Chương 11: “Mô hình Trung Quốc” trong tham chiến (phần đầu)
Để bảo đảm lợi ích tự thân tối đa hóa, họ mong đảng-quốc ngồi trên đài cầm quyền — cứ thế, quan và thương trong ngoài liên thủ tạo ra cái “mô hình” này. —— Lời đề từ
Phần thứ nhất: Trung Cộng nói về “mô hình Trung Quốc”
“Mô hình Trung Quốc” kỳ thực chính là “mô hình Trung Cộng”.
Các bài viết của phương Tây về “mô hình Trung Quốc” chủ yếu tập trung vào phương diện kinh tế, nhưng lời giải thích của Trung Cộng về mô hình Trung Quốc lại bao gồm các phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự【1】. Dưới đây là những giải thích và thuyết minh của Trung Cộng về mô hình Trung Quốc, thu thập từ các bài đăng trên truyền thông chính thức của Trung Cộng.
Khi trích dẫn cách nói chính thức của Trung Cộng, cần hiểu chính xác thuật ngữ hệ tư tưởng “chủ nghĩa xã hội” của Trung Cộng. Giang Trạch Dân nói rất rõ: “Chủ nghĩa xã hội là giai đoạn sơ cấp của chủ nghĩa cộng sản, mà Trung Quốc lại đang ở giai đoạn sơ cấp của chủ nghĩa xã hội, tức giai đoạn chưa phát triển.”【2】”Chủ nghĩa xã hội” của Trung Cộng không phải chủ nghĩa phúc lợi xã hội kiểu các nước dân chủ châu Âu, mà là chủ nghĩa cộng sản cấp thấp, là một biệt danh của chủ nghĩa cộng sản.
Hai mục đích của “mô hình Trung Cộng”:
Một • Dùng “dinh dưỡng của cơ thể tư bản chủ nghĩa” vỗ béo cơ thể Trung Cộng
“Trong việc tham gia rộng rãi hệ thống phân công quốc tế mà làm lớn mạnh lực lượng chủ nghĩa xã hội Trung Quốc; trong việc mở cửa với thế giới mà thu lấy dinh dưỡng của ‘cơ thể tư bản chủ nghĩa’; trong việc hợp tác cùng tồn tại với cả hệ thống tư bản chủ nghĩa mà thúc đẩy tiến trình chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc”, đây “là hạt nhân của con đường chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc”.【3】
Hai • Trung Cộng sẽ đem thế giới tái hệ-tư-tưởng-hóa
“Đối với Trung Quốc mà nói, cuộc so tài giữa hai mô hình: Đồng thuận Washington và Đồng thuận Bắc Kinh, có ý nghĩa trọng đại, bởi điều này vừa liên quan lợi ích kinh tế vừa liên quan lợi ích chính trị. Nếu Bắc Kinh thành công khiến cộng đồng quốc tế chấp nhận ‘Đồng thuận Bắc Kinh’, Bắc Kinh liền có thể khiến thế giới tái hệ-tư-tưởng-hóa, chất vấn tính phổ quát của các quy phạm phương Tây.”【4】
Phần chính trị của mô hình Trung Cộng
Trung Cộng muốn dùng hệ tư tưởng kiểu gì để tái hệ-tư-tưởng-hóa thế giới? Trung Cộng mô tả thứ của chính nó thế này: “Trung Quốc không thi hành chế độ đa đảng và chính trị nghị viện, không làm ‘tam quyền phân lập’ giữa lập pháp, hành pháp, tư pháp; trước sau kiên trì địa vị chủ đạo của chủ nghĩa Mác trong lĩnh vực hệ tư tưởng.”【5】”Đảng quyền là hạt nhân của chính trị Trung Quốc; không hiểu đảng quyền thì rất khó hiểu chính trị Trung Quốc”; “nếu không nhìn mô hình chính trị của Trung Quốc thì rất khó hiểu mô hình kinh tế của Trung Quốc; thậm chí có thể nói, mô hình kinh tế của Trung Quốc là sản phẩm của mô hình chính trị Trung Quốc”.【6】
Trung Cộng cho rằng con đường phát triển chính trị đặc sắc Trung Quốc là phương thức quan trọng để chống lại “bá quyền mềm” của phương Tây.【7】Chỉ có tận dụng mọi cơ hội, làm Trung Quốc phát triển lên, Trung Cộng mới có quyền phát ngôn trong công việc quốc tế, cũng mới chứng minh được tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội. “Cuộc cạnh tranh giữa chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc với chủ nghĩa tư bản không phải luận anh hùng trên chiến trường, mà là so thực lực trên con đường phát triển, so sức bền về tiền đồ phát triển. Chỉ cần Trung Quốc tận dụng đầy đủ ‘thời kỳ cơ hội chiến lược’ của môi trường hòa bình quốc tế, thực sự phát triển lớn mạnh bản thân, thì tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc tự nhiên sẽ thể hiện ra.”【8】
Mô hình Trung Quốc có ba điểm cơ bản: “Thứ nhất, lợi ích tập thể, quốc gia cao hơn tất cả. Nghĩa là, vì lợi ích tổng thể có thể tổn hại thậm chí hy sinh quyền lợi cá nhân, cái gọi là chủ quyền cao hơn nhân quyền chính là đạo lý này; thứ hai, là kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa trên lý niệm ấy… nhà nước có quyền kinh doanh lũng đoạn; thứ ba, chế độ chính trị xã hội kiến lập từ đó là sự lãnh đạo một đảng của Đảng Cộng sản.”【9】
Phần kinh tế của mô hình Trung Cộng
Trung Cộng nói về mô hình kinh tế trong “mô hình Trung Quốc” của nó: “Trung Quốc không thực hành tư hữu hóa toàn diện, mà thực hành chế độ sở hữu hỗn hợp lấy kinh tế công hữu làm chủ đạo; tuy cũng du nhập chế độ kinh tế thị trường, nhưng mức độ điều tiết và can dự của chính phủ mạnh hơn nhiều so với các nước phương Tây.”【10】
Trung Cộng cho rằng “mô hình kinh tế cũng là tầng ngoài cùng của mô hình Trung Quốc”. Mô hình kinh tế “có thể khái quát là do bốn trụ cột lớn hợp thành”: “Một là quyền khống chế của nhà nước đối với đất đai, tức đất đai công hữu, chủ thể dân gian chỉ có quyền sử dụng đất hữu hạn”; “hai là các doanh nghiệp tài chính quốc hữu (khống chế cổ phần) cùng các doanh nghiệp phi tài chính cỡ lớn và cơ cấu sự nghiệp”, bao gồm “dầu mỏ, đường sắt, điện lực, viễn thông, đường sá, hàng không, nước máy”, cùng “các cơ cấu giáo dục, nghiên cứu khoa học, y tế, thể thao, văn hóa”; “ba là thị trường lao động tự do. Trung Quốc sở hữu thị trường lao động cạnh tranh cao độ… việc dùng lao động của chúng thuộc loại tự do nhất thế giới”; “bốn là thị trường hàng hóa – vốn tự do”. “Quyền khống chế của nhà nước đối với đất đai” và “nhà nước sở hữu các loại cơ cấu doanh nghiệp – sự nghiệp cỡ lớn”, “thoát thai từ thời đại kinh tế kế hoạch” có công năng quan trọng đối với Trung Cộng. “Phương Tây và Trung Quốc đi hai con đường: bên trước đi con đường tư bản bắt giữ nhà nước, bên sau đi con đường nhà nước chi phối tư bản.”【11】
