Một quyển sách
đã truyền cảm hứng cho hơn 350 triệu người
thoái xuất khỏi Đảng Cộng Sản Trung Quốc

Chương 13: Lòng tham của nhân loại — Sự sụp đổ của văn minh (Phần trung)

Tiết 6: Chính sách vô đạo đức

Chính sách đối với Trung Quốc: lấy thỏa hiệp chính trị đổi lấy lợi ích kinh tế

Trước sự cám dỗ của Trung Cộng, sự tính toán lợi ích của các chính khách phương Tây, sự vận động hành lang của giới thương mại, cộng thêm sự dẫn dắt sai lệch của truyền thông và học giả, đã tạo nên chính sách giả dối và vô trách nhiệm nhất của chính trị hiện đại phương Tây: chính sách đối với Trung Quốc lấy thỏa hiệp chính trị đổi lấy lợi ích kinh tế.

  • Trung Cộng dùng phương thức vô đạo đức nhường lợi ích kinh tế để mua sự thỏa hiệp quốc tế

Cuộc thảm sát “Lục Tứ” khiến Trung Cộng mất tính chính danh cầm quyền, sự giải thể triệt để của phe cộng sản cuối năm 1991 khiến Trung Cộng mất tính chính danh về ý thức hệ. Tiếp đó, chuyến Nam tuần năm 1992 của Đặng Tiểu Bình với phương châm “không tranh luận” đã cưỡng chế đè nén sự cố chấp của phái bảo thủ Trung Cộng về các vấn đề ý thức hệ như họ “Xã” (xã hội chủ nghĩa), chống diễn biến hòa bình, v.v., thực chất là mặc nhận sự thất bại của ý thức hệ cộng sản bằng cách im lặng, đồng thời toan khởi động lại cải cách để cứu vãn tính chính danh cầm quyền của Trung Cộng. Bất hạnh thay, kẻ thực tế cầm quyền là Giang Trạch Dân lại mượn cơ hội thi hành chế độ mang tính tham nhũng, tàn hại trung lương, ngược lại khiến Trung Cộng mất thêm cả tính chính danh về đạo đức. Chính quyền tà ác vừa không có tính chính danh cầm quyền, vừa không có tính chính danh ý thức hệ, càng không có tính chính danh đạo đức này, lại dùng phương thức vô đạo đức kéo người xuống nước, nhường lợi ích kinh tế để mua sự thỏa hiệp của cộng đồng quốc tế.

Về điều này, Trung Cộng vô liêm sỉ cùng bộ máy loa của nó chẳng hề che giấu mà công khai gọi là “ngoại giao đơn hàng”. Những tiêu đề như “Sarkozy thăm Trung Quốc, giới công thương Pháp nhận món quà lớn 20 tỷ euro từ Trung Quốc”, “Cameron thăm Trung Quốc hạ màn, ‘ngoại giao đơn hàng’ kết quả trĩu cành”, “Ngô Bang Quốc mang đến cho Pháp sáu hợp đồng lớn”, “Trung Quốc sang châu Âu mua sắm thể hiện trí tuệ nước lớn, 13 tỷ nhuốm màu ‘ngoại giao đơn hàng'”, hầu như đi kèm với mọi bản tin về việc lãnh đạo Trung Cộng thăm các nước phương Tây hoặc lãnh đạo phương Tây thăm Trung Quốc. Khi đoàn đại biểu Trung Cộng thăm Mỹ đàm phán gia nhập WTO năm 1999, trưởng đoàn thậm chí nói thẳng thừng là đến để làm người Mỹ “hạ hỏa”.

So với sự cám dỗ lợi ích trần trụi của Trung Cộng, thế giới tự do phương Tây vẫn còn có sự kiêng dè bề ngoài. Hai mươi năm qua, để biện minh cho chính sách đối với Trung Quốc của mình, thế giới tự do ở các giai đoạn khác nhau đã có mấy kiểu lập luận khác nhau, đại thể có thể tổng kết thành thuyết “thúc đẩy dân chủ nhân quyền”, thuyết “tiếp xúc giao lưu”, và thuyết “Trung Quốc tiến bộ”.

Thuyết “thúc đẩy dân chủ nhân quyền” là lập luận chủ yếu mà các công ty đa quốc gia dùng để vận động gỡ khó nhằm giao dịch với Trung Cộng trong mấy năm đầu sau thảm sát Lục Tứ, khi Trung Cộng đối mặt với khủng hoảng tính chính danh nghiêm trọng cả trong nước lẫn quốc tế. Bộ lập luận này bao gồm: ủng hộ phái cải cách của Trung Cộng, thúc đẩy thị trường hóa kinh tế Trung Quốc để từ đó thúc đẩy dân chủ hóa chính trị Trung Quốc, giúp kinh tế Trung Quốc phát triển để thúc đẩy Trung Cộng cải thiện nhân quyền, v.v. Là chú giải ban đầu cho chính sách đối với Trung Quốc của phương Tây sau Lục Tứ, khởi tâm của nó lúc bấy giờ quả thực cũng khó chê trách.

Nhưng, nếu mục đích của một chính sách là thể hiện chân thật giá trị nội tâm của người hoạch định nó, thì người hoạch định ấy nhất định sẽ dốc sức để chính sách được thực hiện. Đồng thời, luân lý quyền-trách tương xứng của chính trị dân chủ hiện đại cũng quyết định rằng người hoạch định một chính sách phải chịu trách nhiệm về hậu quả của chính sách đó. Nếu mục đích thật sự của chính sách đối với Trung Quốc của thế giới tự do phương Tây là cải thiện nhân quyền Trung Quốc, thì khi không đạt được mục đích ấy, người hoạch định chẳng những tất phải nghiêm túc kiểm điểm những khiếm khuyết của chính sách và việc thực thi nó, mà nhất định còn tìm cách bù đắp cho những người bị tổn hại bởi sai lầm của chính sách ấy.

  • Ai đứng ra gánh sai lầm của chính sách “thúc đẩy Trung Cộng cải thiện nhân quyền”?

Hiện thực tàn nhẫn của hai mươi năm sau đó là nhân quyền Trung Quốc liên tục xấu đi. Những nhóm người thảm khốc bị bức hại vì thế, từ nhân sĩ phong trào sinh viên, phong trào dân chủ, đến nạn nhân các “làng AIDS”, đến hàng chục triệu công nhân bị thất nghiệp nhân tạo do quan chức thôn tính nhà máy xí nghiệp, đến hàng trăm triệu học viên Pháp Luân Công, đến hàng trăm triệu nông dân mất nguồn sống vì bị cưỡng chế trưng thu đất đai, đến hàng chục triệu cư dân thành thị bị cưỡng chế phá dỡ nhà cửa, đến các luật sư duy quyền (bảo vệ nhân quyền) ngày càng bị đàn áp cho đến bức hại, v.v., thế mà chưa từng thấy các chính khách phương Tây hoạch định chính sách “thúc đẩy Trung Cộng cải thiện nhân quyền” kiểm điểm sai lầm của chính sách ấy, cũng chưa thấy họ thể hiện bất kỳ cảm thức trách nhiệm nào trong việc giúp đỡ và cứu vớt những nạn nhân này.

Điều này trái với thông lệ trong lịch sử nước Mỹ, như sự quan tâm và bồi thường cho nhân dân Hàn Quốc sau Chiến tranh Triều Tiên, hay sự quan tâm và bồi thường cho nhân dân Việt Nam sau Chiến tranh Việt Nam.

