Một quyển sách
đã truyền cảm hứng cho hơn 350 triệu người
thoái xuất khỏi Đảng Cộng Sản Trung Quốc

Trăm năm mộng tỉnh (23): Năng lực mới của Trung Cộng khi thực hiện cải cách mở cửa

Tác giả: Kính Tạ Ân

[Chanhkien.org]

(9) Trong thời kỳ Cải cách mở cửa, Trung Cộng có năng lực thuyết phục mọi người từ bỏ các nguyên tắc của mình và ngậm miệng nghe theo nó để phát đại tài

Thông qua cuộc cải cách mở cửa kể từ cuối năm 1978, Trung Cộng đã có được nhiều năng lực.

Năng lực thứ nhất: Không thay đổi chiêu bài nhưng lại nhận được vốn và công nghệ từ các nước tư bản, từ đó đạt được sự phát triển nhanh chóng.

Thông qua cải cách mở cửa, Trung Cộng đã nâng cao hình ảnh của bản thân trên toàn thế giới, ngày càng làm mờ bản sắc của “chủ nghĩa cộng sản”. Điều này làm dấy lên những câu hỏi như: “Liệu đây có thực sự là một nước chủ nghĩa cộng sản? Phải chăng Trung Quốc chỉ giương cao ngọn cờ chủ nghĩa cộng sản nhưng lại đi theo con đường chủ nghĩa tư bản, v.v. Nó cũng khiến hầu hết các nước tư bản ở hải ngoại cho rằng nó là một quốc gia “tập trung vào phát triển kinh tế, dần dần hòa nhập với văn minh thế giới, yêu chuộng hòa bình”. Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, Trung Cộng đã thu hút được lượng lớn đầu tư quốc tế, và tổng sản lượng kinh tế của Trung Quốc từ tình trạng nghèo đói nhanh chóng tăng vọt, ngày càng thăng hạng trong bảng xếp hạng các nền kinh tế lớn.

Tuy nhiên, Trung Quốc không hề từ bỏ hệ tư tưởng chủ nghĩa cộng sản, nó từ chối thay đổi cờ hiệu của mình. Đây không phải là một vấn đề đơn giản. Bởi vì trong cuộc đối đầu giữa hai phe đối lập sau Thế chiến thứ II, “chủ nghĩa cộng sản” là nhân tố mà thế giới tư bản chủ nghĩa cấm kỵ nhất. Trung Cộng không thay đổi khẩu hiệu của mình, vẫn duy trì điều mà thế giới tư bản chủ nghĩa cấm kỵ nhất, nhưng lại nhận được sự hỗ trợ tài chính và công nghệ đáng kể từ các nước tư bản, thật sự nó đã thể hiện một khả năng đặc biệt.

Năng lực thứ hai: Ngay cả sau khi gây ra tội nghiệt cực lớn như vụ thảm sát Thiên An Môn, nó vẫn có thể nhận được sự đầu tư và hỗ trợ từ các nước tư bản.

Trong vụ thảm sát xảy ra vào mùa hè ngày 4 tháng 6 năm 1989, Trung Cộng đã chọn cách đàn áp bằng súng. Cuộc đàn áp này đã gây chấn động toàn thế giới, đặc biệt là toàn bộ thế giới tư bản. Các nước tư bản có hai ngọn cờ tinh thần nổi bật: thứ nhất là ngọn cờ chủ nghĩa tư bản “Bảo vệ tài sản tư hữu thần thánh bất khả xâm phạm”, và thứ hai là ngọn cờ nhân quyền “Bảo vệ nhân quyền cơ bản, nhân quyền là điều vốn có không thể xâm phạm”. Trong khi hành động đàn áp của Trung Cộng cho thấy rõ, mặc dù Trung Cộng đã nhận được sự hỗ trợ từ thế giới tư bản trong mười năm, nhưng nó không những không từ bỏ ngọn cờ chủ nghĩa cộng sản vốn bị coi là điều cấm kỵ nhất đối với thế giới tư bản, mà còn tiếp tục chà đạp lên ngọn cờ nhân quyền cơ bản được thế giới tư bản tôn trọng nhất. Bất chấp mười năm đầu tư và hỗ trợ, người thống trị đương nhiệm của Trung Quốc – Trung Cộng vẫn là một kẻ lưu manh, một kẻ giết người và là một tên cộng sản. Do đó, cuộc đàn áp ngày 4 tháng 6 năm 1989 xảy ra ở Bắc Kinh, Trung Quốc, mặc dù nó không trực tiếp xảy ra ở các nước tư bản, nhưng nó giống như một cái tát mạnh vào mặt toàn bộ thế giới tư bản, thật sự là cái tát vang dội. Vì vậy, toàn bộ thế giới tư bản đã nhanh chóng liên kết và quyết định áp đặt các biện pháp trừng phạt nghiêm khắc đối với Trung Cộng để thể hiện rõ thái độ của mình.