“Ở nước ngoài, kiến lập quan hệ hợp tác đủ mọi tầng bậc với các nước tư bản chủ nghĩa phát triển trong khả năng có thể, từ đó giành lấy thời gian, tài nguyên và cơ hội cho sự phát triển của chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc.”【12】Trung Cộng hiểu: “Xét về phát triển kinh tế, thị trường, kỹ thuật, đầu tư của Mỹ đối với Trung Quốc đều vô cùng quan trọng.”【13】Trung Cộng “cần thị trường Mỹ để tạo cơ hội việc làm cho Trung Quốc”, “cần đô la Mỹ làm dự trữ ngoại hối”, “giữa Trung – Mỹ chủ yếu là đối tác mua bán”, nhưng về chính trị “Trung – Mỹ là quan hệ ‘thù lớn hơn bạn'”.【14】Trung Cộng “phát triển kinh tế chỉ là để giành thời gian, tích lũy lực lượng cho việc chủ nghĩa xã hội cuối cùng chiến thắng chủ nghĩa tư bản về sau.”【15】”Hệ tư tưởng và chế độ chính trị Trung – Mỹ không giống nhau. Lợi ích xung đột Trung – Mỹ tập trung ở tầng chính trị cao; lợi ích bổ sung nhau chủ yếu ở tầng chính trị thấp… Tính chất quan hệ chiến lược song phương Trung – Mỹ là thành phần đối kháng lớn hơn hữu hảo.”【16】”Trung – Mỹ không thể là đối tác hợp tác chiến lược thực sự, mà là đối thủ cạnh tranh bền vững hơn. Quan hệ Trung – Mỹ cũng sẽ phát triển tiến lên trong sự trồi sụt giữa động đãng và bình ổn, cho đến ngày Trung Quốc có thực lực chủ đạo quan hệ Trung – Mỹ.”【17】Nếu đến giữa thế kỷ 21, thu nhập bình quân đầu người Trung Quốc đạt bốn nghìn đô la Mỹ, tổng sản phẩm quốc dân hàng năm của 1,5 tỷ dân sẽ đạt sáu nghìn tỷ đô la Mỹ, thuộc hàng đầu thế giới, điều này “mở ra một con đường cho thế giới thứ ba chiếm ba phần tư tổng dân số thế giới; quan trọng hơn là cho nhân loại thấy: chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu, chủ nghĩa xã hội ưu việt hơn chủ nghĩa tư bản.”【18】
Phần văn hóa của mô hình Trung Cộng
Nhìn mô hình Trung Quốc từ góc độ văn hóa, Trung Cộng cho rằng “văn hóa… ngày càng trở thành nhân tố quan trọng trong cạnh tranh sức mạnh tổng hợp quốc gia, phải nâng cao sức mạnh mềm văn hóa quốc gia”,【19】”cùng với việc chiến tranh văn hóa của thời đại thông tin nhân loại triển khai trên chiến trường vô biên, chỉ dựa vào quân đội và vũ khí theo nghĩa truyền thống đã không thể thực hiện an ninh quốc gia theo nghĩa đại chiến lược, cũng không thể bảo vệ lợi ích quốc gia và chủ quyền quốc gia. Rõ ràng, chiến tranh đang vượt khỏi phạm trù quân nhân, quân đội, quân sự, ngày càng trở thành việc của các chính trị gia, triết học gia, lãnh tụ văn hóa, nhà khoa học, thậm chí các ông chủ ngân hàng, đây chính là chiến tranh văn hóa của thời đại thông tin toàn cầu hóa.”【20】
Phần quân sự của mô hình Trung Cộng
Nhìn mô hình Trung Quốc từ góc độ quân sự: Giải phóng quân “phải cung cấp bảo đảm lực lượng quan trọng cho việc củng cố địa vị cầm quyền của đảng”.【21】”Tính chất của đảng quyết định tính chất của quân đội; tông chỉ của đảng quyết định tông chỉ của quân đội.”【22】Giải phóng quân “là quân đội nhân dân dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng, là tập đoàn vũ trang chấp hành nhiệm vụ chính trị của đảng, phải trước sau lấy ngọn cờ của đảng làm ngọn cờ, lấy ý chí của đảng làm ý chí, lấy nhiệm vụ của đảng làm nhiệm vụ, kiên quyết nghe theo sự lãnh đạo và chỉ huy của đảng, kiên quyết bảo vệ địa vị cầm quyền và quyền uy lãnh đạo của đảng.”【23】”Đảng thực hành lãnh đạo tuyệt đối đối với quân đội là thể hiện tất yếu của địa vị lãnh đạo hạt nhân của đảng ta trong lĩnh vực quân sự, cũng là bộ phận cấu thành quan trọng không thể chia cắt của chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc. Chế độ này khác căn bản với các nước phương Tây, với các nước như Liên Xô cũ cũng có khác biệt rõ rệt.”【24】”Quyền lãnh đạo và quyền chỉ huy quân đội tập trung ở Trung ương đảng và Quân ủy Trung ương.”【25】
Trung Cộng cho rằng: áp lực từ việc “các nước phát triển” phương Tây “chiếm ưu thế về kinh tế, khoa học kỹ thuật, quân sự tồn tại lâu dài,… các thế lực thù địch trăm phương nghìn kế tiến hành các hoạt động thẩm thấu, chia rẽ, lật đổ, phá hoại”【26】, và “luôn coi quân đội là mục tiêu trọng điểm để thi hành chiến lược chính trị Tây hóa, phân hóa. Chúng mượn danh chính trị dân chủ ra sức cổ xúy ‘quân đội phi đảng hóa, phi chính trị hóa’ và ‘quân đội quốc gia hóa’, mưu toan khiến quân đội thoát ly sự lãnh đạo của đảng, thay đổi tính chất quân đội.”【27】Ngoài ra, “cải cách phát triển trong nước bước vào thời kỳ then chốt, các mâu thuẫn xã hội ngày càng nổi rõ”; “bất kể là chống lại mưu đồ Tây hóa, phân hóa của các thế lực thù địch, hay ứng phó các rủi ro thử thách trong phát triển, quân đội đều gánh vác chức trách quan trọng trong việc củng cố địa vị cầm quyền của đảng”.【28】Tổng hợp các luận thuật trên, Trung Cộng cho rằng “‘mô hình Trung Quốc’ về thực chất chính là một lựa chọn chiến lược của Trung Quốc trong bối cảnh toàn cầu hóa; nó là cả một bộ chiến lược phát triển và mô thức quản trị ứng phó thách thức toàn cầu hóa mà Trung Quốc dần phát triển nên trong quá trình cải cách mở cửa”【29】, “sự lãnh đạo của đảng chính là trung khu thao tác của nó”.【30】
Trung Cộng cho rằng: “Thành công của mô hình Trung Quốc cũng chứng minh chủ nghĩa xã hội đã khéo léo mượn sức của chế độ tư bản chủ nghĩa, thứ mà trước kia nó thề sẽ lật đổ, đem những ưu thế tích lũy của chế độ tư bản chủ nghĩa dịch chuyển chuyển hóa vào chế độ xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc.” Thành công của mô hình Trung Quốc “giành cho Trung Quốc quyền ngôn luận quý báu”, cũng “làm lung lay lòng tin của toàn cầu đối với hệ thống tư bản chủ nghĩa”. Mục đích cuối cùng của mô hình Trung Quốc là: nếu Trung Quốc liên tục sáng tạo ra tài phú vật chất cao hơn chế độ tư bản chủ nghĩa, khi tổng lượng tài phú quốc dân của Trung Quốc vượt cả thế giới phương Tây, chủ nghĩa xã hội sẽ có sức hấp dẫn chưa từng có đối với nhân dân các nước trên thế giới. Chủ nghĩa xã hội liền có thể trong lịch sử tương lai trở thành tín ngưỡng chung của toàn cầu, từng bước hòa bình thay thế chủ nghĩa tư bản. “Thành công to lớn của Trung Quốc sẽ là thành công to lớn của chế độ xã hội chủ nghĩa, ắt sẽ dẫn dắt sự phục hưng của chế độ xã hội chủ nghĩa trên toàn thế giới, cuối cùng khai sinh quan niệm giá trị phổ quát Trung Quốc dẫn đạo thế giới.”【31】
Phần thứ hai: “Lợi dụng hữu hiệu chủ nghĩa tư bản để cuối cùng chiến thắng chủ nghĩa tư bản”
Chủ nghĩa Lênin mới
“Mô hình Trung Cộng” hoàn toàn không phải thứ gì mới mẻ, cùng lắm chỉ là chút hơi hướng tìm được từ chủ nghĩa Mác – Lênin.
