàn cầu hóa về văn hóa để phát tán mở rộng quan niệm biến dị.

Thứ ba, mở rộng văn hoá tiêu dùng đến mức tràn lan. Các loại văn hóa lưu hành trong quảng cáo, điện ảnh, truyền hình, mạng xã hội không ngừng oanh tạc, nói với người dùng: cách tiêu thụ này, cách hưởng thụ giải trí này, sở hữu sản phẩm này, v.v. mới là cuộc đời thú vị. Từ đó tà linh mặc sức lợi dụng các loại phương thức vật chất và giải trí để kích thích con người truy cầu sự thỏa mãn của dục vọng. Khi con người phóng túng dục vọng, đồng thời dần dần rời xa mặt tinh thần, sẽ rời xa tín ngưỡng đối với Thần và giá trị truyền thống một cách không tự biết không cảm thấy.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, tà linh cộng sản nhanh chóng khuếch tán lý niệm biến dị. Một thủ đoạn hiệu quả khác của nó là lợi dụng tâm lý đám đông của con người: khi tiếp xúc với truyền thông mạng xã hội, quảng cáo truyền thống, truyền hình, điện ảnh, tin tức không ngừng thêm vào lý niệm phản truyền thống biến dị với mật độ dày đặc, tạo cho con người một cảm giác sai, cho rằng những quan niệm biến dị là “được toàn cầu chấp nhận, những lý niệm biến dị công kích văn hóa truyền thống dần dần được coi là chính thường, hành vi biến dị thậm chí được trở nên “thời thượng”, đáng để “từ hào”. Nghiện thuốc, đồng tính luyến ái, nhạc rock-and-roll, nghệ thuật trừu tượng, v.v. đã lợi dụng thủ đoạn này để khuếch tán ra toàn cầu.

Nghệ thuật Trường phái Hiện đại là biến dị, đi ngược lại với giá trị thẩm mỹ truyền thống, rất nhiều người cũng nhận thức được mặt không chính của nó lúc ban đầu, nhưng khi các hình thức nghệ thuật hiện đại không ngừng được triển lãm, được hét giá cao ở các buổi đấu giá; các loại “nghệ thuật” quái dị được truyền thông không ngừng đưa tin, rất nhiều người đã sản sinh ra một cảm giác sai, nghĩ rằng mình không theo kịp thời đại, có gu nghệ thuật “lạc hậu”, trong vô tri vô giác đã phủ định tiêu chuẩn thẩm mỹ ban đầu của mình, hướng gần hơn đến nghệ thuật biến dị. Đương nhiên ma quỷ có thể lợi dụng từ tâm lý đám đông con người cũng chính là vì có nhiều người không có chủ kiến kiên định – người ta một khi lệch khỏi truyền thống Thần đã lưu lại cho con người, rời xa khỏi tiêu chuẩn vĩnh hằng Thần lưu lại, thì tất cả đều trở nên tương đối dễ thay đổi, tạo cho ma quỷ cơ hội dùi vào chỗ sơ hở.

2) Lợi dụng những nước phát triển của phương Tây để xuất khẩu văn hóa biến dị phản truyền thống
Những quốc gia phương Tây phát triển có ảnh hưởng hết sức quan trọng trong kinh tế, quân sự toàn cầu, điều này khiến “văn hóa phương Tây” không những có thể nhanh chóng lan rộng ra những nơi kém phát triển trên thế giới, mà còn được nhiều người đương nhiên cho là chủ lưu và phương hướng phát triển của văn minh nhân loại hiện đại. Tà linh chính là lợi dụng điểm này, thông qua những quốc gia phương Tây như Mỹ để khuếch tán văn hóa hiện đại biến dị ra thế giới, công kích văn hóa truyền thống của các dân tộc. Rock-and-roll, ma túy, giải phóng tình dục, v.v. đều được khuếch tán ra thế giới như thế. Như trong quyển sách này đã chỉ ra, những văn hóa biến dị này đều có tà linh ở đằng sau thúc đẩy, phát triển, không hề có quan hệ nào với những giá trị truyền thống chân chính đến từ tín ngưỡng của phương Tây.