Tuy nhiên, Trung Cộng vẫn không thay đổi bản thân trước những biện pháp trừng phạt nghiêm khắc này. Ngược lại, điều thay đổi ngay sau đó là thế giới tư bản dần dần từ bỏ các biện pháp trừng phạt. Trong khi Trung Cộng không hề từ bỏ ngọn cờ chủ nghĩa cộng sản hay từ bỏ việc đàn áp những người Trung Quốc yêu cầu có được nhân quyền cơ bản, Trung Cộng một lần nữa nhận được thêm sự đầu tư tài chính và hỗ trợ công nghệ từ thế giới tư bản. Nền kinh tế Trung Quốc thậm chí còn tiếp tục phát triển theo con đường này, nhận được sự hỗ trợ càng ngày càng mạnh, đến mức Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.

Năng lực tiến triển 1: Trung Cộng dẫn đầu thế giới nhờ vào khả năng thu hút đầu tư nước ngoài và tận dụng sự hỗ trợ công nghệ

Điều cần nói rõ là, một quốc gia cộng sản như Trung Quốc có thể làm được đến điểm này là điều mà Liên Xô – cấp trên của họ trong Quốc tế cộng sản không thể làm được; nếu đặt vào toàn bộ khối cộng sản, các nước cộng sản khác cũng chưa hề làm được. Điều này cho thấy, trải qua khoảng 20 năm rèn luyện, Trung Cộng đã có được năng lực đặc thù mà các quốc gia cộng sản khác không có. Ngoài ra, năng lực này của Trung Cộng thực sự đã vượt mặt hầu hết các nước tư bản chủ nghĩa vào thời điểm đó. Ở hầu hết các nước tư bản, bởi vì vấn đề bảo vệ nhân quyền nên việc bóc lột quá mức người dân là không được phép, vì vậy khả năng thu hút đầu tư của hầu hết các nước tư bản yếu kém hơn Trung Quốc. Chính vì năng lực này của Trung Quốc vượt trội hơn so với tất cả các nước cộng sản và hầu hết các nước tư bản, vậy nên Trung Quốc đã nhanh chóng phát triển thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới chỉ trong vòng 20-30 năm.

Thực chất năng lực 1: Lôi kéo, thao túng đối phương từ bỏ tiêu chuẩn đạo đức, hợp tác với Trung Cộng để “đôi bên cùng có lợi”.

Đây là năng lực “thu hút đầu tư” như thế nào? Rất nhiều quốc gia trên thế giới đều muốn thu hút vốn đầu tư nước ngoài, vậy tại sao Trung Quốc lại có sức hút mạnh nhất? Nếu xét trên nhiều phương diện, đây là khả năng “lôi kéo và uy hiếp đối tác thương mại các nước từ bỏ các tiêu chuẩn giá trị truyền thống và không cho phép họ phê phán tình hình nhân quyền ở Trung Quốc”.