Tân Hoa Xã của Trung Cộng năm 2008 đăng bài viết: “Phải tận dụng đầy đủ chủ nghĩa tư bản. Hơn nữa, lợi dụng chủ nghĩa tư bản tuyệt không chỉ là một biện pháp đặc thù; trong thời đại lớn chủ nghĩa tư bản quá độ sang chủ nghĩa xã hội, nó là bảo đảm tất yếu để chủ nghĩa xã hội được phát triển, là vũ khí đắc lực để chủ nghĩa xã hội cuối cùng chiến thắng chủ nghĩa tư bản.” “Lênin chỉ ra: trong khi phấn đấu vì mục tiêu xã hội chủ nghĩa của hôm nay, đừng quên mục tiêu cộng sản chủ nghĩa của ngày mai; khi bắt đầu cải tạo xã hội chủ nghĩa, nên nêu rõ rằng mục đích rốt cuộc mà những cải tạo này phải đạt tới là kiến lập xã hội cộng sản chủ nghĩa.” “Trong sự tìm tòi lâu dài đã tìm thấy con đường hy vọng thực hiện sự thống nhất biện chứng ấy, ‘lợi dụng chủ nghĩa tư bản’. Làm sao ‘lợi dụng chủ nghĩa tư bản’ một cách hữu hiệu là một đề tài lớn mà các quốc gia kinh tế văn hóa tương đối lạc hậu, sau khi đi đầu bước lên con đường xã hội chủ nghĩa, trực tiếp đối mặt; nó vừa lấy việc cuối cùng thực hiện chủ nghĩa cộng sản làm mục đích, vừa phấn đấu vì mục tiêu xã hội chủ nghĩa của hôm nay.”【32】
Mạng Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác năm 2004 đăng bài viết có ký tên, đặc biệt nói đến quan điểm lợi dụng hữu hiệu chủ nghĩa tư bản mà Lênin từng đề xuất. “Chủ nghĩa Lênin là chủ nghĩa Mác của thời đại chủ nghĩa đế quốc và cách mạng vô sản; nội dung hạt nhân của nó là học thuyết về nhà nước chuyên chính vô sản cùng sách lược của nó… Mà nội nhân chủ yếu về sau dẫn đến Liên Xô thoái hóa giải thể chính là do vứt bỏ ngọn cờ chủ nghĩa Lênin.” “Nhân dịp kỷ niệm 130 năm ngày sinh Lênin, ôn lại chủ nghĩa Lênin, đặc biệt là ôn lại tư tưởng của Lênin về tự giác lợi dụng chủ nghĩa tư bản, cuối cùng chiến thắng chủ nghĩa tư bản, càng có ý nghĩa hiện thực quan trọng.”【33】Trung Cộng đang chấp hành bản lam đồ cũ do Lênin quy hoạch. Ý nghĩ của Trung Cộng được triển khai đầy đủ trong những bài viết như thế, lập đây làm chứng, độc giả có thể nhìn thấy mạch tư duy của ma quỷ trong từng chi tiết. (Các tiểu tiêu đề do tác giả cuốn sách này rút ra từ bài viết của Trung Cộng)
“Mục đích cuối cùng là phải tiêu diệt chế độ tư bản chủ nghĩa”
Thực chất việc Lênin lãnh đạo nhà nước Xô-viết chuyển sang thi hành Chính sách Kinh tế Mới… chính là lợi dụng hữu hiệu chủ nghĩa tư bản để phát triển chủ nghĩa xã hội, cuối cùng chiến thắng chủ nghĩa tư bản. Nội dung chính của nó là “cho phép người sản xuất nhỏ có tự do buôn bán”, đưa “tư liệu sản xuất của đại tư bản” vào quỹ đạo “chủ nghĩa tư bản nhà nước”. Thứ chủ nghĩa tư bản nhà nước này chính là thứ chủ nghĩa tư bản mà chính quyền nhà nước chuyên chính vô sản “có thể hạn chế, có thể quy định phạm vi của nó”.【34】Để phòng thứ chủ nghĩa tư bản này vượt khỏi phạm vi đã định, Lênin nhấn mạnh: “Chúng ta cần rất thông thuộc tự do buôn bán, thi đua với tự do buôn bán, và dùng con bài chủ và vũ khí của tự do buôn bán để đánh bại tự do buôn bán.”【35】Đây chính là vừa lợi dụng vừa hạn chế chủ nghĩa tư bản, mà mục đích cuối cùng là phải tiêu diệt chế độ tư bản chủ nghĩa, xây thành xã hội xã hội chủ nghĩa.
“Lợi dụng chủ nghĩa tư bản như thế nào”
Nước Nga bấy giờ còn là một quốc gia kinh tế tiểu nông chiếm chủ thể. Thứ kinh tế hàng hóa nhỏ này phân tán mỏng manh; người sản xuất nhỏ văn hóa thấp, thiếu tri thức và kỹ thuật kinh doanh kinh tế hiện đại nên sản xuất phát triển chậm, tỷ lệ hàng hóa và tỷ lệ tích lũy vốn đều rất thấp, khó thỏa mãn nhu cầu kiến thiết hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa và cải thiện đời sống nhân dân. Lợi dụng chủ nghĩa tư bản, mở tự do buôn bán, nắm lấy “mối liên hệ kinh tế duy nhất có thể có giữa hàng triệu tiểu nông với đại công nghiệp”【36】 cái chuỗi thương nghiệp này, là có thể thúc kinh tế nhảy vọt… Cách khả thi duy nhất để đối phó với họ (các nước phương Tây) chính là tô nhượng dẫn vốn: cho phép nhà tư bản phương Tây đầu tư đặt xưởng tại Nga, và để họ thu lợi nhuận hậu hĩnh. Chỉ có như thế mới phá được sự phong tỏa của phương Tây, mượn vốn cùng kỹ thuật tiên tiến, tri thức kinh nghiệm quản lý tiên tiến của phương Tây mà tăng tốc bước chân kiến thiết hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa của nước Nga.