Ai phải chịu lỗi và chịu trách nhiệm cho chính sách thỏa hiệp này? Điều gì đã khiến chế độ dân chủ nhắm mắt làm ngơ, không thể sửa chữa sai lầm trọng đại và chính sách thất bại này? Đây là vấn đề rất đáng suy ngẫm sâu xa.

  • Mọi tính chính danh mà Trung Cộng đòi hỏi từ thế giới tự do đều được như nguyện

Tương phản rõ rệt với việc nhân quyền Trung Quốc không ngừng xấu đi dưới chính sách đối với Trung Quốc mang danh “thúc đẩy Trung Cộng cải thiện nhân quyền” của thế giới tự do phương Tây, là việc hai mươi năm qua mọi tính chính danh chính trị mà Trung Cộng đòi hỏi từ thế giới tự do phương Tây đều được như nguyện: ví dụ quy chế tối huệ quốc trong thương mại với Mỹ (MFN), việc tách thương mại Mỹ-Trung khỏi nhân quyền Trung Quốc, quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn với Mỹ (PNTR), gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đăng cai Thế vận hội 2008, v.v.

Không chỉ vậy, mỗi lần thế giới tự do phương Tây nhường lợi cho Trung Cộng về lợi ích chính trị như kể trên, những người hoạch định chính sách đối với Trung Quốc đều biện hộ bằng câu “đây là cơ hội thúc đẩy Trung Cộng cải thiện nhân quyền”. Và sau mỗi lần “cơ hội” như thế trôi qua, lại có thêm nhiều dân chúng Trung Quốc trở thành nạn nhân của sự bức hại nhân quyền của Trung Cộng. Còn những người hoạch định chính sách đối với Trung Quốc kia thì bất chấp những nạn nhân ấy, chỉ lo đi tìm “cơ hội” tiếp theo. “Thúc đẩy Trung Cộng cải thiện nhân quyền” chẳng những không phải là mục đích thật của chính sách đối với Trung Quốc của thế giới tự do phương Tây, ngược lại còn trở thành cái cớ để nhường lợi ích chính trị cho Trung Cộng.

  • Từ nhận lợi ích Trung Cộng nhường cho đến đòi Trung Cộng nhường lợi

Tương ứng với việc Trung Cộng không ngừng nhận được tính chính danh chính trị từ phương Tây là việc phương Tây không ngừng nhận được sự nhượng bộ của Trung Cộng về lợi ích kinh tế, thậm chí từ chỗ nhận lợi ích Trung Cộng nhường cho đến chỗ đòi Trung Cộng nhường lợi. Hai mươi năm qua, sự quan tâm và áp lực của phương Tây về vấn đề nhân quyền của Trung Cộng chưa bao giờ nghiêm túc, kiên trì như trong các vấn đề kinh tế, thương mại. Trọng tâm thật sự của chính sách đối với Trung Quốc của phương Tây là gì, ai là kẻ thụ hưởng thật sự của chính sách này, thuyết “thúc đẩy dân chủ nhân quyền” có chân thành không, có đứng vững không, sự thật hùng hồn hơn mọi lời biện luận.

Thuyết “tiếp xúc giao lưu” xuất hiện cùng lúc với thuyết “thúc đẩy dân chủ nhân quyền”. Lập luận ban đầu là: bao vây cô lập sẽ khiến phái bảo thủ Trung Cộng bế quan tỏa cảng, bất lợi cho phái cải cách của Trung Cộng.

Đến năm 2008, sau khi phương Tây bị khủng hoảng tài chính giáng đòn nặng, lập luận này diễn biến thành “Trung Cộng quá mạnh, không thể đối kháng, chỉ có thể tiếp xúc giao lưu”. Thế nhưng, “tiếp xúc giao lưu” đâu có nghĩa là nhất định phải trao cho tính chính danh chính trị hay tính chính đáng đạo nghĩa. Bất kể Trung Cộng tỏ ra mạnh mẽ thế nào, nó vẫn là kẻ cầu xin phương Tây trao cho tính chính danh chính trị, thế giới tự do sao có thể là “đành phải vậy”? Trung Cộng cũng luôn đòi phương Tây công nhận nền kinh tế thị trường, vì sao phương Tây lại có thể mãi không trao tính chính danh ấy? Nguyên nhân thật chẳng phải là: trao cho Trung Cộng tính chính danh chính trị chỉ liên quan đến đạo nghĩa, còn trao cho Trung Cộng sự công nhận kinh tế thị trường thì liên quan đến lợi ích thực tế hay sao?

Xem xét vô số tranh chấp kinh tế giữa thế giới tự do phương Tây và Trung Cộng hiện nay: bao nhiêu là tranh chấp đạo nghĩa thật sự? Bao nhiêu là tranh chấp lợi ích? Bao nhiêu là lấy “nhân quyền” làm lời lẽ để ép Trung Cộng nhường lợi nhiều hơn, lớn hơn? Như vậy, phương Tây chơi cùng một trò chơi với Trung Cộng, cùng đứng trong vũng bùn nhơ nhớp của cuộc tham chiến lợi ích.

Nhân loại vì lòng tham đang tự hủy văn minh của chính mình

  • Nếu thế giới tự do phương Tây có thể đưa ra cách giải đọc đúng đắn dựa trên đạo nghĩa…

Tiếp xúc giao lưu hay bao vây kiềm chế đều là thủ đoạn chứ không phải mục đích. Trên đời tuyệt không có chính sách tiếp xúc giao lưu lấy tiếp xúc giao lưu làm mục đích, cũng tuyệt không có chính sách bao vây kiềm chế lấy bao vây kiềm chế làm mục đích. Lấy Chiến tranh Lạnh làm ví dụ: thế giới tự do phương Tây trong mấy chục năm đối đầu với phe cộng sản Liên Xô, trong đó vừa từng dùng bao vây, vừa từng dùng tiếp xúc, nhưng giá trị kiên trì nhân quyền, tự do, pháp trị, phản đối độc tài nô dịch của họ chưa từng dao động, càng chưa từng nhường cho Liên Xô bất kỳ tính chính đáng đạo nghĩa nào. Đặc biệt là Tổng thống Reagan: sự tiếp xúc giao lưu với phe cộng sản Liên Xô được tiến hành thông qua việc kiên trì giá trị và nguyên tắc của thế giới tự do, đã dẫn đến những biến đổi bên trong Liên Xô. Chính sự kiên trì giá trị của thế giới tự do mới giành được thắng lợi đạo đức trước chế độ dã man cộng sản. Đặc biệt cần chỉ ra là, nhờ lý niệm kiên định và rõ ràng, nước Mỹ trong giai đoạn này ngược lại là thời kỳ ít cần dùng đến thủ đoạn ngoại giao kịch liệt hay hành động quân sự nhất kể từ sau Thế chiến thứ hai.