Tại sao vậy? Bởi vì Trung Quốc vẫn giữ vững ngọn cờ “chủ nghĩa cộng sản” và tiếp tục tước đoạt các quyền cơ bản của người dân. Tuy nhiên, hầu hết các nước tư bản đều đề cao các nguyên tắc chủ nghĩa tư bản và nguyên tắc nhân quyền vốn có, vì vậy họ rất phản cảm và thường chỉ trích phương diện này của Trung Cộng. Do đó, Trung Cộng yêu cầu tất cả các quốc gia và mọi người trên thế giới không được chỉ trích nó về vấn đề này. Vì thế, Trung Cộng tiến hành chia rẽ và làm tan rã toàn thế giới, nó lựa chọn những cá nhân hoặc quốc gia sẵn sàng từ bỏ “các nguyên tắc của chủ nghĩa tư bản” và “các nguyên tắc nhân quyền” mà họ tôn trọng nhất, chỉ cho phép những cá nhân hoặc quốc gia đó vào Trung Quốc làm giàu; hoặc lợi dụng sức mua của người dân và doanh nghiệp Trung Quốc như một vũ khí, chỉ cho phép những ai từ bỏ các tiêu chuẩn giá trị truyền thống, những quốc gia và công ty không chỉ trích tình trạng nhân quyền của Trung Quốc được nhận các đơn đặt hàng từ Trung Quốc.

Trung Cộng gọi phương thức giao dịch thương mại này là “đôi bên cùng có lợi”, nghĩa là đối phương – là nước tư bản và công ty của nó – có được lợi nhuận mà họ mong muốn; trong khi Trung Cộng – là một chế độ cộng sản – giữ được thể diện của nó, chính là không bị “chỉ trích” về vấn đề nhân quyền.

Thực chất năng lực 2: dùng lợi ích để đổi lấy “sự hợp tác, im lặng và phục tùng” của đối phương, cho phép họ “ngậm miệng để phát đại tài”.

Mặc dù thỏa thuận “đôi bên cùng có lợi” trên bề mặt có vẻ như hai bên tự nguyện, nhưng khái niệm “hai bên” này rất đặc biệt. Hơn nữa, cái gọi là “tự nguyện” này có trạng thái đặc biệt: đối với một số phương diện thì nhìn thấy có chọn lọc, đối với phương diện khác lại nhìn không thấy có chọn lọc, thực ra nó là một trạng thái giả tạo.

Vậy những phương diện nào áp dụng cách nhìn không thấy có chọn lọc? Thứ nhất là điều kiện sống và quyền lợi của người dân Trung Quốc. Đặc biệt là trong những phương diện mang tính thực chất, đại đa số người dân thường và công nhân vẫn bị bóc lột, bị chà đạp, bị đối xử cường bạo và không thể được đảm bảo các quyền cơ bản; đối với vấn đề này họ áp dụng cách “nhìn không thấy có chọn lọc”. Thứ hai, với những giá trị cơ bản được tôn trọng nhất trong thế giới chủ nghĩa tư bản, bao gồm “các tài sản tư hữu thần thánh bất khả xâm phạm”, “nhân quyền vốn có bất khả xâm phạm”, vẫn bị Trung Cộng tiếp tục chà đạp; nó không chỉ chà đạp người Trung Quốc, thực ra đối với các nhà đầu tư và người nước ngoài cũng bị nó chà đạp có chọn lọc; những điều này áp dụng chính sách “nhìn không thấy có chọn lọc”.

Những gì nhìn thấy có chọn lọc là lợi nhuận của các nhà đầu tư, thu nhập từ thuế của Trung Cộng và các số liệu kinh tế. Hơn nữa, để thu hút đầu tư, Trung Cộng có thể trong tình huống không làm tổn hại đến tình trạng thực chất của chế độ cộng sản, và phù hợp với yêu cầu dư luận của thế giới tư bản, thực hiện một số hành động cải thiện nhân quyền mang tính hình thức ở Trung Quốc – điều này cũng thuộc phạm vi “nhìn thấy có chọn lọc”.

Còn các chính khách của các nước tư bản vì để đáp lại sự phẫn nộ của người dân trong nước đối với vấn đề xâm phạm nhân quyền của Trung Cộng, khi cần phê bình Trung Cộng về vấn đề nhân quyền, thì chỉ có thể âm thầm mà làm, không cho phép phóng viên nhìn thấy hoặc đưa tin, điều này thuộc về phạm vi “không cho nhìn mang tính chọn lọc” .