“Đây là cuộc đấu tranh kịch liệt liều mạng giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản”
Lênin hết sức tỉnh táo ước tính đến tính nguy hiểm mà việc lợi dụng chủ nghĩa tư bản có thể mang lại. Bởi trong đó tồn tại vấn đề “rốt cuộc ai thắng ai”. Tuy hiện tại không có chiến tranh quân sự tàn khốc, đổ máu như trước kia, “hiện không ai trực tiếp tấn công chúng ta, không ai bóp cổ chúng ta… Nhưng cuộc đấu tranh của chúng ta với chủ nghĩa tư bản lại tàn khốc, nguy hiểm gấp trăm lần, bởi chúng ta không thể lúc nào cũng nhìn rõ kẻ địch chống lại chúng ta ở đâu, ai là bạn của chúng ta.” Xét từ góc độ phát triển hình thức kinh tế và hình thức kết cấu xã hội, đây là một cuộc thi đua. Nhưng về thực chất, “đây không phải thi đua, đây là cuộc đấu tranh kịch liệt liều mạng giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản.”【37】
“Có thể kịp thời ngừng rút lui và chuyển lại sang tấn công”
Theo Lênin, người cách mạng và đảng viên cộng sản không nên né tránh mối nguy này, mà phải dũng cảm tiếp nhận thách thức của mối nguy ấy, phải nhìn thấy đầy đủ những điều kiện có lợi để loại trừ mối nguy. Trong đó chủ yếu nhất là thắng lợi cách mạng đã cung cấp nhiều “lực lượng hậu bị”: có đảng Bolshevik ngày càng lớn mạnh, chính quyền nhà nước trong tay, còn có Hồng quân hùng mạnh và sự ủng hộ của đông đảo quần chúng công nông, cùng sự viện trợ của các lực lượng cách mạng quốc tế. Chỉ cần “không để mình tinh thần ủ rũ, tổ chức tan rã, vẫn giữ sự ước tính tỉnh táo về tình hình, giữ tinh thần sung mãn và ý chí kiên cường, lùi tuy xa nhưng lùi có chừng mực”, thì chúng ta có thể kịp thời ngừng rút lui “và chuyển lại sang tấn công”.【38】
Một mặt, Lênin nhấn mạnh phải khắc phục tư tưởng “chủ nghĩa xã hội cảm tính”, phải đối diện hiện thực, xuất phát từ thực tế: tiến thêm từ chủ nghĩa tư bản nhà nước sang việc nhà nước điều tiết mua bán và lưu thông tiền tệ; cho phép chủ nghĩa tư bản tư nhân phát triển nhất định; cho phép tô nhượng những doanh nghiệp quốc doanh hiệu quả kém, không liên quan mạch máu kinh tế quốc gia cho nhà tư bản trong ngoài nước. Khuyến khích vốn tư nhân trong ngoài nước đầu tư tại Nga; lương cao thuê chuyên gia và nhân viên quản lý doanh nghiệp trong ngoài nước; lợi dụng pháp tắc cạnh tranh thị trường của tự do buôn bán, cố sức nhập vốn và kỹ thuật với cái giá nhỏ hơn.
Mặt khác, Lênin nhấn mạnh lợi dụng chủ nghĩa tư bản vừa là một chính sách giai cấp vừa là một sách lược đấu tranh: nhà nước phải nắm thương nghiệp bán buôn; phải tập trung lực lượng kinh doanh tốt kinh tế quốc hữu liên quan mạch máu kinh tế quốc gia; trước sau nắm quyền chủ động xử lý và điều tiết các quan hệ kinh tế trong tay nhà nước Xô-viết; quyết không cho phép xâm phạm quyền lợi pháp định của người làm thuê; cấm dùng lao động trẻ em. Lênin còn đặc biệt nhấn mạnh: trong quá trình lợi dụng chủ nghĩa tư bản, từ đầu đến cuối đều tồn tại vấn đề ai chiến thắng ai; yêu cầu đảng viên cộng sản và giai cấp công nhân “đấu tranh với sự xâm lấn của tư tưởng tư sản và sự phục辟 của thế giới quan tư sản”: vừa phải khắc phục tâm lý kiêu ngạo tự đại, khiêm tốn học nhà tư bản kinh nghiệm quản lý và kỹ thuật tiên tiến; vừa phải giảng kinh doanh văn minh, phòng bị nhà tư bản bắt giữ mà thoái hóa biến chất.
“Đánh thắng cuộc chiến không đổ máu lợi dụng chủ nghĩa tư bản”
Để đánh thắng cuộc chiến không đổ máu, lợi dụng chủ nghĩa tư bản, trong quá trình thi hành Chính sách Kinh tế Mới, Lênin đã luận thuật và thuyết minh chu đáo, sâu sắc trong khả năng có thể về đường lối, phương châm, chính sách và sách lược chủ nghĩa Mác cần áp dụng trên các mặt trận kinh tế, chính trị, quân sự, tư tưởng văn hóa giáo dục và ngoại giao, nhất là về xây dựng đảng, xây dựng cơ quan nhà nước Xô-viết, xây dựng dân chủ pháp chế, xây dựng đội ngũ cán bộ và đội ngũ giai cấp công nhân, củng cố liên minh công nông, xử lý đúng đắn quan hệ dân tộc, đấu tranh với các thế lực thù địch trong ngoài nước, từ đó đặt nền móng vững chắc về tư tưởng lý luận và chính sách sách lược cho việc sáng lập, củng cố và hưng thịnh của Liên Xô. Nó chẳng những có ý nghĩa chỉ đạo rất mạnh đối với Đảng Cộng sản Liên Xô và Liên Xô bấy giờ, mà đối với Trung Quốc ngày nay, trong thời kỳ lịch sử mới tự giác lợi dụng chủ nghĩa tư bản, tương lai cuối cùng chiến thắng chủ nghĩa tư bản, cũng có ý nghĩa hiện thực quan trọng.
Trình độ sức sản xuất của Trung Quốc ngày nay cao hơn nước Nga thời Lênin rất nhiều; điều kiện có lợi để lợi dụng hữu hiệu chủ nghĩa tư bản cũng nhiều hơn hẳn.