Trong quá trình các loại văn hóa biến dị đội lốt “văn hóa phương Tây” phát phóng ra toàn thế giới, điều khiến mọi người đặc biệt chú ý là Hollywood trở thành nơi tải thể các loại trào lưu tư tưởng biến dị từ văn hóa chủ nghĩa Mác. Do đặc điểm nghệ thuật của điện ảnh, nó để con người vô thức chấp nhận giá trị quan mà nó mang lại, từ đó đã gây ảnh hưởng quá lớn.

Kinh tế các quốc gia phương Tây phát triển mạnh mẽ, đã thu hút một lượng lớn du học sinh. Quyển sách này đã bàn tới văn hóa chủ nghĩa Mác đã ảnh hưởng lớn tới lĩnh vực giáo dục ở phương Tây, điều này đã khiến đa số du học sinh ở phương Tây tiếp xúc với muôn hình vạn trạng trào lưu tư tưởng cánh tả, sau khi họ về nước sẽ tiến một bước tới quảng bá nó. Những trào lưu tư tưởng biến dị, dưới cái nhãn quyến rũ “kỹ thuật tiên tiến”, “kinh tế phát triển”, đã công kích, hủy diệt văn hóa truyền thống địa phương mà gặp phải rất ít cản trở. Có nhà nghiên cứu tổng kết, quốc gia châu Á đầu tiên, có xã hội truyền thống uyên thâm, mà hôn nhân đồng giới được pháp luật thừa nhận, nguyên nhân chủ yếu có liên quan tới bối cảnh toàn cầu hóa: đầu tiên, một lượng lớn du học sinh sống ở phương Tây về nước, sau khi đã tiếp thụ quan niệm về “quyền lợi hôn nhân đồng giới” đã thúc đẩy các cuộc vận động về đồng tính luyến ái phát triển, những chính khách tiếp thu chủ nghĩa “tiến bộ” hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới thực chất đã nuôi dưỡng chủ nghĩa tiến bộ từ thời gian họ du học ở phương Tây.

 3) Lợi dụng văn hóa của các công ty xí nghiệp đa quốc gia để truyền bá quan niệm biến dị. 
Dưới điều kiện toàn cầu hóa, việc các văn hóa dân tộc khác nhau tôn trọng và khoan dung trở thành chủ lưu. Tà linh cộng sản lợi dụng đặc điểm này để mở rộng khái niệm “khoan dung”, khiến giá trị trung lập trở thành “cách hiểu chung” toàn cầu, từ đó mượn cớ cổ súy cho các loại trào lưu tư tưởng biến dị. Nhất là các loại quan niệm biến dị như đồng tính luyến ái, giải phóng tình dục v.v. phát triển tấn tốc dưới điều kiện toàn cầu hóa, nghiêm trọng tấn công và ăn mòn quan niệm đạo đức của xã hội truyền thống.

Năm 2016 một chuỗi cửa hàng bán lẻ cỡ lớn tuyên bố, phòng thay quần áo và toilet trong cửa tiệm sẽ trở thành “thân thiện với người chuyển đổi giới tính”, cũng chính là nói bất kỳ người nam nào cũng có thể tùy ý vào nhà vệ sinh nữ hoặc phòng thay quần áo nữ, bởi vì họ có thể tuyên bố bản thân mình thực ra là một “người nữ”. Liên minh Gia đình nước Mỹ kêu gọi người tiêu dùng ngăn chặn chính sách này, bởi vì nó có thể dẫn đến sự xâm hại đối với phụ nữ và trẻ em. [32] Trên thực tế năm 2018 quả thực phát sinh một sự kiện một người nam bước vào nhà vệ sinh nữ của cửa tiệm rồi lột trần thân thể của mình trước một bé gái. [33]