Xét về chính sách đối với Trung Quốc: trước năm 1972, phương Tây đối với Trung Cộng về cơ bản là vừa phớt lờ vừa kiềm chế. Đến khi Nixon thăm Trung Quốc, Trung Cộng sau nhiều kiếp nạn đấu đá nội bộ bao gồm cả Cách mạng Văn hóa, đã vừa không còn sức khiêu chiến với Liên Xô, vừa không còn sức xuất khẩu cách mạng sang các nước lân cận, đành phải làm nhạt màu sắc ý thức hệ, vui lòng làm chuẩn-đồng-minh của thế giới tự do phương Tây trong Chiến tranh Lạnh chống phe cộng sản Liên Xô. Đặc biệt trong tám năm nhiệm kỳ Tổng thống Reagan, quan hệ chuẩn-đồng-minh này chẳng những cung cấp cho Trung Quốc một môi trường hòa bình để nghỉ ngơi dưỡng sức, trở thành tám năm vàng của cải cách Đặng – Hồ – Triệu, đồng thời cũng là thời kỳ các lý niệm nhân quyền, pháp trị, kinh tế thị trường v.v. của phương Tây tiến vào Trung Quốc thuận lợi nhất và được các tầng lớp xã hội tiếp nhận phổ biến; hai bài diễn thuyết của chính Reagan tại Trung Quốc đã ảnh hưởng đến vô số sinh viên trẻ. Nhờ chiếm giữ đỉnh cao đạo đức, chính sách đối với Trung Quốc của phương Tây trong suốt Chiến tranh Lạnh, dù là kiềm chế thuở đầu hay chuẩn kết minh về sau, đều có ảnh hưởng chính diện và tích cực đối với Trung Quốc.

Sau thảm sát Lục Tứ, lệnh cấm vận vũ khí của phương Tây đối với Trung Cộng, cuộc tranh luận của Quốc hội Mỹ về quy chế tối huệ quốc của Trung Cộng, lời phê bình của Clinton khi tranh cử đối với chính sách Trung Quốc của Tổng thống Bush cha, những điều này đều là biểu hiện phương Tây một thời kiên trì đạo nghĩa, và quả thực đã có tác dụng kiềm chế nhất định đối với Trung Cộng trong việc bức hại nhân quyền. Việc Đặng Tiểu Bình Nam tuần, từ bỏ ý thức hệ cộng sản, bản thân nó là kết quả của áp lực tình thế quốc tế. Ngay cả việc Trung Cộng dùng nhường lợi ích kinh tế để đòi phương Tây trao tính chính danh chính trị cũng là do áp lực quốc tế tạo thành. Nếu thế giới tự do phương Tây có thể đưa ra cách giải đọc đúng đắn dựa trên đạo nghĩa đối với những điều này, thì đã có thể hoạch định được chính sách đối với Trung Quốc thúc đẩy, quy phạm công cuộc cải cách được khởi động lại thời Đặng Tiểu Bình tiếp tục đi sâu theo hướng có lợi cho sự phát triển lành mạnh của xã hội Trung Quốc.

Bất hạnh thay, phương Tây đã chọn tham lam lợi ích kinh tế mà Trung Cộng nhường cho, từ bỏ trách nhiệm đạo nghĩa đối với các lý niệm giá trị nhân quyền, tự do, pháp trị.

  • Những giá trị này tuyệt không phải là trách nhiệm có thể gánh hay không tùy ý

Các giá trị nhân quyền, tự do, pháp trị, tuy chủ yếu xuất hiện dưới dạng lý niệm của thế giới tự do phương Tây, và cuối cùng xác lập tính phổ quát toàn cầu thông qua việc thế giới tự do chiến thắng phe cộng sản Xô-Đông, nhưng những lý niệm giá trị này tuyệt không thể xem là chỉ thuộc về phương Tây; thế giới tự do cũng tuyệt không thể xem việc những giá trị này có xuyên suốt chính sách đối ngoại của mình hay không là trách nhiệm gánh hay không tùy ý.

Đó là vì, sự sản sinh và xác lập những giá trị này không chỉ đến từ sự tìm tòi và thực hành chính diện của các nhà tư tưởng, chính trị gia từ Hy Lạp cổ đại cho đến phương Tây cận đại, mà còn đến từ bài học bằng máu của vô số nạn nhân của sự dã man dưới các hình thức khác nhau, ở các nền văn hóa khác nhau, các thời đại khác nhau trên toàn thế giới, bao gồm cái giá của hàng trăm triệu sinh linh trong hai cuộc thế chiến và Chiến tranh Lạnh. Không có cuộc bức hại tôn giáo xảy ra ở châu Âu thì chưa chắc có sự thành lập nước Mỹ; không có kiếp nạn của người Do Thái trong Thế chiến thứ hai thì chưa chắc có «Tuyên ngôn Nhân quyền Thế giới». Nhìn từ góc độ rộng hơn: không có lịch sử bi thảm của nhân dân châu Phi bị nô dịch thì chưa chắc có sự minh xác hơn nữa của Lincoln về lý niệm “của dân, do dân, vì dân”; không có “Sự kiện Hungary”, “Mùa xuân Praha”, cho đến thảm sát Lục Tứ, thì nhận thức của văn minh nhân loại về nhân quyền, tự do, pháp trị không thể sâu sắc như ngày nay. Từ những góc độ này mà nói, sự xác lập lý niệm nhân quyền, tự do, pháp trị là quá trình và kết quả của văn minh nhân loại chiến thắng dã man, có được bằng cái giá của vô số sinh mệnh. Chính phủ hiện đại được xây dựng dựa trên những lý niệm này, đối với những lý niệm ấy tất nhiên mang trách nhiệm đạo nghĩa như lời Tổng thống Lincoln: “không để người đã khuất hy sinh vô ích”; đối với những dân tộc hướng về và dựa vào những lý niệm này để phản kháng bạo chính dã man, tất nhiên mang trách nhiệm đạo nghĩa ủng hộ, tối thiểu là trách nhiệm đạo nghĩa không tiếp tay nuôi lớn năng lực bức hại nhân dân của bạo chính dã man.

  • Thế giới tự do tìm kiếm tính chính danh cho việc trọng lợi khinh nghĩa

Thế giới tự do phương Tây vì lợi ích mà không ngừng trao cho Trung Cộng tính chính danh chính trị, lại trực tiếp nuôi lớn năng lực đàn áp nhân dân của Trung Cộng. Vậy tính chính nghĩa của cách làm này nằm ở đâu?

Thế giới tự do đành phải tìm kiếm, chế tạo tính chính danh cho cách làm trọng lợi khinh nghĩa này của mình. Thuyết “Trung Quốc tiến bộ” chính là sản phẩm của nó. Giống như ma quỷ dụ dỗ Faust ký khế ước, sự cám dỗ lợi ích của Trung Cộng và lòng tham của nhân loại đã trói buộc việc Trung Cộng tìm kiếm tính chính danh cầm quyền và đạo đức với việc thế giới tự do tìm kiếm tính chính danh cho sự bán rẻ nguyên tắc vào làm một. Để chứng minh mình không phải đang giao dịch với ma quỷ, cách tốt nhất là tô vẽ cho Trung Cộng: hoặc bới lông tìm vết để lôi ra những biểu hiện “tiến bộ” nhân quyền của Trung Cộng mà ca ngợi, hoặc nhấn mạnh những kế hoạch chuẩn bị tiến bộ của Trung Cộng để cho Trung Cộng thời gian và sự kiên nhẫn, hoặc bày tỏ sự thấu hiểu nhu cầu duy trì ổn định của Trung Cộng để mặc nhận sự đàn áp nhân dân của nó, hoặc phiến diện làm nổi bật “thành tích” phát triển kinh tế của Trung Cộng.