Lênin từng nói: “Vui lòng hấp thu những cái hay của nước ngoài: chính quyền Xô-viết + trật tự đường sắt của Phổ + kỹ thuật và tổ chức trust của Mỹ + giáo dục quốc dân của Mỹ v.v. v.v. ++ = tổng hòa = chủ nghĩa xã hội.” Loạt nguyên tắc tư tưởng quan trọng của Lênin bắt nguồn từ nguyên lý cơ bản của Mác – Ăngghen về việc các nước lạc hậu lợi dụng thành quả văn minh tích cực của các nước tư bản phát triển để kiến thiết chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn chứng minh: nó có ý nghĩa chỉ đạo phổ biến đối với việc các nước chưa phát triển chuyển sang chủ nghĩa xã hội thế nào, kiến thiết chủ nghĩa xã hội ra sao, và cuối cùng chiến thắng chủ nghĩa tư bản.”【39】
Đây chính xác là tất cả những gì Trung Cộng thi hành cụ thể trong “cải cách mở cửa” của nó! Đưa “tư liệu sản xuất của đại tư bản” vào quỹ đạo “chủ nghĩa tư bản nhà nước”. Chúng ta ở đây đổi “nước Nga” thành “nước Trung Cộng”, vừa khéo là sự mô tả xác thực tình hình Trung Quốc hôm nay: thứ chủ nghĩa tư bản nhà nước này, chính quyền nhà nước Trung Cộng chuyên chính vô sản có thể hạn chế, có thể quy định phạm vi của nó. Tô nhượng dẫn vốn, cho phép nhà tư bản phương Tây đầu tư đặt xưởng tại Trung Quốc, và để họ thu lợi nhuận hậu hĩnh. Chỉ có như thế mới phá được sự phong tỏa của phương Tây, mượn vốn cùng kỹ thuật tiên tiến, tri thức kinh nghiệm quản lý tiên tiến của phương Tây mà tăng tốc bước chân của giai đoạn cộng sản chủ nghĩa sơ cấp của Trung Cộng, hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa.
Đám Giang Trạch Dân hẳn vô cùng phấn khích khi tìm được từ chỗ tổ tông những cách nói như thế, điều này tăng thêm cho họ tính chính danh về giáo nghĩa cộng sản chủ nghĩa, và tìm thấy một con đường hiện thực để lợi dụng hữu hiệu chủ nghĩa tư bản, rồi cuối cùng chiến thắng chủ nghĩa tư bản. Khả năng cuối cùng chiến thắng phương Tây, chiến thắng nước Mỹ, điều này chẳng khác tiêm cho đám Giang Trạch Dân liều thuốc kích thích hồi quang phản chiếu lúc lâm chung. Nhưng khác với những gì từng xảy ra trong lịch sử cộng sản chủ nghĩa: Trung Cộng đang ở vào thời kỳ tồi tệ nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc, sự hủ bại mang tính chế độ vô phương cứu chữa của nó chẳng những bao trùm vô hạn toàn bộ lĩnh vực chính trị – kinh tế – văn hóa trong nước, mà còn ăn mòn, bắt giữ và làm thoái hóa biến chất các đầu sỏ phương Tây cùng các nhà tư bản ngoại lai lớn nhỏ mơ phát tài lớn từ Trung Quốc, khiến họ từ bỏ giá trị đạo đức cơ bản của quốc gia dân chủ, chiều theo khẩu vị của Trung Cộng. Đây chính là chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Cộng, là tấm gương xấu hơn nữa của việc Giang Trạch Dân “sáng tạo” kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với thực tiễn cách mạng Trung Cộng, chủ nghĩa cơ hội xã hội đặc sắc Trung Quốc. Đây chính là tông điệu đạo đức bại hoại của “mô hình Trung Cộng”.
Dưới đây là bản dịch tiếng Việt của phần tiếp theo:
Phần thứ ba: So với Hitler, thành tựu của Trung Cộng quả thực chỉ là mây nổi
Lịch sử có lúc lặp lại tương đồng đến kinh ngạc; khác biệt là đời sau kém đời trước. Đem Trung Cộng so với nước Đức Quốc xã, Trung Cộng lu mờ thất sắc.
Dưới đây là những gì thu lượm từ các bài giới thiệu và phân tích về nước Đức Quốc xã đăng trên một số trang mạng Trung Quốc. Người Trung Quốc xưa nay có văn phong “mượn xưa nói nay”; những người Trung Quốc sáng lòng tỏ mắt này mong truyền tải thông điệp gì đến thế giới, độc giả tự biết.【40】
Ai cũng biết, nước Đức thời Thế chiến II dưới nền thống trị độc tài của Hitler thi hành chế độ chủ nghĩa xã hội quốc gia (quốc xã); chủ nghĩa xã hội quốc gia về bản chất là thông qua sức mạnh nhà nước mà thu mua và sở hữu doanh nghiệp, nắm giữ mạch máu kinh tế quốc gia. Hitler trong một đoạn diễn thuyết nói rất rõ điểm này: “Chủ nghĩa xã hội quốc gia không lấy cá nhân, cũng không lấy nhân loại làm điểm xuất phát để suy xét vấn đề, phát biểu ý kiến và đưa ra quyết định. Nó có ý thức đặt nhà nước làm trung tâm của toàn bộ tư tưởng của nó… Chủ nghĩa xã hội quốc gia đòi hỏi bảo vệ dân tộc, khi cần thiết thì lấy hy sinh cá nhân làm giá. Phải khiến mỗi người dần dần nhận thức được: cái tôi của anh ta, so với sự tồn tại của cả quốc gia, là không đáng kể.” Điều này với Trung Cộng hôm nay giống nhau biết bao.
“Giấc mộng cường quốc” của dân chúng Đức và chính quyền Quốc xã
Sau Thế chiến thứ nhất, nước Đức bại trận bị tước bỏ quân bị; nỗi nhục dân tộc, kinh tế tiêu điều, xã hội hỗn loạn tác động qua lại. Đảng Quốc xã của Hitler nhạy bén nắm bắt trạng thái ấy, kịp thời đề xuất “sửa đổi ‘Hòa ước Versailles’, thu hồi lãnh thổ đã mất, liên kết những người tin vào chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa xã hội, đoàn kết toàn dân tộc Đức”, hứa hẹn sẽ nhanh chóng thay đổi cục diện công nhân thất nghiệp hàng loạt do các xí nghiệp quân công ngừng sản xuất sau chiến tranh cùng lạm phát ác tính. Ngày càng nhiều người Đức coi đảng Quốc xã là hy vọng giải quyết các vấn đề xã hội Đức, thực hiện sự cường thịnh của dân tộc Đức. Đảng Quốc xã đại thắng trong cuộc bầu cử năm 1932; Hitler giành được đại quyền lập nội các.
Hitler và đảng Quốc xã sau khi giành địa vị cầm quyền đã dùng chủ nghĩa xã hội quốc gia (dân tộc) nuốt chửng xã hội thị dân, thực hiện sự hợp nhất nhà nước với xã hội, kiến lập một quốc gia toàn trị. Điều này ở nước Đức bấy giờ gần như không vấp phải phản đối gì. Vào lúc trên dưới tràn ngập cơn cuồng nhiệt chủ nghĩa dân tộc, việc kiến lập một quốc gia hiện đại hùng mạnh để nhanh chóng thực hiện sự phục hưng của nước Đức rất dễ dàng trở thành sự đồng thuận lớn nhất của người Đức. Chính vì thế, tội ác tiêu diệt tư tưởng khác mình, bài Do Thái của Quốc xã cũng dễ được người Đức dung nhẫn dưới ngọn cờ phục hưng chủ nghĩa dân tộc.