Đối diện với sự phản đối của người tiêu dùng tuân thủ quan niệm truyền thống đối với chuỗi cửa hàng này, có người tổng kết hơn 400 công ty đa quốc gia lớn trên toàn cầu đạt điểm tối đa cho “chỉ số bình đẳng công ty” (tiêu chí dùng để đo lường thái độ đối với LGBT), phát hiện những xí nghiệp đứng cùng phe với chuỗi cửa hàng trên đã bao phủ tất cả các phương diện của cuộc sống con người phổ thông, nên chỉ ra sự phản đối đó đã trở nên không còn hiện thực nữa rồi: Từ hầu như tất cả các hãng hàng không lớn đến các xưởng xe hơi nhãn hiệu lớn, từ các chuỗi cửa hàng ăn nhanh, tiệm cà phê, đến các công ty bách hóa lớn, các ngân hàng lớn, các nhà làm phim lớn, các thương hiệu điện thoại, máy tính v.v. [34] Nói một cách khác, quan niệm biến dị đã mượn toàn cầu hóa, thông qua cái gọi là “văn hóa công ty” của các công ty đa quốc gia, đã trở thành “dòng chảy chính” có mặt ở khắp mọi nơi.

4) Mượn tổ chức và công ước LHQ khuếch tán quan niệm biến dị ra toàn cầu.
Năm 1990 Tổ chức Y tế Thế giới tuyên bố Đồng tính luyến ái không thuộc về bệnh tinh thần. Việc này cổ vũ cực mạnh cho cuộc vận động đồng tính ở các nơi trên thế giới. Dưới điều kiện toàn cầu hóa, trong những người bị nghi mắc bệnh AIDS thì quần thể chủ yếu nhất-những người đồng tính không ngừng trở thành đối tượng thảo luận công cộng và chú ý của xã hội, ma quỷ thừa thế thúc đẩy vận động đồng tính không ngừng mở rộng; người làm công tác y vụ động viên người bị bệnh AIDS đồng tính luyến ái rằng đừng xấu hổ khi nhận điều trị y học, mà ma quỷ lại mượn cơ hội này nói rằng xã hội nên từ đạo đức mà công nhận hành vi luyến ái. Do vậy chúng ta thấy được, ở châu Phi, châu Á, và châu Mỹ La-tinh, sự trợ cấp của xã hội quốc tế đối với bệnh AIDS còn xúc tiến cho cuộc vận động đồng tính. [35]

Nam Phi là nước đầu tiên đưa ra công ước mới ở Hội đồng Nhân quyền LHQ, yêu cầu coi xu hướng tình dục, giới tính là một chỉ tiêu đo lường nhân quyền, và cuối cùng được chấp nhận. Đây là một nghị quyết của LHQ công nhận về xu hướng tình dục và giới tính, [36] trên thực tế nó đánh tráo lý niệm cơ bản về nhân quyền mà trời cấp, coi cái biến dị thành cái thông thường.
“Công ước Quyền lợi Nhi đồng” LHQ điều thứ 13 yêu cầu, “Nhi đồng nên có quyền lợi phát biểu ngôn luận tự do, quyền lợi này nên bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp thu và lan truyền các loại thông tin và tư tưởng việc làm thông qua lời nói, viết hoạch in ấn, hình thức nghệ thuật hoặc bất kỳ phương thức nào khác mà nhi đồng lựa chọn, bất kể ranh giới quốc gia.” [37]

Có học giả chất vấn, điều này có phải là nói rõ rằng nếu cha mẹ không cho phép con cái mặc áo phông có phù hiệu của ma quỷ để tiến hành tự do biểu đạt, thì sẽ trở thành xâm phạm quyền lợi nhi đồng sao? Liệu nhi đồng có quyền lợi lựa chọn bất kỳ phương thức nào mà chúng muốn để nói chuyện với bố mẹ? [38] Nhi đồng không nhất định có được đầy đủ năng lực phán đoán, nếu làm ra hành vi bạo lực hoặc đi ngược lại luân lý, thì có phải cha mẹ cũng không thể quản lý dạy dỗ con cái? Nỗi lo lắng như vậy là không hề thừa chút nào. Năm 2018 tỉnh Ontario của Canada thông qua một pháp luật mới quy định, cha mẹ không được phủ định ý nguyện biểu đạt giới tính tự nguyện của nhi đồng (tức là nhi đồng có thể tự mình “lựa chọn” giới tính, bé nam có thể “lựa chọn” làm bé gái, và ngược lại), nếu không cha mẹ sẽ bị coi là ngược đãi nhi đồng. [39]