Việc Trung Cộng có thể tuyên bố hiện nay là thời kỳ nhân quyền tốt nhất của Trung Quốc mà không bị đả kích trên thế giới, tuyệt không phải ngẫu nhiên. Hơn thế nữa, giới thương mại, truyền thông phương Tây phối hợp với Trung Cộng tung ra “mô hình Trung Quốc”, nhất thời thành trào lưu, còn lấy đó làm căn cứ để hạ thấp và phê phán giá trị phương Tây, thậm chí cho rằng “mô hình Trung Quốc” sẽ “thống trị thế giới”. Có thể tưởng tượng “mô hình Quốc xã” hay “mô hình Liên Xô” được tuyên truyền như thế trong thế giới tự do, thậm chí sắp “thống trị thế giới” không? Thế giới tự do từng trả giá bằng vô số sinh mệnh và cái giá khổng lồ để chiến thắng Quốc xã và Liên Xô, thế mà sau khi lý niệm của mình giành được thắng lợi huy hoàng nhất, lại vì chút tư niệm và lòng tham mà tự hạ thấp những lý niệm ấy, đem đổi chác thành lợi ích. Đây chẳng phải là nhân loại vì lòng tham của chính mình mà đang tự hủy văn minh nhân loại sao?

Nếu nói thuyết “thúc đẩy dân chủ nhân quyền” và thuyết “tiếp xúc giao lưu” còn thuộc trò chơi chữ nghĩa và giả dối, thì thuyết “Trung Quốc tiến bộ” là sự tự lừa và lừa người bất chấp sự thật. Muốn chế tạo ra “Trung Quốc tiến bộ” từ tình trạng nhân quyền Trung Quốc không ngừng xấu đi, thì tất phải bất chấp sự bức hại nhân quyền nghiêm trọng nhất.

Giang Trạch Dân năm 1999 phát động cuộc đàn áp đẫm máu nhắm vào một trăm triệu học viên Pháp Luân Công, đến nay đã kéo dài mười ba năm. Trong cuộc bức hại chính trị và bức hại tín ngưỡng toàn quốc như thụt lùi về thời Cách mạng Văn hóa này, Trung Cộng huy động toàn bộ bộ máy nhà nước, thậm chí ngụy tạo vụ án giả tự thiêu Thiên An Môn để kích động toàn xã hội thù hận và tham gia bức hại học viên Pháp Luân Công; hàng triệu học viên Pháp Luân Công bị bắt giữ phi pháp, thảm khốc chịu tra tấn cực hình, đầu độc bằng thuốc. Do sự phong tỏa thông tin nghiêm ngặt của Trung Cộng, đến nay không thể biết bao nhiêu người bị bức hại đến chết, nhưng chỉ theo thông tin đã biết thì đã có mấy nghìn người bị tra tấn bằng những cực hình tàn nhẫn nhất đến chết.

  • Chính sách đối với Trung Quốc chỉ tính lợi ích không nói lý niệm mang đến tổn hại cực lớn

Một chuyên viên đặc phái nhân quyền của Liên Hợp Quốc trong báo cáo thường niên của bà đã phẫn nộ lên án hành vi tra tấn học viên Pháp Luân Công của Trung Cộng rằng: “sự tàn nhẫn của nó không phải ngôn ngữ loài người có thể miêu tả”. Bất kể xét về số người bị bức hại hay mức độ tàn khốc, cuộc đàn áp Pháp Luân Công đều là cuộc bức hại nhân quyền nghiêm trọng nhất trong lịch sử Trung Cộng, cũng là thảm họa nhân quyền nghiêm trọng nhất toàn thế giới hiện nay, mà tất cả những điều này trong thuyết “Trung Quốc tiến bộ” tất nhiên không được nhắc đến. Đặc biệt là tội ác khiến người ta dựng tóc gáy: quân đội, bệnh viện công an của Trung Cộng mổ cướp sống nội tạng của số lượng lớn học viên Pháp Luân Công,  bị lên án là “tội ác chưa từng xảy ra trên hành tinh này”,  càng là điều thuyết “Trung Quốc tiến bộ” buộc phải che giấu né tránh.

Đây đã không chỉ là đi ngược giá trị đạo nghĩa của thế giới tự do phương Tây, mà là đi ngược lương tri căn bản của loài người. Đến bước này, nhân loại còn gì không thể bị thờ ơ? Những lý niệm giá trị đại diện cho văn minh và tiến bộ xã hội như nhân quyền, tự do, pháp trị, trải qua nỗ lực mấy trăm năm cận đại, đặc biệt là trả giá bằng sinh mệnh và vật chất khổng lồ của hai cuộc thế chiến và Chiến tranh Lạnh, mới được xác lập toàn cầu qua việc thế giới tự do phương Tây chiến thắng chủ nghĩa cộng sản vào thập niên 90 thế kỷ trước, thế mà chỉ trong hơn chục năm ngắn ngủi sau đó đã bị tư niệm và lòng tham của nhân loại xói mòn đến chẳng đáng một xu.

Kiểu chính sách đối với Trung Quốc chỉ tính lợi ích không nói lý niệm này của phương Tây, trong hai mươi năm thi hành, đã mang đến tổn hại cực lớn cho Trung Quốc, cho thế giới tự do phương Tây, cho đến toàn nhân loại.

  • Phương Tây đang không ngừng hủy hoại giá trị và hình ảnh thế giới tự do trong lòng nhân dân Trung Quốc

Thế giới tự do phương Tây khi không ngừng trao cho Trung Cộng tính chính danh chính trị, cũng đang không ngừng hủy hoại giá trị và hình ảnh của thế giới tự do trong dân chúng Trung Quốc. Về phương diện này, Trung Cộng đương nhiên là nhân tố chủ yếu nhất. Đối với sự trao đổi lợi ích với phương Tây, Trung Cộng là kẻ khởi xướng việc câu dẫn lòng tham kéo người xuống nước, đồng thời lại lợi dụng nó triệt để. Đối với sự thỏa hiệp và nhượng bộ của phương Tây, Trung Cộng một mặt vô liêm sỉ đem nó ra rêu rao như kết quả “ngoại giao đơn hàng” thể hiện sức mạnh mềm của Trung Quốc, tạo giả tượng nó hùng mạnh trên trường quốc tế trong dân chúng; mặt khác lấy “tính giả dối của ngoại giao nhân quyền” ra công kích để kích động tình cảm dân tộc, và mượn đó yêu ma hóa nhân quyền tự do.

Nếu chỉ là tuyên truyền lừa dối của Trung Cộng, thì không thể yêu ma hóa được nhân quyền tự do. Thập niên 80 thế kỷ trước, sự chống đối và trở lực của toàn bộ ý thức hệ Trung Cộng đối với giá trị phương Tây lớn hơn nhiều so với hai mươi năm sau đó, sự công kích giá trị phương Tây cũng nghiêm khắc hơn nhiều, thế mà hoàn toàn không thể đè nén được sự tiếp nhận và hướng vọng của dân chúng Trung Quốc đối với các giá trị nhân quyền, tự do, pháp trị. Đặc biệt sau khi thảm sát Lục Tứ và sự giải thể phe cộng sản Xô-Đông khiến Trung Cộng mất tính chính danh toàn diện, càng không thể ngăn cản sự đồng tình và kỳ vọng của dân chúng Trung Quốc đối với giá trị phương Tây. Điều này thực ra chẳng cần bao nhiêu khai sáng hay lý luận.Ai áp bức dân chúng Trung Quốc, ai chân tâm ủng hộ quyền lợi của dân chúng Trung Quốc, trong lòng dân chúng tự có một cái cân. Khi thế giới tự do chiếm giữ đỉnh cao đạo đức, tuyên truyền lừa dối của Trung Cộng căn bản không hủy hoại nổi giá trị và hình ảnh của thế giới tự do.