Sở dĩ Hitler sau khi lên đài năm 1933 có thể được tuyệt đại đa số dân chúng Đức ủng hộ, nguyên nhân chính là đến năm 1936 Hitler đã giải quyết vấn đề thất nghiệp của đại chúng Đức; đương nhiên, ông ta không chỉ tạo ra “kỳ tích kinh tế”, còn tạo ra “kỳ tích mở rộng quân bị” đến năm 1939, Đức trên thực tế đã trở thành quốc gia có thực lực quân sự hùng mạnh nhất thế giới bấy giờ; Hitler còn thúc đẩy biến cách xã hội Đức, đẩy mạnh “xã hội hóa” người Đức, khiến họ cảm nhận hơi ấm của đời sống tập thể. Chỉ trong ba năm 1933, 1934, 1935, Hitler đã cải tạo nước Đức, quốc gia có thâm hụt và tỷ lệ thất nghiệp cao nhất thế giới, thực tế đã phá sản, thành cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới; hơn nữa điều này hoàn toàn không phải nhờ đầu tư và viện trợ nước ngoài mà có. Hitler sau khi lên đài tích cực mở rộng ngoại thương: 1932–1938, tỷ trọng của Đức trong thương mại xuất nhập khẩu của các nước Bulgaria, Hy Lạp, Hungary, Romania và Nam Tư lần lượt tăng từ một phần ba đến ba lần không đều; 1929–1938, đầu tư ra nước ngoài của Đức tăng vọt, từ 1,2 tỷ đô la Mỹ lên 4 tỷ đô la Mỹ.
Quốc lực tăng mạnh mẽ đã nâng cao rất nhiều lòng tự tôn dân tộc, niềm tự hào và ý niệm quy thuộc của nhân dân Đức. Ngày 13 tháng 1 năm 1935, bang Saar tổ chức trưng cầu dân ý toàn dân về vấn đề quy thuộc tương lai; kết quả với tỷ lệ phiếu cao 90,8%, quyết định trở về nước Đức. Cùng năm, Berlin giành được quyền đăng cai Olympic 1936.
Chính trị và văn hóa
Hoàn cảnh khi Hitler lên đài còn tồi tệ hơn Tổng thống Mỹ Roosevelt, bởi Hitler đối mặt bóng đen nước Đức bại trận trong Thế chiến thứ nhất; Hòa ước Versailles còn đang trói buộc nước Đức; còn có bồi thường chiến tranh, lòng tự tin dân tộc mất mát, còn có việc Pháp chiếm đóng một phần lãnh thổ Đức.
Cương lĩnh của đảng Quốc xã càng nêu rõ phải thực hiện chủ nghĩa xã hội: yêu cầu quốc hữu hóa các doanh nghiệp mang tính lũng đoạn, công nhân chia sẻ lợi nhuận doanh nghiệp, nhà nước nâng đỡ tiểu thương bằng phương thức cho thuê giá rẻ, xóa bỏ địa tô, cấm đầu cơ đất đai, yêu cầu xóa bỏ những thu nhập không do làm việc mà có, nghiêm trị kẻ cho vay nặng lãi, v.v.; đối ngoại thì yêu cầu phế bỏ Hòa ước Versailles mang tính kỳ thị, kiến lập một quốc gia nhân dân trung ương tập quyền hùng mạnh vượt trên dân chủ nghị viện, dốc sức kiến lập chế độ chính phủ khống chế tất cả.
Trong thời gian Hitler cầm quyền, mấy đạo diễn xuất sắc nhất lịch sử Đức đều hoàn thành tác phẩm tiêu biểu của mình trong thời đại này; nhiều kỹ pháp quay phim họ phát minh Hollywood đến nay vẫn dùng; đặc biệt mấy bộ phim tài liệu quay cho đảng Quốc xã đáng gọi là kinh điển, mở đầu cho dòng phim đại cảnh. Olympic Berlin mùa hè 1936 trở thành vũ đài tuyên truyền thịnh đại của Hitler và đảng Quốc xã. Hàng trăm nghìn vận động viên nước ngoài, trong đó có người Anh, người Pháp, người Mỹ, người Liên Xô, người Ba Lan… vận động viên của những quốc gia tử địch tương lai của Đức, tập thể giơ tay hành lễ về phía Hitler và các quan chức Quốc xã trên khán đài. Đó cũng là sáng tạo độc đáo của Hitler, ở châu Âu bấy giờ được xem là nghi lễ cực kỳ thời thượng.
Cải thiện tình trạng kinh tế trong nước
Trong những thành tựu tích cực của Hitler, trước hết phải nhắc đến kỳ tích kinh tế của ông ta.
Hitler đem “ngọn lửa” đầu tiên trong “ba ngọn lửa” của tân quan nhậm chức đốt vào hiện tượng thất nghiệp. Năm 1932, cao trào thất nghiệp nhất của Đức cả nước có 6 triệu người thất nghiệp; trong 66 triệu dân Đức, gần quá nửa dân số vật lộn trên ranh giới đói khát và bần cùng. Cũng chỉ vào lúc ấy Hitler và đảng phái Quốc xã mới có cơ hội thừa dịp, thông qua “lời hứa vĩ đại” với dân chúng mà thanh vọng tăng từng bước. Đến năm 1938, tỷ lệ thất nghiệp của Đức hạ xuống 1,3%; trong khi cùng kỳ tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ là 1,89%, Anh 8,1%, Bỉ 8,7%, Hà Lan 9,9% đối chiếu như vậy, việc đảng Quốc xã tuyên truyền mình “tạo ra kỳ tích kinh tế tiêu diệt thất nghiệp” quả thực không hoàn toàn là tự thổi phồng.
Ngọn lửa thứ hai sau khi Hitler nhậm chức đốt vào trạng thái kinh tế gần như đình trệ của Đức. Từ 1932 đến 1937, tổng sản phẩm quốc dân của Đức tăng 102%, thu nhập quốc dân cũng tăng gấp đôi. Những số liệu thực chất này cho thấy: nhà đương cục Quốc xã quả thực trong thời gian không dài đã tạo ra kỳ tích phục hưng kinh tế Đức.
Ngọn lửa thứ ba Hitler đốt đối nội là tái kiến hệ thống bảo đảm xã hội, thực hiện chính sách phúc lợi xã hội. Hitler sau khi lên đài ra sức đẩy mạnh chế độ bảo hiểm xã hội, tăng thêm và nâng cao phúc lợi xã hội của quốc dân; trong khi cải thiện điều kiện và môi trường lao động của công nhân qua “hoạt động làm đẹp lao động”, còn mở rộng chế độ nghỉ phép có lương của công nhân viên. Mặt trận Lao động, công đoàn thuộc hạ của Quốc xã tại các thắng địa nghỉ dưỡng như đảo Rügen đã xây một loạt viện điều dưỡng và khách sạn. Chỉ riêng trong năm 1937, cả nước Đức có khoảng mười triệu công nhân được hưởng khoản phúc lợi này. “Nhất thời báo chí, đài phát thanh và điện ảnh Quốc xã tuyên truyền rộng rãi: du lịch nghỉ phép, thứ trước kia chỉ giai cấp tư sản mới được hưởng, nay công nhân nước Đức Quốc xã cũng có thể”. Đức còn qua hoạt động làm đẹp lao động cải thiện điều kiện và môi trường lao động của công nhân. Mùa hè 1938, Hitler tuyên bố Đức phải thực hiện “mỗi công nhân viên Đức sở hữu một chiếc ô tô con”. Thế nhưng, tuyên truyền như thế của Quốc xã không phải trò khoác lác chính trị người ta thường thấy, mà là lời hứa được thực hiện với người dân trong thời gian ngắn ngủi. Bấy giờ thuế má của dân chúng Đức bình thường được giảm miễn, người về hưu bắt đầu hưởng bảo hiểm y tế, vợ của binh sĩ Đức hưởng đãi ngộ tốt nhất. Từ 1932 đến 1937, sản xuất quốc dân tăng 102%, thu nhập quốc dân cũng tăng gấp đôi. Thành tựu này vượt xa thành tựu của Roosevelt. Nước Mỹ mãi sau Thế chiến II mới làm được việc công nhân bình thường có thể nghỉ phép có lương, công nhân bình thường có thể có ô tô.