Tà linh cộng sản lợi dụng toàn cầu hóa để biến dị và tiêu hủy văn hóa truyền thống và giá trị đạo đức là toàn diện và không đâu không có. Các quốc gia chủ thể, xí nghiệp, cơ cấu quốc tế đều bị nó lợi dụng, các phương tiện thông tấn hiện đại cũng bị đưa vào. Người ta say mê với sự nhanh chóng tiện lợi, màu sắc sặc sỡ trên bề mặt của cuộc sống toàn cầu hóa, nhưng lại không ý thức được quan niệm và ý thức của bản thân cũng đang thay đổi nhanh chóng. Trong thời gian ngắn ngủi mấy chục năm, các loại văn hóa biến dị như ngọn sóng thần cuộn trào mãnh liệt, đi đến đâu, là sơn hà biến sắc, văn minh thất thủ, ngay cả những quốc gia lâu đời nhất, phong bế nhất cũng không phải ngoại lệ. Văn hóa truyền thống là cái gốc sinh tồn của nhân loại, là một đảm bảo trọng yếu để con người có thể duy trì được chuẩn mực đạo đức, là then chốt để con người có thể được Sáng Thế Chủ cứu độ. Trong tiến trình toàn cầu hóa, những điều này đều bị an bài hữu ý của tà linh cộng sản làm cho biến dị thậm chí tiêu hủy, con thuyền văn minh đối diện với khủng hoảng chưa từng có.

Lời kết 
Xã hội nhân loại từ cổ đã tồn tại các quốc gia và dân tộc khác nhau. Mặc dù sinh sống ở các khu vực khác nhau, có hình thái xã hội và chế độ chính trị khác nhau, sử dụng ngôn ngữ khác nhau, có đặc điểm tâm lý văn hóa khác nhau, nhưng đều có chung giá trị quan phổ quát thế giới. Bộ giá trị quan phổ quát thế giới này là hạch tâm của văn hóa truyền thống của các dân tộc, mà văn hóa truyền thống là do Sáng Thế Chủ đặt định cho các dân tộc từ hàng nghìn năm nay.

Sau khi tà linh cộng sản xuất hiện chỉ hơn 100 năm ngắn ngủi, độc lập dùng thủ đoạn bạo lực và phi bạo lực mà phá hoại văn hóa truyền thống trên diện rộng, đã đẩy nhân loại đi vào chỗ nguy hiểm.

Sau cuộc chính biến Tháng 10 (Nga), tà linh cộng sản trước sau đã nắm quyền ở nước lớn phương Đông là Nga và Trung Quốc, tiêu diệt văn hóa truyền thống và tinh anh, dùng bạo lực tiêu hủy văn hóa truyền thống. Sau Chiến tranh thế giới 2, các nước cộng sản thâm nhập, khống chế LHQ và các tổ chức quốc tế, lạm dụng trình tự dân chủ “đa số thắng thiểu số”, dùng lợi ích kim tiền lôi kéo các nước nhỏ, ý đồ mượn Đại chính phủ LHQ, kéo cả thế giới hướng về hủ bại, sa đọa.

Trong phạm vi thế giới, nhất là sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, tà linh cộng sản lợi dụng sự mở rộng giao lưu và hợp tác về chính trị, kinh tế, văn hóa giữa các nước, mà thâu tóm và khống chế toàn cầu hóa, phát tán nhân tố biến dị ra toàn cầu, phá hoại giá trị phổ quát thế giới và văn hóa truyền thống một cách hệ thống. Cho đến hôm nay, ma quỷ tà linh cộng sản đã đang thống trị cả thế giới.

Các đoàn thể kinh tế và chính trị xuyên quốc gia của ngày hôm nay đang nắm giữ một lượng tư nguyên cực đại như những con số thiên văn, lực ảnh hưởng của chúng thâm nhập vào đủ mọi phương diện của xã hội nhân loại, lớn có môi trường, thương mại, quân sự, ngoại giao, kỹ thuật, giáo dục, năng lượng, chiến tranh, di dân, nhỏ có giải trí, thời trang, những thời thượng lưu hành và phương thức sinh hoạt, tất cả đều chịu sự thao túng của những “người toàn cầu hóa” ngày càng nhiều. Một khi chính phủ thống nhất thế giới hoàn thành, thì việc chỉnh thể nhân loại sẽ bị biến dị, bị hủy diệt dưới một hiệu lệnh, đều trở thành việc rất dễ dàng.