Đối với cái gọi là “đôi bên cùng có lợi”, Giang Trạch Dân tóm gọn trong một câu là: “ngậm miệng phát đại tài”. Vậy ĐCSTQ làm thế nào để khiến đối phương sẵn sàng làm như vậy? Chính là Trung Cộng đã sử dụng quyền kiểm soát của nó đối với các doanh nghiệp và hoạt động thương mại trong nước, dùng cách phân bổ đơn hàng để lôi kéo những ai vì lợi ích và thị trường mà sẵn sàng hợp tác với người của Trung Cộng; nhưng thực chất là dùng lợi ích để đổi lấy sự “phối hợp, im lặng, nghe lời” của đối phương.

Thực chất năng lực 3: Ngoài chiến lược “đôi bên cùng có lợi” công khai, còn có sự thao túng ngầm

Chiến lược “đôi bên cùng có lợi” mà Trung Cộng đề xuất là một thủ đoạn bán công khai có thể thảo luận trên bàn đàm phán. Nhưng thực ra trong quá trình thu hút đầu tư và công nghệ, trong đối ngoại, Trung Cộng còn áp dụng những thủ đoạn đen tối khác, bao gồm: hối lộ bằng tài sản, hối lộ bằng tình dục và các hình thức hối lộ khác. Trung Cộng bí mật dùng các thủ đoạn thu thập chứng cứ kiểu đặc vụ, rồi dùng chính những bằng chứng đó để đe dọa cưỡng ép đối phương.

Hai phương diện nêu trên — lời kêu gọi “đôi bên cùng có lợi” công khai nhắm vào tổ chức hoặc quốc gia của đối phương, kết hợp với các thủ đoạn thao túng, uy hiếp ngầm nhắm vào từng nhân viên công tác cụ thể — kết hợp với nhau, khiến Trung Cộng có được một khả năng đặc biệt mạnh mẽ. Khả năng lực đó là gì? Một mặt, nhắm vào các quốc gia hoặc tổ chức, lôi kéo các nhà đầu tư của thế giới tư bản và các nhân vật chính trị liên quan, khiến quốc gia hay tổ chức đó từ bỏ những giá trị đạo đức, nhân quyền truyền thống vốn có và quý giá nhất của mình, từ đó theo gót Trung Cộng “ngậm miệng phát đại tài”; mặt khác, nhắm vào từng cá nhân cụ thể, tiến hành thao túng nhân viên công tác ở các phương diện, thậm chí cả các chính trị gia, từ đó có được phương án có lợi nhất, “mạnh mẽ nhất”, có giá trị lâu dài nhất cho Trung Cộng.

Về bản chất, đây là khả năng thao túng tổng thể từng trường hợp đầu tư cụ thể, và cũng là khả năng thao túng tổng thể cục diện phát triển của các quốc gia trên thế giới.

Năng lực tiến triển 2: ĐCSTQ đã bắt đầu phát triển khả năng này trước khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, và nó đã trải qua hàng chục năm tôi luyện đến mức thuần thục.

Sau khi cải cách mở cửa năm 1979, ĐCSTQ đã bắt đầu phát triển khả năng này một cách có hệ thống. Sau hơn mười năm phát triển và tôi luyện, khả năng đó đã tương đối hoàn thiện. Sau năm 1990, Liên Xô và Đông Âu bước vào giai đoạn sụp đổ hệ thống xã hội chủ nghĩa. Nhưng ĐCSTQ, dựa vào khả năng đã được phát triển hơn mười năm đó, vẫn duy trì được ngọn cờ chủ nghĩa cộng sản mà tiếp tục phát triển. Sau đó trải qua thêm khoảng 20 năm không ngừng tôi luyện, ĐCSTQ đã mài giũa khả năng thao túng cục diện đầu tư thế giới và tổng thể cục diện phát triển của các quốc gia này lên đến mức độ thành thục cao nhất.

Dịch từ: https://www.zhengjian.org/node/291450

Ngày đăng: 11-08-2026