Tư niệm và lòng tham của phương Tây làm tăng độ khó cho nhân dân Trung Quốc giải quyết vấn đề nhân quyền Trung Quốc

Bất hạnh thay, hành vi giao dịch giữa thế giới tự do và Trung Cộng từ sau thập niên 90 thế kỷ trước ngày càng đóng đinh chắc chắn cho sự công kích của Trung Cộng. Thế giới tự do có thể phối hợp với Trung Cộng tô vẽ thành tích của nó, nhưng dân chúng sống dưới ách Trung Cộng lại cảm nhận thiết thực thế giới tự do đang giao dịch với một chính phủ như thế nào. Thế giới tự do có thể tự xưng tiếp xúc giao lưu toàn diện với Trung Quốc, nhưng các nhân sĩ bất đồng chính kiến, dân vận, bảo vệ môi trường, luật sư nhân quyền, quần chúng nạn nhân v.v. lại cảm nhận được các chính khách phương Tây xa lánh họ ra sao. Thế giới tự do có thể nói là giúp Trung Quốc phát triển kinh tế, nhưng lao động tầng đáy thấy được lại là các công ty liên doanh, công ty vốn nước ngoài đưa chi bộ đảng vào để canh giữ, vắt kiệt công nhân như thế nào. Còn xa hơn thế: hối lộ thương mại, vấn đề môi trường, v.v. và v.v. tất cả những điều này đang toàn diện phơi bày trước dân chúng Trung Quốc rằng thế giới tự do trọng lợi khinh nghĩa ra sao.

  • Sự trọng lợi khinh nghĩa của phương Tây đã giúp Trung Cộng kích động tình cảm dân tộc chủ nghĩa

Sự trọng lợi khinh nghĩa của thế giới tự do về khách quan đã giúp Trung Cộng kích động tình cảm dân tộc chủ nghĩa; trong khi trao cho Trung Cộng tính chính danh chính trị, còn hết sức thiếu khôn ngoan trao cho Trung Cộng một loại tính chính danh khác: tính chính danh đại diện cho tình cảm dân tộc chủ nghĩa phản đối phương Tây, mà loại tính chính danh cực kỳ nguy hiểm này lại không phải thứ phương Tây có thể thu hồi.

Những năm gần đây tình cảm dân tộc chủ nghĩa ở Trung Quốc càng diễn càng dữ dội: như sự hả hê trước tai họa của người khác của đám “phẫn thanh” (thanh niên phẫn nộ) Trung Quốc sau vụ “11/9”, như sự bạo lực và điên cuồng mà người Trung Quốc thể hiện trong nước lẫn khắp nơi trên thế giới khi rước đuốc Thế vận hội Bắc Kinh, quả thực khiến phương Tây chấn kinh.

Khi Bin Laden bị tiêu diệt, đám phẫn thanh Trung Quốc đồng cảm với lý niệm Trung Cộng vô cùng bi thống và phẫn khái. Một bài đăng trên mạng Phượng Hoàng: “Bin Laden là tấm gương của cuộc đấu tranh của nhân dân toàn thế giới chống chủ nghĩa đế quốc Mỹ! Các anh hùng của tổ chức Al-Qaeda dùng thân xác máu thịt của mình, với tinh thần đại vô úy coi cái chết như trở về, dùng vũ khí thô sơ nhất đối kháng với chủ nghĩa đế quốc Mỹ hùng mạnh nhất thế giới, họ anh dũng biết bao, đáng kính phục biết bao! Họ là anh hùng chân chính! Tinh thần Bin Laden bất diệt!”, đã kéo theo hàng nghìn hàng vạn bình luận hưởng ứng, tuyên bố “Bin Laden chết hay không có gì khác biệt, chỉ cần Mỹ còn đóng vai cảnh sát quốc tế. Khủng bố vĩnh viễn còn đó…”; “Sự chà đạp và phá hoại của Mỹ đối với nhân loại vượt quá hàng vạn Bin Laden!”, quy tội chiến tranh và bất hạnh của thế giới đương đại cho nước Mỹ.【1】

Có điều, phương Tây đến nay chưa ai nghĩ thử, so sánh thử: vì sao hai mươi năm trước không như vậy? Đặc biệt, vì sao chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi mà người Trung Quốc ở khắp nơi trên thế giới thể hiện còn mãnh liệt hơn cả trong nước Trung Quốc? Chỉ mới hai mươi năm trước, du học sinh Trung Quốc là một trong những kênh truyền tải chủ yếu đưa giá trị phương Tây vào Trung Quốc; họ còn phổ biến đồng tình, ủng hộ các phong trào khai sáng và tranh thủ dân quyền trong nước. Sự biến đổi trước sau hai mươi năm này, chính sách kết giao bằng lợi ích giữa Trung Cộng và thế giới tự do là nguyên nhân chủ yếu nhất, người Trung Quốc ở hải ngoại nhìn thấy, cảm nhận điều này trực tiếp hơn ở trong nước. Khi Trung Cộng kích động chủ nghĩa dân tộc, thường lấy “làm tổn thương tình cảm nhân dân Trung Quốc” ra dọa phương Tây. Việc thế giới tự do thấy lợi quên nghĩa phối hợp với Trung Cộng mới là sự tổn thương thật sự đối với nhân dân Trung Quốc. Sau khi Cách mạng Hoa nhài quét qua Trung Đông, sự phản cảm của dân chúng nơi ấy đối với việc phương Tây nhiều năm ủng hộ các chính quyền độc tài khiến thế giới tự do vô cùng lúng túng. Tương lai sau khi Trung Cộng giải thể, thế giới tự do sẽ giải thích thế nào với dân chúng Trung Quốc về đủ loại giao dịch vô đạo đức với Trung Cộng?

Sự phản cảm ngày càng tăng của dân chúng Trung Quốc đối với phương Tây không có nghĩa họ không còn đồng tình với nhân quyền tự do nữa. Ngược lại, từ môi trường sinh tồn ngày càng xấu đi, họ nhận thức được nhân quyền không chỉ liên quan đến quyền lợi chính trị, do đó ngày càng nhiều người bắt đầu lên tiếng vì quyền lợi kinh tế và xã hội của chính mình. Nhưng họ dần dần phân biệt nhân quyền tự do với phương Tây. Một dấu hiệu rõ ràng nhất là: sau Thế vận hội Bắc Kinh, các nhân sĩ nhân quyền, dân vận, học giả phái tự do, luật sư nhân quyền v.v. trong nước Trung Quốc cho đến hải ngoại, bắt đầu đồng thanh nhấn mạnh: vấn đề nhân quyền của Trung Quốc rốt cuộc phải dựa vào chính nhân dân Trung Quốc giải quyết. Đối với người Trung Quốc khao khát nhân quyền tự do, đây là một sự bất đắc dĩ và nỗi thất vọng đối với thế giới tự do; nhưng đối với phương Tây, đây rõ ràng là một sự khiển trách và tuyên phán, bởi vì tư niệm và lòng tham của phương Tây đã làm tăng độ khó cho nhân dân Trung Quốc giải quyết vấn đề nhân quyền Trung Quốc, bởi vì thế giới tự do đã phản bội trách nhiệm đạo nghĩa đối với giá trị phổ quát.