An bài của tà linh cộng sản lợi dụng toàn cầu hóa, phối hợp với các điều khác mà làm bại hoại đạo đức thế nhân một cách toàn phương vị, trong thời gian ngắn ngủi hơn 100 năm đã làm cho xã hội nhân loại bại hoại đến mức mặt mũi biến dạng, thế nhân của Đông Tây phương đều đối diện với nguy cơ bị hủy diệt.

Thần là từ bi. Thần không hi vọng bỏ sót bất kỳ người nào có thể cứu độ. Nhân loại chỉ có trở về truyền thống, cho dù là các sự vụ trong nước hay sự giao lưu trên quốc tế đều bắt đầu lại mới dẫn nhập vào giá trị phổ quát thế giới và văn hóa truyền thống, mới có thể dưới sự bảo hộ của Thần, mà thoát khỏi tà linh, đi hướng về tương lai quang minh!

*********

Tài liệu tham khảo:

[1] Mác và Ăng-ghen: “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”(Kho tư liệu chủ nghĩa Mác bằng tiếng Trung), https://www.marxists.org/chinese/marx/01.htm。
[2] Mác và Ăng-ghen: “Hình thái ý thức của nước Đức”(Kho tư liệu chủ nghĩa Mác bằng tiếng Trung), https://www.marxists.org/chinese/marx/marxist.org-chinese-marx-1846.htm。
[3]V. I. Lenin, “The Third, Communist International,” Lenin’s Collected Works, 4th English Edition, Volume 29 (Moscow: Progress Publishers, 1972), 240-1, https://www.marxists.org/archive/lenin/works/1919/mar/x04.htm.
[4] G. Edward Griffin, Fearful Master: A Second Look at the United Nations(Appleton, WI: Western Islands, 1964), Chapter 7.
[5] Như trên.
[6]James Bovard, “The World Bank vs. the World’s Poor,” Cato Institute Policy Analysis, No. 92, September 28, 1987, https://object.cato.org/sites/cato.org/files/pubs/pdf/pa092.pdf.
[7] The World Bank, “Poverty: Overview,” https://www.worldbank.org/en/topic/poverty/overview.
[8] Dani Rodrik, The Globalization Paradox: Why Global Markets, States, and Democracy Can’t Coexist (Oxford: Oxford University Press, 2011), 19.
[9] SME.ORG, “Inside America’s Bold Plan to Revive Manufacturing,” 2015, https:/www.sme.org/american-manufacturing-and-nnmi/.
[10] U.S. Bureau of Labor Statistics, “A Profile of the Working Poor, 2016,” July 2018, https://www.bls.gov/opub/reports/working-poor/2016/home.htm.
[11] Alex Kingsbury, “Declassified Documents Reveal KGB Spies in the U.S.: Alger Hiss, Elizabeth Bentley, and Bernard Redmont Are the Subjects of Scrutiny,” U.S. News, July 17, 2009, https://www.usnews.com/news/articles/2009/07/17/declassified-documents-reveal-kgb-spies-in-the-us.
[12] William F. Jasper, Global Tyranny… Step by Step: The United Nations and the Emerging New World Order (Appleton, Wisconsin: Western Islands Publishers, 1992), 69.
[13] William F. Jasper, Global Tyranny… Step by Step: The United Nations and the Emerging New World Order, 69-70.
[14] United Nations, “Boutros Boutros-Ghali,” http://www.un.org/chinese/sg/formersg/ghali.shtml.
[15] “FBI Chief Finds Red Spies ‘Potent Danger,’“ Los Angeles Times, May 4, 1963, quoted in G. Edward Griffin, The Fearful Master: A Second Look at the United Nations, Chapter 7.
[16] William F. Jasper, Global Tyranny… Step by Step: The United Nations and the Emerging New World Order, 75.
[17] Colum Lynch, “China Enlists U.N. to Promote Its Belt and Road Project,” Foreign Policy, May 10, 2018, https://foreignpolicy.com/2018/05/10/china-enlists-u-n-to-promote-its-belt-and-road-project/.