Chính quyền Quốc xã dựa vào chính sách phúc lợi xã hội đổi lấy sự ủng hộ toàn lực của dân chúng Đức bình thường đối với chính sách đối nội đối ngoại của nó, giảm tâm lý bất mãn của dân chúng Đức bình thường đối với nền độc tài chuyên chế của chính quyền Quốc xã xuống mức thấp nhất, đến nỗi dân chúng Đức bình thường phổ biến cho rằng quốc gia nhân dân của Hitler là một kiểu độc tài đáng yêu thích. Trong 12 năm ngắn ngủi Quốc xã thống trị, dân chúng Đức giữ độ nhất trí cao với tầng lãnh đạo Quốc xã; dân chúng Đức được động viên tích cực đem vận mệnh mình hòa làm một với chính quyền Quốc xã.
Từ năm 1933 Quốc xã lên đài đến 1939, tăng trưởng sản xuất quốc dân của Đức có ước tính đạt trên 20% mỗi năm, có ước tính thậm chí đạt trên 100%; nhưng nhìn tình hình tổng thể, việc Đức trong vỏn vẹn mấy năm nâng cao mạnh mẽ đến thế mức sống của toàn dân Đức, lại còn tụ tập được thực lực kinh tế, quốc phòng đủ chống đỡ một cuộc thế chiến, có thể tưởng tượng, nước Đức Quốc xã bấy giờ quả thực đã tạo ra kỳ tích trong lịch sử kinh tế nhân loại. Tương ứng ngược lại, các nước phương Tây Anh Mỹ năm 1937 lại xảy ra một vòng khủng hoảng kinh tế mới; đặc biệt là Mỹ: ngày 19 tháng 10 năm 1937, thị trường chứng khoán sụp đổ; đến tháng 11, dân số thất nghiệp cả nước đã đạt mười một triệu người, ngoài ra còn năm triệu rưỡi người bán thất nghiệp.
Trong thời gian này, nước Đức Quốc xã cả nước đại tu đường cao tốc và đủ loại kiến trúc hùng vĩ phô trương khí phái đế quốc Đức mới; Hitler còn nhấn mạnh phát triển xây dựng “xe nhân dân”, “bãi đỗ xe”, “trung tâm thương mại tự do”, “công viên” và “khu cây xanh”. Bấy giờ Đức có đường cao tốc đầu tiên của thế giới; Đức thời Hitler có bốn nghìn km đường cao tốc, một phần tư đường cao tốc của Đức hiện nay vẫn là xây từ thời Hitler, rất thú vị. Còn nước Mỹ thời ấy chưa có đường cao tốc. Vấn đề no ấm của người dân gần như được thực hiện chỉ trong một hai năm Hitler làm thủ tướng.
Công nghiệp ô tô chiếm vị trí quan trọng trong quá trình tạo ra “kỳ tích kinh tế” của nước Đức Quốc xã. Hitler lên đài mới 11 ngày đã đích thân chủ trì lễ khai mạc Triển lãm Ô tô Berlin, và công khai bày tỏ: phải để mỗi người dân Đức đều sở hữu 1 chiếc xe con của riêng mình. Hitler khái quát “xe con quốc dân” là: tốc độ tối đa 100 km/h, tiêu hao nhiên liệu dưới 7 lít trăm km, chở được 2 người lớn và 3 trẻ em, giá bán không quá 1000 mác. Tại đây, ông ta lần đầu dùng từ “Volkswagen” (xe của đại chúng). Đồng thời, kế hoạch mạng lưới đường cao tốc được đưa vào thực thi: 3000 km đường cao tốc hoàn thành trong khoảng 1933 đến 1938. Chính sách ô tô hóa của Hitler cung cấp chỗ dựa cho sự phát triển của công nghiệp ô tô Đức. Thể chế kinh tế của nó phát triển theo hướng tăng cường sự quản chế toàn diện của nhà nước Quốc xã đối với đời sống kinh tế, biến thể chế lấy kinh tế thị trường làm chủ thành thể chế lấy nhà nước can dự kinh tế làm chủ.
Bành trướng đối ngoại
Nếu nói “ba ngọn lửa” Hitler đốt đối nội sau khi nhậm chức khiến đại đa số người Đức bình thường, ngoài người Do Thái, được hưởng lợi thực, do đó về chính trị ủng hộ phò tá nhà đương cục Quốc xã, thì “ba ngọn lửa” Hitler đốt đối ngoại cũng khiến (Đức) nhanh chóng trỗi dậy thành cường quốc thế giới. Điều này khiến lòng tự tin và niềm tự hào dân tộc của người Đức đều tăng mạnh, càng kiên định ủng hộ Hitler và đảng Quốc xã.
Ngọn lửa đầu tiên Hitler đốt đối ngoại là bí mật tái vũ trang. Kỳ tích kinh tế là thành tựu hưởng thịnh danh nhất của Hitler, nhưng không phải thành tựu duy nhất. Năm 1935 sau khi Hitler lên đài, Đức thi hành chế độ nghĩa vụ quân sự phổ biến cho lục quân, chính thức thành lập không quân, tiếp đó lại đóng ồ ạt chiến hạm và tàu ngầm. Trong vỏn vẹn mấy năm, đã khiến lực lượng không quân Đức vượt Anh, lực lượng lục quân vượt Pháp, thành quốc gia quân lực hùng mạnh nhất châu Âu. Kinh tế có kế hoạch khiến tốc độ phát triển công nghiệp Đức vượt Anh, Pháp, Mỹ. 1932–1938, sản lượng gang từ 3,9 triệu tấn tăng lên 18,6 triệu tấn; sản lượng thép từ 5,6 triệu tấn tăng lên 23,2 triệu tấn. 1933–1939, sản xuất quân hỏa của Đức tăng 11,5 lần; từ 1940 đến 1944, sản lượng vũ khí bình quân lại tăng thêm hai lần. Đến khi chiến tranh bùng nổ, chi phí quân sự lũy kế của nước Đức Quốc xã đã đạt 60 tỷ mác đế quốc; tỷ lệ chiếm trong dự toán tài chính năm của quốc gia từ 4% năm 1932 tăng lên 50% năm 1938, tương đương 17% tổng sản phẩm quốc dân của Đức năm đó. Cùng năm 1938, chi phí quân sự của Anh chỉ chiếm 4% tổng sản phẩm quốc dân, Mỹ là 1%.