  • Vì lợi ích từ bỏ giá trị phổ quát khiến thế giới tự do mất sức cảm triệu đạo đức trong các vấn đề quốc tế

Vốn dĩ, thế giới tự do phương Tây, sở hữu trải nghiệm phát triển hoàn chỉnh và tri thức về nhân quyền, tự do, pháp trị, nếu có thể ủng hộ giúp đỡ nhân dân Trung Quốc tranh thủ nhân quyền của họ, thì sẽ đẩy việc giá trị phổ quát thực sự thực hiện trên toàn cầu tiến lên một bước lớn. Thế nhưng, thế giới tự do phương Tây lại vì lợi ích mà, vào thời khắc then chốt nhất, cần giúp đỡ nhất khi nhân dân Trung Quốc tranh thủ nhân quyền, đi trao cho Trung Cộng bức hại nhân quyền tính chính danh chính trị, và làm trầm trọng thêm sự xấu đi từng ngày của môi trường sinh tồn của dân chúng Trung Quốc, do đó trở thành chướng ngại cho việc thực hiện giá trị phổ quát trên toàn cầu.

Thế giới tự do tuy vẫn hưởng thụ nhân quyền, tự do, pháp trị, nhưng đã từ bỏ trách nhiệm đạo nghĩa đối với giá trị phổ quát, do đó đã không thể tiếp tục làm đại diện cho giá trị phổ quát nhân quyền tự do nữa. Đây cố nhiên là tổn thất cực lớn của nhân dân Trung Quốc, cũng là tổn thất cực lớn của thế giới tự do, nhưng càng là tổn thất cực lớn của văn minh nhân loại. Đây sẽ không phải là khởi tâm của những người hoạch định chính sách đối với Trung Quốc, nhưng lại là kết quả tất yếu của việc thế giới tự do phương Tây cùng nhảy múa với Trung Cộng mà phản bội trách nhiệm đạo nghĩa đối với các giá trị nhân quyền, tự do, pháp trị.

Hậu quả của việc thế giới tự do tách rời khỏi giá trị phổ quát nhân quyền tự do đã dần dần hiển hiện. Khoảng tháng 7, tháng 8 năm 2012, Ngoại trưởng Mỹ tại nhiều nước châu Á, châu Phi nhấn mạnh lại tầm quan trọng của dân chủ đối với sự phát triển quốc gia; truyền thông quốc tế đều chú ý đến hàm ý rõ ràng nhắm vào Trung Cộng. Thế nhưng, ngoài việc bộ máy loa của Trung Cộng thần kinh quá mẫn cảm khai hỏa cách không với bà ra, trong xã hội dân sự Trung Quốc và thế giới hầu như chẳng có phản hưởng gì, đặc biệt là dân gian Trung Quốc hoàn toàn không có phản ứng. Khi phương Tây vì lợi ích từ bỏ giá trị phổ quát nhân quyền tự do, thế giới tự do trong các vấn đề quốc tế đã mất đỉnh cao đạo đức và sức cảm triệu giá trị rồi.

  • Sự truyền máu chính trị kinh tế của phương Tây khiến Trung Cộng trở thành đầu sỏ của tập đoàn bạo chính phản nhân quyền

Tác hại của tư niệm và lòng tham của nhân loại đối với văn minh nhân loại còn xa hơn thế. Do sự truyền máu chính trị, kinh tế, kỹ thuật của thế giới tự do phương Tây cho Trung Cộng, khiến Trung Cộng có thể trong hơn chục năm ngắn ngủi trở thành đầu sỏ của tập đoàn bạo chính phản nhân quyền, phản văn minh. Trong hai mươi năm qua, Trung Cộng đã ủng hộ mọi chính quyền bức hại nhân quyền trên thế giới: hoặc trực tiếp cung cấp vũ khí giết người (như Rwanda, Sudan, Zimbabwe), hoặc cản trở Liên Hợp Quốc can thiệp (như Rwanda, Kosovo, Syria), hoặc ngăn trở xét xử quốc tế (như Campuchia, Rwanda, Nam Tư cũ), hoặc cung cấp kỹ thuật giám sát (như Cuba, Bắc Triều Tiên, Iran), bằng đủ mọi phương thức tham gia và làm trầm trọng thêm mọi cuộc bức hại nhân quyền trên thế giới.

Trung Cộng về kinh tế ủng hộ những chính quyền chuyên chế nghèo khó, chẳng những gây ra sự xấu đi của tình trạng nhân quyền ở những nước ấy, mà còn tụ tập những chính quyền chuyên chế ấy biến “Ủy ban Nhân quyền” Liên Hợp Quốc thành một câu lạc bộ bảo vệ bạo chính khét tiếng, đồng thời biến cả “Hội đồng Nhân quyền” Liên Hợp Quốc, cơ quan thay thế “Ủy ban Nhân quyền”, cũng thành một cơ cấu không thể bảo vệ nhân quyền hữu hiệu. Trung Cộng đã gây tác dụng phá hoại lớn nhất đối với nhân quyền toàn cầu cho đến cả văn minh.

Sự thờ ơ với sinh mệnh là mối đe dọa căn bản nhất đối với văn minh

Sự thờ ơ với sinh mệnh vốn là đặc trưng căn bản nhất của dã man, do đó là mối đe dọa căn bản nhất đối với văn minh. Thế giới tự do lại cho rằng Trung Cộng không cấu thành mối đe dọa trực tiếp với mình mà ngồi nhìn hành vi phản văn minh của Trung Cộng trên toàn cầu, không thể không nói đây là một điểm mù lớn của văn minh nhân loại đương đại. Khi đối mặt với tập đoàn dã man Hitler, Stalin, tổ chức khủng bố của Bin Laden, thế giới tự do sẽ vì xung đột ý thức hệ mà đối đầu, chiến đấu với chúng, và trong quá trình đó càng rèn giũa, làm nổi bật các giá trị phổ quát như nhân quyền tự do, càng trở nên hùng mạnh hơn. Sự chà đạp sinh mệnh của Trung Cộng vượt xa tập đoàn dã man Hitler, Stalin: chỉ riêng sau khi dựng chính quyền đã khiến ít nhất tám mươi triệu sinh linh đồ thán. Cộng thêm nội chiến của Trung Cộng, cùng chiến tranh và thảm họa nhân quyền do nó gây ra ở Đông Nam Á, đặc biệt là Campuchia, số sinh mệnh bị Trung Cộng tàn hại lên đến hơn trăm triệu. Sự tàn bạo chà đạp sinh mệnh của nó như kiếp nạn Cách mạng Văn hóa chưa từng có trong lịch sử, như mổ cướp sống nội tạng học viên Pháp Luân Công, không thứ nào không phải tà ác đăng phong tạo cực. Đặc biệt trong quá trình tàn hại sinh mệnh, nó đã hủy diệt văn minh Trung Hoa năm nghìn năm ở Trung Quốc, phá hủy giá trị phổ quát trên trường quốc tế, và đang đe dọa văn minh của toàn nhân loại.

  • Cùng dã man chế định luật chơi

Đối với những lịch sử phản ánh bản chất phản văn minh của chính quyền Trung Cộng này, phương Tây lại có thể xóa sạch một nét bút mà cho rằng nó không cấu thành mối đe dọa ý thức hệ, còn phát triển với nó đủ loại danh mục hợp tác như “hợp tác chiến lược”, “hợp tác cạnh tranh”, “hợp tác sáng tạo”, thậm chí còn mời Trung Cộng tham gia chế định luật chơi quốc tế. Nguyên nhân và cách giải thích duy nhất chẳng phải là vì những kẻ Trung Cộng tàn hại là chủng tộc khác sao? Sự thờ ơ với sinh mệnh của chủng tộc khác chẳng phải cũng là sự thờ ơ với sinh mệnh sao?! Kẻ có thể cùng dã man chế định luật chơi, còn có thể là văn minh chân chính không? Những tinh hoa của thế giới tự do bị lợi ích che mắt sẽ không nghĩ đến tất cả những điều này, nhưng việc họ làm quả thực đang tự hủy văn minh.