[18] Tham khảo:Robert W. Lee, The United Nations Conspiracy (Appleton, Wisconsin: Western Islands, 1981); William F. Jasper, The United Nations Exposed: The International Conspiracy to Rule the World (Appleton, Wisconsin: The John Birch Society, 2001); Dore Gold, Tower of Babble: How the United Nations Has Fueled Global Chaos (New York, Crown Forum, 2004); Joseph A. Klein, Global Deception: The UN’s Stealth Assault on America’s Freedom (Los Angeles: World Ahead, 2005); Eric Shawn, The U.N. Exposed: How the United Nations Sabotages America’s Security and Fails the World (New York: Penguin Books, 2006); Daniel Greenfield, 10 Reasons to Abolish the UN (David Horowitz Freedom Center, 2011).
[19] Dore Gold, Tower of Babble: How the United Nations Has Fueled Global Chaos, 3.
[20] Dore Gold, Tower of Babble: How the United Nations Has Fueled Global Chaos, 1-24.
[21] Quoted in Robert Chandler, Shadow World: Resurgent Russia, The Global New Left, and Radical Islam (Washington D.C.: Regnery Publishing, 2008), 403-4.
[22] G. Edward Griffin, Fearful Master: A Second Look at the United Nations, Chapter 11.
[23] William Jasper, Global Tyranny…Step by Step: The United Nations and the Emerging New World Order, 89-90.
[24] Quoted in William Jasper, Global Tyranny…Step by Step: The United Nations and the Emerging New World Order, 90.
[25] American Humanist Association, Humanist Manifesto II, https://americanhumanist.org/what-is-humanism/manifesto2/.
[26] Hilary F. French, After the Earth Summit: The Future of Environmental Governance, Worldwatch Institute Paper 107, March 1992, 6, http://infohouse.p2ric.org/ref/30/29285.pdf.
[27] William Jasper, Global Tyranny…Step by Step: The United Nations and the Emerging New World Order, 71.
[28] Quoted in Robert Chandler, Shadow World: Resurgent Russia, The Global New Left, and Radical Islam, 401.
[29] Robert Chandler, Shadow World: Resurgent Russia, The Global New Left, and Radical Islam, 401-3.
[30] W. Cleon Skousen, The Naked Communist (Salt Lake City: Izzard Ink Publishing, 1958, 2014), Chapter 12.
[31] Bernard Connolly, The Rotten Heart of Europe: Dirty War for Europe’s Money(London: Faber & Faber, 2013), Kindle Edition, location 113-118 of 11181.
[32] “Sign the Boycott Target Pledge!” American Family Association, https://www.afa.net/target.
[33] Hayley Peterson, “Outraged Shoppers Threaten to Boycott Target after a Man Exposes Himself to a Young Girl in a Store’s Bathroom,” Business Insider, April 6, 2018, https://www.businessinsider.com/target-faces-boycott-threat-after-man-exposes-himself-in-womens-bathroom-2018-4.
[34] Samantha Allen, “All the Things You Can No Longer Buy if You’re Really Boycotting Trans-Friendly Businesses,” The Daily Beast, April 26, 2016, https://www.thedailybeast.com/all-the-things-you-can-no-longer-buy-if-youre-really-boycotting-trans-friendly-businesses.
[35] Graeme Reid, “A Globalized LGBT Rights Fight,” Human Rights Watch, https://www.hrw.org/news/2011/11/02/globalized-lgbt-rights-fight.
[36] Như trên.
[37] “Công ước quyền Nhi đồng”(Liên Hợp Quốc),http://www.un.org/chinese/hr/abc/2.pdf。
[38] William Jasper, Global Tyranny…Step by Step: The United Nations and the Emerging New World Order, 148.
[39] Grace Carr, “Ontario Makes Disapproval of Kid’s Gender Choice Potential Child Abuse,” The Daily Caller, June 5, 2018, https://dailycaller.com/2017/06/05/ontario-makes-disapproval-of-kids-gender-choice-child-abuse/.

Ngày đăng:5-09-2019
Copyright © 2008 www.9binh.com. All rights reserved.