Ngọn lửa thứ hai Hitler đốt đối ngoại là thu phục đất đã mất và bành trướng hòa bình, tức thông qua chinh phục ngoại giao không đổ máu, từng bước khiến Đức từ một nước bại trận thành quốc gia “bình thường”. “Hòa ước Versailles” khiến nước Đức bại trận tổng cộng mất đi 73.485 km² quốc thổ với 7,325 triệu dân. Hitler sau khi lên đài, qua một phen xoay xở, chẳng những thu hồi vùng Saar, phái quân chiếm đóng khu phi quân sự Rhineland, mà sau khi để Áo “trở về” Đức tháng 3 năm 1938, lại đưa vùng Sudetenland của Tiệp Khắc với 3,5 triệu dân vào bản đồ Đức. Ngày 15 tháng 3 năm 1939, quân Đức chiếm Praha. Ngày 20 tháng 4 năm 1939, sinh nhật năm mươi của Hitler, Đức cử hành đại lễ duyệt binh thịnh đại. Quân kỳ của tất cả các binh chủng được tập trung lại tổ thành một “tiểu đoàn quân kỳ”; bấy nhiêu quân kỳ đều nghiêng về phía trước kính chào Hitler.
Ngọn lửa thứ ba Hitler đốt đối ngoại là thông qua tổ chức Olympic Berlin 1936, bằng nghi thức long trọng nhất, trước mặt người Đức mà tuyên cáo với toàn thế giới sự trỗi dậy trở lại của nước Đức. Hitler đích thân đảm nhận tổng tài đại hội Ủy ban Olympic Berlin. Ông ta hạ lệnh dùng 16 tấn đồng đúc một quả chuông Olympic khổng lồ, xây một tòa tháp chuông Hitler cao bảy mươi mét, xây một sân vận động chứa được mười vạn người, xây một bể bơi chứa được hai vạn khán giả, và xây làng Olympic hào hoa hơn cả Olympic Los Angeles của Mỹ. Ngày 1 tháng 8 năm 1936, tại lễ khai mạc Thế vận hội Olympic lần thứ 11 cử hành ở Berlin, Đức, Hitler tuyên bố khai mạc. Trên hội trường phấp phới cờ Quốc xã; vận động viên Đức khi đi qua khán đài chủ tịch hành lễ Quốc xã, hô lớn “Vạn tuế — Hitler!”. Đức lần đầu phát sóng qua truyền hình cảnh thi đấu Olympic. Tại kỳ Olympic này, Đức giành 33 huy chương vàng, 26 bạc, 30 đồng, đứng nhất thế giới. Qua việc tổ chức Olympic, Hitler tạo dựng cho mình hình tượng một chính trị gia hòa bình oai hùng.
Cương lĩnh chính sách đối ngoại Hitler đề ra là dùng vũ lực đoạt lấy “không gian sinh tồn”, rồi lợi dụng toàn diện công nghiệp, nhân lực và vật lực của các quốc gia bị nô dịch để mưu lợi cho giai cấp thống trị Đức. Hitler nói với các nhà tư bản dự họp: “Nếu chúng ta muốn giải quyết vấn đề không gian sinh tồn, chúng ta phải vận dụng lực lượng chính trị mà cả dân tộc tích lũy nên. Cho nên bây giờ mọi người cãi nhau quân đội chúng ta là 10 vạn hay 30 vạn, điều đó hoàn toàn không đau không ngứa; vấn đề là quân đội chúng ta ít nhất phải là 800 vạn.” Việc xây dựng quân đội 800 vạn và cuộc chiến đoạt “không gian sinh tồn”, đối với các nhà tư bản lũng đoạn mà nói, sẽ nghĩa là khoản lợi nhuận khổng lồ như thần thoại. Cho nên, bài nói của Hitler chinh phục trái tim các nhà tư bản lũng đoạn Đức, giành được tràng vỗ tay và hoan hô nhiệt liệt của họ. Tại hội nghị lần ấy, các nhà tư bản lũng đoạn về nguyên tắc đã đạt hiệp nghị về vấn đề đảng Quốc xã nắm chính quyền.
“Tính chính danh” của Hitler và sự ủng hộ của các nhà tư bản lũng đoạn quốc tế
Ở đây chép lại một đoạn được cho là bài nói của Hitler với nhân dân Đức trước khi chiến tranh bắt đầu:
“Tôi đã tiếp nhận một quốc gia như thế: nó vì tin vào lời hứa của nước ngoài và vì chế độ tồi tệ của chính phủ dân chủ mà đối mặt sự hủy diệt triệt để… Tôi đã khắc phục sự hỗn loạn của nước Đức, tái lập trật tự, và tăng mạnh sản xuất… phát triển giao thông, khiến mạng lưới công lộ khổng lồ được xây dựng, kênh đào được khai thông, những nhà máy mới to lớn được mọc lên, đồng thời cũng dốc sức nâng cao trình độ văn hóa và giáo dục của nhân dân nước ta. Tôi từng làm được việc khiến toàn thể 700 vạn công nhân thất nghiệp đều có lại việc làm… Tôi chẳng những khiến người Đức đoàn kết lại về chính trị, còn khiến họ được vũ trang trở lại; tôi cũng từng dốc sức xé bỏ từng trang một bản điều ước dài 448 điều khoản ấy, trong đó chứa đựng sự áp bức đê tiện nhất mà nhân dân bất kỳ quốc gia nào và bất kỳ ai đều không thể chịu đựng. Tôi đem những vùng đất bị cướp khỏi tay chúng ta năm 1919 đoạt về trao cho nước Đức. Tôi dẫn hàng triệu người Đức, bị buộc chia lìa với chúng ta mà nếm đủ cay đắng, trở về tổ quốc của mình…”
Hitler ngoài nhận được sự ủng hộ của các nhà tư bản lũng đoạn bản quốc, còn nhận được sự ủng hộ của tư bản lũng đoạn quốc tế, đặc biệt là các ông chủ lớn của Mỹ. Các đại đầu sỏ lũng đoạn Mỹ như Morgan, Rockefeller, DuPont, Henry Ford; chủ tịch hội đồng quản trị công ty dầu mỏ Shell Anh–Hà Lan Deterding; trùm báo chí Anh Rothermere; vua diêm Thụy Điển Kreuger và consortium quân hỏa Pháp Schneider-Creusot, v.v. đều cung cấp cho Hitler lượng tiền lớn. Một số cơ quan ngôn luận của tư bản lũng đoạn Mỹ công khai ủng hộ Hitler lên đài. Các nhà tư bản lũng đoạn Mỹ, Anh coi Hitler là cứu tinh cứu nước Đức và châu Âu khỏi “mối nguy” cách mạng vô sản; họ mong Hitler lên đài cầm quyền, tiêu diệt các lực lượng dân chủ cách mạng của Đức, để bảo đảm những khoản đầu tư và cho vay lớn của họ tại Đức.
Dịch từ: https://www.epochtimes.com/b5/12/7/3/n3626325.htm
Bản dịch có thể được chỉnh sửa trong tương lai để sát hơn với nguyên tác.
Từ khi cuốn sách