Những thế lực dã man phản văn minh kiểu này trong lịch sử nhân loại không hề hiếm thấy; văn minh chính là phát triển lên trong sự đối kháng với dã man. Việc thế giới tự do phương Tây ngồi nhìn hành vi phản văn minh của Trung Cộng trên toàn cầu, đã phơi bày một khiếm khuyết trọng đại của văn minh nhân loại đương đại: tính vị kỷ của nó. Khi đối mặt với tập đoàn dã man Hitler, Stalin, cho đến tổ chức khủng bố của Bin Laden, thế giới tự do sẽ cho rằng xung đột ý thức hệ có thể khiến lối sống của mình bị đe dọa mà đối đầu, chiến đấu với chúng. Nhưng đối với Trung Cộng, thế giới tự do lại vì lợi ích, cho rằng không có xung đột ý thức hệ và không có mối đe dọa mà hợp tác với nó. Kỳ thực, sự thờ ơ với sinh mệnh mới là đặc trưng căn bản nhất của dã man, do đó cũng là mối đe dọa căn bản nhất đối với văn minh.

Ngay trong thời cận đại đã từng có. Đối với hai tập đoàn dã man kia, thế giới tự do dám gọi thẳng là “trục ma quỷ” và “đế quốc tà ác” mà đối đầu với chúng. Nhưng đối với tập đoàn dã man do Trung Cộng đại diện, thế giới tự do chỉ dám gọi Bắc Triều Tiên, Cuba và tập đoàn độc tài Iraq cũ, những kẻ được Trung Cộng ủng hộ là “trục ma quỷ”, còn với Trung Cộng thì phải “đồng chu cộng tế” (cùng thuyền vượt sóng). Đây tuyệt không phải vì Trung Cộng mạnh hơn Quốc xã hay Liên Xô. Ngược lại là đằng khác: mối đe dọa hùng mạnh của Quốc xã và Liên Xô khiến thế giới tự do càng đứng vững lập trường giá trị phổ quát, kiên định đứng ở thế bất bại.

Chính vì sự mặc nhận, đồng lõa với dã man trong vấn đề căn bản nhất, thế giới tự do trong các vấn đề quốc tế đã ngày càng không dám viện dẫn giá trị phổ quát, ngày càng không dám chạm đến nguyên tắc căn bản. Ví dụ, sau khi dân chúng Syria tuần hành hòa bình tháng 3/2011 bị chính quyền Assad điên cuồng tàn sát mà vùng lên kháng bạo bằng vũ lực, cộng đồng quốc tế trong hơn một năm quan tâm và can thiệp sau đó, lại hiếm khi nhắc đến nhân quyền, hiếm khi nhắc đến tính chính nghĩa của việc nhân dân Syria tranh thủ tự do bảo vệ quyền lợi của mình, mà chỉ chung chung lấy “xung đột vũ trang” để bàn về cục diện Syria, lấy “hai bên” để kêu gọi ngang hàng cả bên thi bạo lẫn bên kháng bạo, thậm chí cuối cùng lấy “nội chiến” để miêu tả, gọi tên cuộc xung đột này, như thể cuộc xung đột này hoàn toàn chẳng liên quan gì đến chính nghĩa hay phi nghĩa. Khi tình thế Syria càng diễn càng dữ, hơn vạn thường dân chết dưới pháo hỏa, các quốc gia chủ yếu của thế giới tự do đứng ra can thiệp, lập trường công khai của họ cũng chỉ là xuất phát từ chủ nghĩa nhân đạo, cũng không dám chỉ thẳng tính phi nghĩa của việc Trung Cộng và Nga công nhiên bao che bạo chính Assad.

  • Sự tự hủy của văn minh khiến người ta kinh tâm động phách

Người hơi quen thuộc lịch sử phương Tây một chút đều biết: lập trường chủ nghĩa nhân đạo là đường đáy đạo đức của luật quốc tế được thiết lập một trăm năm mươi năm trước, trong các cuộc xung đột quân sự hỗn loạn ở châu Âu, nhằm bảo vệ thường dân, lấy Công ước Vienna năm 1864 làm dấu mốc. Khi ấy nội chiến Nam-Bắc của Mỹ còn chưa kết thúc, nhân quyền tự do còn chưa thành giá trị phổ quát. Ngày nay cộng đồng quốc tế khi can thiệp bạo chính Assad ở Syria lại thể hiện ra một bước thụt lùi cả thế kỷ rưỡi, sự tự hủy của văn minh trong đó chẳng khiến người ta kinh tâm động phách sao?

Tất cả những điều này đang nghiêm túc đặt ra, phơi bày trước nhân loại vấn đề về thực chất của văn minh là gì. Phương Tây có truyền thuyết “trận chiến Ngày tận thế” (Armageddon); các nền văn hóa trên thế giới cũng đều có truyền thuyết “ngày tận thế của văn minh”, “trận chiến cuối cùng”. Những người tin vào điều này phổ biến cho rằng đó là một thảm họa đủ sức hủy diệt Trái Đất, nhân loại; các nhà khoa học cũng đua nhau nghiên cứu tiểu hành tinh, đại địa chấn, đại sóng thần, đại ôn dịch v.v. từ đó có thể thấy, nhận thức phổ biến của con người về văn minh là mang tính vật chất, cho nên các chính trị gia, nhà khoa học nghiên cứu chống đỡ thảm họa này cũng đều tập trung vào việc làm sao phát triển vũ khí có thể bắn nát tiểu hành tinh, làm sao xây dựng hệ thống cảnh báo tốt hơn v.v. Thế nhưng, mọi truyền thuyết về trận chiến cuối cùng này cũng đều miêu tả trận chiến cuối cùng ấy là đại chiến chính-tà. Vậy điều gì đại diện cho chính? Là vũ khí tiên tiến hơn thế lực tà ác, là nền kinh tế quốc dân hùng mạnh hơn ư? Nếu trận đại chiến chính-tà cuối cùng của văn minh nhân loại mang ý nghĩa giá trị đạo đức, thì bản chất của văn minh nhân loại chẳng phải tất nhiên cũng mang ý nghĩa giá trị đạo đức sao? Nếu quả như vậy, thì bản thân sự hủy diệt giá trị văn minh trên toàn cầu do Trung Cộng thời Giang câu dẫn lòng tham vị kỷ của con người gây ra, chẳng phải chính là biểu hiện kinh tâm động phách của đại chiến chính-tà sao?

Vì sao nước Mỹ vĩ đại

  • “Nước Mỹ kiền thành và lương thiện”

Năm 1831, nhà tư tưởng chính trị và sử gia Pháp Tocqueville khảo sát nước Mỹ, và năm 1835 trong tác phẩm nổi tiếng «Bàn về nền dân chủ Mỹ» đã viết: “Mãi đến khi tôi bước vào nhà thờ ở Mỹ, nghe những bài giảng đạo rực cháy ngọn lửa chính nghĩa trong nhà thờ, tôi mới thực sự hiểu vì sao nước Mỹ vĩ đại và thiên phú phi phàm đến vậy. Nước Mỹ kiền thành và lương thiện; một khi nước Mỹ không còn kiền thành lương thiện, nó cũng sẽ không còn vĩ đại.”

Sự quan sát sắc bén và sâu sắc như vậy đã nói trọn mối quan hệ giữa giá trị tinh thần bên trong và biểu hiện vật chất bên ngoài của văn minh, cũng thích dụng với mọi nền văn hóa và quốc gia từng hùng mạnh trong lịch sử nhân loại.

Có lẽ, chúng ta có thể dùng ngôn ngữ thẳng thắn hơn để nói đạo lý này rõ ràng hơn nữa. Chúng ta tin “Chúa phù hộ nước Mỹ”  đó không chỉ là nguyên tắc đạo đức mà các quốc phụ vĩ đại của Hoa Kỳ kiền thành phụng thủ, mà cũng là thể hiện của tính chính danh đạo đức do thượng thiên ban cho, là nguyên nhân căn bản khiến quốc độ từng huy hoàng, từng vĩ đại, từng ngạo nghễ một thời này công huân trác việt, quang vinh phú cường. Nhưng chúng ta ngày nay có còn năng lực thực sự hiểu hàm nghĩa của “Chúa phù hộ nước Mỹ” không? Chúng ta trên nguyên tắc phổ quát là đã tiến gần yêu cầu của thượng thiên, hay đã vì lợi ích mà từ bỏ sự kiên nhẫn đạo đức trông giữ Thần? Quốc độ được Thượng Đế chọn, hành sử công đạo, chủ trì chính nghĩa, làm được điều Thần muốn chúng ta làm, làm tốt điều Thần muốn chúng ta làm tốt, thì Thần cho chúng ta vinh diệu, cho chúng ta giàu có, khiến chúng ta hùng mạnh trên thế gian; ngược lại, thì suy bại, đồi thế, bất hạnh…

  • “Một khi nước Mỹ không còn kiền thành lương thiện, nó cũng sẽ không còn vĩ đại”

Như cuốn sách này đã trình bày, đến nay chưa ai đi sâu tìm hiểu sự đảo ngược thực lực kinh người giữa Trung Cộng và thế giới tự do trong hai mươi năm qua; đương nhiên càng không ai chú ý rằng Thế vận hội Bắc Kinh vừa hạ màn ngày 24/8, thì hai tuần sau bùng nổ khủng hoảng tài chính của Freddie Mac và Fannie Mae, Lehman Brothers, AIG cùng các tập đoàn tài chính khác cho đến toàn cầu. Là bữa đại tiệc của Trung Cộng khiến cả thế giới chú mục, Thế vận hội Bắc Kinh xứng danh là “kiệt tác” và “tuyệt xướng” của việc Trung Cộng và thế giới tự do kết giao bằng lợi ích, lừa dối nguyện vọng lương thiện của thế giới.

Năm 2001, khi Trung Cộng thời Giang xin đăng cai Thế vận hội Bắc Kinh, từng hứa hẹn cải thiện nhân quyền. Đến năm 2007 thì đã hết sức rõ ràng: tình trạng nhân quyền Trung Quốc chẳng những không cải thiện, mà tháng 3/2006 còn bùng ra tin tức kinh hoàng về việc mổ cướp sống nội tạng học viên Pháp Luân Công bị lên án là “tà ác chưa từng xảy ra trên hành tinh này”. Thế nhưng thế giới tự do chẳng những không truy cứu vì sao Trung Cộng vi phạm cam kết, ngược lại một lần nữa lấy “cơ hội thúc đẩy Trung Cộng cải thiện nhân quyền” ra đè nén lời kêu gọi tẩy chay Thế vận hội Bắc Kinh của các đoàn thể nhân quyền thế giới. Ngay trong năm 2008 ấy, xảy ra các sự kiện bức hại nhân quyền ác tính: tàn sát quy mô lớn người Tây Tạng, bắt giữ, ngược sát quy mô lớn học viên Pháp Luân Công, đàn áp nạn nhân động đất Vấn Xuyên thế giới tự do vẫn dửng dưng bất động. Trời giận người oán: chẳng những sau Thế vận hội phương Tây không còn “cơ hội thúc đẩy Trung Cộng cải thiện nhân quyền” nào nữa, mà khủng hoảng tài chính nối gót ập đến đã giáng đòn nặng vào thế giới tự do, đến nay chưa thể hồi phục hoàn toàn.

  • Hậu quả của chính sách đối với Trung Quốc trọng lợi khinh nghĩa là gì

Người hai mắt chỉ thấy lợi ích có lẽ sẽ không suy xét mối quan hệ giữa sự lừa dối lương thiện của Thế vận hội Bắc Kinh và khủng hoảng tài chính toàn cầu. Thế nhưng trong lịch sử, những con người có tiêu chuẩn đạo đức cao hơn khi đối mặt thảm họa lại càng biết nội tỉnh, từ đó cảm ngộ lời cảnh thị của thượng thiên. Tổng thống Mỹ Lincoln khi đối mặt với thảm họa khổng lồ là cuộc nội chiến Nam-Bắc đã nhận thức rằng: “Những nô lệ này cấu thành một loại quyền lợi đặc thù và trọng đại. Mọi người đều biết loại quyền lợi này có thể nói là nguyên nhân của cuộc chiến tranh này.” Lincoln tỉnh ngộ thêm một bước: “Thượng Đế toàn năng tự có mục đích của Ngài.” “Giả sử Thượng Đế muốn chiến tranh tiếp diễn, cho đến khi của cải tích tụ từ hai trăm năm mươi năm lao động không công của nô lệ hóa thành hư không, và như lời nói ba nghìn năm trước, cho đến khi mỗi giọt máu chảy ra dưới roi vọt đều được đền trả bằng một giọt máu khác do đao kiếm đâm ra, thì chúng ta vẫn phải nói: ‘Sự phán quyết của Chúa là hoàn toàn công chính không sai.'”

Chính sách đối với Trung Quốc trọng lợi khinh nghĩa của thế giới tự do phương Tây, bề ngoài nhìn có lẽ không lộ liễu như chế độ nô lệ mấy trăm năm trước, nhưng cũng vô đạo đức y như vậy, bởi vì thứ ẩn giấu dưới chiếc găng tay trắng của nó là lợi ích khổng lồ từ việc thuê ngoài cho chế độ nô lệ hiện đại của Trung Quốc. Nếu lợi nhuận mà chế độ nô lệ Mỹ thuở xưa chiếm đoạt buộc phải được thanh trừ đền trả bằng cuộc nội chiến Nam-Bắc, thì chẳng lẽ lợi ích thương mại thu được từ chế độ nô lệ hiện đại của Trung Quốc, lấy nhân quyền và môi trường sinh tồn ngày càng xấu đi của nhân dân Trung Quốc làm cái giá lại không cần đền trả? Nếu khủng hoảng tài chính toàn cầu là một lời cảnh cáo đối với sự tự hủy của văn minh, thì hậu quả của việc tiếp tục đi theo con đường này sẽ là gì?

Đương nhiên, chỉ khi con người không còn tin vào chân lý và nguyên tắc cao hơn, thần thánh hơn, thì mới tự hủy giá trị đạo đức của văn minh mình. Thế nhưng, chân lý cao hơn có vì chúng ta không còn tin mà không còn chân thật thần thánh nữa không? Thần có vì con người trọng lợi khinh nghĩa mà không còn công chính nữa không?

Tài liệu tham khảo:

【1】Mạng Phượng Hoàng, “Bạn nhìn nhận thế nào về việc quân Mỹ tiêu diệt Bin Laden?”, ngày kết thúc: 03/05/2011 http://survey.news.ifeng.com/result.php?surveyId=11902

Dịch từ: https://www.epochtimes.com/b5/12/9/4/n3675104.htm

Bản dịch có thể được chỉnh sửa trong tương lai để sát hơn với nguyên tác.

Ngày đăng: 11-08-2026